ĐẶT VẤN ĐỀBệnh động mạch chi dưới BĐMCD là tình trạng bệnh lý của độngmạch chủ bụng và các động mạch chi dưới trong đó lòng động mạch bị hẹpgây giảm tưới máu cơ và các bộ phận liên quan
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh động mạch chi dưới (BĐMCD) là tình trạng bệnh lý của độngmạch chủ bụng và các động mạch chi dưới trong đó lòng động mạch bị hẹpgây giảm tưới máu cơ và các bộ phận liên quan (da, thần kinh) phía hạ lưu
Có nhiều nguyên nhân gây hẹp, tắc động mạch chi dưới bao gồm cácnguyên nhân cấp tính và mạn tính Các nguyên nhân cấp tính bao gồm huyếtkhối động mạch chi dưới hình thành tại chỗ, do cục máu đông di chuyển từtrên xuống,…; Các nguyên nhân mạn tính bao gồm xơ vữa động mạch, bệnhđộng mạch do đái tháo đường, bệnh động mạch do hút thuốc lá, do cácnguyên nhân chèn ép từ bên ngoài vào như u xương, hội chứng bẫy mạchkhoeo, hay từ bên trong như kén lớp áo trong, [13]
Xã hội ngày càng phát triển, đời sống vật chất ngày càng được cảithiện, do đó tỷ lệ các bệnh liên quan đến chuyển hóa như đái tháo đường, tănghuyết áp, béo phì và xơ vữa mạch ngày càng tăng, vì thế mà tỷ lệ gặp tronglâm sàng ngày càng nhiều [3],[24]
Trong nghiên cứu NHANES năm 2003, tỷ lệ mắc BĐMCD với quần thểtrên 40 tuổi là 4,3%, trong đó với độ tuổi trung bình 66 thì tỷ lệ này lên tới14,5 %
Theo nghiên cứu GREA của Pháp tỷ lệ mắc bệnh toàn bộ của bệnh độngmạch chi dưới ở độ tuổi từ 40-49 là 0,8%, tỷ lệ này tăng theo tuổi, 1,1% ở độtuổi từ 50-59 và 3,7% ở độ tuổi từ 60-69 Trong vòng 50 năm trở lại đây bệnhdường như xuất hiện ở độ tuổisớm hơn [13]
Tại Việt nam Theo thống kê tại Viện Tim mạch Việt Nam chỉ ra tỷ lệ
BN BĐMCD điều trị nội trú tại Viện tăng từ 1,7% (2003) lên tới 2,5% (2006)
và 3,4% (2007) [3]
Trang 2Mặc dù tổn thương động mạch chi dưới không đe dọa ngay đến tínhmạng bệnh nhân nhưng làm giảm chất lượng cuộc sống, mất sức lao động,tăng nguy cơ với những bệnh lý khác và làm giảm tuổi thọ Cùng với sự tiếntriển, BĐMCD còn gây nhiều biến chứng tại chỗ như: loét, hoại tử, thậm chí
có thể dẫn tới phải cắt cụt chi nếu không được chẩn đoán một cách chính xác
do BĐMCD gây ra có vai trò hết sức quan trọng
Một trong những phương pháp điều trị được áp dụng trong những nămgần đây cho bệnh nhân BĐMCD là can thiệp động mạch qua da Với những
ưu thế như: rút ngắn thời gian điều trị, giảm tỷ lệ biến chứng hậu phẫu… đãđược nhiều bác sỹ lựa chọn phương pháp này điều trị cho bệnh lý hẹp, tắcđộng mạch chi dưới, đặc biệt tổn thương ở tầng ĐM chủ - chậu, ĐM chậu –đùi hoặc ĐM đùi – khoeo…
Để đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị bằng can thiệp ĐM qua
da ở bệnh nhân bị BĐMCD, người ta sử dụng nghiệm pháp gắng sức trênthảm chạy, nghiệm pháp đi bộ 6 phút.(KC)
Nghiệm pháp đi bộ 6 phút là một thăm dò đơn giản, dễ thực hiện, hiệuquả để đánh giá sự đáp ứng với can thiệp điều trị của các bệnh nhân bệnh lýtim mạch, đặc biệt phù hợp với những bệnh nhân cao tuổi hoặc những bệnhnhân không có khả năng thực hiện nghiệm pháp gắng sức
Trang 3Một nghiên cứu đánh giá kết quả sớm trước và sau nong đặt stent tắc,hẹp ĐM chi dưới bằng nghiệm pháp đi bộ 6 phút là chưa thấy được báo cáo.
Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu: “Nghiên cứu test đi bộ 6 phút trong việc theo dõi kết quả bệnh nhân BĐMCD được can thiệp tại Viện Tim mạch Việt nam và bệnh viện Đại học y Hà nội” với 2 mục tiêu:
1 So sánh kết quả test đi bộ 6 phút trước và sau can thiệp.
2 Tìm các yếu tố liên quan đến sự thay đổi kết quả này
Trang 4Chương 1
TỔNG QUAN
1.1 Sơ lược giải phẫu ứng dụng động mạch chi dưới
Phân loại hệ động mạch ngoại vi bằng vùng giải phẫu dựa theo kiểuđịnh vị Rastchev (theo Heberet và cộng sự, 1974) [6],[10],[12],[13]:
Trang 5Hình 1.2: Giải phẫu điện quang vùng chậu, đùi
- Đoạn cuối động mạch chủ bụng: ĐMCB đi bên trái cột sống, đến
ngang mức đốt sống thắt lưng 4-5 thì chia ra thành hai động mạch chậu gốcphải và trái, góc chia từ 60-800 Thông thường khi đối chiếu lên thành bụngchỗ chia ngang mức rốn ĐMCB có đường kính từ 2-2,5cm [6],[10],[12],[13]
- Động mạch chậu gốc: Từ chỗ phân chia, động mạch chạy xuống dưới
và sang bên một đoạn dài 5-6cm thì chia thành hai động mạch chậu ngoài vàtrong Động mạch chậu gốc không cho nhánh bên nào và chạy sát với mặttrước xương cùng Động mạch chậu gốc phải bắt chéo trước tĩnh mạch chậugốc phải phía trước ụ nhô, còn động mạch chậu gốc trái chạy phía ngoài tĩnhmạch chậu gốc trái Đường 55 kính trung bình của động mạch chậu gốc phải
là 0,89cm và trái là 0,83cm [6],[10],[12],[13]
- Động mạch chậu trong: Động mạch chậu trong chia ra các nhánh cung
cấp máu cho các tạng ở khung chậu và góp phần tạo nên tuần hoàn bàng hệtrong những trường hợp bị bệnh lý [6],[10],[12],[13]
- Động mạch chậu ngoài: Tiếp theo động mạch chậu gốc, chạy xuyên
qua tiểu khung theo hướng từ sau ra trước đến phía sau điểm giữa dây chằngbẹn thì đổi tên thành động mạch đùi chung Ở đoạn cuối nó cho hai nhánh bênnhỏ là động mạch thượng vị dưới và động mạch mũ đùi sâu Các nhánh này
Trang 6tiếp nối với các nhánh của động mạch đùi Đường kính chung bình của độngmạch chậu ngoài là 0,8cm [6],[10],[12],[13].
