Dâychuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện bao gồm: phát hiện và khởi động hệ thống cấp cứu; hồi sinh tim phổi cơ bản nhanh chóng và có chất lượng;khử rung sớm; vận chuyển bệnh nhân đế
Trang 1VŨ ĐÌNH HÙNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CẤP CỨU NGỪNG TUẦN HOÀN NGOẠI VIỆN TẠI MỘT SỐ TRUNG TÂM Ở HÀ NỘI
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2VŨ ĐÌNH HÙNG
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CẤP CỨU NGỪNG TUẦN HOÀN NGOẠI VIỆN TẠI MỘT SỐ TRUNG TÂM Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành : Hồi sức cấp cứu
Mã số : 60720122
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
1 TS Đỗ Ngọc Sơn
2 TS Đỗ Thị Thanh Toàn
HÀ NỘI - 2018
Trang 3AED (Automated External Defibrillator): máy khử rung tự động
AHA American Heart Association
CDC (the Centers for Disease Control and Prevention) Trung tâm kiểm
soát và phòng ngừa dịch bệnh
CPC score (cerebral performance category score): thang điểm hiệu suất thần kinh CPR (Cardiopulmonary resuscitation): hồi sinh tim phổi
ECLS (Extracorporeal life support): hỗ trợ tuần hoàn ngoài cơ thể
EMS (Emergency medical service): hệ thống cấp cứu trước viện
IBAP (intra-aortic balloon pump): bóng đối xung động mạch chủ
ILCOR (International Liaison Committee on Resuscitation): Uỷ ban liên lạc
quốc tế về hồi sinh tim phổi
m-RS: thang điểm modified Rankin
OHCA Out hospital cardiac arrest
Pulseless VT (Pulseless Vetricular tarchycardia): nhịp nhanh thất vô mạch ROSC (Return of spontaneous circulation): tái lập lại tuần hoàn tự nhiên
STEMI (ST-elevation myocardial infarction): nhồi máu cơ tim ST chênh lên TTM (Targetted temperature management): Kiểm soát nhiệt độ theo mục tiêu
VAD (Ventrical assist device): dụng cụ hỗ trợ tâm thất
VF (Ventricular Fibrillation): rung thất
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Định nghĩa 3
1.2 Dịch tễ và kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 7
1.3 Quy trình cấp cứu ngừng tuần hoàn 13
1.3.1 Nhận biết bệnh nhân ngừng tuần hoàn và kích hoạt hệ thống ứng cứu khẩn cấp: 14
1.3.2 Hồi sinh tim phổi cơ bản ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn 15
1.3.3 Quy trình hồi sinh tim phổi nâng cao ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn 17
1.3.4 Những khuyến cáo về chăm sóc sau ngừng tuần hoàn 17
1.4 Chương trình cải thiện tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện ở cộng đồng 18
1.4.1 Thiết lập hệ thống dữ liệu liên tục về ngừng tuần hoàn ngoại viện tại cộng đồng 21
1.4.2 Thực hiện CPR do người điều phối hỗ trợ qua điện thoại 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2 Thiết kế nghiên cứu 26
2.3 Thời gian nghiên cứu 26
2.4 Địa điểm nghiên cứu 26
2.5 Mẫu nghiên cứu 26
2.6 Kỹ thuật, công cụ thu thập số liệu và các biến số nghiên cứu 26
2.7 Phân tích số liệu 30
2.8 Sai số và khống chế sai số 30
2.9 Đạo đức nghiên cứu 31
2.9.1 Đạt được sự đồng thuận 31
2.9.2 Thông tin đã giải thích cho người tham gia 31
2.9.3 Lưu trữ, xử lý và loại bỏ mẫu vật lấy từ cơ thể người 32
Trang 5Chương 3: DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 33
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 34
3.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 35
3.3 Thực trạng cấp cứu trước viện ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện .37 Chương 4: DỰ KIẾN BÀN LUẬN 41
4.1 Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu 41
4.2 Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 41
4.3 Thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6Bảng 1.1 Các nguyên nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện 6
Bảng 2.1 Bảng các biến số, phương pháp và công cụ thu thập số liệu 29
Bảng 3.1 Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo tuổi 34
Bảng 3.2 Tiền sử bệnh lý của bệnh nhân trước ngừng tuần hoàn 36
Bảng 3.3 Hồi sinh tim phổi bởi người chứng kiến 38
Bảng 3.4 Mối tương quan giữa cấp cứu NTH trước viện bởi người chứng kiến và tỉ lệ tái lập tuần hoàn tự nhiên trước khi đến viện 40
Trang 7Biểu đồ 3.1 Phân bố bệnh nhân nghiên cứu theo giới 34Biểu đồ 3.2 Phân bố địa điểm xảy ra ngừng tuần hoàn 35Biểu đồ 3.3 Triệu chứng đầu tiên khi phát hiện bệnh nhân ngừng tuần hoàn 35Biểu đồ 3.4 Nguyên nhân ngừng tuần hoàn 36Biểu đồ 3.5 Hình ảnh điện tim đầu tiên khi đên khoa cấp cứu 37Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ bệnh nhân được cấp cứu ngừng tuần hoàn trước viện bởi
người chứng kiến 37Biểu đồ 3.7 Phương tiện vận chuyển bệnh nhân tơi bệnh viện 38Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ tái lập tuần hoàn tự nhiên trước khi đến viện cơ bản bởi
người chứng kiến 39Biểu đồ 3.9 Kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện tại khoa cấp
cứu 39Biểu đồ 3.10: Thang điểm CPC của bệnh nhân khi xuất viện 40
Trang 8Hình 1.1 Hình ảnh điện tâm đồ của rung thất theo thời gian, tiến triển thành
vô tâm thu 4
Hình 1.2 Dây chuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện 14
Hình 1.3 Quy trình hồi sinh tim phổi cơ bản 16
Hình 2.1 Sơ đồ nghiên cứu 28
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngừng tuần hoàn ngoại viện (OHCA) là vấn đề sức khoẻ toàn cầu Hàngnăm, có khoảng 300.000 trường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện tại Mỹ với
tỷ lệ tử vong rất cao khoảng 92% [1]
