1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH TIẾN HOÁ KIẾN TẠO HÌNH THÀNH BỒN TRŨNG NÔNG SƠN GIAI ĐOẠN TRIAT MUỘN VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI QUẶNG HOÁ URANI

10 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 30,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

QUÁ TRÌNH TIẾN HOÁ KIẾN TẠO HÌNH THÀNH BỒN TRŨNG NÔNG SƠN GIAI ĐOẠN TRIAT MUỘN VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI QUẶNG HOÁ URANI LÊ QUYẾT TÂM , Lớp Cao học Địa chất khoáng sản và thăm dò khoá 34.. Sự

Trang 1

QUÁ TRÌNH TIẾN HOÁ KIẾN TẠO HÌNH THÀNH BỒN TRŨNG NÔNG SƠN GIAI ĐOẠN TRIAT MUỘN VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI QUẶNG HOÁ

URANI

LÊ QUYẾT TÂM , Lớp Cao học Địa chất khoáng sản và thăm dò khoá 34.

Tóm tắt: Bồn trũng Nông Sơn được hình thành do va chạm tuổi Triat

muộn - Jura sớm Bồn trũng được lấp đầy bởi tổ hợp các trầm tích hạt vụn nguồn gốc lục địa và á lục địa trong bồn trũng Riff nội lục được chồng gối trên khu biến chất cao KonTum Sự lấp đầy bồn trũng bằng các thành hệ trầm tích lục nguyên là kết quả của quá trình tương tác có tính nhân quả giữa chuyển động kiến tạo và đặc điểm thành phần vật chất Sự phân dị mạnh mẽ của đáy bồn trũng do chuyển động khối tảng

đã tạo ra các bồn trầm tích thứ cấp với những đặc trưng riêng về hoàn cảnh thuỷ động lực và chế độ hoá lý của môi trường (dòng chảy, độ sâu,

độ pH, Eh…), dẫn đến sự phân dị trầm tích theo quy luật của một bể trầm tích thống nhất và tính cục bộ của từng khu vực Môi trường địa hoá trầm tích nguyên thuỷ và đặc điểm thạch học của các đá lục nguyên

là 2 yếu tố cơ bản để xem xét nguồn gốc và sự bảo tồn của urani, cho phép xác lập các tiền đề tìm kiếm và đánh giá triển vọng của loại hình khoáng sản này Bài viết này trình bày bối cảnh kiến tạo hình thành và quá trình trầm tích thông qua việc xác lập các chu kỳ trầm tích hình thành nên các trầm tích lục nguyên có liên quan đến quặng hoá urani.

I QUÁ TRÌNH TIẾN HOÁ KIẾN

TẠO ĐỂ HÌNH THÀNH BỒN

TRŨNG NÔNG SƠN

Theo thuyết kiến tạo mảng, Riff

nội lục là cấu trúc căng giãn, cấu trúc

tách có quy mô lớn trong phạm vi lục

địa Về mặt hình thái, Riff lục địa có thể

xem như những địa hào lớn và phức tạp

Quá trình tạo riff lục địa chia làm 6 giai

đoạn Giai đoạn thứ nhất đặc trưng bởi

sự hình thành các đứt gãy để tạo ra cấu

trúc địa hào, nếu có phun trào thì cấu trúc địa hào đó được gọi là cấu trúc Riff hoặc aulacogen Nếu quá trình phát triển dừng lại ở sự hình thành địa hào thì cấu trúc địa hào ấy còn là cấu trúc tiền Riff Giai đoạn 2 và 3 là các giai đoạn tạo riff Giai đoạn 4 điển hình cho quá trình tạo đới hút chìm của kiến tạo mảng Giai đoạn 5 và 6 là giai đoạn Riff khép lại, đồng thời là giai đoạn va chạm mạnh mẽ của kiến tạo mảng

