Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệbệnh nhân được hồi sinh tim phổi bởi những người chứng kiến còn thấp[4].Tại Hà Nội, nghiên cứu thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện từ8/2011
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1.TS Đỗ Ngọc Sơn
2 TS Đỗ Thị Thanh Toàn
HÀ NỘI - 2018
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Định nghĩa 3
1.2 Dịch tễ và kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn 7
1.3 Quy trình cấp cứu ngừng tuần hoàn: 13
1.3.1 Nhận biết bệnh nhân ngừng tuần hoàn và kích hoạt hệ thống ứng cứu khẩn cấp: 14
1.3.2 Hồi sinh tim phổi cơ bản ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn 15
1.3.3 Quy trình hồi sinh tim phổi nâng cao ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn 17
1.3.4 Những khuyến cáo về chăm sóc sau ngừng tuần hoàn 17
1.4 Chương trình cải thiện tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện ở cộng đồng 18
1.4.1 Thiết lập hệ thống dữ liệu liên tục về ngừng tuần hoàn ngoại viện tại cộng đồng 21
1.4.2 Thực hiện CPR do người điều phối hỗ trợ qua điện thoại 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả 25
2.3 Thời gian nghiên cứu: 25
2.4 Địa điểm nghiên cứu: 25
2.5 Mẫu nghiên cứu 26
2.6 Kỹ thuật, công cụ thu thập số liệu và các biến số nghiên cứu 26
2.7 Phân tích số liệu 30
2.8 Sai số và khống chế sai số 30
2.9 Đạo đức nghiên cứu 30
2.9.1 Đạt được sự đồng thuận 30
2.9.2 Thông tin đã giải thích cho người tham gia 31
2.9.3 Lưu trữ, xử lý và loại bỏ mẫu vật lấy từ cơ thể người 31
Trang 4Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 33
3.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 34
3.3 Thực trạng cấp cứu trước viện ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 36
Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 41
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41
4.2.Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 41
4.3.Thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5AED : (Automated External Defibrillator): máy khử rung tự động
AHA : American Heart Association
CDC : (the Centers for Disease Control and Prevention) Trung tâm
kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh
CPC score : (cerebral performance category score): thang điểm hiệu suất
thần kinh
CPR : (Cardiopulmonary resuscitation): hồi sinh tim phổi
ECLS : (Extracorporeal life support): hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể
EMS : (Emergency medical service): hệ thống cấp cứu trước viện
IBAP : (intra-aortic balloon pump): bóng đối xung động mạch chủ
ILCOR : (International Liaison Committee on Resuscitation): Uỷ ban
liên lạc quốc tế về hồi sinh tim phổi
m-RS : thang điểm modified Rankin
OHCA : Out hospital cardiac arrest
Pulseless VT : (Pulseless Vetricular tarchycardia): nhịp nhanh thất vô mạch ROSC : (Return of spontaneous circulation): tái lập lại tuần hoàn tự nhiên
STEMI : (ST-elevation myocardial infarction): nhồi máu cơ tim ST
chênh lên
TTM : (Targetted temperature management): Kiểm soát nhiệt độ
theo mục tiêu
VAD : (Ventrical assist device): dụng cụ hỗ trợ tâm thất
VF : (Ventricular Fibrillation): rung thất
Trang 6Bảng 1.1 Các nguyên nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 6
Bảng 2.1 Bảng các biến số, phương pháp và công cụ thu thập số liệu 28
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo tuổi 33
Bảng 3.2 Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân trước ngừng tuần hoàn 35
Bảng 3.3 Hồi sinh tim phổi bởi người chứng kiến 37
Bảng 3.4 Mối tương quan giữa cấp cứu NTH trước viện bởi người chứng kiến và tỉ lệ tái lập tuần hoàn tự nhiên trước khi đến viện 39
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Trang 7Biểu đồ 3.3 Triệu chứng đầu tiên khi phát hiện bệnh nhân ngừng tuần hoàn 34Biểu đồ 3.4 Nguyên nhân ngừng tuần hoàn 35Biểu đồ 3.5 Hình ảnh điện tim đầu tiên khi đên khoa cấp cứu 36Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ bệnh nhân được cấp cứu ngừng tuần hoàn trước viện bởi
người chứng kiến 36Biểu đồ 3.7 Phương tiện vận chuyển bệnh nhân tơi bệnh viện 37Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ tái lập tuần hoàn tự nhiên trước khi đến viện cơ bản bởi
người chứng kiến 38Biểu đồ 3.9 Kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện tại khoa
cấp cứu 38Biểu đồ 3.10: Thang điểm CPC của bệnh nhân khi xuất viện 39
Trang 8Hình 1.1 Hình ảnh điện tâm đồ của rung thất theo thời gian, tiến triển thành
vô tâm thu 4
Hình 1.2 Dây chuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện 14
Hình 1.3 Quy trình hồi sinh tim phổi cơ bản 16
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 27
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngừng tuần hoàn ngoại viện (OHCA) là vấn đề sức khoẻ toàn cầu Hàngnăm, có khoảng 300.000 trường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện tại Mỹ với
tỷ lệ tử vong rất cao khoảng 92% [1]
Từ năm 2005, Hiệp hội tim mạch Mỹ đã đưa ra hướng dẫn cấp cứungừng tuần hoàn, và mỗi 5 năm hướng dẫn này lại được cập nhật một lần.Hướng dẫn cấp cứu ngừng tuần hoàn năm 2015 của hiệp hội tim mạch Mỹ đãkhuyến cáo dây chuyền xử trí cấp cứu tách biệt đối với bệnh nhân ngừng tuầnhoàn trong viện so với bối cảnh ngừng tuần hoàn ngoài bệnh viện Dâychuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện bao gồm: phát hiện và khởi động
