1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của con người tới môi trường địa chất hệ đầm phá tam giang cầu hai (thừa thiên huế) impacts of human activities on the geological environment of the tam giang – cau hai coastal lagoon (thua thien hue)

16 122 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 126,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên cơ sở nghiên cứu các đặc trưng môi trường địa chất hệ đầm phá TG - CH, bài viết này nhằm đánh giá tác động của con người tới hệ đầm phá thông qua các hành động phát triển kinh tế -

Trang 1

Nguyễn Hữu Cử, Trần Đức Thạnh, Nguyễn Vũ Tuấn, Nguyễn Thị Kim Anh, 2002 Tuyển tập Tài nguyên và

Môi trường biển, tập IX, Tr.103-120 Nxb Khoa học và Kỹ thuật.

TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG ĐỊA CHẤT

HỆ ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI (THỪA THIÊN - HUẾ)

Nguyễn Hữu Cử, Trần Đức Thạnh

Nguyễn Vũ Tuấn, Nguyễn Thị Kim Anh

1 MỞ ĐẦU

Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai (TG - CH) ở tỉnh Thừa Thiên - Huế là một lagun

ven bờ nước lợ lớn nhất trong số 12 lagun tiêu biểu ở ven bờ miền Trung Việt Nam trong

khoảng 110 - 160 vỹ bắc, với diện tích mặt nước trung bình vào khoảng 216 km2 và cũng

thuộc loại lớn của thế giới 3 - 6 Tài nguyên vùng bờ biển, đặc biệt là tài nguyên sinh vật,

tập trung chủ yếu ở các loại hình thủy vực ven bờ trong đó có lagun Thật vậy, hệ đầm phá

TG - CH chứa đựng nguồn tài nguyên đa dạng và giầu tiềm năng phát triển, có lịch sử khai

thác lâu dài và giữ vị trí quan trọng trong tổ chức lãnh thổ kinh tế tỉnh Thừa Thiên - Huế, liên

quan trực tiếp tới 5 huyện (Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang và Phú Lộc)

trong tổng số 8 huyện của tỉnh

Hệ đầm phá TG - CH là một thể địa chất hiện đại tương ứng với một kiểu môi trường

địa chất đới bờ, nhạy cảm biến động về tài nguyên và môi trường và gây hậu quả kinh tế - xã

hội nặng nề như đã từng xảy ra nhiều lần do tác động của các quá trình tự nhiên cũng như tác

động của con người dưới nhiều hình thức khác nhau và quy mô khác nhau Trên cơ sở nghiên

cứu các đặc trưng môi trường địa chất hệ đầm phá TG - CH, bài viết này nhằm đánh giá tác

động của con người tới hệ đầm phá thông qua các hành động phát triển kinh tế - xã hội khu

vực và được hoàn thành với sự hỗ trợ của Hội đồng Khoa học tự nhiên năm 2002

2 CƠ SỞ TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

Cơ sở tài liệu chủ yếu xây dựng bài viết này là kết quả nghiên cứu của các đề tài khác

nhau do Phân viện Hải dương học tại Hải Phòng chủ trì thực hiện trong những năm 90 của

thế kỷ trước mà tác giả trực tiếp tham gia [5, 13, 14, 16]

Bài viết này được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận tiếp cận hệ thống động lực

môi trường địa chất, trong đó có động lực nhân sinh, và phương pháp phân tích logic tác

động của con người tới các yếu tố môi trường địa chất và dẫn suất hậu quả của nó 7, 10