Trang 2

Quá trình phát triển Riff không

phải liên tục từ giai đoạn thứ nhất đến

giai đoạn Hymalaya Chúng có thể dừng

lại ở bất cứ giai đoạn nào tuỳ theo sự

phát triển của địa động lực học

Trũng Nông Sơn là một bồn trũng

được hình thành ở giai đoạn đầu của

quá trình tạo Riff như thế Bồn trũng

Nông Sơn thuộc các huyện Nam Giang,

Tây Giang và Đại Lộc, tỉnh Quảng

Nam, nằm ở phần phía Bắc của Địa

khối KonTum Đây là một địa hào được

hình thành trong giai đoạn cuối của

Triat muộn và phát triển kế thừa trong

Jura, Neogen và Đệ Tứ

Về bối cảnh kiến tạo, bồn trũng

Nông Sơn được hình thành do va chạm

tuổi Triat muộn - Jura sớm Bồn trũng

được lấp đầy bởi tổ hợp các trầm tích

hạt vụn nguồn gốc lục địa và á lục địa

trong bồn trũng Riff nội lục được chồng

gối trên khu biến chất cao KonTum

Sự lấp đầy bồn trũng bằng các thành

hệ trầm tích lục nguyên là kết quả của

quá trình tương tác có tính nhân quả

giữa chuyển động kiến tạo và đặc điểm

thành phần vật chất Sự phân dị mạnh

mẽ của đáy bồn trũng do chuyển động

khối tảng đã tạo ra các bồn trầm tích thứ

cấp với những đặc trưng riêng về hoàn

cảnh thuỷ động lực và chế độ hoá lý của

môi trường (dòng chảy, độ sâu, độ pH,

Eh…), dẫn đến sự phân dị trầm tích theo quy luật của một bể trầm tích thống nhất và tính cục bộ của từng khu vực Môi trường địa hoá trầm tích nguyên thuỷ và đặc điểm thạch học của các đá lục nguyên là 2 yếu tố cơ bản để xem xét nguồn gốc và sự bảo tồn của urani, cho phép xác lập các tiền đề tìm kiếm và đánh giá triển vọng của loại hình khoáng sản này

Phạm vi của bồn trũng Nông Sơn được xác định dựa trên ranh giới của tập trầm tích hạt thô cuội – tảng kết, sạn – sỏi kết và cát kết thuộc tướng proluvi, aluvi và đá gốc thuộc vùng xâm thực có tuổi trước T3n-r Như vậy đáy của bồn trầm tích và vùng nổi cao bị xâm thực cung cấp vật liệu trầm tích cho bồn trũng chính là các thành tạo của hệ tầng Khâm Đức, hệ tầng A Vương, phức hệ Bến Giằng – Quế Sơn, Đại Lộc, Hải Vân và cả hệ tầng Đồng Trầu (T2ađt) Bồn trũng Nông sơn có dạng vịnh kéo dài theo hướng Đông – Tây nửa kín, liên thông với biển ở phía Đông và

bị phân dị thành hai trũng sâu, đó là bồn trũng thứ cấp Thọ Lâm ở phía Đông và bồn trũng thứ cấp Sông Bung Ngăn cách giữa hai bồn thứ cấp này bởi nêm Khâm Đức, gồm các thành tạo trầm tích biến chất tuổi Proterozoi Quá trình tiến hoá trầm tích cũng xảy ra với quá trình

Trang 3

thu hẹp phần ngập nước và bành trướng

các nhóm tướng lục địa về phía tâm của

hai bồn thứ cấp nói trên Đến cuối Triat

muộn, bồn Nông Sơn được đền bù trầm

tích hoàn toàn, xuất hiện các cảnh quan

hồ đầm lầy tạo than, kết thúc hai nhịp

lớn trong Triat: nhịp dưới kiểu lục địa

chứa khoáng hoá urani và nhịp thứ hai

kiểu lục địa vũng vịnh chứa than

II ĐẶC ĐIỂM THẠCH HỌC –

TƯỚNG ĐÁ VÀ MỐI LIÊN QUAN

VỚI QUẶNG HOÁ URANI TRONG

BỒN TRŨNG NÔNG SƠN

II.1 Những yếu tố thạch học và

môi trường trầm tích ảnh hưởng đến

quy luật phân bố của urani

1 Đặc điểm thạch học – tướng đá

Bồn trầm tích Triat muộn Nông Sơn

được lấp đầy bởi một thành hệ lục

nguyên thuộc 3 nhóm tướng: tướng lục

địa (continental), chuyển tiếp

(transitional), biển (oceanic)