hệ thống cấp cứu; hồi sinh tim phổi cơ bản nhanh chóng và có chất lượng;khử rung sớm; vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế, duy trì sự sống và chămsóc sau ngừng tuần hoàn [2] Bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn ngoại viện phụthuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của cộng đồng trước khi nhân viên y tế được đàotạo có thể tiếp cận được bệnh nhân Những người chứng kiến cần nhận biếtđược tình trạng ngừng tim, kêu gọi giúp đỡ và bắt đầu hồi sinh tim phổi cơbản ngay Cứ mỗi phút trôi qua nếu không được hồi sinh tim phổi cơ bản, cơhội sống sót của bệnh nhân ngừng tuần hoàn giảm đi 10%, ngay cả được hồisinh tim phổi cơ bản đúng cách thì tỉ lệ này vẫn là 4% Vì vậy hồi sinh timphổi cơ bản là bước đầu rất quan trọng nhất trong dây chuyền cấp cứu bệnhnhân ngừng tuần hoàn
Thống kê về thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện là những cơ
sở để cải thiện chất lượng cấp cứu và nâng cao cơ hội sống còn cho bệnhnhân Trên thế giới, ở các nước phát triển đã có những nghiên cứu về ngừngtuần hoàn ngoại viện Tuy nhiên các mô hình hệ thống cấp cứu ngoại viện mà
đã được áp dụng ở các quốc gia có thu nhập cao không hoàn toàn phù hợptrực tiếp với những bối cảnh hạn chế nguồn lực ở các quốc gia có thu nhập
Trang 10thấp và trung bình ở Châu Á Nghiên cứu “Pan Asian Resuscitation OutcomesStudy- PAROS” là nghiên cứu về cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện ở một
số quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệbệnh nhân được hồi sinh tim phổi bởi những người chứng kiến còn thấp[4].Tại Hà Nội, nghiên cứu thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện từ8/2011 đến 8/2012 của Đặng Thành Khẩn chỉ đánh giá nhóm bệnh nhânngừng tuần hoàn ngoại viện có người chứng kiến và gọi tới trung tâm cấp cứu
115 Trong khi đó, một tỷ lệ lớn hơn bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại việnđược người chứng kiến đưa thẳng đến bệnh viện mà không gọi tới trung tâmcấp cứu 115 hay không được hồi sinh tim phổi cơ bản [5] Vậy thực trạng cấpcứu ngừng tuần hoàn ngoại viện tại Hà Nội như thế nào? Hy vọng rằng quanghiên cứu này sẽ cung cấp những dữ liệu để cải thiện quy trình cấp cứungừng tuần hoàn ngoại viện trong tương lai, qua đó có thể nâng cao tỷ lệ bệnhnhân ngừng tuần hoàn được hồi sinh tim phổi cơ bản, rút ngắn thời gian vậnchuyển bệnh nhân đến bệnh viện, cải thiện kết cục của bệnh nhân ngừng tuầnhoàn ngoại viện
Nghiên cứu này gồm 2 mục tiêu:
Mục tiêu thứ nhất: Mô tả đặc điểm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện được nhập viện tại một số bệnh viện ở Hà Nội.
Mục tiêu thứ hai: Đánh giá tình hình cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện tại một số bệnh viện ở Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện.
Chương 1
Trang 11TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Định nghĩa
Ngừng tuần hoàn là sự ngừng đột ngột hoạt động của tim xảy ra do rốiloạn hoạt động điện của quả tim,dẫn đến nạn nhân mất ý thức, không thở bìnhthường và không có dấu hiệu tuần hoàn Nếu các biện pháp cấp cứu khôngđược thực hiện nhanh chóng, tình trạng này tiến triển đến tử vong
Các rối loạn điện tim ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn có thể là phân ly điện
cơ, vô tâm thu, rung thất hoặc nhịp nhanh thất vô mạch
Vô tâm thu và phân ly điện cơ là nhóm rối loạn nhịp không thể sốc điện.Nhịp nhanh thất vô mạch và rung thất là nhóm rối loạn nhịp trong ngừngtuần hoàn có thể sốc điện Biểu hiện trên điện tâm đồ của nhịp nhanh thất lànhịp nhanh đều với phức bộ QRS giãn rộng (> 0,12 giây) Nhịp nhanh thấtbền bỉ là cơn nhịp nhanh kéo dài lớn hơn 30 giây Nhịp nhanh thất gây giảmcung lượng tim đáng kể Nhịp nhanh thất có rối loạn huyết động hoặc ngừngtuần hoàn cần phải được sốc điện nhanh chóng để chuyển nhịp Nếu nhịpnhanh thất kéo dài gây ra thiếu máu cơ tim và có thể chuyển thành rungthất.Rung thất là tình trạng tâm thất không bóp nữa mà các thớ cơ tâm thấtrung lên do những xung động loạn xạ, vô tổ chức phát ra ở nhiều vùng trên cơthất Rung thất kéo dài sau vài phút nếu không được khử rung sẽ dẫn đếnthiếu oxy mô, thiếu oxy cơ tim, toan chuyển hoá và cuối cùng là mất hết hoạtđộng điện của cơ tim, điện tim chuyển thành vô tâm thu Hình ảnh điện tâm
đồ của rung thất là những dao động với tần số cao trên 300 lần mỗi phút,không đều, không còn thấy dấu vết của sóng PQRST Tại mới bắt đầu, sóngrung thô với biên độ cao và có thể có tổ chức trong thời gian ngắn Khi thờigian rung thất tăng lên, thiếu máu cơ tim tiến triển kèm theo tình trạng nhiễmtoan, dẫn đến suy giảm điện sinh lý, biểu hiện bởi sự gia tăng chu kỳ rung.Lúc này các sóng rung thất vô tổ chức, biên độ không đều Sau một thời gian
Trang 12dài hơn, các sóng rung thất trở nên nhỏ dần và cuối cùng tiến triển thành vôtâm thu [7] Vì vậy bên cạnh hồi sinh tim phổi chất lượng thì khử rung sớm làyếu tố vô cùng quan trọng trong cấp cứu ngừng tuần hoàn ở trường hợp nhịpnhanh thất vô mạch hoặc rung thất.