Từ năm 2005, Hiệp hội tim mạch Mỹ đã đưa ra hướng dẫn cấp cứungừng tuần hoàn, và mỗi 5 năm hướng dẫn này lại được cập nhật một lần.Hướng dẫn cấp cứu ngừng tuần hoàn năm 2015 của hiệp hội tim mạch Mỹ đãkhuyến cáo dây chuyền xử trí cấp cứu tách biệt đối với bệnh nhân ngừng tuầnhoàn trong viện so với bối cảnh ngừng tuần hoàn ngoài bệnh viện Dâychuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện bao gồm: phát hiện và khởi động
hệ thống cấp cứu; hồi sinh tim phổi cơ bản nhanh chóng và có chất lượng;khử rung sớm; vận chuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế, duy trì sự sống và chămsóc sau ngừng tuần hoàn [2] Bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn ngoại viện phụthuộc rất nhiều vào sự hỗ trợ của cộng đồng trước khi nhân viên y tế được đàotạo có thể tiếp cận được bệnh nhân Những người chứng kiến cần nhận biếtđược tình trạng ngừng tim, kêu gọi giúp đỡ và bắt đầu hồi sinh tim phổi cơbản ngay Cứ mỗi phút trôi qua nếu không được hồi sinh tim phổi cơ bản, cơhội sống sót của bệnh nhân ngừng tuần hoàn giảm đi 10%, ngay cả được hồisinh tim phổi cơ bản đúng cách thì tỉ lệ này vẫn là 4% Vì vậy hồi sinh timphổi cơ bản là bước đầu rất quan trọng nhất trong dây chuyền cấp cứu bệnhnhân ngừng tuần hoàn
Thống kê về thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện là những cơ
sở để cải thiện chất lượng cấp cứu và nâng cao cơ hội sống còn cho bệnhnhân Trên thế giới, ở các nước phát triển đã có những nghiên cứu về ngừngtuần hoàn ngoại viện Tuy nhiên các mô hình hệ thống cấp cứu ngoại viện mà
đã được áp dụng ở các quốc gia có thu nhập cao không hoàn toàn phù hợptrực tiếp với những bối cảnh hạn chế nguồn lực ở các quốc gia có thu nhập
Trang 10thấp và trung bình ở Châu Á Nghiên cứu “Pan Asian Resuscitation OutcomesStudy- PAROS” là nghiên cứu về cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện ở một
số quốc gia Châu Á- Thái Bình Dương Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tỷ lệbệnh nhân được hồi sinh tim phổi bởi những người chứng kiến còn thấp [4].Tại Hà Nội, nghiên cứu thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện từ8/2011 đến 8/2012 của Đặng Thành Khẩn chỉ đánh giá nhóm bệnh nhânngừng tuần hoàn ngoại viện có người chứng kiến và gọi tới trung tâm cấp cứu
115 Trong khi đó, một tỷ lệ lớn hơn bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại việnđược người chứng kiến đưa thẳng đến bệnh viện mà không gọi tới trung tâmcấp cứu 115 hay không được hồi sinh tim phổi cơ bản [5] Vậy thực trạng cấpcứu ngừng tuần hoàn ngoại viện tại Hà Nội như thế nào? Hy vọng rằng quanghiên cứu này sẽ cung cấp những dữ liệu để cải thiện quy trình cấp cứungừng tuần hoàn ngoại viện trong tương lai, qua đó có thể nâng cao tỷ lệ bệnhnhân ngừng tuần hoàn được hồi sinh tim phổi cơ bản, rút ngắn thời gian vậnchuyển bệnh nhân đến bệnh viện, cải thiện kết cục của bệnh nhân ngừng tuầnhoàn ngoại viện
Nghiên cứu này gồm 2 mục tiêu:
Mục tiêu thứ nhất: Mô tả đặc điểm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện được nhập viện tại một số bệnh viện lớn ở Hà Nội.
Mục tiêu thứ hai: Đánh giá thực trạng cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện tại Hà Nội và các yếu tố trong dây chuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ảnh hưởng đến kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 111.1 Định nghĩa
Ngừng tuần hoàn là sự ngừng đột ngột hoạt động của tim xảy ra dorối loạn hoạt động điện của quả tim,dẫn đến nạn nhân mất ý thức,không thở bình thường và không có dấu hiệu tuần hoàn Nếu các biệnpháp cấp cứu không được thực hiện nhanh chóng, tình trạng này tiếntriển đến tử vong
Các rối loạn điện tim ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn có thể là phân
ly điện cơ, vô tâm thu, rung thất hoặc nhịp nhanh thất vô mạch
Vô tâm thu và phân ly điện cơ là nhóm rối loạn nhịp không thể sốcđiện
Nhịp nhanh thất vô mạch và rung thất là nhóm rối loạn nhịp trongngừng tuần hoàn có thể sốc điện Biểu hiện trên điện tâm đồ của nhịpnhanh thất là nhịp nhanh đều với phức bộ QRS giãn rộng (> 0,12 giây).Nhịp nhanh thất bền bỉ là cơn nhịp nhanh kéo dài lớn hơn 30 giây Nhịpnhanh thất gây giảm cung lượng tim đáng kể Nhịp nhanh thất có rốiloạn huyết động hoặc ngừng tuần hoàn cần phải được sốc điện nhanhchóng để chuyển nhịp Nếu nhịp nhanh thất kéo dài gây ra thiếu máu cơtim và có thể chuyển thành rung thất Rung thất là tình trạng tâm thấtkhông bóp nữa mà các thớ cơ tâm thất rung lên do những xung độngloạn xạ, vô tổ chức phát ra ở nhiều vùng trên cơ thất Rung thất kéo dàisau vài phút nếu không được khử rung sẽ dẫn đến thiếu oxy mô, thiếuoxy cơ tim, toan chuyển hoá và cuối cùng là mất hết hoạt động điện của
cơ tim, điện tim chuyển thành vô tâm thu Hình ảnh điện tâm đồ củarung thất là những dao động với tần số cao trên 300 lần mỗi phút,không đều, không còn thấy dấu vết của sóng PQRST Tại mới bắt đầu,sóng rung thô với biên độ cao và có thể có tổ chức trong thời gian ngắn.Khi thời gian rung thất tăng lên, thiếu máu cơ tim tiến triển kèm theo
Trang 12tình trạng nhiễm toan, dẫn đến suy giảm điện sinh lý, biểu hiện bởi sựgia tăng chu kỳ rung Lúc này các sóng rung thất vô tổ chức, biên độkhông đều Sau một thời gian dài hơn, các sóng rung thất trở nên nhỏdần và cuối cùng tiến triển thành vô tâm thu [7] Vì vậy bên cạnh hồisinh tim phổi chất lượng thì khử rung sớm là yếu tố vô cùng quan trọngtrong cấp cứu ngừng tuần hoàn ở trường hợp nhịp nhanh thất vô mạchhoặc rung thất.
