1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị hội chứng động mạch não giữa ác tính tại bệnh viện bạch mai

37 106 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 37
Dung lượng 663,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀHội chứng động mạch não giữa ác tính là hình thức tàn khốc nhất củađột quỵ thiếu máu não cấp trên lều, đặc trưng bởi mức độ lớn của tổn thươngthiếu máu não cục bộ chiếm trên 50

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hội chứng động mạch não giữa ác tính là hình thức tàn khốc nhất củađột quỵ thiếu máu não cấp trên lều, đặc trưng bởi mức độ lớn của tổn thươngthiếu máu não cục bộ chiếm trên 50% diện tích vùng cấp máu của động mạchnão giữa và có thể mở rộng đến các vùng lân cận [1] Tần suất xảy ra ởkhoảng 8% các trường hợp đột quỵ thiếu máu não cấp tính với tỷ lệ tử vongsớm và rất cao từ 25% đến 80%, di chứng nghiêm trọng có thể để lại ở nhữngbệnh nhân sống sót mặc dù được điều trị y tế tích cực[2], [3] Do tiên lượngxấu của bệnh nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm xác định các đặcđiểm lâm sàng, hình ảnh học nhằm đưa ra các yếu tố dự báo sự tiến triển cũngnhư dự báo kết cục của hội chứng động mạch não giữa ác tính qua đó giúp lựachọn những biện pháp điều trị với mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện kếtcục chức năng [2],[4],[5] Xét về hiệu quả điều trị, dĩ nhiên phương phápđược kỳ vọng là phải tái thông ngay cho các bệnh nhân hội chứng động mạchnão giữa ác tính trong giai đoạn tối cấp, cụ thể sử dụng thuốc tiêu huyết khốiđường tĩnh mạch hoặc các phương pháp can thiệp nội mạch như lấy huyếtkhối bằng Solitare…Ngoài ra những bệnh nhân hội chứng động mạch nãogiữa ác tính đến muộn hơn ngoài 6 giờ theo Hội Tim mạch và Hội Đột quỵHoa Kỳ 2007 thì phẫu thuật mở sọ giảm áp được khuyến cáo mức độ I bằngchứng A [6] Vậy để đánh giá tiên lượng cũng như hiệu quả các phương phápđiều trị hội chứng động mạch não giữa ác tính, các nghiên cứu trước đâyngười ta sử dụng các thang điểm NIHSS, Glasgow để tiên lượng mức độ nặngcủa đột quỵ não, dùng thang điểm Rankin sửa đổi để nhắm đến kết cục chứcnăng [7] Ngày nay, nhiều kỹ thuật hình ảnh học ra đời như chụp cắt lớp vitính, chụp cộng hưởng từ sọ não …giúp thể hiện hình ảnh cụ thể về vị trí và

Trang 2

kích thước vùng tổn thương nhồi máu não cũng như ảnh hưởng mô não xungquanh, đặc biệt là vai trò của tuần hoàn bàng hệ và thể tích ổ nhồi máu ngàycàng được biết đến như một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến kết cục củabệnh nhân nhồi máu não nói chung Ở Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu

về nhóm bệnh nhân đặc biệt này Do đó cần thiết phải có một nghiên cứukhảo sát một cách có hệ thống từ đặc điểm lâm sàng, mức độ tổn thương trênhình ảnh học, thực trạng tuần hoàn bàng hệ, đến kết quả điều trị của bệnhnhân có hội chứng động mạch não giữa ác tính cũng như tìm các yếu tố có thểảnh hưởng tiên lượng kết cục này Nếu bệnh cảnh thực sự nặng nề, việc ứngdụng các can thiệp tái thông khẩn là cần thiết nhằm giảm tỷ lệ tử vong và cảithiện kết cục chức năng Đồng thời việc tìm ra các yếu tố tiên lượng kết cụcgiúp chúng ta chủ động hơn trong việc điều trị và lựa chọn những bệnh nhân cónguy cơ cao để đưa vào nghiên cứu can thiệp tích cực như phẫu thuật mở hộp

sọ giảm áp Đây cũng là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu : ‟Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và kết quả điều trị hội chứng động mạch não giữa ác tính tại Bệnh viện Bạch Mai ” Với hai mục tiêu:

1 Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học của bệnh nhân có hội chứng động mạch não giữa ác tính.