3 ĐẶC ĐIỂM MÔI TRƯỜNG ĐỊA CHẤT HỆ ĐẦM PHÁ TAM GIANG - CẦU HAI

3.1 Cấu trúc môi trường địa chất khu vực

3.1.1 Cấu trúc thẳng đứng

Trang 2

Các thành tạo móng cứng của môi trường địa chất khu vực đầm phá TG - CH trong ô tọa độ vào khoảng 16014’ - 16042’ vỹ bắc và 107022’ - 107057’ kinh đông bao gồm các đá filit, quaczit, cuội kết, đá hoa, đá phiến mica, đá phiến sét, đá phiến lục và porfiroid thuộc hệ tầng A Vương ( - O1av), lộ ra ở phía nam và tây nam; các thành tạo vụn lục nguyên, phun trào thuộc hệ tầng Long Đại (O - S lđ), lộ ra chủ yếu ở phía tây; đá phiến sét, đá vôi, bột kết

và cát kết thuộc hệ tầng Tân Lâm (D1 - 2 tl), lộ ra ở phía tây và phía nam; đá vôi thuộc hệ tầng

Cô Bai (D2-3 cb), lộ hạn chế ở phía tây; các đá granit dạng gnai, granodiorit thuộc phức hệ Đại Lộc (2 đl), lộ ra ở phía tây; gabro - olivin và gabronorit thuộc phức hệ Núi Chúa (3nc), lộ ra ở phía tây đầm Cầu Hai; granit biotit và granit hai mica thuộc phức hệ Hải Vân (3 hv), lộ ra ở phía nam đầm Cầu Hai; gabro - diorit, granodiorit và granit thuộc phức hệ Bản Giằng - Quế Sơn (1 - 1

4 bq), lộ ra ở phía tây; các đá granosienit, sienit và granit, thuộc phức hệ Bản Chiềng (3 bc), lộ ra ở phía tây Phần móng gắn kết yếu gồm các đá sét kết, cát kết và cuội - sạn kết thuộc hệ tầng Đồng Hới (N đh) và một phần không đáng kể các trầm tích sông, sông - biển tuổi Plioxen sớm

Các thành tạo bở rời của môi trường địa chất hệ đầm phá TG - CH gồm các trầm tích sông, sông - biển tuổi Pleixtoxen giữa - muộn (a, am QII - III), lộ hạn chế ở rìa phía tây đồng bằng; trầm tích sông - biển, biển tuổi Pleixtoxen muộn (am, m QIII); trầm tích biển, sông -biển tuổi Holoxen sớm - giữa (m, am QIV1-2) và trầm tích sông - biển, biển - gió và biển tuổi Holoxene muộn (am, mv, m QIV3)

Các thành tạo địa chất gắn kết và bở rời nói trên đã tạo nên hệ đầm phá TG - CH với bốn đơn vị cấu trúc như hình 1 5 gồm: vực nước, đê cát chắn, cửa và bờ sau

Hình 1 Sơ đồ cấu trúc hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Trang 3

3.1.2.Cấu trúc ngang

Cấu trúc ngang môi trường địa chất khu vực đầm phá TG - CH phân đới dọc theo bờ biển định hướng tây bắc - đông nam, phân biệt thành 3 hệ: hệ môi trường địa chất (MTĐC) biển, hệ MTĐC bờ biển và hệ MTĐC lục địa (hình 2)

Hình 2 Sơ đồ môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Hệ MTĐC bờ biển gồm hai kiểu: kiểu MTĐC cồn - đụn và bãi biển và kiểu MTĐC lagun ven bờ Kiểu MTĐC cồn - đụn và bãi biển tương ứng với đê cát chắn lagun ven bờ (hình 1) Kiểu MTĐC lagun ven bờ gồm bốn phụ kiểu: phụ kiểu cửa lagun, phụ kiểu bãi bồi lagun, phụ kiểu lòng chảo lagun và phụ kiểu cửa sông châu thổ lagun Phụ kiểu MTĐC cửa lagun đặc trưng bởi động lực dòng chảy, có ảnh hưởng của sóng và thủy triều, bởi sự phát triển delta triều lên ở cửa Tư Hiền (Vinh Hiền) và delta triều xuống ở cửa Thuận An với vật liệu cát trung và thô Phụ kiểu MTĐC bãi bồi lagun gồm hai dạng: bãi bồi cao dạng thềm

