1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích nội dung của một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Chứng minh sự biểu hiện của nguyên tắc cơ bản đó trong các quy định cụ thể”

13 628 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 40,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên tắc là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và áp dụng các quy phạm pháp luật Dân sự vào trong thực tế.Nếu như nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Dân sự năm 2005 được quy định tại một chương với 12 điều (Chương II, từ điều 4 đến điều 12); đến Bộ luật Dân sự năm 2015, các nguyên tắc cơ bản này đã được đưa vào thành 1 điều luật (Điều 3) với các khoản luật ngắn gọn, súc tích, rõ ràng. Đây là một trong những thành công của việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự 2005 (nay là Bộ luật Dân sự 2015). Và để làm rõ hơn về một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, em xin lựa chọn phân tích đề tài số 1 với nội dung: “Phân tích nội dung của một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự. Chứng minh sự biểu hiện của nguyên tắc cơ bản đó trong các quy định cụ thể”

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 2

1.Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong pháp luật dân sự 2

1.1 Khái niệm nguyên tắc 2

1.2 Nội dung của nguyên tắc 2

1.3 Giới hạn của nguyên tắc 4

2 Sự thể hiện của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong các quy định pháp luật cụ thể 6

2.1 Quy định về tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân sự 6

2.2 Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong các quy định về hợp đồng 7

2.3 Quy định về giao dịch dân sự vô hiệu 10

KẾT LUẬN 11 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 2

MỞ ĐẦU

Nguyên tắc là những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ quá trình xây dựng và

áp dụng các quy phạm pháp luật Dân sự vào trong thực tế.Nếu như nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Dân sự năm 2005 được quy định tại một chương với 12 điều (Chương II,

từ điều 4 đến điều 12); đến Bộ luật Dân sự năm 2015, các nguyên tắc cơ bản này đã được đưa vào thành 1 điều luật (Điều 3) với các khoản luật ngắn gọn, súc tích, rõ ràng Đây là một trong những thành công của việc sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự 2005 (nay là Bộ luật Dân sự 2015)

Và để làm rõ hơn về một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, em

xin lựa chọn phân tích đề tài số 1 với nội dung: “Phân tích nội dung của một trong các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Chứng minh sự biểu hiện của nguyên tắc cơ bản đó trong các quy định cụ thể”

Trang 3

NỘI DUNG

1 Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong pháp luật dân sự 1.1 Khái niệm nguyên tắc

Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc quan trọng

của pháp luật dân sự Pháp luật được đề ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội, để duy trì

sự an ninh trật tự của một quốc gia nhưng luật không cứng nhắc mà nó rất linh động Điều này thể hiện rất rõ qua pháp luật dân sự và qua ý chí của các nhà làm luật

Pháp luật có giá trị pháp lý đối với toàn bộ lãnh thổ, nó áp đặt nhưng vẫn chừa một con đường cho các chủ thể tham dự vào quan hệ xã hội đó bằng việc tự do thảo thuận với nhau miễn là khogn6 trái với quy định của pháp luật Việc kiện tụng nhau ra tòa tại Việt Nam vẫn còn là điều mới mẻ và đó cũng chẵng phải là điều hay ho gì Cách tốt nhất để giữ được hòa khí giữa hai bên là tôn trọng ý chí của nhau Chúng ta tôn trọng pháp luật nhưng cũng không quên nguyên tắc tôn trọng thỏa thuận giữa các bên

Những người tham gia vào quan hệ pháp luật đều phải chịu trách nhiệm về những gì mình đã xác lập, cam kết đối với bên còn lại và khi xảy ra tranh chấp, các bên không thống nhất được với nhau về lợi ích thì pháp luật mới can thiệp Không gì tốt hơn bằng việc tự thỏa thuận được với nhau, nếu làm được điều này, các bên sẽ không phải chịu sự gò bó của pháp luật và cũng không phải tốn quá nhiều tiền của, công sức kéo nhau ra tòa mà có khi chẳng thu lại được gì Một bản án thắng kiện nhưng bản thân đã mất đi một mối làm ăn lớn với đối tác cũng đã là thiệt hại cho chính người đó Chưa kể, nếu ra toà nhiều thì cũng chưa chắc đến lượt vụ án của mình được xét xử dẫn đến án tồn đọng ngày càng nhiều và kết quả là hết năm rồi mà tranh chấp vẫn chưa được giải quyết1