2 Tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị của bệnh nhân có hội chứng động mạch não giữa ác tính tại Bệnh viện Bạch Mai.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN

1.1 Sơ lược về đặc điểm giải phẫu và tưới máu hệ động mạch não:

- Nhu mô não được nuôi dưỡng nhờ hai nguồn động mạch là hệ độngmạch cảnh và động mạch sống - nền, hệ động mạch cảnh được gọi là tuầnhoàn trước, hệ sống- nền là tuần hoàn sau [7], [8] Mỗi bên có một động mạchcảnh trong và một động mạch đốt sống Giữa các động mạch nuôi não có sựnối thông với nhau qua đa giác Willis, vòng nối giữa các nhánh động mạchcảnh trong và cảnh ngoài, ngoài ra có vòng nối quanh vỏ não nối thông giữacác nhánh nông của các động mạch não trước, não giữa và não sau Bìnhthường các động mạch não cấp máu cho một vùng nhất định nhu mô não,trường hợp bị tắc nghẽn một động mạch nào đó, các vòng nối sẽ phát huy tácdụng

- Động mạch não giữa là nhánh tận lớn nhất của động mạch cảnh trong.Động mạch não giữa là nhánh phức tạp nhất của tuần hoàn trước Các nhánhcủa động mạch não giữa cấp máu cho phần lớn bề mặt của bán cầu đại não,phía ngoài của nền sọ và bề mặt trên trong của bán cầu đại não Các nhánhxuyên quan trọng xuất phát từ hạch nền cũng xuất phát từ động mạch nãogiữa Động mạch não giữa xuất phát bên dưới chất thủng trước, ở đầu trongphần sâu khe Sylvius (hoặc bể dịch não tuỷ Sylvius) Nó nằm ngoài giao thoathị giác và phía sau chỗ dải khứu tách ra thành các tia khứu ngoài và trong.Động mạch chạy bên ngoài và song song với cánh nhỏ xương bướm, sau đóchạy ra sau và lên trên, bên dưới nếp liềm thuỳ đảo Động mạch não giữa kích

Trang 4

thước từ 2.4 đến 4.6mm (trung bình 3.9mm) ở chỗ xuất phát Động mạch nãogiữa chia làm bốn đoạn, dựa vào cấu trúc giải phẫu của khe Sylvius:

- Đoạn M1 gọi là đoạn nằm ngang hoặc đoạn xương bướm Đoạn nàynằm trong khoang bướm của khe Sylvius và chạy ra sau song song với xươngbướm Động mạch chạy hướng về phía mặt bên của chất thủng trước và viềnthuỳ đảo Sau đó nó quay một góc khoảng từ 90-1300 , lên trên và ra sau, phíatrên liềm thuỳ đảo, cho nên đoạn này được gọi là đoạn gối động mạch nãogiữa Đoạn M1 được chia thành đoạn trước ngã ba và đoạn sau ngã ba Đoạntrước ngã ba chỉ có một thân động mạch, đoạn sau ngã ba gồm hai thân trong84%, ba thân trong 14%

- Đoạn M2 còn gọi là đoạn thuỳ đảo Đoạn này bắt đầu từ gối động mạch

ở chỗ các thân chính động mạch não giữa đi qua nếp thuỳ đảo và tận hết ởrãnh tròn của thuỳ đảo Nhánh lớn nhất của động mạch não giữa xuất phát từphần trước của thuỳ đảo, cách xa gối động mạch Các nhánh vỏ não cấp máucho thuỳ trán trước và thái dương chạy một đoạn ngắn trên bề mặt thuỳ đảo,trong khi đó các nhánh sau cấp máu cho thuỳ đỉnh và thái dương sau chạytrên toàn bề mặt thuỳ đảo và ra khỏi khe Sylvius sau Thường có thân nhánhM2 chính, một thân trên và một thân dưới Trong hầu hết các trường hợp,thân dưới to hơn thân trên và phụ trách cấp máu cho thái dương và đỉnh ĐoạnM2 cũng phân nhánh cấp máu cho thuỳ đảo và các vùng vỏ não bao phủ thểvân và hạch nền hoặc bao trong M2 phân nhánh cấp máu cho rãnh trung tâmchạy dọc theo rãnh trung tâm của thuỳ đảo

- Đoạn M3 hay đoạn góc bắt đầu từ rãnh vòng của thuỳ đảo và kết thúc ở

bề mặt khe Sylvius Các nhánh này liên quan mật thiết với nắp trán đỉnh vàthái dương, đi qua các vùng này để ra vỏ não Trên đường đi, các nhánh ratrán và đỉnh quay 1800 hai lần (theo mô tả của Lazorthes và cs) Khi đi đến

Trang 5

rãnh tròn của thuỳ đảo ở đầu trên và đầu dưới nắp trán đỉnh, chúng quayxuống dưới trên bờ thuỳ trán đỉnh để đi ra bề mặt não Vòng thứ hai nằm ở bềmặt khe Sylvius, khi các nhánh quay ngược lại hoàn toàn để đi ra trước,hướng đến mặt bên của thuỳ trán và thuỳ đỉnh Vòng quay đầu tiên nằm ởrãnh vòng trước của thuỳ đảo, điểm chính giữa của vòng này trên phim chụpđộng mạch được gọi là điểm Sylvius Vòng quay thứ hai nằm ở bờ trong mặttrên của thuỳ thái dương ngang trước (thuỳ Heschl) và nằm ngoài thành ngoàicủa tiền đình não thất bên Điểm này thường là ranh giới sau của thuỳ đảo,hạch nền và là nơi tận hết của khe Sylvius ở vỏ não.

