1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá sự thay đổi nhận thức về điều trị bằng thuốc chống đông đường uống (kháng vitamin k hoặc dabigatran) ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim

83 133 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thang điểm CHA2DS2- VASc là một công cụ rất tốt cho phép đánh giá đúng mức nguy cơ tắc mạch ở bệnh nhân RN và lựa chọn phương thức điều trị chống đông thích hợp.Một trong những thách thứ

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rung nhĩ (RN) là loại rối loạn nhịp tim trong đó tâm nhĩ không co bóp một cách bình thường nữa mà từng thớ cơ nhĩ rung lên do tác động bởi nhữngxung động rất nhanh (400-600 lần/phút) và rất không đều Đây là loại rối loạnnhịp tim thường gặp nhất, chiếm khoảng 0,4 - 1,0% trong quần thể và chiếm khoảng 10% số người trên 80 tuổi trong dân số [1] Tỷ lệ mắc RN tăng dần theo tuổi, ở lứa tuổi <60 tuổi tỷ lệ mắc RN < 0.9% ,ở lứa tuổi 60-69 tuổi tỷ lệ mắc RN là 1,2-2,8% và lứa tuổi trên 80 tuổi tỷ lệ mắc rung nhĩ là 7,3 %-13,7

% [2],[3] Số người mắc RN hiện nay ở Châu Âu là 4,5 triệu người, ở Hoa Kỳ

là 2,3 triệu người và ước tính đến năm 2050 số người mắc RN ở Hoa Kỳ sẽ tăng gấp 2,5 lần [2], [3] Thực tế số người mắc RN sẽ ngày càng nhiều hơn do

tỷ lên người cao tuổi ngày càng tăng và thậm chí tỷ lệ người trẻ mắc RN cũngcao hơn trước

Tại Việt Nam, RN chiếm 1,1% ở người trên 60 tuổi tại miền Bắc và chiếm 28,7 % các rối loạn nhịp tại BV Trung ương Huế [4]

RN thường gây ra các triệu chứng lâm sàng như hồi hộp trống ngực, khó thở do nhịp tim quá nhanh và/ hoặc nhịp tim không đều, RN cũng làm cho khả năng gắng sức của bệnh nhân giảm đi rất nhiều, vì vậy đã gây ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống của bệnh nhân (BN) Bênh cạnh đó RN còn gây ra những biến chứng nguy hiểm như suy tim do nhịp tim nhanh và đặc biệt là tắc mạch là một biến chứng hay gặp hơn cả và thường gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề RN làm tăng nguy cơ đột quỵ lên 5 lần [5] Đột quỵ do RN thường trầm trọng và gây tàn phế với tỉ lệ tử vong 1 năm khoảng 50%, đột quỵ thuyên tắc từ tim có tỉ lệ tử vong trong 30 ngày khoảng 25%[6].Trước đây việc điều trị RN chủ yếu là sốc điện chuyển nhịp hoặc điều trị nội khoa, việc điều trị dự phòng biến chứng tắc mạch ngoại vi do RN còn chưa

Trang 2

được triển khai đồng bộ và quy chuẩn, việc lựa chọn thuốc điều trị nội khoa cũng khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của từng cơ sở y tế Sự ra đời các thuốc chống đông mới và đặc biệt phương pháp triệt đốt RN bằng năng lượng sóng có tần số Radio để chuyển nhịp xoang đã làm giảm bớt đáng kể tỉ lệ bệnh nhân bị RN và các biến chứng của RN Tuy nhiên việc triệt đốt RN bằngnăng lượng sóng có tần số Radio có tỉ lệ thành công chưa cao và tỷ lệ tái phát còn nhiều.Chính vì vậy việc dự phòng đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân RN là một vấn đề hết sức quan trọng Thang điểm CHA2DS2- VASc là một công cụ rất tốt cho phép đánh giá đúng mức nguy cơ tắc mạch ở bệnh nhân RN và lựa chọn phương thức điều trị chống đông thích hợp.Một trong những thách thức lớn cho phòng ngừa đột quỵ với thuốc chống đông thuốc kháng vitamin K (VKA) và các thuốc chống đông đường uống thế hệ mới(NOACs) là sự tuân thủ và kiên trì điều trị của bệnh nhân, đảm bảo hiệu quả và an toàn Sự tuân thủ và kiên trì điều trị thuốc chống đông của bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố như: các yếu tố của bệnh nhân, bác sĩ

và hệ thống y tế [7] Hiện nay dữ liệu về nhận thức điều trị của bệnh nhân rung nhĩ khi được điều trị với thuốc chống đông, nhất là thuốc chống đông thế

hệ mới trong khía cạnh quản lý điều trị kháng đông còn hạn chế

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá sự thay đổi nhận thức về điều trị bằng thuốc chống đông đường uống (kháng

vitamin K hoặc dabigatran) ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim”,

nhằm hai mục tiêu:

1 Mô tả sự thay đổi nhận thức về điều trị thuốc chống đông đường uống (kháng vitamin K hoặc dabigatran) ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim tại viện Tim mạch Việt Nam.

