Cùng với quá trình này sẽ xảy ra hiện tượng tái nóng chảy từng phần của mảng mang vỏ đại dương ở bề mặt manti rồi chúng được đưa lên bề mặt trái đất cùng rất nhiều nước và các vật chất t
Trang 1RÃNH SÂU ĐẠI DƯƠNG, QUÁ TRÌNH BIẾN CHẤT VÀ MỐI QUAN HỆ VỚI
MAGMA TRONG KIẾN TẠO MẢNG
NGUYỄN VĂN HOÀN, Lớp Địa chất khoáng sản và thăm dò, Khóa 34
Tóm tắt: Rãnh sâu đại dương (máng nước sâu) là một dạng địa hình lõm kéo
dài và hẹp nằm trên đáy đại dương Các máng nước sâu là là nơi tiếp xúc với đới hút chìm, là ranh giới của mảng hội tụ Ở ranh giới hội tụ giữa hai mảng thạch quyển với sự chúi xuống của mảng mang vỏ đại dương tạo nên một trường địa nhiệt cao Kết quả là tạo nên một trường biến chất áp suất cao có thành phần rất phức tạp Cùng với quá trình này sẽ xảy ra hiện tượng tái nóng chảy từng phần của mảng mang vỏ đại dương ở bề mặt manti rồi chúng được đưa lên bề mặt trái đất cùng rất nhiều nước và các vật chất từ manti, sau đó trên bề mặt vỏ trái đất xảy ra quá trình biến chất nhiệt độ cao, áp suất thấp và
sự hình thành một dãy núi lửa Biến chất áp suất thấp có thành phần phức tạp thường đi đôi với phần trên của biến chất áp suất cao và mang một phần vật chất từ vỏ đại dương cổ Cung đảo là đặc điểm riêng của mảng hội tụ kèm theo đới động đất sâu, rãnh sâu đại dương và thành tạo magma chủ yếu là tholeit (tholeit cung đảo) mang tính kiềm vôi.
1 MỞ ĐẦU
Rãnh sâu đại dương (Trench) là
một yếu tố địa hình đặc biệt, cũng là các
phần sâu nhất của đáy đại dương Các rãnh
sâu xác định một ranh giới tự nhiên hội tụ
trên bề mặt rắn của Trái Đất giữa hai mảng
thạch quyển (nơi mà nột mảng thạch quyển
chìm bên dưới một mảng khác và chìm vào
trong manti) Các mảng chuyển động cùng
nhau dọc theo các ranh giới mảng hội tụ
với tốc độ hội tụ thay đổi trong khoảng từ
vài mm đến 10 cm hoặc lớn hơn mỗi năm
Một rãnh đánh dấu vị trí mà ở đó hút chìm
phiến bị uốn cong bắt đầu giảm dần vào
bên dưới một phiến thạch quyển khác Các
rãnh thường song song với cung đảo núi
lửa và cách cung núi lửa khoảng 200 km
Các rãnh đại dương thường rộng từ 3 đến
4 km bên dưới độ cao xung quanh thềm đại dương Nơi sâu nhất trong đại dương được biết đến là Challenger Deep của rãnh Mariana với độ sâu 10.911 m bên dưới mực nước biển
Nhờ sự phát triển của hoạt động magma, các vật liệu tạo vỏ lục địa giàu SiO2 nhẹ hơn các đá mafic của vỏ đại dương được hình thành Các rìa lục địa tích cực cũng có những biểu hiện tương tự Tại rãnh sâu có các trầm tích với vật liệu đưa
từ bên ngoài tới, bề dày lớn, gọi là turbidit thường có dạng nhịp Các thành tạo này chỉ chiếm một vài vị trí trong rãnh sâu vì
gờ nâng phía ngoài ngăn cản sự vận chuyển vật liệu trầm tích đến Rãnh sâu đại
Trang 2dương có thể có độ sâu rất lớn nếu sự cung
cấp các vật liệu trầm tích từ cung đảo hoặc
lục địa không đáng kể hoặc bị gờ nâng
ngoài chắn Các thể trầm tích ở rãnh sâu
đại dương thường có dạng nêm (terrane),
vát nhọn về phía đối diện với đại dương
Các đới hút chìm (subduction) nghiêng với
góc 30o đến 90o Thường thường đới hút
chìm có độ nghiêng 45o đến 60o