- Nhóm tướng lục địa bao gồm cuội

kết, sạn kết hạt thô, tướng proluvi, kiểu

nón phóng vật của các sông suối ngắn

và dốc; cát kết hạt trung và hạt nhỏ xen

bột kết sát với các miền xâm thực và

thuộc đới ven rìa bồn trũng, không có

triển vọng chứa quặng phóng xạ

- Nhóm tướng chuyển tiếp là đối

tượng chứa urani có triển vọng nhất,

bao gồm tướng vũng vịnh, tướng châu

thổ và tướng ven bờ Trong giai đoạn đầu Triat muộn do hình thái cấu trúc vịnh Nông Sơn không cân đối nên đã tạo ra nhiều bồn thứ cấp phân bố ở các đoạn bờ khúc khuỷu kiểu vũng vịnh nhỏ

có dòng chảy ven bờ yếu, nói chung khá yên tĩnh, sự dao động mực nước biển theo chu kỳ do chuyển động kiến tạo khiến cho các phức hệ trầm tích có cấu tạo phân nhịp bất đối xứng kiểu vũng vịnh đặc trưng

Dựa trên đặc điểm thạch học và địa hoá có thể phân chia các bồn thứ cấp như sau:

+ Bồn Khe Hoa – Khe Cao đặc trưng kiểu tiền châu thổ (delta front) và vũng vịnh bao gồm cát kết hạt trung và hạt nhỏ ít khoáng dạng ascos, ascos thạch anh chứa mảnh vụn đá hoa, xi măng cali-sericit kiểu lấp đầy giàu U3O8 + Bồn Tabhinh (trong đó có khu Pà Lừa – Pà Rồng đang được tiến hành thăm dò) tương đối kiềm hơn (pH = 7-7,5), oxi hoá yếu đến trung bình, bao gồm một phức hệ cát kết hạt nhỏ đa khoáng kiểu grauvac felspat và dạng arcos lithoit có độ chọn lọc và mài tròn kém (So > 2,5; Ro <0,3), xi măng kiểu lấp đầy thuộc tướng vũng vịnh ven bờ Xét về điều kiện thấm và bảo tồn urani thì bồn này là môi trường khá thuận lợi Hiện tại, trên diện tích này đang được