Hình 1.1 Hình ảnh điện tâm đồ của rung thất theo thời gian, tiến triển
thành vô tâm thu [7]
Cơ chế của ngừng tuần hoàn ngoại viện ở mỗi bệnh nhân cụ thể thườngkhó để đánh giá chính xác Bởi vì điện tim tại thời điểm bắt đầu ngừng tuầnhoàn hầu hết không được ghi lại Khi đó, cơ chế ngừng tuần hoàn chỉ có thểsuy ra dựa trên thông tin thu được sau khi quá trình ngừng tuần hoàn đã xảy
ra Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, hình ảnh điện tim khi khởi phát ngừngtuần hoàn được ghi lại Điều này thường xảy ra ở những bệnh nhân được cấymáy tạo nhịp (ICD), hoặc những bệnh nhân được mắc monitor theo dõi điệntim cấp cứu Trong nhóm này, rối loạn nhịp khởi phát chủ yếu là rung thất
hoặc nhịp nhanh thất chiếm 83.34 phần trăm Vô tâm thu thường là rối loạn
12 phút
8 phút Khởi phát
2 phút
Trang 13nhịp đầu tiên quan sát được ở nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện
mà không xác định chính xác thời gian khởi phát hoặc hình ảnh điện tim tạithời điểm khởi phát ngừng tuần hoàn không được ghi lại Vô tâm thu có thểtương quan với thời gian ngừng tuần hoàn kéo dài và là kết quả cuối cùng củarung thất đã xuất hiện vài phút trước đó
Nguyên nhân ngừng tuần hoàn
Đối với nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn trong bệnh viện, nguyên nhânhàng đầu là do thiếu oxy máu hoặc hạ huyết áp Hình ảnh điện tim ban đầuthường là phân ly điện cơ hoặc vô tâm thu, chỉ có khoảng 15 dến 23 phầntrăm rung thất hoặc nhịp nhanh thất Trong khi đó đối với nhóm bệnh nhânngừng tuần hoàn ngoại viện, nguyên nhân chủ yếu là bệnh mạch vành chiếm
65 đến 70 phần trăm, với 45 phần trăm rối loạn điện tim ban đầu là rung thấthoặc nhịp nhanh thất vô mạch[6],[7]
Sau đây là các các nguyên nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện[7]:
65 đến 70 phần trăm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện do nguyênnhân bệnh mạch vành Tuy nhiên, tần số của bệnh mạch vành thấp hơn nhiều
ở các bệnh nhân xảy ra dưới 30 tuổi (chỉ 24 phần trăm ở Hoa Kỳ năm 1999)
10 phần trăm là do các loại bệnh tim cấu trúc khác (ví dụ, dị dạng độngmạch vành bẩm sinh, viêm cơ tim, bệnh cơ tim phì đại, rối loạn cơ tim tâmthất phải) Tần suất cao hơn nhiều ở các đối tượng dưới 30 tuổi (hơn 35% ởHoa Kỳ vào năm 1999)
5 đến 10 phần trăm do các rối loạn nhịp xảy ra ở bệnh nhân không cóbệnh tim cấu trúc
15 đến 25 phần trăm trường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện không donguồn gốc tim mạch Các nguyên nhân bao gồm chấn thương, chảy máu, ngộ độcthuốc, xuất huyết nội sọ, thuyên tắc phổi, đuối nước, và tắc nghẽn đường thở
Bảng 1.1 Các nguyên nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện [7]
Trang 14Bệnh tim thiếu máu cục bộ
Nhồi máu cơ tim hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định
Bệnh động mạch vành không do xơ vữa (viêm động mạch, lóc tách, dị tậtđộng mạch vành bẩm sinh
Co thắt động mạch vành
Bệnh tim mạch có tổn thương cấu trúc
Bệnh cơ tim phì đại
Bênh cơ tim giãn
Hở van tim
Bệnh tim bẩm sinh
Viêm cơ tim
Tràn dịch màng tim gây ép tim cấp
Lóc tách động mạch chủ
Bệnh tim mạch không có tổn thương cấu trúc
Hội chứng QT kéo dài
nguyên nhân do thuốc
1.2 Dịch tễ và kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn
Theo AHA, mỗi năm tại Mỹ có khoảng 350.000 trường hợp ngừng tuầnhoàn ngoại viện ngừng tuần hoàn đột ngột vẫn luôn là nguyên nhân tử vonghàng đầu tại Mỹ Tỷ lệ ngừng tuần hoàn ngoại viện tăng theo tuổi ở cả nam và
nữ Ngoài ra, tỷ lệ ngừng tuần hoàn ở nam giới cao hơn gấp hai đến ba lần ở
nữ [8]
Cấp cứu ngừng tuần hoàn được coi là thành công không chỉ là bệnh nhânsống sót mà còn là phục hồi chức năng thần kinh của bênh nhân Như vậy, cấpcứu ngừng tuần hoàn thực chất là hồi sinh tim- phổi- não Mặc dù đã có
Trang 15những tiến bộ trong điều trị nhưng kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoànvẫn luôn rất tồi Chỉ 10,8 phần trăm bệnh nhân người lớn ngừng tuần hoànngoại viện sống sót đến khi xuất viên [1] Trong khi đó ngừng tuần hoàn trongbệnh viện có kết cục tốt hơn với tỷ lệ sống sót 22,3 đến 25,5 phần trăm [9].Trong tổng số 547.153 bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện ở Nhật Bảntrong giai đoạn 2005 đến 2009, tỷ lệ sống sót khi xuất viện và cải thiện về tìnhtrạng thần kinh đã tăng lên gấp đôi (từ 1,6 lên 2,8 phần trăm ở tất cả bệnhnhân ngừng tuần hoàn ngoại viện; từ 2,1 lên 4,3 phần trăm trong nhóm ngừngtuần hoàn ngoại viện có người chứng kiến; từ 9,8 lên 20,6 phần trăm trongnhóm ngừng tuần hoàn ngoại viện có người chứng kiến và rối loạn nhịp banđầu là rung thất hoặc nhịp nhanh thất[10].