Hình 1.1 Hình ảnh điện tâm đồ của rung thất theo thời gian, tiến triển
thành vô tâm thu [7]
Cơ chế của ngừng tuần hoàn ngoại viện ở mỗi bệnh nhân cụ thểthường khó để đánh giá chính xác Bởi vì điện tim tại thời điểm bắt đầungừng tuần hoàn hầu hết không được ghi lại Khi đó, cơ chế ngừng tuầnhoàn chỉ có thể suy ra dựa trên thông tin thu được sau khi quá trìnhngừng tuần hoàn đã xảy ra Tuy nhiên, có nhiều trường hợp, hình ảnhđiện tim khi khởi phát ngừng tuần hoàn được ghi lại Điều này thường
12 phút
8 phút Khởi phát
2 phút
Trang 13xảy ra ở những bệnh nhân được cấy máy tạo nhịp (ICD), hoặc nhữngbệnh nhân được mắc monitor theo dõi điện tim cấp cứu Trong nhómnày, rối loạn nhịp khởi phát chủ yếu là rung thất hoặc nhịp nhanh thất
chiếm 83.34 phần trăm Vô tâm thu thường là rối loạn nhịp đầu tiên
quan sát được ở nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện màkhông xác định chính xác thời gian khởi phát hoặc hình ảnh điện tim tạithời điểm khởi phát ngừng tuần hoàn không được ghi lại Vô tâm thu cóthể tương quan với thời gian ngừng tuần hoàn kéo dài và là kết quả cuối
cùng của rung thất đã xuất hiện vài phút trước đó
Nguyên nhân ngừng tuần hoàn
Đối với nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn trong bệnh viện,nguyên nhân hàng đầu là do thiếu oxy máu hoặc hạ huyết áp Hình ảnhđiện tim ban đầu thường là phân ly điện cơ hoặc vô tâm thu, chỉ cókhoảng 15 dến 23 phần trăm rung thất hoặc nhịp nhanh thất Trong khi
đó đối với nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện, nguyên nhânchủ yếu là bệnh mạch vành chiếm 65 đến 70 phần trăm, với 45 phầntrăm rối loạn điện tim ban đầu là rung thất hoặc nhịp nhanh thất vômạch [6],[7]
Sau đây là các các nguyên nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện [7]:
65 đến 70 phần trăm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện donguyên nhân bệnh mạch vành Tuy nhiên, tần số của bệnh mạch vànhthấp hơn nhiều ở các bệnh nhân xảy ra dưới 30 tuổi (chỉ 24 phần trăm ởHoa Kỳ năm 1999)
10 phần trăm là do các loại bệnh tim cấu trúc khác (ví dụ, dị dạngđộng mạch vành bẩm sinh, viêm cơ tim, bệnh cơ tim phì đại, rối loạn
Trang 14cơ tim tâm thất phải) Tần suất cao hơn nhiều ở các đối tượng dưới 30tuổi (hơn 35% ở Hoa Kỳ vào năm 1999)
5 đến 10 phần trăm do các rối loạn nhịp xảy ra ở bệnh nhân không
có bệnh tim cấu trúc
15 đến 25 phần trăm trường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện không
do nguồn gốc tim mạch Các nguyên nhân bao gồm chấn thương, chảymáu, ngộ độc thuốc, xuất huyết nội sọ, thuyên tắc phổi, đuối nước, và tắcnghẽn đường thở
Bảng 1.1 Các nguyên nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện [7]
Bệnh tim thiếu máu cục bộ
Nhồi máu cơ tim hoặc cơn đau thắt ngực không ổn định
Bệnh động mạch vành không do xơ vữa (viêm động mạch, lóc tách, dị tậtđộng mạch vành bẩm sinh
Co thắt động mạch vành
Bệnh tim mạch có tổn thương cấu trúc
Bệnh cơ tim phì đại
Bênh cơ tim giãn
Hở van tim
Bệnh tim bẩm sinh
Viêm cơ tim
Tràn dịch màng tim gây ép tim cấp
Lóc tách động mạch chủ
Bệnh tim mạch không có tổn thương cấu trúc
Hội chứng QT kéo dài
Trang 151.2 Dịch tễ và kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện
Theo AHA, mỗi năm tại Mỹ có khoảng 350.000 trường hợp ngừngtuần hoàn ngoại viện ngừng tuần hoàn đột ngột vẫn luôn là nguyênnhân tử vong hàng đầu tại Mỹ Tỷ lệ ngừng tuần hoàn ngoại viện tăngtheo tuổi ở cả nam và nữ Ngoài ra, tỷ lệ ngừng tuần hoàn ở nam giớicao hơn gấp hai đến ba lần ở nữ [8]
Cấp cứu ngừng tuần hoàn được coi là thành công không chỉ là bệnhnhân sống sót mà còn là phục hồi chức năng thần kinh của bênh nhân.Như vậy, cấp cứu ngừng tuần hoàn thực chất là hồi sinh tim- phổi- não.Mặc dù đã có những tiến bộ trong điều trị nhưng kết cục của bệnh nhânngừng tuần hoàn vẫn luôn rất tồi Chỉ 10,8 phần trăm bệnh nhân ngườilớn ngừng tuần hoàn ngoại viện sống sót đến khi xuất viên [1] Trongkhi đó ngừng tuần hoàn trong bệnh viện có kết cục tốt hơn với tỷ lệsống sót 22,3 đến 25,5 phần trăm [9] Trong tổng số 547.153 bệnhnhân ngừng tuần hoàn ngoại viện ở Nhật Bản trong giai đoạn 2005 đến
2009, tỷ lệ sống sót khi xuất viện và cải thiện về tình trạng thần kinh đãtăng lên gấp đôi (từ 1,6 lên 2,8 phần trăm ở tất cả bệnh nhân ngừngtuần hoàn ngoại viện; từ 2,1 lên 4,3 phần trăm trong nhóm ngừng tuầnhoàn ngoại viện có người chứng kiến; từ 9,8 lên 20,6 phần trăm trongnhóm ngừng tuần hoàn ngoại viện có người chứng kiến và rối loạn nhịpban đầu là rung thất hoặc nhịp nhanh thất[10]
