1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hãy nêu điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 qui định về tội phạm tham nhũng

12 118 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 27,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, hiện diện trong tất cả các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Trong thời gian gần đây, tội phạm tham nhũng là loại tội phạm đặc biệt gây nguy hiểm cho xã hội. Tính nguy hiểm của loại tội phạm này thể hiện ở chỗ nó xâm hại đến lợi ích quốc gia, đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Nhận thức được mối hiểm họa cao của loại tội phạm này, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 đã dành riêng 01 chương quy định về các tội phạm về chức vụ với chế tài hết sức nghiêm khắc. Tuy nhiên, quá trình áp dụng BLHS để xử lý các tội phạm tham nhũng cho thấy, các quy định này còn có nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đấu tranh trong bối cảnh đất nước phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước. Trên tinh thần đó, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số chính sách lớn đối với tội phạm về chức vụ nhằm khắc phục những bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước, cũng như bảo đảm thực thi các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết, tạo cơ sở pháp lý cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế. Vì vậy, để tìm hiểu rõ hơn về những điểm mới của các qui định về tội phạm tham nhũng giữa Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Hình sự 1999 em xin chọn đề tài : “Hãy nêu điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 qui định về tội phạm tham nhũng”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Tham nhũng là một hiện tượng xã hội, hiện diện trong tất cả các lĩnh vực khác

nhau của đời sống xã hội Trong thời gian gần đây, tội phạm tham nhũng là loại tội phạm đặc biệt gây nguy hiểm cho xã hội Tính nguy hiểm của loại tội phạm này thể hiện ở chỗ nó xâm hại đến lợi ích quốc gia, đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Nhận thức được mối hiểm họa cao của loại tội phạm này, Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 1999 đã dành riêng 01 chương quy định về các tội phạm về chức vụ với chế tài hết sức nghiêm khắc Tuy nhiên, quá trình áp dụng BLHS để xử lý các tội phạm tham nhũng cho thấy, các quy định này còn có nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với yêu cầu của thực tiễn đấu tranh trong bối cảnh đất nước phát triển, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng của đất nước Trên tinh thần đó, BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung một số chính sách lớn đối với tội phạm về chức vụ nhằm khắc phục những bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước, cũng như bảo đảm thực thi các nghĩa vụ mà Việt Nam đã cam kết, tạo cơ sở pháp lý cho việc chủ động và tăng cường hợp tác quốc tế Vì vậy, để tìm hiểu rõ hơn về những điểm mới của các qui định về tội phạm tham nhũng giữa Bộ luật Hình sự 2015 và Bộ luật Hình sự 1999 em

xin chọn đề tài : “Hãy nêu điểm mới của BLHS năm 2015 so với BLHS năm 1999 qui định về tội phạm tham nhũng”.

NỘI DUNG

I Khái niệm về tội phạm tham nhũng:

Định nghĩa: Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào

có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi

Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của

Trang 2

Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng

(năm 1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng

Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi Người có chức vụ, quyền hạn chỉ

giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu

1 Những đặc trưng cơ bản:

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, tham nhũng có những đặc trưng cơ bản như sau:

a) Chủ thể tham nhũng là người có chức vụ, quyền hạn

Đặc điểm của tham nhũng là chủ thể thực hiện hành vi phải là người có chức vụ, quyền hạn Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn

-kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; người được giao thực hiện nhiệm vụ, công

vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó (khoản 3, Điều 1, Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005).

Nhìn chung, nhóm đối tượng này có đặc điểm đặc thù so với các nhóm đối tượng khác như: họ thường là những người có quá trình công tác và cống hiến nên có nhiều kinh nghiệm; được đào tạo có hệ thống, là những chuyên gia trên nhiều lĩnh vực khác