Khi chìm xuống một môi trường nóng hơn thì sẽ xuất hiện hiện tượng nóng chảy từng phần trong manti nằm trên bề mặt hút chìm, sự nóng chảy này sẽ sinh ra magma axit hơn, nhẹ hơn vì vậy chúng đi ngược lên trên bề mặt tạo dựng một cung đảo núi lửa tholeit (tholeit cung đảo) trong khi đó ở dưới sâu magma granodiorit được hình thành
Sơ đồ ranh giới mảng hội tụ ở Nhật Bản (theo tài liệu của Miyashiro)
2 Ý NGHĨA KIẾN TẠO CỦA
MỐI QUAN HỆ ÁP SUẤT - NHIỆT ĐỘ
Biến chất ở ranh giới mảng - biến
chất xảy ra ở tất cả các ranh giới mảng
thạch quyển Ở ranh giới mảng hội tụ là
đai tạo núi Đai tạo núi phát triển rộng
được gọi là vùng biến chất Trong vùng
biến chất thường tồn tại các đới, người ta
gọi là đới biến chất đi cùng với đai tạo núi
Hầu hết chúng ta nhận biết được sự phản ứng của khoáng vật với nhiệt độ, áp suất trong quá trình nghiên cứu thạch luận đá biến chất và đai tạo núi Nghiên cứu đá biến chất là một quá trình quan trọng trong địa kiến tạo và đai tạo núi
Vùng biến chất có thể được chia làm 3 loại, gọi là 3 loại cơ bản, đặc trưng cho sự khác nhau của trường địa nhiệt: Áp
Trang 3suất thấp đặc trưng là andalusit, áp suất
trung bình đại diện là kyanit (không có
glaucophan) áp suất cao đại diện là
glaucophan và jadeit (Miyashiro 1961)
Đường cong địa nhiệt được biểu diễn trong
hình 2
Độ giảm trung bình của trường địa
nhiệt như theo dõi là > 25oC/km đối với
vùng biến chất áp suất thấp, 20oC/km đối
với vùng biến chất áp suất trung bình và
10oC/km đối với vùng biến chất áp suất
cao
Ước tính trung bình nhiệt độ trong
vùng biến chất áp suất thấp >50oC/km
Như vậy kết quả của giá trị cao không phải
do độ dẫn nhiệt nhưng là sự kết hợp của độ dẫn nhiệt với quá trình di chuyển của magma và nước ở thể lỏng Thực tế đã tìm thấy nhiều khối granit trong vùng biến chất
áp suất thấp Ước tính địa nhiệt <10oC trong biến chất áp suất cao biểu hiện là mảng đứng yên, không dịch chuyển Họ đưa ra kết quả chắc chắn về sự chúi xuống của mảng mang vỏ đại dương trong hoạt động kiến tạo Nếu sự chúi xuống dừng lại thì trường địa nhiệt sẽ tạm thời ngừng nghỉ Nếu phù hợp với những điều kiện nói trên thì đó là vùng biến chất áp suất cao với sự chúi xuống của mảng mang vỏ đại dương với kết quả là tạo nên đới động đất sâu (đới Benioff)
Hình 2: Sơ đồ biểu diễn đường cong địa nhiệt biến chất áp suất thấp, trung bình và cao (Biểu diễn quan hệ nhiệt độ - áp suất trong vỏ trái đất Theo tài liệu của Miyashiro)
Trang 43 MAGMA TƯƠNG PHẢN
GIỮA ĐỚI BIẾN CHẤT ÁP SUẤT
CAO VÀ THẤP
Theo quan điểm hiện nay bỏ qua sự
liên hệ của magma với đá biến chất và
không gian liên quan của các pha magma
khác nhau Sản phẩm của sự kết hợp
magma chính là của axit và hợp chất tức
thì như (granit, riolit, dacit và andesit) khu
vực chiếm ưu thế các đá biến chất áp suất
thấp nhưng đá magma mafic và siêu mafic
thành tạo ở đới đá biến chất áp suất cao
Đá mafic và siêu mafic gặp rất nhiều trong đới ophiolit Trong đới áp suất trung bình thì thành tạo các đá trung gian Sự tương phản của đá magma rất rõ ràng giữa 2 đới biến chất của vành đai Thái Bình Dương
Biến chất là đặc điểm rõ ràng của đai tạo núi như là bao gồm đới biến chất áp suất cao Do vậy vấn đề của đới ophiolit được gắn liền với đá biến chất áp suất cao
Sơ đồ 3 cặp đôi đới biến chất ở Nhật Bản (theo tài liệu của Miyashiro)
4 ĐỚI BIẾN CHẤT ÁP SUẤT
THẤP VÀ CUNG ĐẢO NÚI LỬA