1.1.2 Vùng đùi:
- Động mạch đùi chung: Chạy tiếp theo động mạch chậu ngoài ở phía
sau điểm giữa dây chằng bẹn, đến khoảng 4cm dưới dây chằng bẹn thì chiathành hai động mạch đùi nông và đùi sâu Động mạch đi theo một cung thẳngcong vào phía trong của đầu dưới xương đùi Động mạch nằm giữa, thần kinhđùi nằm ngoài và tĩnh mạch đùi nằm trong Đường kính động mạch đùi chungkhoảng 0,82cm [6],[10],[12],[13]
- Động mạch đùi sâu: Tách từ động mạch đùi chung phía dưới dây chằng
bẹn khoảng 4cm, đi tới bờ trên cơ khép dài rồi chạy sau cơ này, trước cơ khépngắn và cơ khép 6 lớn Động mạch cấp máu cho các cơ đùi bởi hai nhánh lớn làđộng mạch mũ đùi trong và động mạch mũ đùi ngoài, và các nhánh xiên Ởngang mức ống cơ khép, các nhánh tận của động mạch đùi sâu nối với các nhánhcủa động mạch đùi nông tạo thành tuần hoàn bàng hệ, điều này rất quan trọngtrong tắc động mạch đùi ở trên ống cơ khép [6],[10],[12],[13]
- Động mạch đùi nông: Chạy tiếp theo động mạch đùi chung ở dưới dây
chằng bẹn khoảng 4cm, động mạch chạy theo trục của động mạch đùi chungtới lỗ gân cơ khép thì đổi tên thành động mạch khoeo Đường định hướng làđường kẻ nối điểm giữa dây chằng bẹn với bờ sau lồi cầu trong xương đùi.Chỗ nối đùi khoeo có thể bị ép bởi vòng gân cơ khép tạo điều kiện thuận lợicho các mảng xơ vữa hình thành Đường kính động mạch đùi nông đoạn gần
là 0,6cm, đoạn xa là 0,54cm [6],[10],[12],[13]
- Động mạch khoeo: Chạy tiếp theo động mạch đùi nông, bắt đầu từ lỗ
gân cơ khép tới bờ dưới cơ khoeo thì chia làm hai nhánh tận là động mạchchày trước và thân chày mác Ở khoeo động mạch nằm sâu nhất và trong nhất
Trang 7rồi tới tĩnh mạch khoeo, thần kinh chày nằm nông nhất và ngoài nhất Lúc đầuđộng mạch nằm ở sâu theo trục lớn của hõm khoeo, chạy chéo dần xuốngdưới và ra ngoài ở đoạn 1/3 trên, và chạy thẳng xuống dưới ở đoạn 2/3 dưới.
Ở vùng gối nó cho một số nhánh nhỏ, các nhánh này nối với nhau vànối với các nhánh của động mạch chày trước và chày sau tạo thành vòng nốiquanh khớp gối và xương bánh chè [6],[10],[12],[13]
1.1.3 Vùng dưới khoeo:
Hình 1.3: Giải phẫu điện quang mức cẳng chân
Động mạch khoeo Động mạch mác Động mạch chày trước Động mạchchày sau:
- Động mạch chày trước:
Là một trong hai nhánh tận của động mạch khoeo, bắt đầu từ bờ dưới
cơ khoeo, động mạch đi qua bờ trên màng gian cốt ra khu cẳng chân trước vàtiếp tục đi xuống dưới giữa các cơ vùng cẳng chân trước theo một đường địnhhướng nối hõm chỏm xương mác tới điểm giữa mặt trước Sau khi chui quamạc hãm các gân duỗi, động mạch đổi tên thành động mạch mu chân.Nhánh tận thứ hai của động mạch khoeo được gọi là thân chày mác[6],[10],[12],[13]
Trang 8- Động mạch chày sau: Là nhánh tận lớn nhất tách ra từ thân chày mác,
động mạch chạy xuống dưới và vào trong đi xuống qua khu cẳng chân sautheo trục của động mạch khoeo Đến rãnh gân cơ gấp ngón cái dài thì tậncùng bằng cách chia làm hai nhánh tận là động mạch gan chân trong và ngoài.Động mạch chày sau nối với động mạch chày trước và động mạch máctạo thành vòng nối quanh mắt cá trong và ngoài Ngoài ra các nhánh tận củađộng mạch chày sau còn nối với các nhánh tận của động mạch mu chân tạothành cung động mạch vùng mu chân [6],[10],[12],[13]
- Động mạch mác: Tách ra từ thân chày mác ở 2-3cm dưới cơ khoeo,
động mạch chạy xuống dưới và ra khu cẳng chân ngoài song song với độngmạch chày sau Tới khớp chày mác ở cổ chân động mạch tận hết bằng cáchcho các nhánh tận tới cổ chân và gót [6],[10],[12],[13]
1.2 Bệnh ĐMCD
1.2.1 Đại cương.