- M4 hoặc đoạn vỏ bắt đầu từ bề mặt khe Sylvius và trải rộng trên vỏ não

- Định khu tưới máu của động mạch não giữa [9]:

+ Đoạn M1 chia ra các nhánh nhỏ thẳng góc với nó, là các động mạchxuyên (các động mạch đồi thị - thể vân và thấu kính - thể vân), cấp máu chovùng sâu, gồm các nhân nền, nhân trước tường, bao trong, bao ngoài, và baocực ngoài

+ Đoạn M2 là các nhánh nông (nhánh vỏ não - màng mềm) của độngmạch não giữa gồm hai nhánh chính là nhánh trên và nhánh dưới Hai thânnhánh chính này chia tiếp các nhánh cấp máu cho vỏ não và các cấu trúc dưới

vỏ thuộc mặt lồi bán cầu Cụ thể các nhánh M2 và M3 cấp máu cho thùy đảo(các động mạch thùy đảo), phần bên của hồi não trán dưới và trán ổ mắt (độngmạch trán nền), và vùng nắp thái dương, bao gồm cả hồi ngang của Heschl(các động mạch thái dương)

+ Các đoạn M4 và M5 cấp máu cho phần lớn vỏ não mặt lồi bán cầunão, gồm các phần thùy trán (các động mạch trước trung tâm và rãnh tamgiác, động mạch rãnh trung tâm), thùy đỉnh (các động mạch sau trung tâm:đỉnh trước và đỉnh sau) và thùy thái dương (các động mạch thái dương trước,

Trang 6

giữa, và sau) Động mạch thái dương sau còn cấp máu cho một phần thùychẩm; nhánh động mạch góc là một nhánh tận, cấp máu cho hồi góc.

Các vùng vỏ não đặc biệt do động mạch não giữa cấp máu là vùng ngônngữ Broca (nhánh nông trên) và Wernicke (nhánh nông dưới)

1.1.1 Các vòng nối của tuần hoàn não [9], [10]

- tưới máu cho não được đảm bảo an toàn nhờ tuần hoàn bàng hệ trongnhu mô não, giữa các khu vực trung tâm và ngoại vi có rất ít hoặc không cónhững nhánh mạch nối có tầm quan trọng về mặt lâm sàng Ngược lại giữangoài sọ và trong sọ, mạng nối các mạch máu rất quan trọng và pháy triển tớimức khi có sự tắc mạch vẫn đảm bảo tuần hoàn não và không biểu hiện cáctriệu chứng lâm sàng Mạng nối này chia làm ba vòng khác nhau:

+ vòng thứ nhất: sự nối thông giữa hai động mạch cảnh trong và cảnhngoài qua động mạch võng mạc trung tâm

+ vòng thứ hai: giữa hệ động mạch cảnh trong và hệ động mạch đốt sốngthân nền qua đa giác Willis Đây được coi là vòng nối quan trọng nhất bổsung máu trong trường hợp có tắc một động mạch não lớn trong sọ

+ vòng thứ ba: ở lớp nông của bề mặt vỏ não Các động mạch tận thuộc

hệ động mạch cảnh trong và hệ động mạch thân nền đến vùng vỏ hình thànhmột mạng lưới chằng chịt trên bề mặt vỏ não Mạng lưới này được coi lànguồn tưới máu bù quan trọng giữa khu vực động mạch não trước với độngmạch não giữa, động mạch não giữa với động mạch não sau, động mạch nãotrước với động mạch não sau

Trang 7

Hình 1.1: Các động mạch não – ‟nguồn Silverman IE, 2009”.

Trang 8

Hình 1.2: Vùng chi phối của động mạch não giữa – ‟nguồn Netter F.H,

1.2.2 Phân chia giai đoạn nhồi máu não [12]: Nhồi máu não cục bộ được phân chia thành các giai đoạn sau

Trang 9

- Giai đoạn tối cấp: trước 6 giờ sau đột quỵ não

- Giai đoạn cấp: từ 6 giờ đến 24 giờ sau đột quỵ não

- Giai đoạn bán cấp từ 24 giờ đến 1 tuần

- Giai đoạn bán cấp muộn: từ 1 tuần đến 2 tháng

- Giai đoạn mạn tính: sau 2 tháng

1.1.3 Nguyên nhân nhồi máu não [13]: Theo phân loại TOAST (Trial of

ORG 10172 in Acute Stroke Treatment), nhồi máu não được chia làm nămnhóm:

- Nhồi máu não do tổn thương xơ vữa mạch lớn

- Nhồi máu não do bệnh tim gây huyết khối

- Nhồi máu não do tổn thương mạch nhỏ (nhồi máu ổ khuyết)

- Nhồi máu não do nguyên nhân hiếm gặp

- Nhồi máu não do nguyên nhân chưa xác định

Trang 10

1.3 Các yếu tố nguy cơ của nhồi máu não:

- Tuổi [14]:

Tỷ lệ mắc đột quỵ não tăng theo tuổi, hầu hết xảy ra ở tuổi trên 65, rất

ít khi xảy ra ở tuổi dưới 40

- Giới, Chủng tộc [14], [15]:

Nam mắc bệnh nhiều hơn nữ, ở Mỹ, người gốc Phi có tỷ lệ mắc caohơn các nhóm khác

- Tăng huyết áp [16]:

 Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ mạnh nhất đã được công nhận từ lâu

Cả huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương đều có vai trò trong nguy cơ độtquỵ não do làm tăng nhanh tiến trình xơ vữa động mạch và thúc đẩy bệnh lýmạch máu nhỏ Nhiều tác giả thường coi huyết áp tâm trương có vai trò quantrọng hơn trong việc làm tăng nguy cơ đột quỵ não và các nghiên cứu lâmsàng cũng dùng huyết áp tâm trương để làm cơ sở để phân loại Tuy nhiênnhiều bằng chứng hiện nay cho thấy huyết áp tâm thu vẫn là trị số quan trọngnhất cho nguy cơ tim mạch nói chung, bao gồm nguy cơ đột quỵ não

Trang 11

- Đái tháo đường [16], [17]:

 Đái tháo đường làm tăng nguy cơ đột quỵ não với nguy cơ tương đối

là 1,5 – 3, tuỳ loại đái tháo đường và mức độ nặng nhẹ Nguy cơ này giốngnhau ở cả nam và nữ, không giảm theo tuổi và độc lập với huyết áp Hầu hếtcác nghiên cứu đều thấy có một mối liên hệ quan trọng giữa tăng đường huyết

và tăng tỷ lệ mắc đột quỵ não

- Rối loạn lipid máu [17]:

 Rối loạn lipid máu liên quan đến bệnh lý tim mạch nói chung và độtquỵ não nói riêng Các nghiên cứu ngẫu nhiên cho thấy dùng statin điều trịrối loạn lipid máu làm giảm nguy cơ đột quỵ não ở các bệnh nhân có bệnh lýmạch vành hoặc các yếu tố nguy cơ đột quỵ não khác

 Một nghiên cứu phân tích gộp của Amarenco và cộng sự thu thập dữliệu trên 90.000 bệnh nhân cho thấy việc giảm nguy cơ đột quỵ chủ yếu liênquan đến mức độ giảm của LDL – Cholesterol

 Nghiên cứu SPARCL là nghiên cứu ngẫu nhiên, đa trung tâm đánhgiá trực tiếp vai trò của statin trong phòng ngừa thứ phát đột quỵ não[18] Kếtquả cho thấy statin liều cao làm giảm tốt LDL – cholesterol và làm giảm nguy

cơ đột quỵ não ngay trên những bệnh nhân đột quỵ não mà không có tiền sửbệnh mạch vành

- Hút thuốc lá [16]:

 Hút thuốc lá được coi là yếu tố nguy cơ độc lập về sinh học của độtquỵ não Nguy cơ đột quỵ não tăng theo số điếu thuốc đã hút Nó là một yếu

tố nguy cơ mạnh nhất góp phần thành lập khối xơ vữa động mạch

 Trong các loại đột quỵ não thì nguy cơ do thuốc lá là cao nhất cho xuấthuyết dưới nhện, trung bình cho nhồi máu não, và thấp nhất cho chảy máu não

Trang 12

1.4 Tổng quan về hội chứng động mạch não giữa ác tính:

1.4.1 Dịch tễ học và yếu tố nguy cơ

- Hội chứng động mạch não giữa ác tính chiếm khoảng dưới 10% tổng

số bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ trên lều [1], [2] Tỷ lệ mắc hàngnăm khoảng 10 đến 20 trên 100.000 người [1], [18]

- So với đột quỵ thiếu máu não cục bộ khác, những người mắc hội chứngđộng mạch não giữa ác tính thường có tiền sử đột quỵ thiếu máu não cục bộ.Hơn nữa, phụ nữ, người trẻ, và những người có bệnh lý hẹp, tắc động mạch cảnhtrong có nhiều khả năng bị bệnh [18], [19] Các nguyên nhân của nhồi máu não

do tắc động mạch não giữa ác tính chủ yếu là do huyết khối tắc mạch, tắc củađộng mạch cảnh trong hoặc đoạn gần của động mạch não giữa một số bấtthường về giải phẫu và bệnh lý bao gồm các bất thường của vòng nối đa giácWillis [19]

1.4.2.Đặc điểm lâm sàng hội chứng động mạch não giữa ác tính:

Các triệu chứng lâm sàng giai đoạn toàn phát: Tùy thuộc vào vị trí nhánhđộng mạch não bị tổn thương mà có triệu chứng lâm sàng tương ứng [20]

- Tổn thương nhánh nông trên:

Các triệu chứng bao gồm: Liệt nửa người khác bên ưu thế tay - mặt, rốiloạn cảm giác khác bên ưu thế tay - mặt, bán manh cùng tên, thất ngôn Broca

- Tổn thương nhánh nông dưới:

Bán cầu ưu thế (bán cầu trái với người thuận tay phải) có thể thấy:Bánmanh góc, thất ngôn Wernicke, mất thực dụng ý-vận Hội chứng Gerstmanbao gồm: mất nhận biết ngón tay, mất khả năng tính toán, mất phân biệt phảitrái, mất khả năng viết

Trang 13

Bán cầu không ưu thế: Hội chứng Anton – Babinski bao gồm: phủ định,không chấp nhận nửa người bên liệt, mất nhận biết sơ đồ cơ thể, mất nhậnbiết không gian bên đối diện, thất dụng ý vận, đôi khi lú lẫn.