Trang 4

lagun, đặc trưng bởi chế độ tích tụ định kỳ về mùa mưa với vật liệu chủ yếu là bột và cát nhỏ, bãi bồi thấp dạng bãi triều với chế độ tích tụ trầm tích nhờ hoạt động của thủy triều và biến đổi mực nước trong ngày Phụ kiểu MTĐC lòng chảo lagun có quy mô lớn nhất, chiếm phần lớn không gian MTĐC phá Tam Giang, đầm Sam - An Truyền, Thủy Tú và đầm Cầu Hai Đặc trưng cho phụ kiểu này là quá trình lắng đọng trầm tích hạt mịn độ ướt cao tướng lagun thực thụ và mịn dần theo độ sâu Trầm tích hạt mịn ở đây có độ ướt rất cao, đạt tới 81,8% ở phá Tam Giang, 47,1% ở đầm Sam, 55,5% ở đầm Thủy Tú và 63,9% ở đầm Cầu Hai Phụ kiểu MTĐC cửa sông châu thổ lagun chiếm phần không gian hạn chế ở cửa Ô Lâu, cửa sông Hương và cửa sông Truồi - Đại Giang, đặc trưng bởi ưu thế động lực sông, tích tụ bãi bồi thấp, bãi bồi cao với chủ yếu trầm tích hạt mịn, độ ướt cao va phát triển quá trình lầy hóa với vai trò đáng kể thực vật thủy sinh

Lagun ven bờ, một kiểu môi trường lắng đọng trầm tích hiện đại (Evans et al, 1973, Reineck and Singh, 19755), phát triển phân dị thành các phụ kiểu tương ứng với các phụ kiểu MTĐC (bảng 1)

Bảng 1 Phân chia môi trường trầm tích hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Phân vùng Phân kiểu môi trường trầm tích Đặc trưng

Cửa sông Ô Lâu

Phụ kiểu châu thổ lagun

Lắng đọng trầm tích chủ yếu hạt nhỏ, giàu vật chất hữu cơ, độ ướt cao (>60%), môi trường trầm tích khử yếu

Cửa sông Hương

Cửa sông Truồi - Đại

Giang

Cửa Tư Hiền

Phụ kiểu cửa lagun

Lắng đọng trầm tích hạt thô lẫn mảnh vụn vỏ sinh vật độ ướt thấp, môi trường trầm tích oxy hóa, phát triển delta triều lên ở cửa Tư Hiền, delta triều xuống ở cửa Thuận An

Cửa Thuận An

Hệ thống bãi bồi ven

Lắng đọng trầm tích hạt vừa (cát nhỏ, bột), độ ướt thấp, tạo thành bãi bồi cao dạng thềm ngập lũ về mùa mưa, bãi bồi thấp dạng bãi triều, môi trường trầm tích khử trung bình

Phá Tam Giang

Phụ kiểu lòng chảo lagun

Lắng đọng trầm tích hạt nhỏ, độ ướt cao (>60%), phân dị cơ học mịn dần theo độ sâu, môi trường trầm tích khử trung bình

Đầm Thủy Tú

Đầm Cầu Hai

Trang 5

Nguồn: Nguyễn Hữu Cử, 1996 [5], có bổ sung

Hệ MTĐC lục địa gồm hai kiểu: kiểu MTĐC đồng bằng ven biển và kiểu MTĐC đồi

và núi thấp Kiểu MTĐC đồng bằng ven biển đặc trưng bởi lắng đọng trầm tích aluvi lấp đầy các dạng địa hình trũng thấp tồn tại từ trước Holoxen muộn, trong đó có hệ thống các lagun

cổ, trong pha  theo nguyên lý phát triển đồng bằng ven biển của Strickland (1926) 5 ở nơi giàu bồi tích cát và các dạng tích tụ cát Quá trình này vẫn còn tiếp tục bởi hoạt động địa chất của các sông đổ vào đàm phá Kiểu MTĐC đồi và núi thấp phát triển đặc trưng quá trình xâm thực bóc mòn và rửa trôi bề mặt các thành tạo địa chất trước Đệ tứ, một mặt hình thành phổ biến các thể tích tụ deluvi, proluvi, bãi bồi ven sông nhưng mặt khác cung cấp một lượng lớn bồi tích cho đầm phá và biển