- Bệnh động mạch chi dưới (BĐMCD) là tình trạng bệnh lý của độngmạch chủ bụng và các động mạch chi dưới trong đó lòng động mạch bị hẹpgây giảm tưới máu cơ và các bộ phận liên quan (da, thần kinh) phía hạ lưu.Bệnh nhân BĐMCD có thể biểu hiện triệu chứng lâm sàng hoặc chưa, nhưngchỉ số cổ chân – cánh tay (gọi tắt là ABI) giảm so với giá trị bình thường.BĐMCD thường biểu hiện dưới hai hình thái:
• Thiếu máu chi dưới khi gắng sức, có biểu hiện triệu chứng lâm sànghoặc chưa, diễn biến mạn tính
• Thiếu máu chi dưới thường xuyên (trầm trọng), có thể là mạn tính hoặccấp tính
Trang 9Khuyến cáo tập trung vào bệnh lý động mạch chi dưới do xơ vữa, vì đây
là nguyên nhân thường gặp nhất của bệnh động mạch chi dưới mạn tính(chiếm 90%).(KC)
Khái niệm bệnh động mạch chi dưới mạn tính.
Bệnh động mạch chi dưới mạn tính có nguyên nhân phổ biến nhất là domảng xơ vữa phát triển gây hẹp dần lòng mạch hoặc tắc nghẽn hoàn toàn, do
đó làm giảm tưới máu chi khi vận động hoặc khi nghỉ [2], [6], [7], [39], [40] Cấu tạo lòng mạch bình thường: thành động mạch bình thường gồm 3lớp đồng tâm: từ trong ra ngoài là lớp nội mạc, lớp áo giữa và ngoài cùng làlớp áo ngoài Ranh giới giữa 3 lớp này được tạo bởi các sợi đàn hồi đồng tâmdạng nhẫn
Lớp nội mạc bao gồm một lớp tế bào liên kết chặt chẽ với nhau Chúng
có vai trò như một màng ngăn về mặt huyết động giữa lớp nội mạc và dòngmáu tuần hoàn trong lòng mạch Các nghiên cứu gần đây cho thấy, lớp tế bàonội mạc có vai trò lớn trong việc tạo trương lực mạch, sự bám dính của bạchcầu và ngăn cản sự hình thành huyết khối trong lòng mạch
Trong bệnh động mạch chi dưới mạn tính, sự tổn thương nội mạc làm mảng
xơ vữa dần phát triển gây hẹp dần, và cuối cùng là tắc hoàn toàn động mạch
Hình 1.4 Cấu tạo lòng động mạch bình thường và bệnh lý
Trang 10Lòng mạch bị hẹp dần làm giảm lượng máu cung cấp cho phía hạ lưugây ra biểu hiện lâm sàng là cơn đau cách hồi ở chân.(Hà)