Có sự liên quan giữa cơ chế của ngừng tuần hoàn với kết quả hồisức ban đầu của bệnh nhân Khi nhịp ban ban đầu của bệnh nhân là vôtâm thu, tỷ lệ hồi sức thành công thường rất thấp Chỉ có 10 phần trămbệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện với nhịp ban đầu là vô tâm thusống sót cho dến khi đến bệnh viện, và chỉ 0 đến 2 phần trăm sống sót
Trang 16khi xuất viện Kết cục tồi này có thể là sự phản ánh thời gian ngừng timkéo dài (hơn 4 phút) hoặc có sự tổn thương cơ tim nghiêm trọng màkhông thể đảo ngược được Nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoạiviện với rối loạn nhịp ban đầu là nhịp nhanh thất hoặc rung thất thì cókết cục tốt hơn Khoảng 25 đến 40 phần trăm bệnh nhân sống sót khixuất viện Nhồi máu cơ tim cấp là nguyên nhân cơ bản gây ra rung thất
ở nhiều bệnh nhân sống sót sau khi xuất viện Có khoảng một phần batrường hợp ngừng tuần hoàn ngoại viện không do nguyên nhân timmạch Trong nhóm này, 40 phần trăm bệnh nhân sống sót khi đến viện,
11 phần trăm sống sót đến khi ra viện nhưng chỉ có 6 phần trăm bệnhnhân có chức năng thần kinh còn nguyên vẹn hoặc khuyết tật nhẹ [11],[12]
Các yếu tố ảnh hưởng đến kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện:
Hoạt động của não phụ thuộc và lượng máu lên não nhằm cung cấpoxy và glucose cho não Dự trữ glucose ở não chỉ đủ duy trì cho tế bàonão hoạt động trong 2 đến 4 phút, dự trữ oxy chỉ đảm bảo trong 10 đến
30 giây Tổn thương não sẽ không hồi phục sau 4 phút ngừng tuầnhoàn Thời gian là yếu tố vô cùng quan trọng liên quan tới kết cục củabệnh nhân ngừng tuần hoàn
Thời gian rung thất: rung thất khi xuất hiện không bao giờ chấm dứt một cách tự nhiên Khử rung là cách duy nhất để tái lập lại hoạt
động điện của cơ tim Do đó sự sống còn của bệnh nhân phụ thuộc vàoviệc cung cấp nhanh chóng của hồi sinh tim phổi hiệu quả kèm theokhử rung sớm Tăng thời gian rung thất có hai tác dụng phụ chính: nólàm giảm khả năng chấm dứt chứng rối loạn nhịp và nếu rung thất tiếptục trong hơn bốn phút, sẽ có tổn thương không thể phục hồi đối với hệ
Trang 17thần kinh trung ương và các cơ quan khác Tỷ lệ sống ở bệnh nhânngừng tuần hoàn do rung thất giảm xuống khoảng 10% mỗi phút nếukhông được hồi sinh tim phổi và khử rung tim, và sau hơn 12 phút tỷ lệsống chỉ là 2 đến 5% [12].
Thời gian khi bệnh nhân ngừng tuần hoàn đến khi được hồi sinh tim phổi: Những quan sát này tạo thành cơ sở lý luận cho những
nỗ lực hồi sinh tim phổi nhanh hơn ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoàibệnh viện Tuy nhiên, một nghiên cứu đánh giá hệ thống EMS tại Mỹtrong 25 năm với 12.000 bệnh nhân được cấp cứu bởi EMS, khoảngthời gian đáp ứng hồi sinh tim phổi cơ bản tăng từ 3,8 lên 5,1 phút từnăm 1977 đến năm 2001 và khoảng thời gian đáp ứng hồi sinh tim phổităng từ 8,4 đến 9,0 phút [11] Có thể đó là hệ quả của tăng trưởng dân
số và đô thị hoá Vì vậy, hồi sinh tim phổi bởi người chứng kiến vàthậm chí khử rung tim đã được khuyến cáo Những can thiệp như vậycho phép phản ứng nhanh hơn trước khi hệ thống EMS tiếp cận đượcvới nạn nhân, và cho kết cục tốt hơn đối với bệnh nhân ngừng tuầnhoàn ngoại viện Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ sống sót khi xuất việncho những bệnh nhân đã nhận CPR từ người chứng kiến cao hơn 1.85lần so với nhóm còn lại [11]
Hồi sinh tim phổi bởi người chứng kiến: CPR bởi người chứng
kiến là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc xác định kết cục củabệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện Điều này đã được khẳng địnhqua nhiều nghiên cứu Tỷ lệ sống sau khi ngừng tim đột ngột cao hơn
từ 2-4 lần ở những người nhận được CPR ban đầu từ người chứng kiếnkhi so sánh với những người nhận được CPR ban đầu từ nhân viênEMS Ngoài sự sống còn được cải thiện, phục hồi sớm và cải thiệnchức năng thần kinh tốt hơn cũng được quan sát thấy ở nhóm này [12]
Trang 18Mặc dù có lợi ích của CPR bởi người chứng kiến là rõ ràng, nhưng
nó không phải lúc nào cũng được thực hiện Lý do cho điều này baogồm sự thiếu hụt của người chứng kiến được đào tạo CPR và mối longại về khả năng lây truyền bệnh trong khi thực hiện thổi ngạt chongười bệnh Các can thiệp để cải thiện tỷ lệ CPR của người chứng kiếnbao gồm khuyến khích và hướng dẫn CPR cho người chứng kiến bởiđiều phối viên EMS thông qua điện thoại, khuyến khích những ngườichứng kiến chưa được đào đạo tiến hành CPR bằng cách chỉ ép tim vàcác chiến dịch đào tạo trong cộng đồng để thúc đẩy việc thực hiện CPRbởi người chứng kiến Trong một loạt hơn 12.000 bệnh nhân được cấpcứu bởi EMS ở Seattle, những người chứng kiến không được đào tạo
về CPR đã được hướng dẫn qua điện thoại từ người điều phối EMS[11] Tỷ lệ bệnh nhân nhận được CPR từ người chứng kiến tăng từ 27phần trăm lên 50 phần trăm, sự cải thiện này gần như hoàn toàn là kếtquả của việc thực hiện CPR được hỗ trợ bởi điều phối viên trongkhoảng thời gian đó