- Tổn thương nhánh sâu (đoạn M1):

Liệt hoàn toàn, đồng đều nửa người bên đối diện Thường không có rốiloạn cảm giác, không có rối loạn thị trường Có thể gặp thất ngôn dưới vỏ

- Tổn thương hoàn toàn động mạch não giữa:

Triệu chứng nặng nề của cả nhánh nông và sâu kết hợp: liệt nửa người

và mất cảm giác nặng bên đối diện, bán manh cùng tên, rối loạn ý thức, thấtngôn (khi tổn thương bán cầu ưu thế)

1.4.3 Vai trò của chẩn đoán hình ảnh trong chẩn đoán tắc động mạch não giữa ác tính

1.4.3.1 Vai trò của của chụp cắt lớp vi tính (CLVT) sọ não:

- Chụp cắt lớp vi tính sọ não là một trong những kỹ thuật hình ảnh cậnlâm sàng quan trọng trong chẩn đoán đột quỵ não Trên phim chụp CLVT sọnão không cản quang có thể phát hiện các dấu hiệu sớm của nhồi máu não dotắc động mạch não giữa [21], [22]:

+ Dấu hiệu tăng tỷ trọng tự nhiên của động mạch như dấu hiệu “tăngđậm” (hyperdense sign) và điểm chấm (dot sign) Các dấu hiệu này có ý nghĩachỉ điểm là có tắc động mạch nhưng không có nghĩa là nhồi máu trong vùngcấp máu của động mạch đó Dấu hiệu “tăng đậm” thường gặp trong tắc nghẽnđoạn M1 còn dấu hiệu “điểm chấm” gặp do huyết khối gây tắc đoạn M2 hoặcM3 của động mạch não giữa

+ Các biểu hiện sớm của giảm tỷ trọng nhu mô não: giảm tỷ trọng nhânbèo, dấu hiệu ruy băng thùy đảo (insular ribbon sign), mất phân biệt chất xám

và chất trắng

Trang 14

+ Thêm vào đó nếu diện tích vùng nhồi máu vượt quá 50% vùng cấpmáu của động mạch não giữa dự đoán nhồi máu ác tính với độ nhạy 61% và

độ đặc hiệu là 94% [23], [24]

+ Một khối lượng nhồi máu của trên 220 ml cũng như sự đè đẩy đườnggiữa> 3.9 mm là tiên đoán của phù não nặng và thoát vị [25]

- Thang điểm ASPECTS (Alberta Stroke Program Early CT Score), đưa

ra năm 2000 Theo đó diện cấp máu động mạch não giữa được chia làm mườivùng: Nhân bèo, nhân đuôi, bao trong, thùy đảo, các vùng vỏ não M1,M2,M3tương ứng với các nhánh trước, giữa và sau của động mạch não giữa, cácvùng M4,M5,M6 tương ứng các nhánh trên nhưng ở tầng cao hơn

Hình 1.3: Phân chia các vùng theo thang điểm ASPECTS: I: thùy đảo, IC:bao trong, L: nhân bèo, C: nhân đuôi Các vùng vỏ não từ M1đến M6.

Theo thang điểm này, bình thường, không có nhồi máu não được tính 10điểm Mỗi vùng bị tổn thương sẽ bị trừ đi 1 điểm Khi tổn thương trên ba

Trang 15

vùng (ASPECTS <7), tương ứng diện tổn thương trên 1/3 động mạch nãogiữa.

Nguy cơ tiến triển thành nhồi máu não ác tính có thể được ước tính bằngđiểm ASPECTS, với một điểm cắt 7 điểm sẽ xác định sự tiến triển đến nhồimáu não ác tính với độ nhạy 50% và độ đặc hiệu 86% [26]

- Trên CLVT tưới máu não (PCT) với diện tích lớn hơn hai phần ba vùngtưới máu của động mạch não giữa dự đoán tiến triển thành nhồi máu ác tínhvới độ nhạy cao (92%) và độ đặc hiệu (94%) [27] Chụp CLVT tưới máucũng có thể đánh giá sự gia tăng tính thấm hàng rào máu não, dẫn đến nhồimáu ác tính [28]

- Mức độ tuần hoàn bàng hệ đến vùng thiếu máu cục bộ có thể đượcphân tích bằng hình ảnh trên CLVT mạch máu não Một điểm tuần hoàn bàng

hệ nhỏ hơn 2 dự đoán tiến triển phù não ác tính [29]