Có sự liên quan giữa cơ chế của ngừng tuần hoàn với kết quả hồi sức banđầu của bệnh nhân Khi nhịp ban ban đầu của bệnh nhân là vô tâmthu, tỷ lệhồi sức thành công thường rất thấp Chỉ có 10 phần trăm bệnh nhân ngừngtuần hoàn ngoại viện với nhịp ban đầu là vô tâm thu sống sót cho dến khi đếnbệnh viện, và chỉ 0 đến 2 phần trăm sống sót khi xuất viện Kết cục tồi này cóthể là sự phản ánh thời gian ngừng tim kéo dài (hơn 4 phút) hoặc có sự tổnthương cơ tim nghiêm trọng mà không thể đảo ngược được Nhóm bệnh nhânngừng tuần hoàn ngoại viện với rối loạn nhịp ban đầu là nhịp nhanh thất hoặcrung thất thì có kết cục tốt hơn Khoảng 25 đến 40 phần trăm bệnh nhân sốngsót khi xuất viện Nhồi máu cơ tim cấp là nguyên nhân cơ bản gây ra rung thất
ở nhiều bệnh nhân sống sót sau khi xuất viện Có khoảng một phần ba trườnghợp ngừng tuần hoàn ngoại viện không do nguyên nhân tim mạch Trongnhóm này, 40 phần trăm bệnh nhân sống sót khi đến viện, 11 phần trăm sốngsót đến khi ra viện nhưng chỉ có 6 phần trăm bệnh nhân có chức năng thầnkinh còn nguyên vẹn hoặc khuyết tật nhẹ [11], [12]
Trang 16Các yếu tố ảnh hưởng đến kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện:
Hoạt động của não phụ thuộc và lượng máu lên não nhằm cung cấp oxy
và glucose cho não Dự trữ glucose ở não chỉ đủ duy trì cho tế bào não hoạtđộng trong 2 đến 4 phút, dự trữ oxy chỉ đảm bảo trong 10 đến 30 giây Tổnthương não sẽ không hồi phục sau 4 phút ngừng tuần hoàn Thời gian là yếu
tố vô cùng quan trọng liên quan tới kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn
Thời gian rung thất: rung thất khi xuất hiện không bao giờ chấm dứt một cách tự nhiên Khử rung là cách duy nhất để tái lập lại hoạt động điện của
cơ tim Do đó sự sống còn của bệnh nhân phụ thuộc vào việc cung cấp nhanhchóng của hồi sinh tim phổi hiệu quả kèm theo khử rung sớm Tăng thời gianrung thất có hai tác dụng phụ chính: nó làm giảm khả năng chấm dứt chứngrối loạn nhịp và nếu rung thất tiếp tục trong hơn bốn phút, sẽ có tổn thươngkhông thể phục hồi đối với hệ thần kinh trung ương và các cơ quan khác Tỷ
lệ sống ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn do rung thất giảm xuống khoảng 10%mỗi phút nếu không được hồi sinh tim phổi và khử rung tim, và sau hơn 12phút tỷ lệ sống chỉ là 2 đến 5% [12]
Thời gian khi bệnh nhân ngừng tuần hoàn đến khi được hồi sinh tim phổi: Những quan sát này tạo thành cơ sở lý luận cho những nỗ lực hồi sinh
tim phổi nhanh hơn ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoài bệnh viện Tuynhiên, một nghiên cứu đánh giá hệ thống EMS tại Mỹ trong 25 năm với12.000 bệnh nhân được cấp cứubởi EMS, khoảng thời gian đáp ứng hồi sinhtim phổi cơ bản tăng từ 3,8 lên 5,1 phút từ năm 1977 đến năm 2001 vàkhoảng thời gian đáp ứng hồi sinh tim phổi tăng từ 8,4 đến 9,0 phút [11] Cóthể đó là hệ quả của tăng trưởng dân số và đô thị hoá Vì vậy, hồi sinh timphổi bởi người chứng kiến và thậm chí khử rung tim đã được khuyếncáo Những can thiệp như vậy cho phép phản ứng nhanh hơn trước khi hệ
Trang 17thống EMS tiếp cận được với nạn nhân, và cho kết cục tốt hơn đối với bệnhnhân ngừng tuần hoàn ngoại viện Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ sống sótkhixuất viện cho những bệnh nhân đã nhận CPR từ người chứng kiến cao hơn1.85 lần so với nhóm còn lại[11].
Hồi sinh tim phổi bởi người chứng kiến: CPR bởi người chứng kiến là
một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc xác định kết cục của bệnh nhânngừng tuần hoàn ngoại viện Điều này đã được khẳng định qua nhiều nghiêncứu Tỷ lệ sống sau khi ngừng tim đột ngột cao hơn từ 2-4 lần ở những ngườinhận được CPR ban đầu từ người chứng kiến khi so sánh với những ngườinhận được CPR ban đầu từ nhân viên EMS Ngoài sự sống còn được cảithiện, phục hồi sớm và cải thiện chức năng thần kinh tốt hơn cũng được quansát thấy ở nhóm này [12]
Mặc dù có lợi ích của CPR bởi người chứng kiến là rõ ràng, nhưng nókhông phải lúc nào cũng được thực hiện Lý do cho điều này bao gồm sựthiếu hụt của người chứng kiến được đào tạo CPR và mối lo ngại về khả nănglây truyền bệnh trong khi thực hiện thổi ngạt cho người bệnh Các can thiệp
để cải thiện tỷ lệ CPR của người chứng kiến bao gồm khuyến khích và hướngdẫn CPR cho người chứng kiến bởi điều phối viên EMS thông qua điện thoại,khuyến khích những người chứng kiến chưa được đào đạo tiến hành CPRbằng cách chỉ ép tim và các chiến dịch đào tạo trong cộng đồng để thúc đẩyviệc thực hiện CPR bởi người chứng kiến Trong một loạt hơn 12.000 bệnhnhân được cấp cứu bởi EMS ở Seattle, những người chứng kiến không đượcđào tạo về CPR đã được hướng dẫn qua điện thoại từ người điều phối EMS[11] Tỷ lệ bệnh nhân nhận được CPR từ người chứng kiến tăng từ 27 phầntrăm lên 50 phần trăm, sự cải thiện này gần như hoàn toàn là kết quả của việcthực hiện CPR được hỗ trợ bởi điều phối viên trong khoảng thời gian đó
Trang 18CPR chỉ ép tim: Các nghiên cứu quan sát ban đầu đánh giá việc tiến
hành CPR chỉ ép tim so với CPR chuẩn cho kết quả không có sự khác biệtđáng kể về sự sống còn và chức năng thần kinh lâu dài giữa hainhóm[13] Ngoài ra, khuyến khích người chứng kiến chưa được đào tạo tiếnhành CPR bằng cách chỉ ép tim sẽ nâng cao tỷ lệ bệnh nhân ngừng tuần hoànngoại viện nhận được CPR từ người chứng kiến Một nghiên cứu quan sát vớihơn 4400 người lớn ngừng tuần hoàn ngoại viện ghi nhận sự gia tăng củaCPR người chứng kiến từ 28 đến 40% trong suốt một chiến dịch công khaikéo dài 5 năm nhằm khuyến khích CPR bằng biện phải chỉ ép tim[13]