CPR chỉ ép tim: Các nghiên cứu quan sát ban đầu đánh giá việc
tiến hành CPR chỉ ép tim so với CPR chuẩn cho kết quả không có sựkhác biệt đáng kể về sự sống còn và chức năng thần kinh lâu dài giữahai nhóm [13] Ngoài ra, khuyến khích người chứng kiến chưa đượcđào tạo tiến hành CPR bằng cách chỉ ép tim sẽ nâng cao tỷ lệ bệnhnhân ngừng tuần hoàn ngoại viện nhận được CPR từ người chứng kiến.Một nghiên cứu quan sát với hơn 4400 người lớn ngừng tuần hoànngoại viện ghi nhận sự gia tăng của CPR người chứng kiến từ 28 đến40% trong suốt một chiến dịch công khai kéo dài 5 năm nhằm khuyếnkhích CPR bằng biện phải chỉ ép tim [13]
Trang 19Ba thử nghiệm ngẫu nhiên về thực hiện CPR chỉ ép tim so với CPRchuẩn đều cho thấy xu hướng cải thiện kết cục trong nhóm CPR chỉ éptim [14], [15], [16] Vì vậy, hướng dẫn của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳnăm 2015 (AHA) khuyến cáo rằng những người chứng kiến nên thựchiện CPR chỉ ép tim trước khi nhân viên cấp cứu đến [2].
CPR chất lượng cao: Việc duy trì cung lượng tim trong quá trình
CPR là yếu tố quan trọng quyết định kết cục của bệnh nhân Các dữliệu nghiên cứu cho thấy CPR chất lượng cao giúp cải thiện rõ ràng kếtcục của bệnh nhân Hướng dẫn AHA năm 2015 chú trọng đến chấtlượng CPR ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn bao gồm: ép tim với tần số vàbiên độ vừa đủ (tốc độ 100 đến 120 lần/ phút, biên độ từ 5 đến 6 cm ởngười lớn), để thành ngực nảy lên hoàn toàn sau mỗi lần ép tim và giảmthiểu gián đoạn trong khi ép tim và hạn chế thông khí quá mức [2].Theo hướng dẫn của AHA 2010, tần số ép tim tối thiểu là 100 lần/phút Tần số ép tim dưới 100 lần/ phút làm giảm cơ hội tái lập tuầnhoàn tự nhiên của bệnh nhân (ROSC) Tuy nhiên ép tim quá nhanh vớitần số lớn hơn 120 lần/ phút có nguy cơ làm giảm tưới máu mạch vành.Thêm vào đó, có sự liên quan giữa tần số với biên độ ép tim Biên độ
ép tim dưới 38 mm là khoảng 35 phần trăm khi tần số ép tim từ 100 đến
119 lần/ phút Nhưng tỷ lệ này tăng lên 50 phần trăm khi tần số ép tim
từ 120 đến 139 lần/ phút, và 70 phần trăm khi tần số ép tim lớn hơn 140lần/ phút.Vì vậy khoảng tối ưu của tần số ép tim là từ 100 đến 120lần/phút theo hướng dẫn của AHA 2015 [2]
Biên độ ép tim ảnh hưởng đến áp lực của lồng ngực Ép tim mạnhlàm tăng áp lực trong lồng ngực, tăng cung lượng tim, tăng áp lực tướimáu não Theo khuyến cáo của AHA 2015, biên độ ép tối ưu là 5 đến 6
cm đối với người lớn Chấn thương ngực thường khi biên độ ép lớn hơn
6 cm Để thành ngực nảy lên hoàn toàn sau mỗi lần ép tim tạo ra áp lực
Trang 20âm trong lồng ngực giúp tăng cường máu về tim và cải thiện tưới máumạch vành sau mỗi lần ép tim [2].
Giảm thiểu thời gián đoạn khi ép tim vẫn là một điểm được nhấnmạnh từ AHA 2010 Nếu bệnh nhân chưa được đặt các dụng cụ hỗ trợđường thở nâng cao (ống nội khí quản, mask thanh quản…) thì thờigian dừng tối đa để cung cấp hai lần thở cho bệnh nhân nên nhỏ hơn 10giây Thời gian dừng ép tim trước và sau mỗi lần sốc điện được khuyếncáo càng ngắn càng tốt Phân số CPR là phần trăm thời gian vô mạchđược ép tim của bệnh nhân Mục tiêu tối ưu của phân số CPR cần đạt là
80 phần trăm [2]
Mức CO 2 cuối thì thở ra (ET-CO 2) có liên quan với cung lượng
tim rất thấp khi đo sau ít nhất 10 phút CPR và có thể cung cấp thông tintiên lượng thành công hay thất bại của việc tiến hành CPR Trong mộtnghiên cứu, mức carbon dioxide cuối thì thở được đo sau 20 phút tiếnhành CPR, với mức ET-CO2 của bệnh nhân dưới 10 mmHg thì 100phần trăm bệnh nhân không sống sót đến khi xuất viện Những ngườisống sót có nồng độ carbon dioxide cuối thì thở ra sau 20 phút tiếnhành CPR cao hơn nhiều ở so với nhóm không sống sót (32,8 so với 4,4mmHg) [17] Hướng dẫn của AHA 2015 khuyến cáo ở những bệnhnhân được đặt ống nội khí quản, nếu không đạt ETCO2 lớn hơn 10mmHg bằng thán đồ dạng sóng sau 20 phút CPR, có thể là một yếu tốcân nhắc quyết định dừng nỗ lực hồi sinh tim phổi cho bệnh nhânngừng tuần hoàn [2]
Khử rung trước so với CPR trước: Uỷ ban liên lạc quốc tế về hồi
sinh tim phổi (ILCOR) năm 2015 đã phân tích hệ thống để đánh giáliệu tiến hành CPR trong một khoảng thời gian cụ thể (từ 90 đến 180giây) trước khi tiến hành khử rung cho bệnh nhân có mang lại hiệu quảhơn so với việc tiến hành phân tích tích nhịp và tiến hành khử rung
Trang 21ngay lập tức Tuy nhiên các nghiên cứu đều không thấy sự khác biệt kếtcục giữa hai nhóm ở tất cả các chỉ số từ thời gian sống sót trong vòngmột năm, kết cục thần kinh thuận lợi hay tái lập tuần hoàn tự nhiên [2].