Những vùng xuất hiện những loạt
biến đổi lớn trong đặc điểm từ kiểu bề mặt
đá biến chất áp suất thấp đến dãy núi lửa
trong cung đảo và hoạt động rìa lục địa
tích cực
5 THẠCH LUẬN ĐÁ NÚI LỬA CỦA CUNG ĐẢO
Các loại đá núi lửa - Trong nửa đầu của thế kỷ 20 có quan hệ của núi lửa ở cung đảo và rìa lục địa tích cực gồm có lượng lớn của basalt, andesit, dacit, ryolit, trong đó hàm lượng SiO2 và kali trong đá gốc được
Trang 5tăng lên và hàm lượng MgO và
Fe2O3+FeO trong đá gốc bị giảm đi trong
các bậc Bawen 1928 quan tâm đến bậc này
như là miêu tả quá trình phân đoạn loạt kết
tinh bởi 2 mối quan hệ chủ yếu, một sáng
màu sắc và khoáng vật sẫm màu Khoáng
vật màu có thứ tự kết tinh theo thứ tự
Olivin pyroxel thoi pyroxen xiên
-amphibol - biotit Đá núi lửa thường là loại
kiềm hoặc những đá kiềm vôi
Fener (1929) và đáng chú ý hơn là
Wager và Deer (1939) đã chứng minh hiện
tượng có thực các tholeit của đá núi lửa
không có kali nhưng khác biệt với đá kiềm
hoặc đá kiềm vôi Các tholeit ít hoặc
không tăng thành phần SiO2 và thay thế
một lượng đáng kể Fe2O3+FeO trong giai
đoạn sớm của quá trình kết tinh Các đá
này có olivin và pyroxen là các khoáng vật
màu chính nhưng ít hoặc không có
amphibol và biotit Các tholeit thường bao
gồm nhiều đá mafic không có đá trung tính
và một ít đá axit, ngược lại các đá kiềm
vôi thường chủ yếu trong đá trung tính và
acit
Basalt kiềm ở vài khu vực có tỷ số
K2O/Na2O thấp hơn đơn vị ở những nơi
khác trong trường hợp khác có tỷ số
K2O/Na2O gần với đơn vị Joplin 1964 và
Jakes và White 1969, 1972 có sự chấp
nhận tên shoshonit cho nhóm muộn hơn
của basalt kiềm
Trong giáo trình thạch học định nghĩa tên của andesit chính là thành phần giới hạn của SiO2 trong chúng, bảng màu hoặc tỷ số của plagioclas fenspat kiềm -khoáng vật silic Trong định nghĩa đó 3 loạt của đá núi lửa bao gồm andesit như là một thành viên Tuy nhiên andesit cũng được định nghĩa đặc trưng hoá học khác khác nhau và đặc tính khoáng vật khác nhau trong 3 loạt khác nhau Những vị trí này là không xa như loạt đá được phân loại của sự đồng hoá vào nguồn gốc malti Bởi vậy nên Macdonald 1960 đã đề nghị dùng tên hawaiite và mugearite cho tên gọi andesit của loạt đá kiềm Carmichael 1964 trang 442 đặt ra tên icelandite cho andesit của Iceland, Taylor và White 1965 chấp nhận những tên này cho andesit loạt tholeit Trong cách này dùng tên andesit có thể bị giới hạn đến andesit của loạt kiềm vôi Bởi vậy chúng ta đang sư dung 3 loạt
đá núi lửa của cung đảo và rìa lục địa
1 Loạt tholeit bao gồm basalt tholeit, I lượng celandite và ít dacit, lượng SiO2 trong chúng hầu như từ 48-63% trong
2 Loạt kiềm vôi bao gồm chủ yếu
là andesit và dacit, ít ryolit Lượng SiO2 trong chúng hầu như từ 52-70%
Loạt 1 và 2 là kiềm vôi trong nghĩa rộng hơn cả 2 có trong Peacock 1931 kiềm vôi cho là bằng 56-67% Đá của loạt 1 gồm
có augit, pigeonite (đôi khi có đi cùng
Trang 6pyroxen thoi) trong địa khối và chỉ ra sự
mở rộng giàu sắt trong giai đoạn giữa của
phần nhỏ đới kết tinh ở những nơi này
thuộc loạt 2 chứa pyroxen thoi (không có
pigeonite) trong địa khối và chỉ ra ít giàu
sắt trong phần nhỏ của đới kết tinh Bảng 2
chỉ ra sự so sánh của hợp phần hoá học
giữa icelandite của loạt 1 và andesit của