1.4.3.2 Vai trò Chụp cộng hưởng (CHT) sọ não:

- Chụp CHT là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh có độ nhạy cao, khôngđộc hại, tạo ảnh trên cả bình diện dọc và ngang, cho hình ảnh rõ nét cả vùng

hố sau, đáy não Chụp CHT sọ não có giá trị chẩn đoán hơn hẳn so với chụpCLVT sọ não trong đột quỵ não cấp với độ đặc hiệu tương đương, nhưng có

độ nhạy cao hơn nhiều lần, cho phép đo thể tích vùng nhồi máu não một cáchdễ dàng và chính xác hơn so với chụp CLVT, phát hiện dễ dàng tổn thương cóchảy máu hay không, phát hiện vùng giảm tưới máu dựa vào sự không tươngxứng giữa xung tưới máu và xung khuếch tán, ngoài ra còn cho phép pháthiện vị trí mạch máu bị tắc

- Chụp cộng hưởng từ khuyếch tán:

Trang 16

Các xung CHT cơ bản có độ nhạy thấp hơn chụp khuếch tán trong giaiđoạn cấp của đột quỵ não, do vậy chụp khuếch tán là thành phần không thểthiếu trong trong chẩn đoán đột quỵ não bằng kỹ thuật CHT Chụp CHTkhuếch tán có khả năng phát hiện các tổn thương cấp chỉ trong vòng ít phútsau khi xảy ra tình trạng thiếu máu não cục bộ, trong khi đó nếu sử dụng xungCHT truyền thống thì cần ít nhất vài giờ để có thể ghi nhận được bất kỳ sựthay đổi nào

CHT khuếch tán (DWI) nhạy hơn chụp CLVT để phát hiện sớm các tổnthương thiếu máu cục bộ Một thể tích tổn thương 145 ml là tiên đoán nhồimáu ác tính (độ nhạy 100%, 94% độ đặc hiệu) [30], một thể tích trên 82 mltrong vòng 6 giờ các triệu chứng khởi đầu dự đoán nhồi máu ác tính với độđặc hiệu cao (98%) nhưng độ nhạy thấp (52%) [31] Theo dõi kiểm tra sau 24giờ cải thiện độ nhạy 79%, trong khi giá trị tiên đoán đặc hiệu dương và giátrị tiên đoán âm tính vẫn không thay đổi [32]

1.4.4 Chẩn đoán hội chứng động mạch não giữa ác tính:

- Chẩn đoán hội chứng động mạch não giữa ác tính hiện nay dựa theo bathử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng ở Châu Âu về phẫu thuật mở

sọ giảm áp [5] [33] [34] [35]: Các tiêu chí gồm

 Dấu hiệu lâm sàng của nhồi máu não nặng do tắc động mạch nãogiữa một bên bao gồm hiện tượng:

 Liệt nửa người đối bên

 Quay mắt, quay đầu về bên liệt

 Giảm hoặc mất cảm giác nửa người đối bên

 Bán manh cùng tên

 Thất ngôn hoàn toàn nếu tổn thương bán cầu ưu thế

Trang 17

 Giảm ý thức ngay từ đầu hoặc ý thức xấu dần trong vòng 24 giờđến 48 giờ đầu tiên:

 Điểm NIHSS tăng ít nhất 1 điểm trong phần 1a

 Hoặc điểm Glasgow giảm dưới 14 điểm

 Điểm NIHSS trên 15 điểm với bán cầu ưu thế

 Nhồi máu trên 50% diện tích cấp máu của động mạch não giữa,hoặc thể tích ổ nhồi máu trên CHT khuếch tán lớn hơn 145mlhoặc trên chụp CLVT mạch máu não (MSCT) cho thấy tắc hoàntoàn động mạch naoc giữa hoặc tắc đoạn M1

 Gây tổn thương cả khu vực hạch nền

1.4.5 Một số biện pháp điều trị hội chứng động mạch não giữa ác tính:

- Điều trị nội khoa chuẩn cho bệnh nhân nhồi máu não tắc động mạchnão giữa ác tính gồm điều trị tăng ALNS với các biện pháp như điều chinh tưthế bệnh nhân, liệu pháp thẩm thấu và tăng thông khí, kiểm soát huyết áp,nhiệt độ, và quản lý đường huyết, giám sát chặt chẽ các biến chứng thần kinhnhư thoát vị não và co giật, phòng ngừa các biến chứng khác như huyết khốitĩnh mạch sâu

- Gần đây, các hướng dẫn cho việc điều trị bệnh nhân hội chứng độngmạch não giữa ác tính đã được công bố [36], [37] Trong số các biện phápđiều trị nội khoa nói chung, chỉ có hạ thân nhiệt cho thấy một số tác dụng cólợi: hạ thân nhiệt giảm tăng cường tưới máu ở vùng thiếu máu trước đó Ởnhững bệnh nhân có hội chứng động mạch não giữa ác tính, duy trì nhiệt độ

cơ thể ở 33 ° C trong 48-72 giờ giảm tỷ lệ tử vong lên đến 44% [38] So với

mở sọ giảm áp, hạ thân nhiệt là ít hiệu quả: tỷ lệ tử vong với hạ thân nhiệt là47% so với 12% với mở sọ giảm áp [39] Trong kết hợp với mở sọ giảm áp,

Trang 18

hạ thân nhiệt có thể có một tác dụng có lợi bổ sung (cải thiện kết quả sau 6tháng mà không có tác dụng không mong muốn) [40].