Vì vậy theo hướng dẫn của AHA năm 2015, trong trường hợp bệnhnhân ngừng tuần hoàn có người chứng kiến và máy khử rung tự động(AED) có sẵn ngay lập tức thì việc khử rung tim được tiến hành càngsớm càng tốt
Nhiệt độ cơ thể: Sự gia tăng nhiệt độ cơ thể có liên quan đến kết
cục phục hồi về chức năng thần kinh không thuận lợi sau CPR thànhcông Sự gia tăng nhiệt độ có thể làm trầm trọng thêm mức độ tổnthương thần kinh liên quan đến thiếu máu não cục bộ Đối với nhiệt độcao nhất trong vòng 48 giờ, mỗi độ C cao hơn 37ºC làm tăng nguy cơhồi phục thần kinh không thuận lợi lên 2,26 lần [18] Mặt khác, hạ thânnhiệt từ nhẹ đến trung bình (nhiệt độ mục tiêu từ 32 đến 36ºC trong 24giờ) có thể có lợi cho bệnh nhân hồi sức thành công sau khi ngừng tuầnhoàn, giúp cải thiện chức năng thần kinh sau ngừng tuần hoàn Nghiêncứu TTM (Targeted Temperature Management at 33°C versus 36°C afterCardiac Arrest) trên 950 bệnh nhân năm 2013 cho thấy việc hạ thân nhiệt
ở mức 33 độ C so với 36 độ C ở những bệnh nhân hôn mê sau ngừngtuần hoàn không có sự khác biệt về kết cục thần kinh [19] Hướng dẫnAHA năm 2015 khuyến cáo tất cả bệnh nhân người lớn hôn mê saungừng tuần hoàn nên được thực hiện kiểm soát thân nhiệt theo mục tiêutrong khoảng 32 đến 36 độ C trong ít nhất 24 giờ [20]
Ảnh hưởng của các bệnh mãn tính kèm theo: Tác động của các
tình trạng bệnh mãn tính đến về kết cục của bệnh nhân ngừng tuần hoànngoại bệnh viện được đánh giá trong một nghiên cứu với 1043 bệnhnhân ở Washington-Mỹ [21] Có sự giảm đáng kể về khả năng sống sótcủa bệnh nhân liên quan đến các bệnh mãn tính, như suy tim sung
Trang 22huyết, nhồi máu cơ tim trước đây, tăng huyết áp và tiểu đường (OR0,84 cho mỗi tình trạng mãn tính bổ sung)
1.3 Quy trình cấp cứu ngừng tuần hoàn:
Từ năm 2005, Hiệp hội tim mạch Mỹ đã đưa ra hướng dẫn cấp cứu ngừngtuần hoàn, và mỗi 5 năm hướng dẫn này lại được cập nhật một lần Hướngdẫn cấp cứu ngừng tuần hoàn năm 2015 của hiệp hội tim mạch Mỹ đãkhuyến nghị dâychuyền xử trí cấp cứu tách biệt đối với bệnh nhân ngừng tuầnhoàn trong viện so với bối cảnh ngoài bệnh viện.Dây chuyền cấp cứu ngừngtuần hoàn ngoại viện bao gồm: phát hiện và khởi động hệ thống cấp cứu; hồisinh tim phổi cơ bản nhanh chóng và có chất lượng; khử rung sớm; vậnchuyển bệnh nhân đến cơ sở y tế, duy trì sự sống và chăm sóc sau ngừng tuầnhoàn Bệnh nhân bị ngừng tuần hoàn ngoại viện phụ thuộc rất nhiều vào sự hỗtrợ của cộng đồng trước khi nhân viên y tế được đào tạo có thể tiếp cận đượcbệnh nhân Những người chứng kiến cần nhận biết được tình trạng ngừng tim,kêu gọi giúp đỡ và bắt đầu hồi sinh tim phổi ngay.Hồi sinh tim phổi cơ bảnbao gồm trình tự C-A-B trong đó ép tim cần được thực hiện đầu tiên và khôngchậm trễ, tiếp theo là kiểm soát đường thở và thông khí Tỷ lệ ép tim- thôngkhí ở người lớn là 30:2 Nếu người chứng kiến chưa được đào tạo về hồi sinhtim phổi thì người đó nên chỉ ép tim đơn thuần, trong đó chú trọng ép mạnh
và ép nhanh, giảm thiểu khoảng thời gian gián đoạn khi ép tim
Trang 23Hình 1.2 Dây chuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện (AHA 2015) 1.3.1 Nhận biết bệnh nhân ngừng tuần hoàn và kích hoạt hệ thống ứng
cứu khẩn cấp:
Nạn nhân ngừng tuần hoàn sẽ có 3 biểu hiện bao gồm
- Mất ý thức đột ngột
- Ngưng thở hay thở ngáp
- Mất mạch bẹn hoặc mạch cảnh (thời gian kiểm tra tối đa 10 giây)
Vì vậy cộng đồng, người điều phồi cần được đào tạo để nhận biếttình trạng ngừng tuần hoàn và ngay lập tức kích hoạt hệ thống ứng cứukhẩn cấp và tiến hành CPR Đôi khi biểu hiện đầu tiên của ngừng tuầnhoàn là co giật toàn thân nhanh Nếu nạn nhân không có phản ứng kèmtheo thở ngáp hoặc ngừng thở, cần nghĩ tới có thể nạn nhân bị ngừngtuần hoàn
Nếu chỉ có 1 người chứng kiến, trước hết cần gọi cho đơn vị cấpcứu ngoại viện, lấy máy khử rung tự động nếu có và sau đó tiến hànhngay hồi sinh tim phổi cơ bản Nếu có hơn hai người chứng kiến trởlên,cần bắt đầu hồi sinh tim phổi cơ bản ngay lập tức, trong khi ngườicòn lại gọi cho đơn vị cấp cứu ngoại viện và tìm kiếm máy khử rung tựđộng