Ba thử nghiệm ngẫu nhiên về thực hiện CPR chỉ ép tim so với CPR chuẩnđều cho thấy xu hướng cải thiện kết cục trong nhóm CPR chỉ ép tim [14],[15],[16] Vì vậy, hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳnăm 2015(AHA)khuyến cáo rằng những người chứng kiến nên thực hiện CPR chỉ éptim trước khi nhân viên cấp cứu đến [2]
CPR chất lượng cao: Việc duy trì cung lượng tim trong quá trình CPR là
yếu tố quan trọng quyết định kết cục của bệnh nhân Các dữ liệu nghiên cứucho thấy CPR chất lượng cao giúp cải thiện rõ ràng kết cục của bệnh nhân.Hướng dẫn AHA năm 2015 chú trọng đến chất lượng CPR ở bệnh nhân ngừngtuần hoàn bao gồm: ép tim với tần số và biên độ vừa đủ (tốc độ 100 đến 120lần/ phút, biên độ từ 5 đến 6 cm ở người lớn), để thành ngực giãn nở hoàntoàn sau mỗi lần ép tim và giảm thiểu gián đoạn trong khi ép tim và hạn chếthông khí quá mức[2]
Theo hướng dẫn của AHA 2010, tần số ép tim tối thiểu là 100 lần/ phút.Tần số ép tim dưới 100 lần/ phút làm giảm cơ hội tái lập tuần hoàn tự nhiêncủa bệnh nhân (ROSC) Tuy nhiên ép tim quá nhanh với tần số lớn hơn 120lần/ phút có nguy cơ làm giảm tưới máu mạch vành Thêm vào đó, có sự liênquan giữa tần số với biên độ ép tim Biên độ ép tim dưới 38 mm là khoảng 35phần trăm khi tần số ép tim từ 100 đến 119 lần/ phút Nhưng tỷ lệ này tăng lên
Trang 1950 phần trăm khi tần số ép tim từ 120 đến 139 lần/ phút, và 70 phần trăm khitần số ép tim lớn hơn 140 lần/ phút.Vì vậy khoảng tối ưu của tần số ép tim là
từ 100 đến 120 lần/phút theo hướng dẫn của AHA 2015 [2]
Biên độ ép tim ảnh hưởng đến áp lực của lồng ngực Ép tim mạnh làmtăng áp lực trong lồng ngực, tăng cung lượng tim, tăng áp lực tưới máu não.Theo khuyến cáo của AHA 2015, biên độ ép tối ưu là 5 đến 6 cm đối vớingười lớn Chấn thương ngực thường khi biên độ ép lớn hơn 6 cm Để thànhngực nảy lên hoàn toàn sau mỗi lần ép tim tạo ra áp lực âm trong lồng ngựcgiúp tăng cường máu về tim và cải thiện tưới máu mạch vành sau mỗi lần éptim [2]
Giảm thiểu thời gián đoạn khi ép tim vẫn là một điểm được nhấn mạnh từAHA 2010 Nếu bệnh nhân chưa được đặt các dụng cụ hỗ trợ đường thở nângcao (ống nội khí quản, mask thanh quản…) thì thời gian dừng tối đa để cungcấp hai lần thở cho bệnh nhân nên nhỏ hơn 10 giây Thời gian dừng ép timtrước và sau mỗi lần sốc điện được khuyến cáo càng ngắn càng tốt Phân sốCPR là phần trăm thời gian vô mạch được ép tim của bệnh nhân Mục tiêu tối
ưu của phân số CPR cần đạt là 80 phần trăm [2]
Mức CO 2 cuối thì thở ra (ET-CO 2 )có liên quan với cung lượng tim rất
thấp khi đo sau ít nhất 10 phút CPR và có thể cung cấp thông tin tiên lượngthành công hay thất bại của việc tiến hành CPR Trong một nghiên cứu, mứccarbon dioxide cuối thì thở được đo sau 20 phút tiến hành CPR, với mức ET-
CO2của bệnh nhân dưới 10 mmHg thì 100 phần trăm bệnh nhân không sốngsót đến khi xuất viện Những người sống sót có nồng độ carbon dioxide cuốithì thở ra sau20 phút tiến hành CPR cao hơn nhiều ở so với nhóm không sốngsót (32,8 so với 4,4 mmHg) [17] Hướng dẫn của AHA 2015 khuyến cáo ởnhững bệnh nhân được đặt ống nội khí quản, nếu không đạt ETCO2 lớn hơn
10 mmHg bằng thán đồ dạng sóng sau 20 phút CPR, có thể là một yếu tố cân
Trang 20nhắc quyết định dừng nỗ lực hồi sinh tim phổi cho bệnh nhân ngừng tuầnhoàn [2]
Khử rung trước so với CPR trước:Uỷ ban liên lạc quốc tế về hồi sinh
tim phổi (ILCOR) năm 2015 đã phân tích hệ thống để đánh giá liệu tiến hànhCPR trong một khoảng thời gian cụ thể (từ 90 đến 180 giây) trước khi tiếnhành khử rung cho bệnh nhân có mang lại hiệu quả hơn so với việc tiến hànhphân tích tích nhịp và tiến hành khử rung ngay lập tức Tuy nhiên các nghiêncứu đều không thấy sự khác biệt kết cục giữa hai nhóm ở tất cả các chỉ số từthời gian sống sót trong vòng một năm, kết cục thần kinh thuận lợi hay tái lậptuần hoàn tự nhiên [2] Vì vậy theo hướng dẫn của AHA năm 2015, trongtrường hợp bệnh nhân ngừng tuần hoàn có người chứng kiến và máy khử rung
tự động (AED) có sẵn ngay lập tức thì việc khử rung tim được tiến hành càngsớm càng tốt
Nhiệt độ cơ thể:Sự gia tăng nhiệt độ cơ thể có liên quan đến kết cục phục
hồi về chức năng thần kinh không thuận lợi sau CPR thành công Sự gia tăngnhiệt độ có thể làm trầm trọng thêm mức độ tổn thương thần kinh liên quanđến thiếu máu não cục bộ Đối với nhiệt độ cao nhất trong vòng 48 giờ, mỗi
độ C cao hơn 37ºC làm tăng nguy cơ hồi phục thần kinh không thuận lợi lên2,26 lần[18].Mặt khác, hạ thân nhiệt từ nhẹ đến trung bình (nhiệt độ mục tiêu
từ 32 đến 36ºC trong 24 giờ) có thể có lợi cho bệnh nhân hồi sức thành côngsau khi ngừng tuần hoàn, giúp cải thiện chức năng thần kinh sau ngừng tuầnhoàn Nghiên cứu TTM (Targeted Temperature Management at 33°C versus36°C after Cardiac Arrest) trên 950 bệnh nhân năm 2013 cho thấy việc hạ thânnhiệt ở mức 33 độ C so với 36 độ C ở những bệnh nhân hôn mê sau ngừng tuầnhoàn không có sự khác biệt về kết cục thần kinh [19] Hướng dẫn AHA năm
2015 khuyến cáo tất cả bệnh nhân người lớn hôn mê sau ngừng tuần hoàn nênđược thực hiện kiểm soát thân nhiệt theo mục tiêu trong khoảng 32 đến 36 độ
C trong ít nhất 24 giờ [20]
Trang 21Ảnh hưởng của các bệnh mãn tính kèm theo: Tác động của các tình
trạngbệnh mãn tính đến về kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoạibệnh viện được đánh giá trong một nghiên cứu với 1043 bệnh nhân ởWashington-Mỹ [21] Có sự giảm đáng kể về khả năng sống sót của bệnhnhân liên quan đến các bệnh mãn tính, như suy tim sung huyết, nhồi máu cơtim trước đây, tăng huyết áp và tiểu đường (OR 0,84 cho mỗi tình trạng mãntính bổ sung)
1.3 Quy trình cấp cứu ngừng tuần hoàn:
Từ năm 2005, Hiệp hội tim mạch Mỹ đã đưa ra hướng dẫn cấp cứu ngừngtuần hoàn, và mỗi 5 năm hướng dẫn này lại được cập nhật một lần Hướngdẫn cấp cứu ngừng tuần hoàn năm 2015 của hiệp hội tim mạch Mỹ đãkhuyến nghị dâychuyền xử trí cấp cứu tách biệt đối với bệnh nhân ngừng tuầnhoàn trong viện so với bối cảnh ngoài bệnh viện.Dây chuyền cấp cứu ngừngtuần hoàn ngoại viện bao gồm: phát hiện và khởi động hệ thống cấp cứu; hồisinh tim phổi cơ bản nhanh chóng và có chất lượng; khử rung sớm; vậnchuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế, duy trì sự sống và chăm sóc sau ngừng tuầnhoàn Bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn ngoại viện phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗtrợ của cộng đồng trước khi nhân viên y tế được đào tạo có thể tiếp cận đượcbệnh nhân Những người chứng kiến cần nhận biết được tình trạng ngừng tim,kêu gọi giúp đỡ và bắt đầu hồi sinh tim phổi ngay.Hồi sinh tim phổi cơ bảnbao gồm trình tự C-A-B trong đó ép tim cần được thực hiện đầu tiên và khôngchậm trễ, tiếp theo là kiểm soát đường thở và thông khí Tỷ lệ ép tim- thôngkhí ở người lớn là 30:2 Nếu người chứng kiến chưa được đào tạo về hồi sinhtim phổi thì người đó nên chỉ ép tim đơn thuần, trong đó chú trọng ép mạnh
và ép nhanh, giảm thiểu khoảng thời gian gián đoạn khi ép tim
Trang 22Hình 1.2 Dây chuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện (AHA 2015) 1.3.1 Nhận biết bệnh nhân ngừng tuần hoàn và kích hoạt hệ thống ứng cứu khẩn cấp:
Nạn nhân ngừng tuần hoàn sẽ có 3 biểu hiện bao gồm
- Mất ý thức đột ngột
- Ngưng thở hay thở ngáp
- Mất mạch bẹn hoặc mạch cảnh (thời gian kiểm tra tối đa 10 giây)
Vì vậy cộng đồng, người điều phồi cần được đào tạo để nhận biết tìnhtrạng ngừng tuần hoàn và ngay lập tức kích hoạt hệ thống ứng cứu khẩn cấp
và tiến hành CPR Đôi khi biểu hiện đầu tiên của ngừng tuần hoàn là co giậttoàn thân nhanh Nếu nạn nhân không có phản ứng kèm theo thở ngáp hoặcngừng thở, cần nghĩ tới có thể nạn nhân bị ngừng tuần hoàn
Nếu chỉ có 1 người chứng kiến, trước hết cần gọi cho đơn vị cấp cứungoại viện, lấy máy khử rung tự động nếu có và sau đó tiến hành ngay hồisinh tim phổi cơ bản Nếu có hơn hai người chứng kiến trở lên,cần bắt đầu hồisinh tim phổi cơ bản ngay lập tức, trong khi người còn lại gọi cho đơn vị cấpcứu ngoại viện và tìm kiếm máy khử rung tự động
1.3.2 Hồi sinh tim phổi cơ bản ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn[2]:
Đối với những người chưa được đào tạo cấp cứu ngừng tuần hoàn, nênthực hiện ép tim đơn thuần cho nạn nhân người lớn ngừng tuần hoàn ngoạiviện Người chứng kiến nên ép tim đơn thuần cho đến khi máy khử rung tựđộng được đưa đến hoặc khi có trợ giúp bởi người được đào tạo Ngoài ra với
Trang 23người cứu hộ được đào tạo, có thể thực hiện hô hấp nhân tạo với tỷ lệ 30 lần
đó tiến hành khử rung ngay khi máy khử rung tự động sẵn sàng hoạt độngCần hạn chế thông khí quá mức Khi đã có đường thở hỗ trợ có thể thựchiện 10 lần thông khí/ phút
Theo AHA 2015, các thiết bị ép tim cơ học tự động không cho thấy lợi íchhơn Ép tim bằng tay vẫn là tiêu chuẩn trong hồi sinh tim phổi Tuy nhiêntrong một số tình huống nhất định như số lượng người cứu hộ hạn chế, hồisinh tim phổi trong các vị trí đặc biệt thì các thiết bị này có thể là phương ánthay thế hợp lý cho ép tim bằng tay
Trang 24Hình 1.3 Quy trình hồi sinh tim phổi cơ bản
1.3.3 Quy trình hồi sinh tim phổi nâng cao ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn:
Cần mắc monitor theo dõi, ghi điện tim sớm ngay khi có thể và tiến hànhsốc điện khi có chỉ định Nếu sóng điện tim là rung thất hoặc nhịp nhanh thất,
Trang 25tiến hành sốc điện không đồng bộ ngay ( 360 jun với máy sốc điện một pha,
120 đến 200 jun với máy sốc điện hai pha) Tiến hành 5 chu kỳ ép tim/ thổingạt sau mỗi lần sốc điện
Đặt đường truyền lớn, tiêm adrenalin 1mg mỗi 3 phút Vasopressinkhông đem lại lợi ích do đó vasopressin không được khuyến cáo sử dụng từAHA 2015
Kiểm soát đường thở bằng các biện pháp: bóp bóng mask, đặt maskthanh quản, đặt ống nội khí quản Việc đặt ống nội khí quản có thể làm giánđoạn quá trình ép tim của bệnh nhân Các nghiên cứu đều không cho thấy lợiích của việc đặt ống nội khí quản trong cấp cứu ngừng tuần hoàn nâng cao Vìvậy AHA 2015 khuyến cáo chỉ đặt ống nội khí quản khi người đặt có kinhnghiệm và thông khí bằng mặt nạ không đảm bảo
Các thuốc dùng trong cấp cứu ngừng tuần hoàn: Amiodarone có thểđược xem xét cho rối loạn nhịp rung thất hoặc nhịp nhanh thất mà không đápứng với CPR và sốc điện Lidocain có thể được coi là một thay thế choAmiodarone Việc sử dụng Magiê thường quy không được khuyến cáo đối vớibệnh nhân ngừng tuần hoàn có rung thất hoặc nhịp nhanh thất
1.3.4 Những khuyến cáo về chăm sóc sau ngừng tuần hoàn [17]:
Bệnh nhân tái lập được tuần hoàn tự nhiên sau ngừng tuần hoàn cầnđược điều trị và chăm sóc toàn diện tại đơn vị hồi sức tích cực
Sau khi tái lập được tuần hoàn tự nhiên, cần ghi điện tâm đồ 12 chuyểnđạo càng sớm càng tốt Chụp mạch vành cấp cứu nên được thực hiện đối vớibệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện với điện tim có ST chênh lên thay vìtrì hoãn trong thời gian nằm viện Chụp mạch vành cấp cứu cũng là hợp lý vớitrường hợp điện tâm đồ không có ST chênh lên nhưng căn nguyên ngừng tuầnhoàn nghi ngờ do tim
Tất cả bệnh nhân người lớn hôn mê sau ngừng tuần hoàn nên được thựchiện kiểm soát nhiệt độ theo mục tiêu với nhiệt độ mục tiêu trong khoảng 32
Trang 26đến 26 độC trong vòng ít nhất 24 giờ Và cần tích cực ngăn ngừa sốt saungừng tuần hoàn.