loạt 2 với tương tự SiO2 trong chúng ở
đông bắc cung Nhật Bản
3 Loạt kiềm được phân chia thành
loạt phụ:
A: Nhóm kiềm sodic bao gồm
basalt olivin kiềm hawailite, mugearite,
trachit và riolit kiềm
B: Nhóm shoshonit bao gồm
sololeit, latit và lơxit
Tổ hợp rất khác nhau của cung đảo
núi lửa, trong cung đảo có đới động đất sâu
hướng về phía lục địa như ở đông bắc nhật
bản, đảo Kurin và Indonesia đá núi lửa có
khuynh hướng tăng hàm lượng kiềm về
phía lục địa Nói cách khác kiềm và tổng
kiềm trong chúng tỷ số K/Na và bậc quá
bão hoà SiO2 của đá núi lửa có khuynh
hướng tăng về phía lục địa Nếu chúng ta
so sánh các đá với cùng lượng SiO2 trong
chúng như là sự liên quan đều đặn hợp
phần trung bình của đá núi lửa từ
55-57,5% SiO2 từ cung đông bắc Nhật Bản
(Yagi, Kawano và Aoki 1963) chứa đựng
trong nhiều cung đảo không chỉ toàn bộ
các đá núi lửa là được xem xét như trong
Sugamura (1960,1968), và Dickinson 1968 nhưng khi loạt kiềm vôi được loại trừ về sự giả hình như vậy nó có trước bởi vài quá trình tiếp theo bao gồm sự hỗn nhiễm như
ở Kuno 1959,1960
Trong sự trưởng thành bình ổn hoạt động của cung đảo ở đông bắc Nhật Bản
và Kamshaca tính chất thạch học của loạt tholeit, loạt kiềm vôi và loạt kiềm xuất hiện trong những dạng này từ đại dương đến phía lục địa của đai núi lửa, tóm tắt sự nhận biết điều tra chi tiết các đai núi lửa đông bắc cung Nhật Bản được cung cấp bởi Kawano, Yagi và Aoki (1961, 1963) Trong đới rìa đại dương (tên gọi của đới Nazu) giữa đai núi lửa, các đá tholeit được
đi cùng bởi các đá kiềm vôi, hợp phần hoá học tương tự loạt tholeit với cùng hàm lượng SiO2 loại trừ sự giàu sắt trong giai đoạn giữa của sự tiến hoá giữ những vị trí trong loạt tholeit (bảng 2) Đá kiềm vôi lượng K2O cao hơn những đá tholeit kết hợp Đới rìa lục địa giữa đai núi lửa có đặc điểm bởi sự vắng mặt tholeit tiêu biểu (đặc trưng hoặc điển hình) và phong phú chiếm chủ yếu các đá thuộc loạt kiềm vôi (đặc biệt andesit) nó có lượng K2O cao hơn và
tỷ số Fe2O3/FeO cao hơn tholeit và những
đá kiềm vôi đồng hành của đới rìa đại dương Những đá của loạt tholeit không chứa horblen và biotit và những đá kiềm vôi rìa lục địa chứa horblen và biotit thông thường hơn Basalt thuộc nhóm kiềm sodic xảy ra ở gần rìa lục địa hạn chế của đai núi
Trang 7lửa Miocen và Pliocen tính chất thạch học
ở đông bắc Nhật Bản là tương tự tính Đệ
tứ được chỉ ra ở hình 4 điều đó gợi ý rằng
vị trí của các mảng hút chìm là không
thành tạo từ Miocen
Loạt kiềm vôi tự nhiên - tính trạng
và đặc điểm của basalt kiềm vôi là không
rõ ràng, nhiều núi lửa phun lên loạt kiềm
vôi không có basalt, loạt này có thể bắt đầu
với andesit Nockold và Allen (1953) tìm ra
nhiều biểu đồ cho rằng acit và đá trung
gian của loạt kiềm vôi rơi vào đường cong
phẳng cho mỗi khu vực Họ giải thích điều
này như là sự gợi ý rằng magma gốc là đá
trunng gian (như andesit hoặc diorit) trong
hợp phần với SiO2 = 52-56% và cho rằng
đá mafic nhiều hơn nữa của loạt sớm, sự
tích tụ của sự kết tinh sớm Green và
Ringwood (1966, 1968) chứng minh thực
tiễn có thể của thành hệ magma andesit
nguyên thủy
Kuno 1960 đã đề xuất tên của đá
basalt cao nhôm cho đá basalt thông
thường ở hợp phần hoá học và sự phân