3.2 Động lực và tiến hóa môi trường địa chất khu vực đầm phá

3.2.1 Động lực nội sinh

Môi trường địa chất hệ đầm phá TG - CH chịu ảnh hưởng của chế độ nâng kế thừa và nâng phân dị phức tạp Kiểu MTĐC cồn - đụn và bãi biển, lagun ven bờ và đồng bằng ven biển phát triển trên đới sụt hạ tương đối trong Đệ tứ với tốc độ nâng trung bình 0,12 -0,15mm/năm (Lê Đức An và Ma Kông Cọ, 1979 5) bên cạnh khối nâng tây Huế (tốc độ vận động 0,3mm/năm) và khối nâng Bạch Mã (tốc độ vận động 0,5mm/năm) ở phía nam Hệ MTĐC biển phía ngoài phát triển trên đới căng giãn (Lê Như Lai, 1995 5) chuyển tiếp với đới rift sông Hồng Toàn bộ các thành tạo địa chất khu vực bị phá hủy mạnh bởi các hệ đứt gãy hiện đại phát sinh từ hệ đứt gãy sâu A Lưới, các đứt gãy phát sinh cục bộ và các đứt gãy thuộc hệ đứt gãy Hải Vân - Sơn Trà 12 Phát sinh từ hệ đứt gãy sâu A Lưới, có các hệ đứt gãy Phò Trạch, hệ đứt gãy Huế, hệ đứt gãy Rào Trăng Đây là các hệ đứt gãy trượt phải, định hướng á vỹ tuyến (hình 3)

Hình 3 Sơ đồ địa động lực nội sinh hiện đại khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Trang 6

Trong các đứt gãy phát sinh cục bộ, điển hình là hệ đứt gãy sông Tả Trạch, trượt phải

và định hướng á kinh tuyến (BTB - NĐN) cắt qua phá Tam Giang, hệ đứt gãy sông Hữu Trạch biểu hiện trượt trái, định hướng ĐB - TN cắt qua đầm Thủy Tú Thuộc hệ đứt gãy Hải Vân - Sơn Trà, các đứt gãy chính có biểu hiện trượt phải, định hướng TB - ĐN chia cắt khối Bạch Mã và đầm Cầu Hai Vận động nâng và hoạt động của các hệ đứt gãy phá hủy hiện đại

đã làm xuất hiện các vòm nâng cục bộ, gây biến dạng cấu trúc mạng lưới dòng chảy mặt đổ vào đầm phá, như vòm nâng Phú Vang, vòm nâng Thủy Thanh

3.2.2 Động lực ngoại sinh

Hệ đầm phá TG - CH là bồn hội lưu của hầu hết các hệ thống sông Thừa Thiên - Huế (trừ hệ thống sông Xê Xáp ở miền tây), hàng năm tiếp nhận tổng thủy lượng 5,171 x 109m3,

và tải lượng phù sa 620000 tấn, chưa tính đến lượng trao đổi với biển Quá trình san bằng địa hình đồng bằng ven biển và lấp đầy lagun ven bờ diễn ra liên tục thông qua các cơ chế: tích tụ bãi bồi châu thổ lagun lấn tiến và thu hẹp diện tích đầm phá, tích tụ lấp đầy và nông hóa vực nước đầm phá với tốc độ vào khoảng 2,17 mm/năm 14 nhờ hoàn lưu nội tại và trao đổi nước giữa biển và đầm phá, và cơ chế san bằng bờ của biển với lượng xuất chuyển bồi tích dọc bờ do sóng vào khoảng 3,5 triệu tấn/năm, trong đó ưu thế về phía nam 0,5 triệu tấn/năm, dẫn đến trạng thái và vị trí cửa đầm phá không ổn định 5, 14, 15, 17