Trang 3

nhau; là những người có quan hệ rộng và có uy tín xã hội nhất định và thậm chí có thế mạnh về kinh tế Những đặc điểm này của chủ thể hành vi tham nhũng chính là yếu tố gây khó khăn cho việc phát hiện, điều tra, xét xử hành vi tham nhũng

b) Chủ thể tham nhũng lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao

“Lợi dụng chức vụ, quyền hạn” để vụ lợi là đặc trưng thứ hai của tham nhũng Khi thực hiện hành vi tham nhũng, kẻ tham nhũng phải sử dụng “chức vụ, quyền hạn của mình” như một phương tiện để mang lại lợi ích cho mình, cho gia đình mình hoặc

cho người khác Đây là yếu tố cơ bản để xác định hành vi tham nhũng Một người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể có hành vi tham nhũng Tuy nhiên, không phải mọi hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó đều được coi là hành vi tham nhũng Ở đây có sự giao thoa giữa hành vi này với các hành vi tội phạm khác, do vậy cần lưu ý khi phân biệt hành vi tham nhũng với các hành vi vi phạm pháp luật khác

c) Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi

Hành vi tham nhũng là hành vi cố ý Mục đích của hành vi tham nhũng là vụ lợi Nếu chủ thể thực hiện hành vi không cố ý thì hành vi đó không là hành vi tham nhũng Vụ lợi ở đây được hiểu là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần mà người có chức vụ, quyền hạn đã đạt được hoặc có thể đạt được thông qua hành vi tham nhũng Như vậy, khi xử lý về hành vi tham nhũng, không bắt buộc chủ thể tham nhũng phải đạt được lợi ích

Pháp luật Việt Nam hiện nay quy định việc đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi tham nhũng chủ yếu dựa trên căn cứ xác định những lợi ích vật chất mà kẻ tham nhũng đạt được để từ đó quyết định mức độ xử lý Lợi ích vật chất hiện nay trong cơ chế thị trường thể hiện ở rất nhiều dạng khác nhau, nếu chỉ căn cứ vào những tài sản phát hiện hoặc thu hồi được để đánh giá lợi ích mà kẻ tham nhũng đạt được thì sẽ là không đầy đủ Thêm nữa, các lợi ích vật chất và tinh thần đan xen rất khó phân biệt; ví dụ như: việc dùng tài sản của Nhà nước để khuyếch trương thanh thế, gây dựng uy tín hay các mối quan hệ để thu lợi bất chính Trong trường hợp này, mục đích của hành vi vừa là lợi ích vật chất, vừa là lợi ích tinh thần

Trang 4

Đối với khu vực tư, khi có vụ việc tham nhũng xảy ra, pháp luật đã có những sự điều chỉnh nhất định Tuy nhiên, cũng có trường hợp, người có chức vụ, quyền hạn trong các tổ chức, doanh nghiệp thuộc khu vực tư cấu kết, móc nối với những người thoái hoá, biến chất trong khu vực công hoặc lợi dụng ảnh hưởng của những người này để trục lợi Trong trường hợp đó, họ trở thành đồng phạm khi người có hành vi tham nhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự

II NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG PHẦN CHUNG CỦA BLHS NĂM 2015 SO VỚI BLHS NĂM 1999 LIÊN QUAN VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG:

Bộ luật Hình sự năm 2015 được xác định là sửa đổi căn bản và toàn diện Trong tổng số 426 điều của Bộ luật thì có 72 điều mới, 362 điều được sửa đổi, 17 điều giữ nguyên, 07 điều bãi bỏ Những điểm mới trong Phần chung của Bộ luật có liên quan trực tiếp đến tội phạm tham nhũng đó là:

1 Đối với thời hiệu:

Về vấn đề thời hiệu, ngoài việc vẫn giữ nguyên quy định không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm an ninh quốc gia (quy định tại Chương XIII) và các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh (quy định tại Chương XXVI), Bộ luật Hình sự năm 2015 còn bổ sung thêm 02 tội vào các trường hợp không áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình

sự đối với các tội phạm tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng nhằm góp phần tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng là: Tội tham ô tài sản (theo khoản 3 và khoản 4, Điều 353); Tội nhận hối lộ (theo khoản 3 và khoản 4, Điều 354) Việc bổ sung thêm 02 tội này được quy định tại điều 28 của BLHS 2015 Trên tinh thần đó, đối với tội tham ô, tội nhận hối lộ thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng sẽ không

áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Như vậy, đối với tội phạm này, bất kỳ thời điểm nào phát hiện được tội phạm thì có thể xử lý hình sự, kể cả khi người phạm tội đã về hưu, nghỉ việc Đây là một quy định mới, thể hiện thái độ kiên quyết của Nhà nước nhằm tăng cường đấu tranh chống tham nhũng