1.2 Nội dung của nguyên tắc

Tự do, tự nguyện là nguyên tắc cơ bản của các ngành luật nói chung Mọi cam kết, thỏa thuận giữa các chủ thể đều phải đảm bảo tính tự do, tự nguyện Các thỏa thuận giữa các bên không trái quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội đều phải được sự tôn trọng giữa các bên và các chủ thể khác

Đây là nguyên tắc thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về quyền con người, quyền tự do của công dân trên các mặt của đời sống xã hội Điều 14 Hiến pháp

1 https://lawnet.thukyluat.vn/posts/t3268-nguyen-tac-tu-do-thao-thuan-trong-phap-luat-dan-su.

Trang 4

2013 quy định: Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền của con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật Để quyền con người, quyền công dân được thực hiện thì trước hết phải bảo đảm cho mọi người có quyền tự do, trong đó quyền tự do trong lĩnh vực dân sự Đây cũng là nguyên tắc mang tính đặc thù của Bộ luật Dân sự

Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kêt, thỏa thuận được cụ thể hóa tại Khoản 2 Điều 3 BLDS 2015 như sau:

“Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận không

vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”

Nội dung của nguyên tắc này, trước hết bao gồm hai quyền mà cá nhân, pháp nhân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, đó là quyền tự do cam kết thỏa thuận và quyền tự nguyện cam kết thỏa thuận khi tham gia các giao dịch dân sự Quyền tự do cam kết, thỏa thuận thể hiện ở chỗ, các bên tham gia giao dịch dân sự được quyền lựa chọn tham gia hay không tham gia, không ai được cản trở, ngăn cản Mọi cam kết thỏa thuận hợp pháp được pháp luật bảo hộ Quyền tự nguyện cam kết, thỏa thuận thể hiện

sự tự do ý chí của cá nhân, pháp nhân trong việc tham gia các giao dịch dân sự Cá nhân, pháp nhân thực sự bày tỏ mong muốn của mình tham gia giao dịch dân sự Các bên không được ép buộc hoặc dùng bất cứ các thủ đoạn nào nhằm buộc bên kia cam kết, thỏa thuận trái với ý chí của họ Mọi cam kết, thỏa thuận không có sự tự nguyện của các bên có thể bị tuyên bố là vô hiệu

Nguyên tắc này còn chỉ rõ một nội dung rất quan trọng là cá nhân, pháp nhân có quyền cam kết, thỏa thuận những giao dịch dân sự khi những giao dịch này không vi phạm điều cấm của luật, không trái với đạo đức xã hội Điều cấm của luật có thể là những việc luật không cho phép làm hoặc những việc luật buộc phải làm nhưng không làm Những điều này là những chuẩn mực pháp lý mà Bộ luật Dân sự buộc cá nhân, pháp nhân phải xử sự theo các chuẩn mực này khi thực hiện các giao dịch dân sự Không trái với đạo đức xã hội là không được trái với phong tục, tập quán, thuần phong

mỹ tục tốt đẹp đã được hình thành trong cuộc sống, phù hợp với sự phát triển của xã hội chúng ta Như vậy cá nhân, pháp nhân có quyền cam kết, thỏa thuận những giao

Trang 5

dịch dân sự không cấm, không trái với đạo đức xã hội Mọi giao dịch vi phạm các điều cấm này là vi phạm pháp luật, có thể bị tuyên là vô hiệu

Nguyên tắc bảo đảm quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận của cá nhân, pháp nhân của Bộ luật Dân sự yêu cầu trước hết, các bên tham gia giao dịch dân sự phải tôn trọng và thực hiện đúng những cam kết, thỏa thuận của bên kia Những cam kết, thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự do và tự nguyện dẫn đến việc thực hiện, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự Những hành vi làm trái hoặc không tôn trọng các cam kết, thỏa thuận đều được coi là không thực hiện đúng nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, là vi pháp pháp luật và bị gánh chịu hậu quả pháp lý theo quy định của