1.2.2 Dịch tễ học.
1.2.2.1 Yếu tố nguy cơ
Nguyên nhân chủ yếu của BĐMCD là do xơ vữa động mạch Các yếu tốnguy cơ chính của xơ vữa động mạch là thuốc lá, đái tháo đường, rối loạnlipid máu, tăng huyết áp và tăng homocystein máu làm gia tăng sự phát triểncủa BĐMCD và các bệnh lý động mạch khác do xơ vữa
- Thuốc lá: Các nghiên cứu dịch tễ lớn cho thấy hút thuốc lá làm tăngnguy cơ BĐMCD từ 2 – 6 lần, và tăng nguy cơ cắt cụt chi từ 3 – 10 lần Hơn80% bệnh nhân BĐMCD có hút thuốc lá [8,10,15]
Đái tháo đường: làm tăng nguy cơ mắc BĐMCD từ 2 – 4 lần Có 12% 20% bệnh nhân BĐMCD bị ĐTĐ [15,20] Trong nghiên cứu Framingham,ĐTĐ làm tăng nguy cơ bị đau cách hồi chi dưới gấp 3,5 lần với nam và 8,6lần với nữ giới [12] Nguy cơ mắc BĐMCD tỷ lệ thuận với mức độ nặng vàthời gian bị mắc bệnh ĐTĐ [21,22] Bệnh nhân ĐTĐ cũng có nguy cơ bịthiếu máu chi dưới trầm trọng cao hơn hẳn so với bệnh nhân BĐMCD khôngĐTĐ [23,24]
Rối loạn lipid máu: Cholesterol toàn phần tăng lên mỗi 10mg/dl làmtăng nguy cơ mắc BĐMCD lên từ 5 – 10% [ 19,28,29] Các nghiên cứu dịch
tễ học cho thấy bệnh nhân đau cách hồi chi dưới có cholesterol toàn phần caohơn, LDL – cholesterol cao hơn và HDL – cholesterol thấp hơn so với ngườibình thường cùng lứa tuổi [13,27,30]
- Tăng huyết áp: Bệnh nhân BĐMCD có thể có THA kèm theo, mặc dù
sự phối hợp này không rõ nét như với bệnh động mạch vành hay động mạchnão [10,29,31,32] Trong nghiên cứu Framingham, THA làm tăng nguy cơ bị
Trang 11đau cách hồi lên 2,5 lần đối với nam, và 4 lần đối với nữ, mức độ tăng tỷ lệthuận với mức độ trầm trọng của THA [12].
- Tăng homocystein máu: làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý động mạch
do xơ vữa từ 2 – 3 lần Một nghiên cứu đa phân tích chỉ ra homocystein máutăng mỗi 5 mmol/l làm tăng tỷ suất chênh của bệnh động mạch vành và độtquỵ là 1,5 Khoảng 30 – 40% bệnh nhân BĐMCD có tăng homocystein.Homocystein máu tăng dường như làm tăng nguy cơ tiến triển của BĐMCD,nhưng cơ chế cụ thể vẫn còn chưa được nghiên cứu đầy đủ [9]
1.2.2.2 Tần suất bệnh động mạch chi dưới
BĐMCD là hội chứng thường gặp với số lượng lớn trong đối tượngngười trưởng thành trên thế giới [10,29] Các nghiên cứu dịch tễ học xác địnhtần suất mắc BĐMCD dựa vào triệu chứng lâm sàng là đau cách hồi và đo chỉ
số cổ chân – cánh tay Tần suất mắc BĐMCD phụ thuộc vào tuổi của bệnhnhân trong nghiên cứu, các yếu tố nguy cơ của XVĐM cũng như các biểuhiện bệnh lý động mạch phối hợp khác do xơ vữa
Trong nghiên cứu Framingham, ở độ tuổi 30 – 44, tần suất mới mắctrung bình của đau cách hồi chi dưới ở nam là 6/10000 và nữ là 3/10000 Với
độ tuổi từ 65 – 74, tần suất này tăng lên đến 61/10000 với nam và 54/10000với nữ [33]
Nghiên cứu PARTNER ở Hoa Kỳ trên 6979 bệnh nhân đến khám banđầu tại cơ sở y tế (tuổi trên 70 hoặc trên 50 kèm theo tiền sử hút thuốc hoặcĐTĐ) chỉ ra tỷ lệ BĐMCD lên tới 29% [34] Trong nghiên cứu NHANESnăm 2003, tỷ lệ mắc BĐMCD với quần thể trên 40 tuổi là 4,3%, trong đó với
độ tuổi trung bình 66 thì tỷ lệ này lên tới 14,5% Trong một nghiên cứu tạiCộng hòa Pháp trên 3694 bệnh nhân > 40 tuổi, có ít nhất một yếu tố nguy cơ(YTNC) tim mạch hoặc đau chi dưới, khi sử dụng tiêu chuẩn chẩn đoán là
Trang 12ABI < 0,9, tỷ lệ BĐMCD trong quần thể này là 11%, với nam giới là 14,5%,với nữ giới là 7,9% [5].