3.2.3 Sự phát triển và tiến hóa môi trường địa chất khu vực đầm phá

Trải qua lịch sử phát triển địa chất khu vực lâu dài trước Holoxen (giai đoạn tiền lagun)

và Holoxen (giai đoạn thành tạo lagun) trên đới sụt hạ tương đối tân kiến tạo và kiến tạo hiện đại, hệ đầm phá TG CH ra đời trong Holocene muộn sau khi Đại Trường Sa (hệ thống cồn -đụn và bãi biển đồ sộ kéo dài từ cửa Việt tới núi Linh Thái) hình thành Sau khi hình thành,

hệ đầm phá TG - CH phát triển có tính giai đoạn rõ ràng Kết thúc giai đoạn trẻ được đánh dấu bằng sự kiện mở cửa thứ hai tại làng Hòa Duân vào năm 1404, và hệ đầm phá TG - CH đang phát triển ở giai đoạn trưởng thành 5 Từ khi mở cửa Hòa Duân, cửa Tư Hiền tồn tại trước đó trở thành cửa phụ và trạng thái tồn tại của cả hai cửa trở nên không ổn định, môi trường lắng đọng trầm tích lagun phân dị mạnh giữa các phụ kiểu, đặc biệt là giữa các tiểu vùng của phụ kiểu châu thổ lagun

Lúc mới hình thành, hệ đầm phá TG – CH rộng hơn bây giờ nhiều (Lê Quý Đôn, 1976

5) và trong suốt giai đoạn phát triển trẻ, chỉ tồn tại một cửa Tư Hiền (xưa có một thời gọi là cửa Tư Dung) Bồi tích từ cửa sông Ô Lâu và sông Hương cùng tham gia tạo hệ thống bãi bồi ven bờ lagun theo suốt chiều dài từ cửa Ô Lâu tới Hà Trung Ngoài bãi bồi dạng thềm, còn xuất hiện bãi bồi dạng đảo ở cuối đầm Thủy Tú có cấu trúc hình thái delta rất điển hình (khu

Trang 7

Ba Cồn) Phát triển sang giai đoạn trưởng thành, hệ đầm phá TG - CH tồn tại hai cửa, trong

đó cửa Tư Hiền chịu ảnh hưởng của thủy triều có biên độ cao hơn thủy triều ở cửa Thuận An nguồn nuôi bồi tích cho bãi bồi ven bờ đầm Thủy Tú và bãi bồi dạng đảo ở phía cuối không còn đáng kể Thay vào đó là sự lớn nhanh của bãi bồi châu thổ sông Hương lấn tiến về phía cửa Thuận An Các đặc trưng lý hóa khối nước đầm phá càng giảm nhanh tính chất đồng nhất giữa các tiểu vùng cửa sông châu thổ lagun, giữa các cửa và thậm chí giữa các bộ phận khác nhau (Tam Giang, Thủy Tú, Cầu Hai) của lòng chảo lagun

Lagun ven bờ, một bồn tích tụ hiện đại, tất yếu trải qua các giai đoạn phát triển trẻ, trưởng thành và suy tàn để hoàn thiện cấu trúc hình thái đồng bằng ven biển như đã từng xảy

ra trong lịch sử phát triển địa chất đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam 3 Ngoài các quá trình động lực tự nhiên, các lagun ven bờ hiện nay nói chung và hệ đầm phá TG - CH nói riêng còn chịu tác động mạnh của con người ngày càng gia tăng (động lực nhân sinh) dưới nhiều hình thức khác nhau Vì vậy, không thể dự báo khoảng thời gian suy tàn của hệ đầm phá TG - CH khi chỉ ước định tốc độ lắng đọng trầm tích như hiện nay ngoài việc cho rằng

hệ đầm phá TG - CH tiếp tục phát triển phân dị mạnh trong thời gian đủ dài trong điều kiện dâng cao mực nước đại dương thế giới