Bộ luật Dân sự Mặt khác, cá nhân, pháp nhân khi cam kết, thỏa thuận các giao dịch dân sự cần phải tìm hiểu rõ pháp luật có cấm giao dịch đó không? Giao dịch dân sự đó

có là những giao dịch trái với phong tục, tập quán tốt đẹp đã được thừa nhận trong xã hội không? Nếu vi phạm những điều nay cá nhân, pháp nhân không được cam kết, thỏa thuận vì việc làm này sẽ gây thiệt hại cho các bên tham gia giao dịch dân sự Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kêt, thỏa thuận là nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự nói chung Theo đó, dù thiết lập quan hệ dân sự trong lĩnh vực nào (dân sự, thương mại hay lao động), các chủ thể đều được tự do về mặt ý chí, không có chủ thể nào có quyền áp đặt ý chí để bắt buộc hay ngăn cản chủ thể khác trong hoạt động giao lưu dân sự

Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất của giao dịch dân sự Giao dịch dân sự là

sự thỏa thuận và thống nhất về mặt ý chí giữa các chủ thể, nhưng không phải tất cả những thỏa thuận giữa các chủ thể đều là giao dịch dân sự Sự thỏa thuận chỉ có thể trở thành một giao dịch dân sự khi ý chí của các chủ thể được thể hiện (trong sự thỏa thuận) phù hợp với “ý chí thực” của họ Với yêu cầu đó, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kêt, thỏa thuận phải được ghi nhận là một nguyên tắc cơ bản2

1.3 Giới hạn của nguyên tắc

Con người cần có tự do nhưng mọi sự cần có giới hạn Montesquieu đã khẳng

định rằng "Trong một nước có pháp luật, tự do chỉ có thể là được làm những cái nên làm”.2 Điều này đã phần nào cho thấy, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận cần có những giới hạn nhất định

2 http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/119/387.

Trang 6

Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một giá trị cần được ghi nhận trong những văn bản quan trọng ở các xã hội văn minh và phát triển Tuy nhiên, tự do này chỉ là tương đối; không một hệ thống nào ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận một cách tuyệt đối Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nhằm thúc đẩy, tạo điều kiện cho con người, cho xã hội phát triển nhưng trong nhiều trường hợp, vì lợi ích cao hơn mà nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận cần được giới hạn Nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được ghi nhận để tạo điều kiện cho các chủ thể trong giao lưu dân sự nhưng những chủ thể này tồn tại trong một xã hội nên cần phải cân đối với quyền lợi của người khác, của xã hội Ngày nay, BLDS cũng đưa ra giới hạn là nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nhưng "không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” (Điều 4) và Điều 117 BLDS 2015 quy định rằng:

“Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội”.

Tuy nhiên, giới hạn đối với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận cần

được hạn chế Nếu giới hạn cho nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận được

đưa ra quá tùy tiện, bị lạm dụng thì nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận không còn nhiều ý nghĩa "Mục đích của luật pháp không phải là loại bỏ và hạn chế tự

do, mà là bảo vệ và phát triển tự do” nên, đến lượt giới hạn đối với nguyên tắc tự do,

tự nguyện cam kết, thỏa thuận cũng cần bị giới hạn, cần được hạn chế; chính giới hạn này sẽ giúp nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận (một quyền cơ bản của con người) còn ý nghĩa trong thực tế

BLDS 2015 ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và đưa ra giới hạn cho nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận nhưng những giới hạn này rất chung chung là "không vi phạm điều cấm của pháp luật”, "không được đạo đức

xã hội”, "không trái pháp luật” Chính vì sự chung chung này mà trong thực tế, rất nhiều cam kết, thỏa thuận bị vô hiệu hóa Nói cách khác, chúng ta chưa đưa ra hạn chế cho giới hạn đối với nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận và chính vì chúng ta chưa đưa ra "chuẩn mực” cho những giới hạn này nên trong nhiều trường hợp, nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận bị xâm phạm nghiêm trọng và hiện nay Tòa án khá tùy tiện tuyên bố vô hiệu cam kết thỏa thuận với lý do vi phạm

"điều cấm của pháp luật”, "trái pháp luật”

Trang 7

Để hạn chế những tùy tiện này, để tự do cam kết và thỏa thuận thực sự có ý nghĩa trong đời sống, chúng ta cần có "chuẩn mực” cho những giới hạn đối với nguyên tắc tự

do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Chúng ta không thể hài lòng với bất kỳ quy định nào hạn chế nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận mà cần đưa ra những giới hạn hay chuẩn mực cho những quy định muốn hạn chế tự do cam kết, tự do thỏa thuận Khi chúng ta có chuẩn mực đối với những quy định hạn chế nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận, các cam kết, thỏa thuận chỉ bị vô hiệu hóa bởi các quy định hạn chế nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận sau khi khẳng định được rằng những quy định này phù hợp với "chuẩn mực” đối với giới hạn nguyên tắc tự do,

tự nguyện cam kết, thỏa thuận3

2 Sự thể hiện của nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong các quy định pháp luật cụ thể

Như đã phân tích ở mục 2 thì nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận là một trong những nguyên tắc cơ bản và đóng vai trò chi phối các quy định của BLDS Nguyên tắc này được thể hiện trong một số các quy định của BLDS 2015 Cụ thể:

2.1 Quy định về tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong giao dịch dân sự

Điều 117 BLDS 2015 quy định về Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự:

“1 Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2 Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

- Thứ nhất: Chủ thể có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân suwjChur thể của giao dịch là những người tham gia diao dịch là cá hân và pháp nhân và các chủ thể khác Cá nhân tham gia giao dịch phải là người đã thành niên, người không bị mất năng lực hành vi dân sự, không phải là người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ

3 http://baobinhduong.vn/cac-nguyen-tac-co-ban-cua-bo-luat-dan-su-2015-a148432.html.

Trang 8

hành vi, không pahri là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì có quyền xác lập

và thực hiện các quyền và nghĩa vụ dân sự phát sinh từ quân hệ giao dịch do mình xác lập Những giao dịch dân sự do những người này xác lập có hiệu lực pháp luật

Những cá nhân chưa thành niên, cá nhân bị mất năng lực hành vi dân sự, cá nhân

có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi hoặc cá nhân bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì do người đại diện của người đó xác lập

Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 125 BLDS cũng quy định một số trường hợp cá biệt khi xác lập giao dịch dân sự thì giao dịch đó không bị xác định là vô hiệu

- Thứ hai: Về ý chí của chủ thể giao dịch: Theo quy định của BLDS thì chủ thể tham gia giao dịch dân sự phải hoàn toàn tự nguyện

Sự tự nguyện của chủ thể tham gia giao dịch là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Tự nguyện là tự do định đoạt ý chí, không bị ép buộc, dọa nạt, lừa dối, và không bị người khác áp đặt ý chí Chủ thể tham gia giao dịch tự ình lựa chọn chủ thể tham gia khác, đối tượng của giao dịch, lựa chọn giá cả, địa điểm và những vấn đề khác trong việc xác lập giao dịch dân sự

- Thứ ba: Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội

Những giao dịch dân sự có mục đích và nội dung vi phạm điều cấm của pháp luật

và trái đạo đức xã hội sẽ bị xác định là vô hiệu

- Thứ tư: Hình thức của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự sẽ không bị vô hiệu bởi hình thức trừ một số trường hợp yêu cầu hình thức là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Đối với quan hệ dân sự nói chung và quan hệ giao dịch nói riêng, quan trọng nhất

là ý chí của chủ thể vào thời điểm xác lập giao dịch có tự nguyện hay không tự nguyện, chủ thể có đáp ứng được yêu cầu về chủ thể trong từng loại giao dịch không

và nội dung của giao dịch do các bên thỏa thuận có vi phạm các điều cấm của pháp luật hay không Những điều kiện về chủ thể, ý chí cảu chủ thể, mục đích và nội dung cần xác định để xác định một giao dịch dân sự có hiệu lực hay không

2.2 Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận trong các quy định về hợp đồng

Tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận lựa chọn đối tác giao kết hợp đồng (GKHĐ)

Trang 9

Quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các CTKD, bởi lẽ, họ sẽ lựa chọn đối tác nào để giao kết phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: văn hóa ứng xử của đối tác, khả năng, kinh nghiệm kinh doanh của đối tác,

uy tín của đối tác, các điều kiện lợi ích kinh tế phát sinh từ sự thương thảo hợp đồng… CTKD chỉ cần căn cứ vào các quy định pháp luật tương ứng với nội dung hợp đồng ký

để thỏa thuận, tuân thủ khi ký kết và thực hiện

Pháp luật dân sự, thương mại và lao động chỉ quy định điều kiện các chủ thể được quyền giao kết các loại hợp đồng: đối với cá nhân phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi (Chương III BLDS 2015); đại diện của pháp nhân (Điều 85 BLDS 2015), thương nhân (khoản 1, Điều 6 Luật TM 2018) Hệ thống pháp luật hiện hành không quy định cá nhân nào, pháp nhân nào, hay thương nhân nào, người sử dụng lao động hay người lao động nào được quyền GKHĐ với nhau Đây chính là sự thể hiện tôn trọng quyền được lựa chọn đối tác GKHĐ cho các CTKD