Tại Việt Nam, cùng với các bệnh động mạch do xơ vữa khác nhưNMCT, đột quỵ … thì tỷ lệ bệnh nhân nhập viện vì BĐMCD cũng ngày mộtgia tăng Thống kê tại Viện Tim mạch Việt Nam chỉ ra tỷ lệ BN BĐMCDđiều trị nội trú tại Viện tăng từ 1,7% (2003) lên tới 2,5% (2006) và 3,4%(2007) [3] Tỷ lệ bệnh nhân BĐMCD trong một nghiên cứu tại Srilanka năm
1993 là 5,6%; tại Nam Ấn Độ là 3,9% (1995) [6]
1.2.3 Chẩn đoán
1.2.3.1 Các triệu chứng lâm sàng thường gặp
- Không triệu chứng: Không có triệu chứng đau cách hồi chi dưới trên
lâm sàng rõ rệt (nhưng thường có suy giảm về cơ năng)
- Đau cách hồi chi dưới điển hình: Đau kiểu chuột rút ở chi dưới, xuất
hiện sau khi đi được một khoảng cách nhất định, giảm hoặc mất khi nghỉ
- Đau chi dưới không điển hình: Đau chi dưới liên quan đến gắng sức,
nhưng không giảm rõ rệt khi nghỉ, hay hạn chế khả năng đi lại một cáchkhông hằng định với những quãng đường tương tự
Lâm sàng
Trên lâm sàng, vị trí đau giúp gợi ý vị trí động mạch bị tổn thương:
- Đau ở vùng mông hoặc đùi: tổn thương tầng ĐM chủ - chậu
- Đau ở bắp chân: tổn thương tầng động mạch đùi – khoeo
- Đau ở bàn chân: tổn thương các động mạch ở cẳng chân
Đặc điểm sinh bệnh học của đau cách hồi chi dưới không đơn giản chỉ làphản ứng với sự giảm cung cấp máu mà còn liên quan tới những thay đổi dothiếu máu ở cơ xương (chuyển hóa), thần kinh, và hậu quả của quá trình viêm
Trang 13Mức độ thiếu máu chi dưới được phân độ dựa vào phân loại của Fontaine hayRutherford (Bảng 2).
Bảng 1.1 Phân loại triệu chứng lâm sàng BĐMCD
Giai đoạn Triệu chứng Độ Loại Triệu chứng
IIa Đau cách hồi nhẹ I 1 Đau cách hồi nhẹ
IIb Đau cách hồi vừa
Đau cách hồi vừa
I 3 Đau cách hồi vừa
IV Loét, hoại tử III 5 Mất tổ chức ít
III 6 Loét, hoại tửĐau cách hồi chi dưới do BĐMCD cần phải được phân biệt với nhữngbệnh lý khác cũng có đau chi dưới khi gắng sức, còn gọi là “giả đau cách hồi”
Bảng 1.2 Phân biệt triệu chứng đau cách hồi và “giả” đau cách hồi
Đặc điểm Vị trí
Giảm gắng sức
Xuất hiện khi đứng
Giảm đau khi
Thời gian cơn đau
< 5 phút
Đau căng hơn, nónghơn, tê hơn
Tương tự Thay đổi Thay đổi CóNgồi, thay đổi tư thế ≤
30 phút
- Thiếu máu chi dưới trầm trọng: Đau chi dưới khi nghỉ, vết thương/loét
không liền, hoại tử
- Thiếu máu chi dưới cấp: Triệu chứng lâm sàng được mô tả bởi 5 chữ P:
+ Pain: Đau
Trang 14* Chỉ số ABI (The Ankle- Brachial Index).