- Liệu pháp thẩm thấu được sử dụng để làm giảm phù não trong tắc độngmạch não giữa ác tính, nhưng các nghiên cứu với các phương pháp điều trịmuối ưu trương, mannitol và glycerol cho thấy tất cả đều có hiệu quả trongviệc làm giảm ít nhất là thoáng qua áp lực trong sọ, nhưng không cải thiệnđáng kể kết quả [41], [42] Ngoài ra, steroid hoàn toàn không có tác dụngtrong việc cải thiện kết cục chức năng hoặc giảm tỷ lệ tử vong ở bệnh nhânhội chứng động mạch não giữa ác tính [43] Tuy nhiên, liệu pháp thẩm thấuvẫn có thể có ích để trì hoãn thời gian chờ can thiệp phẫu thuật

- Theo hướng dẫn của Hiệp hội Đột quỵ não Hoa Kỳ, phẫu thuật mở hộp

sọ giảm áp hiện nay được khuyến cáo mức độ I bằng chứng A ở những bệnhnhân có hội chứng động mạch não giữa ác tính dưới 60-65 tuổi vì đã làmgiảm tỷ lệ tử vong [6]

Phẫu thuật này lấy bỏ phần lớn xương vòm sọ, do vậy làm giảm tăng áplực trong sọ, làm giảm sự tiến triển của thiếu máu não, ngăn ngừa sự phù nềcủa nhu mô não gây đè đẩy mô lành kế cận Thường phải mở hộp sọ ít nhất13cm mỗi cạnh để đảm bảo đủ diện tích chống phù não

- Một nghiên cứu gộp của qua ba thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên cóđối chứng ở châu Âu [34], (DECIMAL, DESTINY và HAMLET) trên 93bệnh nhân hội chứng động mạch não giữa ác tính được phẫu thuật trong vòng

48 giờ Kết quả cho thấy, điểm tàn tật Rankin dưới 4 đạt được ở 75% sốbệnh nhân so với 24% ở nhóm chứng, điểm Rankin dưới 3 đạt được ở 43%nhóm phẫu thuật so với 21% ở nhóm chứng và tỷ lệ sống tương ứng là 78%

so với 29%

- Các can thiệp khác cũng được áp dụng bao gồm tái thông bằng lấyhuyết khối cơ học [6] như sử dụng Solitare, với hiệu quả tái thông cao hơn