chia địa lý giữa tholeit và basalt olivin
kiềm Điều đó có nghĩa rằng basalt cao
nhôm phải là basalt gốc thuộc loạt kiềm
vôi (ví dụ Jakes và White 1972, Aoki và
Oji 1966, Kuno 1968) Osborn (1962) đã
nhấn mạnh điều quan trọng có thể của oxy
dẫn xuất của tholeit và loạt đá kiềm vôi
hoặc kém tương tự magma basalt (ông
dùng tên của gabro xâm nhập dạng vỉa cho
đá của loạt tholeit
Đá núi lửa thuộc loạt kiềm vôi được phát triển ở khu vực tạo núi (bảng 3) Sự xuất hiện của đá kiềm vôi hoặc số lớn trong
số đá andesit và ryolit có thể về hướng gợi
ý cung đảo và đới lục địa hoạt động, nó không được ghi chú nhưng những đá này không chiếm ở cung chưa trưởng thành như được chứa ở bảng 3 hoặc được bàn đến ở phần sau
Đá núi lửa thuộc loạt kiềm vôi giống với đá granit ở hợp phần hoá học, cả
2 đều ở đai tạo núi Nó có thể được phát nguyên từ cùng magma andesit (diorit) ví
dụ Nockold và Allen 1953, Dickinson 1970) nó liên quan đến đá granit chỉ ra sự kết hợp không thay đổi của sự khác nhau của cung đảo và rìa lục địa như là đá núi lửa có sự tồn tại trong sự biến đổi của đá granit được chứng minh bởi Moore 1959
và Moore và Grantz và Blake 1961 về bờ biển phía tây bắc Mỹ và bởi Taneda ở Nhật Bản
Phác đồ kiểm tra sự thay đổi magma - magma nguyên nhân gây ra núi lửa cung đảo và hoạt động của rìa lục địa
sẽ tạo ra vài sự liên quan nguồn gốc đới hút chìm Từ đó những đá núi lửa đặc biệt của loạt kiềm vôi được vào cung núi lửa nó liên quan trực tiếp tới đới hút chìm ví dụ magma andesit nguyên thuỷ dẫn đến kết quả trong loạt này được tạo ra bởi sự nóng chảy từng phần của vỏ đại dương dạng nâng cao hầu hết các lớp của đới hút chìm như hình 2
Trang 8Magma basalt loạt tholeit và loạt
kiềm có thể được tạo thành bằng sự tái
nóng chảy một phần vật chất ỏ dưới sâu
hoặc phần bên trên của malti Vỏ đại
dương được cấu tạo bằng loạt tholeit biển
sâu và có lẽ lớp peridotit ở bên dưới của
thạch quyển bị đi xuống malti
Vỏ đại dương với cấu tạo là tholeit
ở vùng biển thẳm và bên dưới có lẽ là lớp
peridotit của thạch quyển chịu đựng một
thời kỳ thay đổi ngày càng tăng về độ sâu
và áp suất Trạng thái cân bằng giữa trạng
thái nóng chảy và trạng thái rắn sẽ chuyển
sang một chế độ áp suất khác Những kết
quả thí nghiệm gần đây về sự nóng chảy
của peridotit dưới áp suất rất lớn sẽ được
bão hoà silicat không đúng mức (thí dụ )
Sự kiện này đúng với điều kiện nhiệt P-T,
cấu tạo của đá magma sẽ có khuynh hướng
giảm bớt hàm lượng kiềm như là sự cân
đối cửa sự nóng chảy ngày càng tăng dần
Áp suất và thay đổi sự nóng chảy có thể
biến đổi thích hợp với độ sâu đi xuống của
mảng, với kết quả là thay đổi cấu tạo của
đá núi ở lửa đảo
6 KIẾN TẠO MẢNG Ở VIỆT
NAM
Ở Việt Nam những người đầu tiên
đưa “ánh sáng” của thuyết Kiến tạo nảng
vào văn liệu địa chất là Lê Thạc Xinh, Tạ
Hoàng Tinh (1974) Qua các văn liệu đã
công bố có thể nhận thấy rằng lãnh thổ
Việt Nam trong quá trình phát triển địa
chất kiến tạo của mình chủ yếu thuộc lục
địa và biển rìa Trong đó bao gồm các thành tạo liên quan đến rãnh sâu đại dương chính là các terrane, các mảng nhỏ hoặc các vi mảng nằm ở vùng biển rìa như khối Phu Hoạt, Sông Mã… được các nhà kiến tạo nghiên cứu và đưa vào văn liệu địa chất Việt Nam (Lê Như Lai 1983)