Trang 4

Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm tổ chức

thăm dò quặng urani từ năm 2010 đến

nay Kết quả thăm dò cho thấy, đá chứa

quặng bao gồm các đá từ sạn cuội kết,

cát kết chứa sạn, cát hạt vừa, hạt nhỏ

đến bột sét kết màu xám, xám sáng

dạng acko, grauvac và grauvac felspat

Hàm lượng urani cao nhất lên đến

5,68% U3O8, nhưng hàm lượng trung

bình cho toàn khu khoảng 0,030

-0,038% U3O8 Đây là diện tích có triển

vọng nhất về quặng urani trong bồn

trũng Nông Sơn cho đến thời điểm hiện

nay

Quặng urani phân bố có xu thế tập

trung trong các đá cát kết hạt trung, thô

dưới dạng các chuỗi ổ, thấu kính quặng

và duy trì tương đối ổn định theo đường

phương, đường hướng dốc tạo nên lớp

đá chứa quặng Trong các lớp đá chứa

quặng có các thân quặng urani đạt giá

trị công nghiệp Trong khu mỏ đã phát

hiện được 6 lớp đá chứa quặng chính và

một số lớp đá chứa quặng khác có kích

thước nhỏ hơn, chúng phân bố trong các

hệ lớp thạch học số 4 và 6 của tập 2

(T3nađ1 ) Trong các hệ lớp đá chứa

quặng kể trên có các ổ, thấu kính quặng

urani công nghiệp

+ Bồn An Điềm – Cà Liêng – Sườn

Giữa bao gồm cát kết hạt nhỏ đa khoáng

kiểu grauvac – lithoid, grauvac felspat,

lithoid dạng arcos Kém triển vọng về urani do môi trường trầm tích kiểu châu thổ xen kẽ aluvi, đặc trưng oxi hoá là chủ yếu

+ Bồn Nam Bến Giằng – Ninh Phước, đây là diện tích đã được chính học viên là Chủ nhiệm Đề án tổ chức điều tra, đánh giá triển vọng quặng urani từ năm 1999 đến năm 2004 Đây

là phần rìa phía Nam của bồn trũng thứ cấp Thọ Lâm, đá chủ yếu là cát kết arco, bột kết grauvac màu xám xen kẹp màu tím Đá chứa quặng là cát kết hạt thô màu xám giàu vật chất hữu cơ; thành phần và độ hạt khá tương đồng với khu vực Tabhinh Kết quả điều tra, đánh giá cho thấy đây là diện tích có triển vọng để tiến hành thăm dò ở giai đoạn tiếp theo

- Nhóm tướng biển phân bố ở trung tâm bồn trũng bao gồm các trầm tích hạt mịn bột – sét biển ven bờ và biển nông Trầm tích biển nông được suy đoán dựa trên quy luật cộng sinh tướng và hình thái về bức tranh địa tầng và cấu trúc của bồn trũng Nông Sơn: càng vào tâm của bồn càng gặp các thành tạo trầm tích trẻ hơn có tuổi Jura (hệ tầng Thọ Lâm) ở phía Tây, phía Đông và trầm tích Neogen, Đệ Tứ ở phía Đông Nghĩa

là nơi đây vẫn tiếp tục sụt lún và luôn luôn là đáy của vịnh Nông Sơn Mặt

Trang 5

khác, tất cả các đường phương của đá

lục nguyên đều có hướng chỉnh hợp với

đường bờ cổ và có hướng dốc đổ về trục

của tâm bồn trầm tích cổ

2 Các yếu tố khống chế quặng hoá

urani trong bồn trũng Nông Sơn

Các yếu tố quan trọng nhất khống

chế khoáng hóa urani trong vùng trũng

Nông Sơn như sau:

+ Đá chứa: các đá cát sạn kết hoặc

cát kết arkos hạt trung đến thô thuộc

phần dưới của hệ tầng Nông Sơn phủ

trên bất chỉnh hợp với các đá trầm tích

phun trào hoặc granit

+ Môi trường thành tạo của các đá:

là dạng tướng nón phóng vật, bãi bồi

sông hoặc rìa bồn trũng vũng vịnh ven

bờ với hàm lượng vật chất hữu cơ là

đáng kể

+ Nguồn cung cấp urani: chủ yếu từ

các đá trầm tích phun trào và magma

axit vây quanh bồn trũng cũng như các

vật liệu trầm tích phân dị từ các nguồn

này chiếm một tỷ trọng lớn trong thành

phần trầm tích

+ Phương thức khoáng hóa: quặng

urani được lắng đọng ở gần ranh giới

giữa đới oxy hóa và đới khử, nghiêng

về đới khử, hình thành bởi sự giao thoa

của dòng dung dịch oxy hóa di chuyển

dọc theo lớp đá từ trên xuống và tiếp

xúc với tác nhân khử ở phía dưới

Quặng bị phá hủy trong đới oxy hóa, được làm giàu trong đới khử tạo nên nhiều lớp đá chứa khoáng hóa dạng lớp theo đường phương đến hàng ngàn mét, theo hướng dốc đến hàng trăm mét Trong lớp có nhiều thân quặng urani đạt giá trị công nghiệp