Thời gian sớm nhất để dự báo tình trạng xấu về mặt thần kinh ở bệnhnhân ngừng tuần hoàn là sau 72 giờ, nhưng thời gian này có thể dài hơn nếunghi ngờ có sử dụng thuốc giảm đau hoặc an thần
Tối ưu hoá các thuốc vận mạch để duy trì huyết áp tâm thu lớn hơn 90
mm Hg và huyết áp động mạch trung bình lớn hơn 65 mm Hg
1.4 Chương trình cải thiện tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện ở cộng đồng [22],[23]:
Hệ thống cấp cứu trước viện ở mỗi cộng đồng có sự khác biệt Tuy nhiêntrong dây chuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện, có một số quy trìnhphổ biến ở các hệ thống cấp cứu trước viện Đầu tiên, hệ thống được kích hoạtkhi có cuộc gọi tới từ cộng đồng Người điều phối cần nhận biết tình trạngngừng tuần hoàn và đưa ra hướng dẫn hồi sinh tim phổi cơ bản Trong lúc đó,các phương tiện cấp cứu cùng nhân viên y tế sẽ đến hiện trường Tại hiệntrường, nhân viện y tế tiến hành hồi sinh tim phổi cơ bản hoặc nâng cao Nếubệnh nhân được hồi sinh tim tim phổi thành công, bệnh nhân được vận chuyểnđến bệnh viện và tiếp tục được điều trị hồi sức tại bệnh viện Nếu hồi sinh timphổi thất bại, bệnh nhân được xác định tử vong tại hiện trường mặc dù một số
hệ thống có thể yêu cầu vận chuyển đến bệnh viện để xác định tình trạng tửvong Quy trình này tạo thành một chuỗi sống còn trong cấp cứu ngừng tuầnhoàn (The Chain of Survival) với bốn liên kết quan trọng bao gồm: phát hiệnsớm, hồi sinh tim phổi sớm, khử rung sớm và chăm sóc nâng cao sớm Trong
đó tỷ lệ hồi sức thành công đặc biệt có liên quan đến khả năng của hệ thốngEMS cung cấp dịch vụ chăm sóc nhanh chóng, chất lượng cao
Các hướng dẫn theo mẫu Utstein đã góp phần trong việc cải thiện việcchăm sóc sức khoẻ cộng đồng trên toàn thế giới bằng cách cung cấp mộtkhuôn khổ chung để có thể so sánh các hệ thống cấp cứu trước viện (EMS)
Trang 27với nhau Hướng dẫn Utstein được đưa ra đầu tiên năm 1991 và đã được cậpnhật lại năm 2004 Với những tiến bộ trong khoa học hồi sức, những hiểu biếtmới về các yếu tố tiên lượng quan trọng của kết cục của ngừng tuần hoànngoại viện và những bài học thu được từ các nghiên cứu đã thúc đẩy việc xemxét và cập nhật các hướng dẫn Utstein năm 2004 Tiếp theo thông qua nhiềucuộc gặp mặt trực tiếp, bằng liên lạc trực tuyến và qua khảo sát Web trongsuốt năm 2012 đến 2014, đại diện của Ủy ban liên lạc Quốc tế về hồi sinh timphổi (ILCOR) đã phát triển một khung báo cáo cập nhật của Utstein Đây lànhững khuyến cáo để báo cáo ngừng tuần hoàn ngoài bệnh viện Các yếu tố
dữ liệu trong mẫu Utstein được phân nhóm bao gồm: các yếu tố hệ thống,xác định ngừng tuần hoàn, các yếu tố về đặc điểm bệnh nhân, quá trình hồisức và kết cục cuối cùng của bệnh nhân [22]
Trong nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn có người chứng kiến, tỷ lệ bệnhnhân nhận được CPR từ người chứng kiến thay đổi từ 10 đến 75 phần trămtrong các cộng đồng khác nhau và tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ngừng tuầnhoàn ngoại viện vẫn rất thấp, trung bình nhỏ hơn 10 phần trăm và ước tính cókhoảng 1 triệu người chết hàng năm do ngừng tuần hoàn ngoại viện ở cácnước phát triển Các chuyên gia tin tưởng rằng, dựa vào những kiến thức hiệntại cùng với sự tuân thủ và thực hành tốt tại cộng đồng có thể nâng cao hơnnữa tỷ lệ sống sót ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện lên đến 50 phầntrăm Utstein năm 2015 đã thành lập một liên minh hồi sức toàn cầu với mụctiêu cung cấp hướng dẫn về chương trình và hành động tốt nhất để cải thiện tỷ
lệ sống sót ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện trong các cộng đồng.Utstein đã đưa ra chương trình 10 bước để cải thiện tỷ lệ sống sót trong cộngđồng và 10 hành động để hoàn thành mục tiêu
10 bước của Utstein để cải thiện tỷ lệ sống sót trong cộng đồng bao gồm:
Thiết lập một hệ thống dữ liệu về ngừng tuần hoàn ngoại viện
Trang 28 Thực hiện CPR qua điện thoại cùng với với đào tạo và cải thiện chấtlượng liên tục
Thực hiện CPR với hiệu suất cao cùng với đào tạo và cải thiện chấtlượng liên tục
Nhanh chóng đến hiện trường
Đo lường chất lượng hồi sinh tim phổi
Chương trình khử rung tự động cho người phản ứng đầu tiên
Sử dụng thiết bị thông minh trong hồi sinh tim phổi và khử rung tự động
Đào tạo hồi sinh tim phổi và khử rung tự động bắt buộc trong cộng đồng
Báo cáo hàng năm
Hướng tới văn hoá cải tiến liên tục
Trong 10 bước này, 4 bước đầu tiên có thể thực hiện dễ dàng hơn màkhông đòi hỏi quá nhiều về nguồn lực Quá trình thực hiện các bước cần có sựkiên trì và quyết tâm Bước nền tảng đầu tiên là cần thiết phải có một hệthống dữ liệu được thu thập liên tục trong cộng đồng Việc lựa chọn cácchương trình để thực hiện tuỳ thuộc vào đặc trưng về lịch sử, văn hoá vànguồn lực của cộng đồng Một số cộng đồng đã đạt được những bước trên