2 Đối với hình phạt:

Trang 5

Về vấn đề hình phạt, theo điểm c khoản 3 Điều 40 BLHS 2015 quy định:

“Người bị kết án tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ mà sau khi bị kết án

đã chủ động nộp lại ít nhất ba phần tư tài sản tham ô, nhận hối lộ và hợp tác tích cực với cơ quan chức năng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm hoặc lập công lớn.”thì sẽ không thi hành án tử hình đối với người bị kết án và chuyển hình phạt tử hình thành tù chung thân, khác với Điều 35 BLHS năm 1999 quy định về hình phạt tử hình thì đối với tội tham ô tài sản và tội nhận hối lộ nếu người phạm tội phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thì vẫn phải chịu hình phạt tử hình

Việc thay đổi hình phạt tử hình về tội tham ô tài sản, tội nhận hối lộ nhằm hạn chế hình phạt tử hình, đồng thời khuyến khích người phạm tội tham nhũng khắc phục hậu quả, nộp lại tiền cho Nhà nước

III NHỮNG ĐIỂM MỚI TRONG PHẦN CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ CỦA BLHS NĂM 2015 SO VỚI BLHS NĂM 1999 LIÊN QUAN VỀ TỘI PHẠM THAM NHŨNG:

1 Về chủ thể thực hiện tội phạm tham nhũng:

Bộ luật Hình sự năm 2015 mở rộng chủ thể thực hiện tội phạm tham nhũng không chỉ trong khu vực Nhà nước, những người có chức vụ trong khi thực hiện công vụ mà còn mở rộng sang khu vực ngoài nhà nước Để góp phần đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, triển khai có hiệu quả Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng, nhất là trong hoàn cảnh nước ta đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định xử lý hình sự đối với tội phạm về chức vụ ở khu vực ngoài Nhà nước áp dụng đối với 4 tội danh là: Tội tham ô tài sản, Tội nhận hối lộ, Tội môi giới hối lộ và Tội đưa hối lộ Trong đó, tội danh tham

nhũng có 2 tội là: Tội tham ô tài sản và Tội nhận hối lộ Việc mở rộng chủ thể thực

hiện tội phạm tham nhũng được thể hiện qua các điều luật sau:

- Theo kho n 6 Đi u 353 quy đ nh v T i tham ô tài s n: “Ngều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ịnh về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ười có chức vụ,i có ch c v ,ức vụ, ụ, quy n h n trong các doanh nghi p, t ch c ngoài Nhà nều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, ổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, ức vụ, ước mà tham ô tài sản,c mà tham ô tài s n, thì b x lý theo quy đ nh t i Đi u này.”ịnh về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ử lý theo quy định tại Điều này.” ịnh về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ,

Trang 6

- Theo khoản 6 Điều 354 quy định về Tội nhận hối lộ: “Người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước mà nhận hối lộ, thì bị xử lý theo quy định tại Điều này.”

Việc mở rộng quy định về chủ thể thực hiện phạm tội tham nhũng nhằm đáp ứng được yêu cầu hình sự hóa các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực tư theo Công ước của Liên hợp quốc về phòng chống tham nhũng Đó là các hành vi tham ô tài sản trong khu vực tư, các hành vi về hối lộ công chức nước ngoài, công chức của các tổ chức quốc tế đã và đang có chiều hướng phát triển ở nước ta

Qua đó, việc BLHS đã mở rộng phạm vi xử lý hành vi tham nhũng này, vừa đảm bảo trừng trị tội phạm, đáp ứng yêu cầu của Công ước, vừa phù hợp với nền kinh tế hiện nay, bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể kinh tế; tài sản trong lĩnh vực tư cũng được Nhà nước bảo vệ như tài sản trong lĩnh vực công

2 Về bổ sung, sửa đổi một số dấu hiệu định tội, tình tiết định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự của tội phạm tham nhũng:

a Dấu hiệu “lợi ích phi vật chất”:

Trong các tội nhận hối lộ; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; đưa hối lộ; môi giới hối lộ của BLHS năm 1999 quy định “của hối lộ” là tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác trị giá được bằng tiền, thì BLHS năm 2015 điều luật không chỉ bó hẹp lợi ích vật chất mà mở rộng việc chiếm đoạt rộng hơn "bất kỳ lợi ích nào", tức là bao gồm cả lợi ích vật chất, lợi ích phi vật chất

Việc mở rộng phạm vi của việc chiếm đoạt là phù hợp với tình hình phạm tội về hối lộ hiện nay tại Việt Nam, lợi ích không chỉ còn là lợi ích vật chất mà của hối lộ

có thể là phi vật chất như lợi ích tinh thần cho người thụ hưởng cũng xem là yếu tố cấu thành đối với các tội danh được quy định tại Điều 354, Điều 358, Điều 364, Điều

365 của BLHS năm 2015

b Dấu hiệu về tội đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công:

Trang 7

Để góp phần đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, triển khai có hiệu quả Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng nhất là trong hoàn cảnh nước ta đang tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, BLHS năm 2015 đã bổ sung quy định về xử lý hình sự đối với tội đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công

Theo khoản 6 Điều 364 của BLHS năm 2015 quy định: “Người nào đưa hoặc sẽ đưa hối lộ cho công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công, người có chức vụ trong các doanh nghiệp, tổ chức ngoài Nhà nước cũng bị xử lý theo quy định tại Điều này.”

Đối với BLHS năm 1999 quy định về tội đưa hối lộ thì vẫn chưa xuất hiện điều khoản này Qua việc bổ sung điểm mới của tội đưa hối lộ thì có thể thấy chủ thể của tội nhận hối lộ cũng đã được mở rộng, không chỉ là công chức Việt Nam mà còn có

cả công chức nước ngoài, công chức của tổ chức quốc tế công

c Dấu hiệu “dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng”:

Đối với các tội tham ô tài sản; tội nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi; tội đưa hối lộ; tội làm môi giới hối lộ; tội lạm dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi trong BLHS năm 1999 quy định nếu

“của hối lộ” có giá trị “dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng” thì

người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự, nhưng trong BLHS năm 2015 thì

đối với dấu hiệu “của hối lộ” có giá trị dưới hai triệu đồng thì dấu hiệu “gây hậu quả

nghiêm trọng” đã được loại bỏ

Việc bỏ đi dấu hiệu “gậy hậu quả nghiêm trọng” giúp cho việc trong quá trình

định tội có thể xác định một cách rõ ràng hơn, thay cho việc xác định thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng đối với từng tội danh trong BLHS năm 1999

d Thay đổi mức định lượng:

Trong thực tiễn xét xử, có rất nhiều vụ án có số tiền chiếm đoạt trong tội tham ô tài sản không lớn, chỉ trên 2 triệu đồng, nhưng vì Luật quy định không có hình phạt tiền, cải tạo không giam giữ đồng thời chịu áp lực của dư luận, nên mặc dù người

Trang 8

phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhưng Tòa án vẫn phải áp dụng hình phạt tù, thậm chí không thể cho hưởng án treo Do đó, trong BLHS năm 2015 thì mức định lượng trong cấu thành tội phạm của một số tội đã được nâng lên, cụ thể là:

- T i Đi u 353 BLHS năm 2015 v T i tham ô tài s n: Nâng m c ti n bều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ức vụ, ều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ịnh về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, chi m đo t t i kho n 1 t 2.000.000 đ ng đ n 100.000.000 đ ng; Nâng m cừ 2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ức vụ,

ti n b chi m đo t t i đi m d kho n 2 t 100.000.000 đ ng đ n dều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ịnh về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ểm d khoản 2 từ 100.000.000 đồng đến dưới ừ 2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ước mà tham ô tài sản,i 500.000.000 đ ng; Nâng m c ti n b chi m đo t t i đi m a kho n 3 tồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ức vụ, ều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ịnh về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ểm d khoản 2 từ 100.000.000 đồng đến dưới ừ 2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức 500.000.000 đ ng đ n dồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ước mà tham ô tài sản,i 1.000.000.000 đ ng; Nâng m c ti n b chi m đo tồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ức vụ, ều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ, ịnh về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ,

t i đi m a kho n 4 t 1.000.000.000 đ ng tr lên; Nâng m c ph t ti n là hìnhểm d khoản 2 từ 100.000.000 đồng đến dưới ừ 2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ở lên; Nâng mức phạt tiền là hình ức vụ, ều 353 quy định về Tội tham ô tài sản: “Người có chức vụ,

ph t b sung t i kho n 5 t 30.000.000 đ ng đ n 100.000.000 đ ng.ổ chức ngoài Nhà nước mà tham ô tài sản, ừ 2.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức ồng đến 100.000.000 đồng; Nâng mức