+ Cơ chế lắng đọng urani: là quá

trình oxy hóa - khử, trong đó khoáng urani được hình thành bởi sự khử dung dịch oxy hóa giàu urani; tác nhân khử chủ yếu là dòng dung dịch khử được làm giàu sulphur (pyrit) ở trong đá, hoặc có sự tham gia của vật chất hữu cơ trong đá

+ Cấu trúc khống chế: sự làm

nghiêng các lớp trầm tích do biến dạng chờm nghịch hoặc uốn nếp sau khi đá được hình thành, tạo thành độ dốc dao động từ >5o đến 20o và có nơi dốc hơn

Độ dốc lớn cộng với sự chặt xít và tái kết tinh của đá làm giảm độ rỗng trong

đá có thể là nguyên nhân làm cho mức

độ tích tụ urani trong khu vực diễn ra ở mức độ hạn chế và do đó không tạo nên các thân quặng có hàm lượng urani cao

II.2 Các kết quả nghiên cứu mới

về thạch học – tướng đá trong quá trình thăm dò quặng urani khu Pà Lừa – Pà Rồng, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam năm 2017

Trang 6

Kết quả nghiên cứu của các chuyên

gia Nga thuộc Viện SECGEI (Viện Địa

chất Toàn Nga) trong quá trình nghiên

cứu các lỗ khoan thăm dò năm 2017

(trong khuôn khổ hợp tác giữa Viện và

Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt

Nam) cho thấy, Trũng Nông Sơn thuộc

kiểu trũng nếp lõm – địa hào actezi nhỏ

Các cấu trúc tương tự thường đẳng

thước hoặc kéo dài theo phương của các

đứt gãy khống chế chúng Chúng

thường có kích thước hàng chục kilômét

theo chiều ngang và theo chiều dọc có

thể lên tới vài trăm kilomét, diện tích

thường là hàng ngàn km vuông Ví dụ

về các cấu trúc chứa quặng như vậy là

bồn actezi nhỏ Wyoming và San Juan ở

cao nguyên Colorado (đai quặng Grant)

của Mỹ và các trũng Mesozoi muộn

Zabaikalie ở Nga: Olovskaya, Imskoye

v.v

Sự phân bố hàm lượng urani dọc

theo nơi kết thúc quá trình oxy hoá vỉa

trước hết là do tính chất thạch học - địa

hóa nguyên sinh của môi trường vây

quanh (sự hiện diện của chất hữu cơ)

Cùng với chúng, có ý nghĩa rất quan

trọng đối với việc khống chế quặng hóa

là các quá trình khử hậu sinh do sự

thâm nhập của dung dịch nhiệt có tính

khử từ các tầng thấm nước nằm dưới và

đá móng đi lên theo các phá hủy đứt

gãy Các lò khử hậu sinh đặc trưng bởi

sự phát triển khoáng hóa chồng như sulphur hóa, carbonat hóa, và đôi khi là argilit hóa, silic hóa, thạch anh hóa, tái phân bố vật chất hữu cơ có thể hình thành nên quặng giàu gần đứt gãy Đóng vai trò quan trọng có thể là các quá trình oxy hóa hậu sinh, cũng như các quá trình liên quan đến nguồn nước nhiệt nhưng mang tính axit từ các tầng chứa nước nằm dưới tạo nên trong tâng

đá màu xám các đới rào cản tương ứng Trên cơ sở nghiên cứu các lỗ khoan

lô G của mỏ Pà Lừa - Pà Rồng có thể

sơ bộ kết luận về việc hiện diện của các bối cảnh thạch học thuận lợi, về tướng

đá và kiểu biến đổi hậu sinh, khống chế các đới quặng hóa và dị thường cao của urani đã được phát hiện cũng như được

dự báo

* Về bối cảnh thạch học, xác định được một số bối cảnh thạch học thuận lợi cho tập trung quặng hóa urani như sau:

1 Sự phân lớp, phân nhịp của trầm tích lục nguyên đi kèm với các tập phân nhịp Về lý thuyết chúng bắt đầu bằng các loại hạt thô – sạn kết và cuội kết chiếm ít Bên trên mặt cắt bị thay thế bởi cát kết hạt thô và hạt trung; kết thúc bởi cát kết hạt nhỏ, cát bột kết, bột kết, hiếm hơn là bột bụi (bột sét)

Trang 7

2 Vật chất sỏi và cát có độ mài tròn

tốt – chúng là sản phẩm được đưa từ

khá xa tới và chịu tác động lâu dài của

dòng nước

3 Trên mặt cắt có sự hiện diện rõ nét

của tầng ít thấm trong thời điểm hình

thành và diagenes giai đoạn sớm của

các đá vụn nhỏ - cát bột kết, bột kết, sét

bột kết – tầng cách nước Nằm giữa các

thầm cách nước là các vỉa thấm nước có

độ dày khác nhau (cũng vào thời điểm

hình thành và diagenes giai đoạn sớm)

thành phần cát kết, sạn kết, chúng là

đường vận chuyển nước vỉa oxy chứa

urani Trên mặt cắt chúng được đánh

dấu bởi biến đổi hậu sinh các đá nguyên

sinh

4 Sự bão hòa cao vật chất hữu cơ

của các đá màu xám có độ hạt khác

nhau phân bố theo điểm, uốn lượn theo

lớp, hoặc xuyên cắt, hoặc vân lụa, dạng

lưới, trong đó có cả dấu hiệu rõ nét về

sự tái phân bố vị trí ban đầu của chúng

* Về bối cảnh tướng, ở các mặt cắt

đã nghiên cứu, trên thực tế có mặt tất cả

các tướng đá từ dải trước núi chuyển

sang đồng bằng aluvi cho đến tướng

aluvi – hồ và tướng cuối hồ

Ở phần sát bờ sườn phía nam, trên

đáy mặt cắt phát triển trầm tích cuội-sạn

và cát kết hạt thô tướng trũng rẻ quạt

trước núi Về mức độ mài tròn của sỏi

sạn cho thấy chúng nằm khá xa so với chổ phá hủy và bào mòn khối đá ban đầu Trong thành phần hạt chủ yếu là các đá silic chứa hữu cơ màu đen, đá silic xám sáng và hơi hồng, ít hơn là các

đá biến chất và núi lửa axit, có một số cuội granit bị muscovit hóa mạnh Phía trên của mặt cắt theo dõi thấy

có các tập phân nhịp và được xếp vào

tướng aluvi – tướng lòng sông, trong đó

có các tướng: đáy sông, ven đáy sông, bãi ven sông, ven bãi bồi và bãi bồi Có một ít khối lượng đá có tướng hồ, rất có

thể chúng kéo xa về phía đống bắc Toàn cảnh về tướng chỉ có thể theo dõi khi phân tích tổng hợp toàn bộ cột địa

tầng lỗ khoan theo các tuyến Thuận lợi nhất cho tích tụ quặng hóa urani là các trầm tích dễ thấm màu xám nguyên sinh của phần cuối tướng đồng bằng rẻ quạt và tướng aluvi đồng bằng – ven đáy, ven bãi bồi và bãi bồi ven sông.

Móng của phần phía nam trũng Nông Sơn là plagiogranit biotit, granit 2 feldspat và granodiorit, chúng được phát hiện ở các lỗ khoan 26608, 27604,

27610 và 33808 Trong các lỗ khoan

27610 và 33808 thấy sự phân bố phân tầng bình thường của sạn kết trên đá granit mà không có bất kỳ tác động kiến tạo nào Trong lỗ khoan 27604 và

Trang 8

26608 ranh giới giả định là kiến tạo.