Trong thực tiễn thì quyền tự do lựa chọn đối tác GKHĐ giữa các bên được thực hiện khá phổ biến, rộng rãi, các bên GKHĐ đều nhận thức đầy đủ và thực hiện tốt về quyền năng này trong phạm vi có thể, thể hiện rõ nhất là:

(i) Các bên lợi thế trong hợp đồng sẽ có sự lựa chọn đối tác yếu thế hơn để lấn át

ý chí khi GKHĐ với mục đích tìm lợi ích cao nhất trong quá trình thực hiện hợp đồng với đối tác đó Ví dụ như hành vi của thương nhân mua ép giá nông dân, ngư dân đối với hàng nông sản hoặc hải sản khi trúng mùa;

(ii) Một thương nhân xuất khẩu hàng may mặc được tự do lựa chọn một đối tác sản xuất, gia công hàng may mặc có uy tín về chất lượng để GKHĐ gia công hàng may mặc xuất khẩu

Tự do thỏa thuận nội dung giao kết hợp đồng

Quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng là quyền hết sức cơ bản của quyền TDKD vì đây là yếu tố cơ bản nhất tác động đến lợi ích của các bên GKHĐ Các bên hoàn toàn có quyền lựa chọn đối tượng hàng hóa để mua bán hoặc dịch vụ để cung cấp, thỏa thuận giá cả, cách tính giá, phương thức thanh toán; điều kiện giao nhận hàng, vận chuyển, đóng gói bao bì và các nội dung khác trong hợp đồng trên cơ sở đảm bảo hài hòa quyền và lợi ích của hai bên Để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi thực hiện quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng, BLDS, Luật TM, Bộ luật Hàng hải, BLLĐ cũng như các văn bản pháp quy hướng dẫn đều có những quy định về

Trang 10

nội dung của hợp đồng theo hướng các chủ thể phải thỏa thuận đầy đủ các điều khoản chủ yếu để đảm bảo hiệu lực của hợp đồng; thỏa thuận về nội dung hợp đồng không thể trái với các nội dung thường lệ được quy định bởi pháp luật

Quyền tự do thỏa thuận nội dung hợp đồng của các bên bị giới hạn bởi các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm sự thỏa thuận của các bên không xâm hại đến những lợi ích mà pháp luật cần bảo vệ hay trật tự công cộng (các nguyên tắc cơ bản của pháp luật) như việc các bên không thể tự thỏa thuận trước trong hợp đồng việc bồi thường thiệt hại hợp đồng bằng một mức ấn định trước trong hợp đồng vì nguyên tắc bồi thường thiệt hại của pháp luật Việt Nam là chỉ chấp nhận cho việc bồi thường đối với những thiệt hại thực tế từ hành vi vi phạm hợp đồng của bên kia (Điều 302 và 303 Luật TM 2018)

Quyền tự do thỏa thuận hợp đồng còn bị giới hạn về hình thức hợp đồng mua bán hàng hóa (Điều 24 Luật TM 2018) được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể, ngoại trừ đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó Đối với mua bán hàng hoá quốc tế (khoản 2 Điều 27 Luật TM 2018), phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương

Tự do thỏa thuận thay đổi nội dung hợp đồng trong quá trình thực hiện

Quyền tự do thỏa thuận để thay đổi, đình chỉ hay hủy bỏ hợp đồng đã giao kết trong quá trình thực hiện hợp đồng là sự khẳng định quyền trọn vẹn của các CTKD trong quá trình ký kết và thực hiện hợp đồng Quy định này có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc tôn trọng sự quyết định ý chí của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng, có thể là quyết định thay đổi một phần hợp đồng, hoặc quyết định chấm dứt hợp đồng khi ý chí của cả hai bên trong hợp đồng muốn thay đổi, bổ sung hợp đồng đã

ký kết

Quyền tự do trên được pháp luật hiện hành quy định tại Điều 421 BLS 2015 về sửa đổi hợp đồng:

“1 Các bên có thể thỏa thuận sửa đổi hợp đồng.

2 Hợp đồng có thể được sửa đổi theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này.

3 Hợp đồng sửa đổi phải tuân theo hình thức của hợp đồng ban đầu”

Ngày đăng: 09/11/2019, 15:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w