Ngày đăng: 09/11/2019, 10:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. Nguyễn Văn Đăng (2006), "Tai biến mạch máu não",Nhà xuất bản Y học, tr. 103-105 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tai biến mạch máu não
Tác giả: Nguyễn Văn Đăng
Nhà XB: Nhà xuất bản Yhọc
Năm: 2006
21. Richard EL, Mark JA, Michael HL, et al (2009), "Recommendations for imaging of acute ischemic stroke: a scientific statement from the American heart association", Stroke 40, pp. 3646-3678 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recommendations forimaging of acute ischemic stroke: a scientific statement from theAmerican heart association
Tác giả: Richard EL, Mark JA, Michael HL, et al
Năm: 2009
22. Ozcan O, Andrew L, et al (2008), "Hyperdense internal carotid artery sign a CT sign of acute ischemia", Stroke 39, pp. 2011-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hyperdense internal carotid arterysign a CT sign of acute ischemia
Tác giả: Ozcan O, Andrew L, et al
Năm: 2008
34. Vahedi K, Hofmeijer J, Juettler E, Vicaut E, George B, Algra A, Amelink GJ, Schmiedeck P, Schwab S, Rothwell PM, Bousser MG, van der Worp HB, Hacke (2007), “ Early decompressive surgery in malignant infarction of the middle cerebral artery: a pooled analysis of three randomised controlled trials”, Lancet Neurol 6, pp.215–222 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Early decompressive surgery in malignantinfarction of the middle cerebral artery: a pooled analysis of threerandomised controlled trials
Tác giả: Vahedi K, Hofmeijer J, Juettler E, Vicaut E, George B, Algra A, Amelink GJ, Schmiedeck P, Schwab S, Rothwell PM, Bousser MG, van der Worp HB, Hacke
Năm: 2007
44.Veerbeek JM, et al (2011), "Early prediction of outcome of activities of daily living after stroke - A systematic review", Stroke. 42, pp. 1482- 1488 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Early prediction of outcome of activities ofdaily living after stroke - A systematic review
Tác giả: Veerbeek JM, et al
Năm: 2011
45.Baird AE, et al (2001), "A three-item scale for the early prediction of stroke recovery", Lancet. 357, pp. 2095-2099 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A three-item scale for the early prediction ofstroke recovery
Tác giả: Baird AE, et al
Năm: 2001
46.Bang O Y, et al (2005), "Specific DWI lesion patterns predict prognosis after acute ischaemic stroke within the MCA territory", J Neurol Neurosurg Psychiatry. 76, pp. 1222-1228 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Specific DWI lesion patterns predict prognosisafter acute ischaemic stroke within the MCA territory
Tác giả: Bang O Y, et al
Năm: 2005
47.Johnston KC, et al (2000), " A predictive risk model for outcomes of ischemic stroke", Stroke. 31(2), pp. 448-455 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A predictive risk model for outcomes ofischemic stroke
Tác giả: Johnston KC, et al
Năm: 2000
49. Nguyễn Bá Thắng (2007), "Tiên đoán hồi phục chức năng trong nhồi máu động mạch não giữa, khảo sát tiền cứu 149 trường hợp", Y học thành phố Hồ Chí Minh. 11(1), tr. 314-323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiên đoán hồi phục chức năng trong nhồimáu động mạch não giữa, khảo sát tiền cứu 149 trường hợp
Tác giả: Nguyễn Bá Thắng
Năm: 2007
50. Trương Văn Sơn và Cao Phi Phong (2010), "Ứng dụng thang điểm đánh giá đột quỵ trong tiên lượng sớm bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cục bộ cấp", Y học Thành Phố Hồ Chí Minh. 14(1), tr. 310-314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng thang điểm đánhgiá đột quỵ trong tiên lượng sớm bệnh nhân đột quỵ thiếu máu não cụcbộ cấp
Tác giả: Trương Văn Sơn và Cao Phi Phong
Năm: 2010
51. Phan Văn Mừng và Lê Tự Phương Thảo (2009), "Những yếu tố tiên lượng hậu quả chức năng trên bệnh nhân nhồi máu não tại BVND Gia Định", Y học TPHCM. 13(6), tr. 52-58 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những yếu tố tiênlượng hậu quả chức năng trên bệnh nhân nhồi máu não tại BVND GiaĐịnh
Tác giả: Phan Văn Mừng và Lê Tự Phương Thảo
Năm: 2009
52. Doãn Thị Huyền và Lê Văn Thính (2009), "Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học thần kinh và tiên lượng của nhồi máu não khu vực động mạch não giữa", Y học lâm sàng. 42, tr. 7 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lâmsàng, hình ảnh học thần kinh và tiên lượng của nhồi máu não khu vựcđộng mạch não giữa
Tác giả: Doãn Thị Huyền và Lê Văn Thính
Năm: 2009
54. Saposnik G, Kapral MK, et al (2011), "A risk score to predict death early after hospitalization for an acute ischemic stroke", Circulation. 123, pp.739-749 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A risk score to predict death earlyafter hospitalization for an acute ischemic stroke
Tác giả: Saposnik G, Kapral MK, et al
Năm: 2011
55. Nguyễn Văn Triệu, Lê Đức Hinh và Nguyễn Văn Thông (2006), "Đánh giá một số yếu tố tiên lượng tử vong do tai biến mạch máu não", Tập san Kỷ niệm 50 năm ngày thành lập chuyên khoa Thần kinh - Bệnh viện Bạch Mai, tr. 218-223 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánhgiá một số yếu tố tiên lượng tử vong do tai biến mạch máu não
Tác giả: Nguyễn Văn Triệu, Lê Đức Hinh và Nguyễn Văn Thông
Năm: 2006
18. Ng LK, Nimmannitya J (1970): Massive cerebral infarction with severe brain swelling: a clinicopathological study. Stroke 1, pp. 158–163 Khác
19. Jaramillo A, Gongora- Rivera F, Labreuche J, Hauw JJ, Amarenco P (2006): Predictors for malignant middle cerebral artery infarctions: a postmortem analysis. Neurology 66, pp. 815–820 Khác
23. Von Kummer R, Meyding-Lamade U, Forsting M, Rosin L, Rieke K, Hacke W, Sartor K, (1994): Sensitivity and prognostic value of early CT in occlusion of the middle cerebral artery trunk. AJNR Am J Neuroradiol 15, pp. 9–18 Khác
24. Krieger DW, Demchuk AM, Kasner SE, Jauss M, Hantson L (1990):Early clinical and radiological predictors of fatal brain swelling in ischemic stroke. Stroke 30, pp. 287–292 Khác
25. Park J, Goh DH, Sung JK, Hwang YH, Kang DH, Kim Y (2012): Timely assessment of infarct volume and brain atrophy in acute hemispheric infarction for early surgical decompression: strict cutoff criteria with high specificity. Acta Neurochir (Wien) 154, pp. 79–85 Khác
27. Ryoo JW, Na DG, Kim SS, Lee KH, Lee SJ, Chung CS, Choi DS (2004):Malignant middle cerebral artery infarction in hyperacute ischemic stroke: evaluation with multiphasic perfusion computed tomography maps. J Comput Assist Tomogr 28, pp. 55–62 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w