1.3.2 Hồi sinh tim phổi cơ bản ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn [2]:
Đối với những người chưa được đào tạo cấp cứu ngừng tuần hoàn, nênthực hiện ép tim đơn thuần cho nạn nhân người lớn ngừng tuần hoàn ngoạiviện Người chứng kiến nên ép tim đơn thuần cho đến khi máy khử rung tựđộng được đưa đến hoặc khi có trợ giúp bởi người được đào tạo Ngoài ra vớingười cứu hộ được đào tạo, có thể thực hiện hô hấp nhân tạo với tỷ lệ 30 lần
Trang 24Kiểm tra mạch sau mỗi 2 phút tiến hành hồi sinh tim phổi cơ bản, chú ýthời gian kiểm tra mạch không quá 10 giây
Khử rung sớm với máy khử rung tự động: Nếu chỉ có một người chứngkiến duy nhất và có máy khử rung tự động sẵn có ngay lập tức thì ngườichứng kiến rời khỏi nạn nhân để lấy máy khử rung tự động sau đó quay lạinạn nhân, sử dụng máy khử rung tự động càng sớm càng tốt Nếu không thểtiếp cận ngay với máy khử rung tự động, hoặc bệnh nhân ngừng tuần hoàn màkhông rõ thời điểm khởi phát thì cần tiến hành hồi sinh tim phổi ngay trongkhi tìm và sử dụng máy khử rung tự động Trường hợp hai người chứng kiếntrở lên thì một người khởi động ngay hồi sinh tim phổi cho nạn nhân, ngườicòn lại kích hoạt hệ thống cấp cứu khẩn cấp và lấy máy khử rung tự động, sau
đó tiến hành khử rung ngay khi máy khử rung tự động sẵn sàng hoạt độngCần hạn chế thông khí quá mức Khi đã có đường thở hỗ trợ có thể thựchiện 10 lần thông khí/ phút
Theo AHA 2015, các thiết bị ép tim cơ học tự động không cho thấy lợi íchhơn Ép tim bằng tay vẫn là tiêu chuẩn trong hồi sinh tim phổi Tuy nhiêntrong một số tình huống nhất định như số lượng người cứu hộ hạn chế, hồisinh tim phổi trong các vị trí đặc biệt thì các thiết bị này có thể là phương ánthay thế hợp lý cho ép tim bằng tay
Trang 25Hình 1.3 Quy trình hồi sinh tim phổi cơ bản
1.3.3 Quy trình hồi sinh tim phổi nâng cao ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn
Cần mắc monitor theo dõi, ghi điện tim sớm ngay khi có thể và tiến hànhsốc điện khi có chỉ định Nếu sóng điện tim là rung thất hoặc nhịp nhanh thất,
Trang 26tiến hành sốc điện không đồng bộ ngay (360 jun với máy sốc điện một pha,
120 đến 200 jun với máy sốc điện hai pha) Tiến hành 5 chu kỳ ép tim/ thổingạt sau mỗi lần sốc điện
Đặt đường truyền lớn, tiêm adrenalin 1mg mỗi 3 phút Vasopressin khôngđem lại lợi ích do đó vasopressin không được khuyến cáo sử dụng từ AHA 2015Kiểm soát đường thở bằng các biện pháp: bóp bóng mask, đặt mask thanhquản, đặt ống nội khí quản Việc đặt ống nội khí quản có thể làm gián đoạnquá trình ép tim của bệnh nhân Các nghiên cứu đều không cho thấy lợi íchcủa việc đặt ống nội khí quản trong cấp cứu ngừng tuần hoàn nâng cao Vìvậy AHA 2015 khuyến cáo chỉ đặt ống nội khí quản khi người đặt có kinhnghiệm và thông khí bằng mặt nạ không đảm bảo
Các thuốc dùng trong cấp cứu ngừng tuần hoàn: Amiodarone có thểđược xem xét cho rối loạn nhịp rung thất hoặc nhịp nhanh thất màkhông đáp ứng với CPR và sốc điện Lidocain có thể được coi là mộtthay thế cho Amiodarone Việc sử dụng Magiê thường quy không đượckhuyến cáo đối với bệnh nhân ngừng tuần hoàn có rung thất hoặc nhịpnhanh thất
1.3.4 Những khuyến cáo về chăm sóc sau ngừng tuần hoàn [17]:
Bệnh nhân tái lập được tuần hoàn tự nhiên sau ngừng tuần hoàn cần đượcđiều trị và chăm sóc toàn diện tại đơn vị hồi sức tích cực
Sau khi tái lập được tuần hoàn tự nhiên, cần ghi điện tâm đồ 12 chuyểnđạo càng sớm càng tốt Chụp mạch vành cấp cứu nên được thực hiện đối vớibệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện với điện tim có ST chênh lên thay vìtrì hoãn trong thời gian nằm viện Chụp mạch vành cấp cứu cũng là hợp lý vớitrường hợp điện tâm đồ không có ST chênh lên nhưng căn nguyên ngừng tuầnhoàn nghi ngờ do tim
Tất cả bệnh nhân người lớn hôn mê sau ngừng tuần hoàn nên được thựchiện kiểm soát nhiệt độ theo mục tiêu với nhiệt độ mục tiêu trong khoảng 32
Trang 27đến 26 độ C trong vòng ít nhất 24 giờ Và cần tích cực ngăn ngừa sốt saungừng tuần hoàn.