Khái niệm chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân-cánh tay
Chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân cánh tay (ABI) là tỷ lệ giữa huyết áptâm thu đo ở chi dưới (ĐM mu chân hoặc ĐM chày sau) với huyết áp tâm thucánh tay
ABI=HATTĐM mu chân hoặc chày sau/HATTĐM cánh tay
Đo huyết áp tâm thu cổ chân: quấn băng đo huyết áp trên mắt cá chân 7cm, Đo huyết áp ở ĐM mu chân hoặc ĐM chầy sau bằng đầu dò Dopplerliên tục loại bỏ túi (đầu dò có tần số 5-10MHz)
5-Bơm dần áp lực lên cho đến khi âm thanh biến mất: đó là áp lực tâm thu ở
cổ chân (hoặc khi xả dần áp lực, thấy âm thanh xuất hiện trở lại) Trong trườnghợp huyết áp ĐM mu chân và chày sau không giống nhau lấy con số huyết ápcao nhất vì thực tế chính ĐM này chịu trách nhiệm tưới máu bàn chân
Bảng 1.3 Giá trị của ABI
Trang 15Chỉ số ABI Ý nghĩa
ABI ≥ 1,30 ĐM kém đàn hồi (quá cứng)
0,90 ≤ ABI < 1,30 Tình trạng huyết động bình thường
đủ để đảm bảo tưới máu cho nhu cầu chuyển hoá lúc nghỉ
ABI < 0,4 hoặc huyết áp cổ chân dưới 50mmHg: tổn thương gây ảnhhưởng huyết động nghiêm trọng, bệnh nặng [21]
Khi nghỉ ngơi, tất cả những cản trở ĐM làm cho sức cản tăng lên Hiệntượng đó được bù trừ bằng cách giảm một cách tương ứng sức cản các tiểu
ĐM dưới chỗ hẹp (do dãn mạch) để duy trì lưu lượng tuần hoàn gần mức bìnhthường Do đó sự giảm huyết áp ĐM xa phản ánh chính xác mức độ suy ĐM
do các tổn thương ĐM [147]
Để dự phòng các tai biến về tim mạch nói chung cũng như các tai biến
về mạch vành, mạch não, mạch chi dưới nói riêng đặt ra vấn đề phát hiện sớm
để hạn chế các tai biến này Một trong những phương pháp đơn giản, hữu ích
có thể thực hiện một cách rộng rãi là đo chỉ số huyết áp tâm thu cổ chân-cánhtay [27], [83], [94]
Trang 16Các nghiên cứu của Vog, Newman và cộng sự cho thấy chỉ số huyết áptâm thu ABI ≤ 0,9 đi kèm với tăng nguy cơ mạch vành, tăng tỷ lệ mắc bệnh
có và chưa có biểu hiện triệu chứng, cũng như tỷ lệ tử vong do tất cả các bệnh
lý tim mạch [51], [56]
Newman và cộng sự đo chỉ số huyết áp tâm thu của 1537 người, theo dõitrong bốn năm thấy rằng ABI thấp có nghĩa dự báo sự tăng lên từ hai đến balần tỷ lệ tử vong tim mạch toàn bộ ở các bệnh nhân tăng huyết áp tâm thu đơnđộc [100]
* Nghiệm pháp đi bộ 6 phút
Gần đây các trung tâm y học trên thế giới đã nghiên cứu và đưa vào ứngdụng nhiều thăm dò gắng sức nhằm đánh giá khả năng hoạt động thể lực củabệnh nhân Các test hiện tại đang được áp dụng xếp theo thứ tự từ đơn giảnđến phức tạp như sau: leo cầu thang đi bộ 6 phút, đi bộ kiểu con thoi, nghiệmpháp gắng sức gây cơn khó thở kiểu hen, nghiệm pháp gắng sức tim mạch vàgắng sức tim phổi
Đầu năm 1960, Balke đã đưa ra một phương pháp tương đối đơn giản:
đo quãng đường tối đa bệnh nhân đi được trong một khoảng thời gian xácđịnh Tại thời điểm mới đưa vào áp dụng, khoảng thời gian này là 12 phút.Test được áp dụng đánh giá khả năng gắng sức ở người khỏe mạnh và mức độtàn phế ở bệnh nhân có bệnh phổi mạn tính Sau đó thời gian thực hiện testđược điều chỉnh xuống 6 phút cho phù hợp hơn với bệnh nhân có bệnh phổimạn tính
Trong một khảo sát gần đây về các phương pháp đánh giá khả năng gắngsức đã thống nhất cho rằng: test đi bộ 6 phút là một thăm dò dễ áp dụng, bệnhnhân có khả năng thực hiện và phản ánh tốt hơn hoạt động thể lực hàng ngàycủa bệnh nhân so với các test gắng sức khác
Trang 17Gần đây Hội Lồng ngực Hoa Kỳ đã thống nhất áp dụng test đi bộ 6 phúttrong thực hành lâm sàng đánh giá khả năng hoạt động thể lực của bệnh nhân.Test đi bộ 6 phút có một số ưu điểm như dễ thực hiện, an toàn, dung nạp tốt, phảnánh tốt hơn hoạt động thường ngày của bệnh nhân so với các test đi bộ khác.
tử vong trong các nghiên cứu dịch tễ học
Test đi bộ 6 phút được coi như một thăm dò bổ sung cho thăm dò gắngsức tim phổi Có sự tương quan chặt chẽ giữa quãng đường đi được trong 6phút so với lưu lượng đỉnh tiêu thụ oxy trong thăm dò gắng sức tim phổi (r =0,73) trên bệnh nhân có bệnh phổi giai đoạn cuối
Trong một số trường hợp quãng đường đi được trong test đi bộ 6 phútphản ánh tốt hơn khả năng hoạt động thể lực hàng ngày so với chỉ số lưulượng oxy tiêu thụ đỉnh đo được trong test gắng sức tim phổi Sự cải thiện vềquãng đường đi được trong 6 phút sau can thiệp điều trị tương quan với sự cảithiện chủ quan mức độ khó thở của bệnh nhân Đồng thời test đi bộ 6 phút cómối tương quan tốt hơn với thang điểm đánh giá chất lượng cuộc sống Một
ưu điểm khác là khả năng lặp lại test đi bộ 6 phút dễ dàng hơn so với test đolưu lượng đỉnh (hệ số tương quan 80/0 ở bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạntính) So với việc sử dụng bộ câu hỏi đánh giá mức độ gắng sức test đi bộ 6phút có sai số ít hơn khi theo dõi ngắn hạn
Bảng 1.4: Chỉ định của test đi bộ 6 phút
Đánh giá hiệu quả của phương pháp điều trị
Trang 18Sau phẫu thuật ghép phổi hoặc cắt phổi
Phẫu thuật làm giảm thể tích phổi
Phục hồi chức năng hô hấp
Điều trị nội khoa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính
Bệnh mạch máu ngoại biên
Bệnh nhân cao tuổi
Dự báo khả năng nhập viện và tỷ lệ tử vong
Suy tim, bệnh phổi mạn tính hoặc tăng áp phổi
- Huyết áp tâm thu > 180mmHg
- Huyết áp tâm trương > 100mmHg
Đối với những bệnh nhân có các chống chỉ định tương đối cần hỏi lại ýkiến bác sĩ điều trị về chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút Cần tham khảo kếtquả điện tim đã làm trong 6 thắng vừa qua của bệnh nhân
Không có chống chỉ định thực hiện test đi bộ 6 phút ở bệnh nhân đaungực ổn định Tuy nhiên bệnh nhân phải được dùng các thuốc giãn vành trướckhi tham gia test
TÍNH AN TOÀN