Hướng dẫn của Utstein đưa ra 10 hành động để triển khai thành công các chương trình trên bao gồm:
Lựa chọn chương trình hoặc những chương trình để triển khai
Thành lập một nhóm hoặc ban cố vấn
Xác định cách để chương trình triển khai trong cộng đồng
Đặt mục tiêu cụ thể
Đạt được sự đồng thuận
Thiết lập các tiêu chuẩn về chất lượng
Thực hiện chương trình thí điểm
Trang 29Việc thu thập dữ liệu liên tục về ngừng tuần hoàn ngoại viện cho phépđánh giá thực trạng ngừng tuần hoàn ngoại viện tại cộng đồng, đo lường hiệuquả của hệ thống EMS và xác định xem việc thực hiện những thay đổi có tạo
ra những cải thiện về sự sống còn Qua đó sẽ xác định những bước tiếp theotrong tương lai để cải thiện hệ thống EMS
Cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện là một điểm chuẩn tốt để đánh giátất cả các khía cạnh của hệ thống EMS bao gồm sự liên kết, chuyên môn, kỹthuật và sự kịp thời Nếu như ngừng tuần hoàn ngoại viện được quản lý tốt thì
có khả năng hệ thống EMS cũng phản ứng tốt với các trường hợp y tế khẩncấp khác
Tất cả các khía cạnh liên quan đến hồi sinh tim phổi sẽ được đo lường,bao gồm tỷ lệ sống sót, CPR có được tiến hành bởi người chứng kiến, hướngdẫn CPR qua điện thoại có được cung cấp, chất lượng của CPR, kiểm soátđường thở… Các dữ liệu thu thập và các báo cáo về kết cục hàng năm được
sử dụng theo mẫu chung của Utstein.Qua đó có thể đánh giá quy trình của hệthống EMS, những khâu nào trong hệ thống cần được cải thiện và so sánh hệthống EMS giữa các cộng đồng
Trên thế giới, hệ thống dữ liệu về ngừng tuần hoàn đã được thiết lập từlâu ở nhiều nước phát triển.Năm 2004, tai Mỹ, Trung tâm kiểm soát và phòngngừa dịch bệnh (CDC) phối hợp với đại học Emory để xây dựng dữ liệuCARES (Cardiac arrest registry to enhance survival- Dữ liệu về ngừng tuầnhoàn để tăng cường sự sống sót) Tính đến năm 2011, CARES đã thu thập dữliệu của hơn 47.000 trường hợp ngừng tuần hoàn từ 46 cơ quan EMS tại 36cộng đồng ở 20 tiểu bang Cho đến nay CARES đã thu thập được 350.000bệnh nhân và tiếp tục phát triển Theo báo cáo từ dữ liệu của CARES từnăm
2005 đến 2011, trong tổng số 47123 trường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện,
có 36,9 phần trăm trường hợp nhận được CPR bởi người chứng kiến, 1,7 phầntrăm được khử rung bởi người chứng kiến và tỷ lệ sống sót khi xuất viện là9,8 phần trăm Các chỉ số của hệ thống EMS đã cải thiện đáng kể trong báo
Trang 30cáo của CARES trong giai đoạn sau từ năm 2013 đến 2017, với 273285trường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện, 37 phần trăm trường hợp có ngườichứng kiến, tỷ lệ CPR bởi người chứng kiến là 45,5 phần trăm 14948 trườnghợp (chiếm 6,1 phần trăm) được khử rung bằng máy AED bởi người chứngkiến Tỷ lệ sống sót đến khi xuất viện là 10,6 phần trăm và tỷ lệ sống sót sau 1năm với điểm CPC 1 hoặc 2 là 8,5 phần trăm.
Resuscitation Outcome Consortium (ROC) là một mạng lưới nghiên cứulâm sàng được thiết kế để đánh giá hiệu quả của dịch vụ chăm sóc khẩn cấpcho bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn ngoại viện hoặc có tổn thương đe dọa tínhmạng ROC bắt đầu thu thập dữ liệu từ năm 2007 từ 264 cơ quan EMS tại 11địa điểm (8 ở Mỹ và 3 ở Canada), đại diện cho 10% dân số Bắc Mỹ [2]
Ở châu Á, kể từ khi dự án Utstein của Nhật Bản bắt đầu vào năm 2006,
bộ phận cứu hỏa quốc gia của Nhật Bản đã thu thập hàng trăm hàng nghìntrường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện Trung tâm kiểm soát và phòng ngừadịch bệnh Hàn Quốc cũng đã thu thập khoảng 30.000 trường hợp mỗi năm kể
từ năm 2006 Một nghiên cứu quan sát trong vòng 10 năm từ 2006 đến 2015thực hiện chương trình 10 bước của Utstein tại Hàn Quốc để đánh giá hiệuquả về mặt kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện Giai đoạn 1(từ 2009 đến 2011) thực hiện ba bước (thiết lập hệ thống dữ liệu về ngừngtuần hoàn ngoại viện, giáo dục CPR bắt buộc và báo cáo công khai về kết cụccủa ngừng tuần hoàn ngoại viện) ; giai đoạn 2 (từ 2012 đến 2915) tiếp tụcthực hiện hai bước (hỗ trợ CPR qua điện thoại và chương trình đảm bảo chấtlượng EMS) So sánh kết quả với giai đoạn 2006 đến 2008 khi không cóchương trình can thiệp nào được thực hiện Tổng số 128.888 trường hợpngừng tuần hoàn ngoại viện được phân tích Kết quả cho thấy sự cải thiệnđáng kể về kết cục bao gồm: tỷ lệ tái lập lại tuần hoàn tự nhiên trước viện (từ0,8 phần trăm ở năm 2006 đến 7,1 phần trăm năm ở năm 2015), Tỷ lệ sốngsót khi xuất viện (từ 3,0 phần trăm ở năm 2006 đến 6,1 phần trăm năm ở năm