3.3 Tài nguyên và tai biến môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

3.3.1 Tài nguyên

Tài nguyên MTĐC khu vực đầm phá TG - CH được đề cập tới trong phạm vi kiểu MTĐC cồn - đụn và bãi biển, kiểu MTĐC lagun ven bờ và kiểu MTĐC đồng bằng ven biển Theo quy luật chung, tiềm năng tài nguyên vùng bờ biển tập trung chủ yếu ở các loại hình thủy vực ven bờ, trong đó có lagun, và ưu thế tiềm năng tài nguyên sinh vật Đối với vùng bờ biển miền trung Việt Nam, nơi có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và tài nguyên thiên nhiên nghèo kiệt, tiềm năng tài nguyên và giá trị sử dụng của các thủy vực ven bờ, trong đó có hệ thống đầm phá, càng có ý nghĩa và có vai trò quan trọng trong quy hoạch phát triển kinh tế

-xã hội khu vực [6] Có thể khái quát các dạng tài nguyên thiên nhiên liên quan tới các đơn vị cấu trúc MTĐC khu vực đầm phá trên bảng 2 với giá trị tài nguyên lớn nhất, cả tài nguyên sinh vật và phi sinh vật, thuộc về kiểu MTĐC lagun ven bờ Mặc dù giá trị sử dụng lớn nhưng tiềm năng khai thác chỉ có hạn định để duy trì sự ổn định cơ cấu tài nguyên và phát triển các giá trị tài nguyên, để hạn chế nảy sinh các vấn đề địa chất môi trường

3.3.2 Tai biến

Tai biến MTĐC vùng bờ biển luôn là vấn đề địa chất môi trường bức xúc, ảnh hưởng toàn diện tới sự phát triển kinh tế - xã hội vùng bờ biển Tai biến MTĐC vùng bờ biển Thừa Thiên - Huế chủ yếu là các dạng tai biến địa chất ngoại sinh, được trình bày khái quát trên bảng 3 theo cách phân tích logic dẫn suất MTĐC xuất hiện tai biến, động lực sinh tai biến, dạng tai biến và hậu quả kinh tế - xã hội của tai biến

Tai biến MTĐC khu vực đầm phá TG - CH gây hậu quả kinh tế - xã hội nặng nề và thách thức năng lực ứng xử lớn nhất là sự không ổn định của đầm phá phát triển trong giai đoạn trưởng thành, lũ và ngập lụt hằng năm Tuy nhiên, nâng cao năng lực ứng xử tai biến

Trang 8

đồng nghĩa với gia tăng chi phí thay thế ban đầu, đó là điều cần xét đến trong các quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội khu vực

Trang 9

Bảng 3 Tai biến liên quan tới môi trường địa chất khu vực đầm phá Tam Giang - Cầu Hai

Các kiểu MTĐC

Kiểu MTĐC cồn

đụn và bãi biển

- Xói lở bờ biển Bờ biển ổn định tương đối trong nhiều năm nay bởi cân bằng bồi tụ - xói lở theo mùa thay thế nhau nhưng xói lở đột biến

từ năm 1999 Do thay đổi hình thái động lực vùng cửa Thuận An trong thời gian 11/1999 - 11/2001, bờ cát làng Thái Dương (Hải Dương) bị xói lở lùi tới 37m gây sập đổ hải đăng và công trình phụ cận, xói lở đẩy lùi bãi Thuận An tới trên 40m gây sập đổ nhà nghỉ cả cũ và mới xây Diễn biến xói lở vẫn còn phức tạp Xói lở liên tục gây biến dạng hình thái động lực và cấu trúc đê cát nằm giữa cửa Tư Hiền và Hải Bình

- Cát bay Hiện tượng cát bay thường xuyên xảy ra trên cả hệ thống cồn

- Đụn, đặc biệt đoạn từ Điền Lộc tới Hải Dương, từ Phú Diên tới Vinh Hiền gây biến dạng bề mặt, cồn cát di động, vùi lớp cây cối, bồi lấn khu dân cư

- Cát chảy Về mùa mưa, cát chảy xẩy ra hầu khắp hệ thống cồn cát, bồi lấn khu dân cư và đất canh tác trên thềm lagun do chảy tràn, bồi lấp ven đầm phá do dòng chảy tạm thời Dạng tai biến này gây ảnh hưởng lớn tới điều kiện sinh cư của cộng đồng vùng cát