- Tại Điều 354 BLHS năm 2015 về Tội nhận hối lộ: Nâng mức tiền bị chiếm đoạt

tại điểm a khoản 1 từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm c khoản 2 từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm a khoản 3 từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm a khoản 4 từ 1.000.000.000 đồng trở lên; Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung tại khoản 5 từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng

- Tại Điều 355 BLHS năm 2015 về Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản: Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại khoản 1 từ 2.000.000 đồng đến dưới

100.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm d khoản 2 từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm a khoản 3 từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm a khoản 4 từ 1.000.000.000 đồng trở lên; Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung tại khoản 5 từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng

- Tại Điều 356 BLHS năm 2015 về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ: Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung tại khoản 4 từ 10.000.000

đồng đến 100.000.000 đồng

- Tại Điều 358 BLHS năm 2015 về Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi: Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm a khoản

Trang 9

1 từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm c khoản 2 từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm a khoản 3 từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; Nâng mức tiền bị chiếm đoạt tại điểm a khoản 4 từ 1.000.000.000 đồng trở lên; Nâng mức phạt tiền là hình phạt bổ sung tại khoản 5 từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng

- Tại Điều 359 BLHS năm 2015 về Tội giả mạo trong công tác: Nâng mức phạt

tiền là hình phạt bổ sung tại khoản 5 từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng

e Dấu hiệu “Gây hậu quả nghiêm trọng khác”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”:

Trong BLHS năm 1999 các tội thuộc Mục A Các tội phạm về tham nhũng tại

Chương XXI Các tội phạm về chức vụ thì các tình tiết tăng nặng “Gây hậu quả nghiêm trọng khác”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” đã được BLHS năm 2015 cụ thể hóa bằng tình tiết khác, ví dụ

như:

- Tại Điều 353, Điều 355 BLHS năm 2015, tình tiết “Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người

có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiền, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng kinh tế đặc biệt khó khăn” đã được đặt ra để cụ thể hóa thay cho tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng khác”; tình tiết “Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động”, “Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng” thay cho tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”.

- Tại Điều 354 BLHS năm 2015,tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng” thay cho tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”; tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên” thay cho tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”.

Trang 10

- Tại Điều 356, Điều 357 BLHS năm 2015,tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản từ 200.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng”, “Phạm tội gây thiệt hại về tài sản

từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng” thay cho tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác” tùy vào từng tội; tình tiết “Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.000.000.000 đồng trở lên”, “Phạm tội gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên” thay cho tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác” tùy vào từng

tội

- Tại Điều 358 BLHS năm 2015, tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đến dưới 3.000.000.000 đồng” thay cho tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng khác”; tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng” thay cho tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”; tình tiết “Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên” thay cho tình tiết

“Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”.

- Tại Điều 359 BLHS năm 2015, tình tiết “Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ

02 giấy tờ giả đến 05 giấy tờ giả” thay cho tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng khác”; tình tiết “Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 05 giấy tờ giả đến 10 giấy tờ giả” thay cho tình tiết “Gây hậu quả rất nghiêm trọng khác”; tình tiết “Làm, cấp giấy tờ giả với số lượng từ 11 giấy tờ giả trở lên” thay cho tình tiết “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng khác”.

KẾT LUẬN

Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến tội phạm tham nhũng, góp phần quan trọng vào công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng; khắc phục những bất cập trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của đất nước Trên đây là kết quả phân tích và giải quyết vấn đề mà em đã chọn Do trình độ hiểu biết còn hạn chế nên chưa hiểu sâu phân tích một cách toàn diện triệt để vấn đề và không tránh khỏi những sai xót, em rất mong nhận được những góp ý của thầy cô

Ngày đăng: 09/11/2019, 20:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w