Thời gian sớm nhất để dự báo tình trạng xấu về mặt thần kinh ở bệnhnhân ngừng tuần hoàn là sau 72 giờ, nhưng thời gian này có thể dài hơn nếunghi ngờ có sử dụng thuốc giảm đau hoặc an thần
Tối ưu hoá các thuốc vận mạch để duy trì huyết áp tâm thu lớn hơn 90
mm Hg và huyết áp động mạch trung bình lớn hơn 65 mm Hg
1.4 Chương trình cải thiện tỷ lệ sống sót của bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện ở cộng đồng [22],[23]:
Hệ thống cấp cứu trước viện ở mỗi cộng đồng có sự khác biệt Tuynhiên trong dây chuyền cấp cứu ngừng tuần hoàn ngoại viện, có một
số quy trình phổ biến ở các hệ thống cấp cứu trước viện Đầu tiên, hệthống được kích hoạt khi có cuộc gọi tới từ cộng đồng Người điều phốicần nhận biết tình trạng ngừng tuần hoàn và đưa ra hướng dẫn hồi sinhtim phổi cơ bản Trong lúc đó, các phương tiện cấp cứu cùng nhân viên
y tế sẽ đến hiện trường Tại hiện trường, nhân viện y tế tiến hành hồisinh tim phổi cơ bản hoặc nâng cao Nếu bệnh nhân được hồi sinh timtim phổi thành công, bệnh nhân được vận chuyển đến bệnh viện vàtiếp tục được điều trị hồi sức tại bệnh viện Nếu hồi sinh tim phổithất bại, bệnh nhân được xác định tử vong tại hiện trường mặc dùmột số hệ thống có thể yêu cầu vận chuyển đến bệnh viện để xácđịnh tình trạng tử vong Quy trình này tạo thành một chuỗi sống còntrong cấp cứu ngừng tuần hoàn (The Chain of Survival) với bốn liênkết quan trọng bao gồm: phát hiện sớm, hồi sinh tim phổi sớm, khửrung sớm và chăm sóc nâng cao sớm Trong đó tỷ lệ hồi sức thànhcông đặc biệt có liên quan đến khả năng của hệ thống EMS cung cấpdịch vụ chăm sóc nhanh chóng, chất lượng cao
Trang 28Các hướng dẫn theo mẫu Utstein đã góp phần trong việc cải thiệnviệc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng trên toàn thế giới bằng cách cungcấp một khuôn khổ chung để có thể so sánh các hệ thống cấp cứu trướcviện (EMS) với nhau Hướng dẫn Utstein được đưa ra đầu tiên năm
1991 và đã được cập nhật lại năm 2004 Với những tiến bộ trong khoahọc hồi sức, những hiểu biết mới về các yếu tố tiên lượng quan trọngcủa kết cục của ngừng tuần hoàn ngoại viện và những bài học thu được
từ các nghiên cứu đã thúc đẩy việc xem xét và cập nhật các hướng dẫnUtstein năm 2004 Tiếp theo thông qua nhiều cuộc gặp mặt trực tiếp,bằng liên lạc trực tuyến và qua khảo sát Web trong suốt năm 2012 đến
2014, đại diện của Ủy ban liên lạc Quốc tế về hồi sinh tim phổi(ILCOR) đã phát triển một khung báo cáo cập nhật của Utstein Đây lànhững khuyến cáo để báo cáo ngừng tuần hoàn ngoài bệnh viện Cácyếu tố dữ liệu trong mẫu Utstein được phân nhóm bao gồm: các yếu tố
hệ thống, xác định ngừng tuần hoàn, các yếu tố về đặc điểm bệnh nhân,quá trình hồi sức và kết cục cuối cùng của bệnh nhân [22]
Trong nhóm bệnh nhân ngừng tuần hoàn có người chứng kiến, tỷ lệbệnh nhân nhận được CPR từ người chứng kiến thay đổi từ 10 đến 75phần trăm trong các cộng đồng khác nhau và tỷ lệ sống sót của bệnhnhân ngừng tuần hoàn ngoại viện vẫn rất thấp, trung bình nhỏ hơn 10phần trăm và ước tính có khoảng 1 triệu người chết hàng năm do ngừngtuần hoàn ngoại viện ở các nước phát triển Các chuyên gia tin tưởngrằng, dựa vào những kiến thức hiện tại cùng với sự tuân thủ và thựchành tốt tại cộng đồng có thể nâng cao hơn nữa tỷ lệ sống sót ở bệnhnhân ngừng tuần hoàn ngoại viện lên đến 50 phần trăm Utstein năm
2015 đã thành lập một liên minh hồi sức toàn cầu với mục tiêu cungcấp hướng dẫn về chương trình và hành động tốt nhất để cải thiện tỷ lệ
Trang 29sống sót ở bệnh nhân ngừng tuần hoàn ngoại viện trong các cộng đồng.Utstein đã đưa ra chương trình 10 bước để cải thiện tỷ lệ sống sót trongcộng đồng và 10 hành động để hoàn thành mục tiêu.
10 bước của Utstein để cải thiện tỷ lệ sống sót trong cộng đồng bao gồm:
Thiết lập một hệ thống dữ liệu về ngừng tuần hoàn ngoại viện
Thực hiện CPR qua điện thoại cùng với với đào tạo và cải thiện chấtlượng liên tục
Thực hiện CPR với hiệu suất cao cùng với đào tạo và cải thiện chấtlượng liên tục
Nhanh chóng đến hiện trường
Đo lường chất lượng hồi sinh tim phổi
Chương trình khử rung tự động cho người phản ứng đầu tiên
Sử dụng thiết bị thông minh trong hồi sinh tim phổi và khử rung tự động
Đào tạo hồi sinh tim phổi và khử rung tự động bắt buộc trong cộng đồng
Báo cáo hàng năm
Hướng tới văn hoá cải tiến liên tục
Trong 10 bước này, 4 bước đầu tiên có thể thực hiện dễ dàng hơn
mà không đòi hỏi quá nhiều về nguồn lực Quá trình thực hiện các bướccần có sự kiên trì và quyết tâm Bước nền tảng đầu tiên là cần thiết phải
có một hệ thống dữ liệu được thu thập liên tục trong cộng đồng Việclựa chọn các chương trình để thực hiện tuỳ thuộc vào đặc trưng về lịch
sử, văn hoá và nguồn lực của cộng đồng Một số cộng đồng đã đạt đượcnhững bước trên
Hướng dẫn của Utstein đưa ra 10 hành động để triển khai thành công các chương trình trên bao gồm:
Lựa chọn chương trình hoặc những chương trình để triển khai
Thành lập một nhóm hoặc ban cố vấn
Xác định cách để chương trình triển khai trong cộng đồng
Đặt mục tiêu cụ thể
Đạt được sự đồng thuận