Kiểu MTĐC - Lũ và ngập lụt Do hình thế thời tiết cực đoan gây mưa lớn kéo dài

Trang 10

lagun ven bờ trên diện rộng, dễ sinh lũ, kết hợp với trạng thái thu hẹp mặt cắt ướt

qua cửa đầm phá trong mùa khô, ngập lụt dễ xẩy ra, gây hậu quả trực tiếp và gián tiếp tới kinh tế - xã hội khu vực, trong đó có kinh tế thủy sản

- Không ổn định cửa đầm phá Do kết hợp động lực san bằng bờ của biển xẩy ra mạnh mẽ về mùa khô và động lực sông mạnh về mùa lũ, cửa đầm phá không ổn định vị trí, hình thái và trạng thái tồn tại Cửa

Tư Hiền có xu thế biến đổi chu kỳ ngắn với hiện tượng lấp, mở, thay đổi vị trí giữa Vinh Hiền và Hải Bình Cửa Thuận An có xu thế biến động chu kỳ dài với hiện tượng dịch chuyển về phía tây bắc Hậu quả của không ổn định cửa rất nặng nề, gần đây nhất phải kể tới sự kiện lấp cửa Tư Hiền vào tháng 12/1994, sự kiện mở cửa Tư Hiền, mở cửa Hòa Duân lặp lại vị trí lịch sử đầu tiên năm 1404 và vào tháng11/1999 Kiểu MTĐC

đồng bằng ven

biển

- Lũ và ngập lụt về mùa mưa

- Sinh hạn và xâm nhập mặn về mùa khô Đây là hai dạng tai biến phổ biến theo mùa, gây hậu quả kinh tế - xã hội nặng nề, đặc biệt đối với các điều kiện sinh cư của cộng đồng ven biển miền Trung nói chung

4 TÁC ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI TỚI MÔI TRƯỜNG ĐỊA CHẤT KHU VỰC ĐẦM PHÁ

Thông qua các hành động phát triển của mình dưới bất cứ hình thức nào, con người cũng tác động tới MTĐC khu vực, nơi con người đang chiếm cứ không gian, sinh sống nhờ vào khai thác các dạng tài nguyên MTĐC Ngược lại, thông qua chế độ địa động lực, MTĐC tác động trở lại tới con người, nơi sinh cư và các điều kiện sinh cư dưới dạng tai biến Dù trực tiếp hay gián tiếp, con người tác động tới MTĐC là tác động tới các đơn vị cấu trúc, chế

độ động lực, cơ cấu tài nguyên và thậm chí kích thích các yếu tố động lực MTĐC sinh tai biến Dưới đây là các hành động chủ yếu của con người tác động tới MTĐC khu vực đầm phá TG - CH

4.1 Khai thác lưu vực

Mọi hành động phát triển kinh tế - xã hội diễn ra trên lưu vực đều là yếu tố động lực nhân sinh tác động trực tiếp tới MTĐC khu vực đầm phá hay gián tiếp tới MTĐC đầm phá dưới dạng khai thác sử dụng đất và nước Cả hai dạng này tác động tới MTĐC thông qua sự thay đổi động thái nước mặt đệm Dù rằng nước khí quyển rơi trong khu vực không ổn định theo thời gian và phân bố không đều theo không gian, thậm chí là cực đoan, do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó chủ yếu là sự biến đổi khí hậu, nhưng sự thay đổi động thái nước mặt đệm chủ yếu do con người Khai thác rừng đầu nguồn làm giảm khả năng sinh thủy là tình trạng chung ở tất cả các tiểu lưu vực đông Trường Sơn không riêng ở Bắc Trung Bộ, làm giảm chức năng điều tiết dòng chảy mặt và hạ thấp gương nước ngầm, dẫn đến tình trạng như vẫn thường xảy ra: dòng chảy mặt mùa kiệt trở nên quá kiệt và gia tăng xâm nhập mặn theo

Ngày đăng: 09/11/2019, 11:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w