Theo ranh giới phát triển các mảnh

granit dạng thấu kính chôn vùi trong

khối dạng bột hạt mịn, có thể là sản

phẩm của milonit hóa

*Về kiểu địa hóa của đá, có thể nhận

biết rõ nét 3 kiểu địa hóa nguyên sinh

là: kiểu màu xám (màu đen), kiểu màu

đỏ và kiểu màu xanh lá cây Ngoài ra

biến đổi hậu sinh chồng lên kiểu địa hóa

nguyên sinh không bền vững là các

trầm tích đa sắc, chúng hình thành trogn

quá trình tái tạo biến đổi oxy hóa – khử

theo đới vỉa và theo các đới phá hủy

kiến tạo đá cứng

Chủ đạo là các đá kiểu màu xám và

đôi nơi đen, phân bố khá phổ biến trong

các trầm tích hạt nhỏ của phần nước

nông tĩnh của đống bằng aluvi (tướng

ven bãi bồi và bãi bồi) và cát kết hạt

trung đến hạt thô của bãi ven sông

Điểm khác biệt là trầm tích màu đen

thành phần cát kết hạt thô và sạn kết ở

tầng sát đáy được phát hiện trên tuyến

260-338 chứa vỉa quặng dưới cùng

Kiểu màu đỏ đặc trưng thời kỳ khô

nóng của điều kiện khí hậu – cảnh quan,

phát triển phân mảnh ở phía trên và

cách xa vùng bào mòn phần trung tâm

và phần dưới của mặt cắt trong cát kết

hạt trung – thô và sạn kết

Kiểu màu xanh lá cây trong diện

nghiên cứu phát triển hạn chế trong trầm tích sét bột kết và agilit tướng hồ (?)

Phát triển rộng rãi là kiểu đa sắc với

hướng địa hóa khác nhau của đá lục nguyên Chúng đặc trưng bởi sự biến đổi từng phần màu sắc, bởi sự tương phản chuyển tiếp màu, phân bố dạng hạt – phân dải, hiếm hơn là phân bố xuyên cắt Sự đa sắc của đá thể hiện rõ nét nhất là trong trầm tích màu xám nguyên sinh - ở dạng phân chia các lớp với bề dày và hình thái khác nhau và dạng hạt xám – xanh, tím nâu, hiếm hơn là ánh màu tím hoa cà Trong một số trường hợp giả thuyết là có sự xuất hiện nhiều lần của biến đổi hậu sinh màu của đá Trên thực tế quặng hóa và dị thường cao urani tập trung vào đới ráp nối (chuyển tiếp) của loại màu xám nguyên sinh và đa sắc biến đổi hậu sinh

Trong quá trình nghiên cứu mẫu lõi khoan của các lỗ khoan liên tục phát hiện sự biến đổi nhiệt dịch của đá, được thể hiện bởi sự phát triển của khoáng hóa sericit, thạch anh, carbonat và sulphur (pyrit), gần gũi với kiểu thành tạo mới của berezit hóa Cường độ phát triển của đá biến đổi nhiệt dịch và quy

mô phân bố của chúng chỉ có thể đánh

Trang 9

giá được sau khi nghiên cứu mẫu lát

mỏng

KẾT LUẬN

1 Bồn trũng Nông Sơn trong giai

đoạn cuối Triat muộn có dạng vũng

vịnh kiểu bồn trũng trước núi nửa kín

liên thông với biển ở phía Đông và kéo

dài theo hướng Tây - Đông

2 Mặt cắt trầm tích có cấu tạo phân

nhịp vũng vịnh và ven biển xen kẽ nhau

biểu thị sự chuyển động dao động của

bồn trũng trong phông sụt võng liên tục

3 Theo hướng vuông góc với đường

bờ cổ, sự bành trướng của nhóm tướng

lục địa trong quá trình tiên hoá lấp đầy

bồn trũng đã thể hiện tốc độ đền bù

trầm tích mạnh mẽ vượt quá tốc độ sụt

lún

4 Nguồn gốc quặng urrani là thứ

sinh, thành tạo theo phương thức thấm

đọng sau giai đoạn thành đá do nước

ngầm làm giầu liên tục và lâu dài khi

các thành hệ trầm tích được nâng lên,

nhưng chưa trở thành vỏ phong hoá,

môi trường cơ bản vẫn đang là khử và

trung tính

5 Sự di chuyển của nước ngầm

mang quặng và sự tích tụ làm giàu

chúng liên quan chặt chẽ với đặc điểm

độ hạt và hàm lượng xi măng cũng như

thành phần xi măng Hàm lượng urani

tập trung cao tạo thành mỏ có triển

vọng liên quan với cát kết arkco, arkco thạch anh và arkco lithoid hạt thô đến vừa, có hàm lượng xi măng từ 10 -18%, chủ yếu là xi măng sét giàu vật chất hữu cơ thuộc phần cuối tướng đồng bằng rẻ quạt và tướng aluvi đồng bằng – ven đáy, ven bãi bồi và bãi bồi ven sông với đặc trưng là môi trường khử và trung tính

6 Khu vực mỏ urani Pà Lừa - Pà Rồng có thành phần thạch học và kiểu tướng của trầm tích chứa quặng Trias thượng cực kỳ phức tạp Theo toàn bộ mặt cắt, ở các mức khác nhau phát triển các lớp cát kết và sạn kết có độ thấm tốt thuận lợi cho di chuyển các dung dịch chứa quặng theo vỉa, chúng được phân cách bởi các tầng cách nước, có khả năng chuyển động từ lớp này qua lớp khác Tuy nhiên, trong đó có dấu hiệu của tái tạo katagenes làm cho đá bền chặt và đột ngột giảm độ thấm, hạn chế quá trình thẩm thấu của dung dịch nước

7 Hoạt động biến cải kiến tạo trong các tầng trầm tích khá rõ, thể hiện bởi các đới nứt nẻ, dập vỡ, dăm hóa, thường

có các gương trượt Sự phá hủy kiến tạo

đó có thể phần nào làm tăng khả năng thấm nước của toàn bộ thể tích đá và làm thay đổi hướng và thời gian tác động của quá trình hình thành quặng Việc làm rõ mối tương quan của tạo

Trang 10

quặng thẩm thấu dọc vỉa và kiến tạo đòi

hỏi phải tiếp tục nghiên cứu và luận

giải

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Như Lai, 1996 Giáo trình Địa

kiến tạo và sinh khoáng

2 GS Trần Nghi, Nguyễn Quang

Hưng, Nguyễn Trọng Chi, 1997 Báo

cáo kết quả tìm kiếm urani và các

khoáng sản khác khu Tabhinh – Nông

Sơn, Quảng Nam – Đà Nẵng Lưu trữ

Liên đoàn 10 (nay là Liên đoàn Địa chất

Xạ - Hiếm)

3 Chu Đình Ứng, 1994 Báo cáo kết

quả tìm kiếm quặng urani Khe Hoa –

Khe Cao, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng

Nam Lưu trữ Liên đoàn 10 (nay là Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm)

4 Lưu Văn Dũng, 2002 Báo cáo kết quả đánh giá quặng urani khu Pà Rồng, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm

5 Lê Quyết Tâm, 2004 Báo cáo kết quả đánh giá quặng urani khu Đông Nam Bến Giằng, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam Lưu trữ Liên đoàn Địa chất Xạ - Hiếm

6 Kết quả nghiên cứu chuyên đề Thach học – tướng đá, điều kiện thành tạo quặng urani Khu Pà Lừa – Pà Rồng, huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam năm 2017 Các chuyên gia Viện SECGEI (Viện Địa chất Toàn Nga)

Ngày đăng: 09/11/2019, 14:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w