2 Tìm hiểu mối liên quan giữa sự thay đổi nhận thức với một số biến cố xảy ra ở những bệnh nhân này.

Trang 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN

1.1 TỔNG QUAN VỀ THUÔC CHỐNG ĐÔNG KHÁNG VITAMIN K

Thuốc chống đông kháng vitamin K được chỉ định để điều trị và dự phòng huyết khối ở các BN thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (huyết khối tĩnh mạch sâu chi dưới và/ hoặc tắc mạch phổi); bệnh lý van tim hoặc van tim nhân tạo có tiền sử tắc mạch hoặc rung nhĩ; rung nhĩ vô căn …

1.1.1 Cơ chế tác dụng của thuốc kháng vitamin K

Các thuốc kháng vitamin K là những dẫn xuất coumarin, gồm warfarin,

acenocoumarol, phenprocoumon và ethylbiscoumacetate

* Cơ chế tác dụng:

Các dẫn xuất coumarin và indandion có cấu trúc gần giống vitamin K,

do ức chế cạnh tranh enzyme epoxid-reductase làm cản trở việc khử vitamin

K - epoxid thành vitamin K cần thiết cho sự cacboxyl hóa các chất tiền yếu tố đông máu II, VII, IX, X thành các yếu tố đông máu II, VII, IX, X có hoạt tính

để tham gia vào quá trình đông máu

Thuốc kháng vitamin K

(-)Epoxid-reductase Tiền yếu tố đông máu Vitamin K - epoxid vitamin K

Yếu tố đông máu có hoạt tính ( II, VII, IX, X)

Sơ đồ 1.1: Cơ chế tác dụng của thuốc kháng vitamin K

Trang 4

1.1.2 Một số xét nghiệm đông máu cơ bản thường dùng để theo dõi hiệu quả chống đông

1.1.2.1 Xét nghiệm thời gian Prothrobin (PT).

a) Nguyên lý: Máu chống đông bằng Natri citrat sẽ được phát động quá

trình đông máu theo con đường ngoại sinh khi phục hồi Calci dưới dự có mặt của Thromboplastin Dựa vào đặc tính này, người ta khảo sát thời gian đông của huyết tương sau khi cho thừa Thromboplastin calci để đánh giá các yếu tốđông máu đường ngoại sinh (phức hệ Prothrombin: II, V, VII, X)

b) Giá trị bình thường: Bình thường INR ( là tỷ số PT huyết tương của

bệnh nhân và PT huyết tương chuẩn) trong khoảng từ 0.8 - 1.2 Với các bệnh nhân rung nhĩ được dự phòng huyết khối bằng sintrom, giá trị cần đạt là INR

trong khoảng từ 2,0 - 3,0.

c) Ý nghĩa của xét nghiệm: PT kéo dài trong các trường hợp thiếu yếu

tố đông máu phụ thuộc vitamin K, có kháng đông ngoại sinh lưu hành…,

và thường dùng để theo dõi các bệnh nhân điều trị thuốc chống đông loại kháng vitamin K

1.1.2.2 Xét nghiệm thời gian Thromboplastin hoạt hóa từng phần (APTT)

a) Nguyên lý: Thời gian phục hồi calci của huyết tương citrat hóa sau

khi ủ với 1 lượng thừa kaolin (hoạt hóa yếu tố tiếp xúc) và cephalin (thay thế yếu tố III tiểu cầu) giúp đánh giá chính xác các yếu tố tiếp xúc cũng như số lượng, chất lượng tiểu cầu trong mẫu kiểm tra không ảnh hưởng đến chất lượng xét nghiệm

b) Giá trị bình thường: APTT bình thường từ 30 - 35 giây tùy loại

cephalin - kaolin, tùy điều kiện kỹ thuật mà từng phòng xét nghiệm sử dụng, rAPTT giao động trong khoảng từ 0.85 - 1.2

c) Ý nghĩa xét nghiệm: APTT kéo dài trong các trường hợp có chất ức

chế con đường đông máu nội sinh (kháng đông nội sinh lưu hành) hoặc có sự thiếu hụt yếu tố, hay khi bệnh nhân được điều trị chống đông bằng các

Heparin hoặc các NOACs

Trang 5

1.1.2.3 Xét nghiệm định lượng fibrinogen.

a) Nguyên lý: Sau khi thêm thrombin vào huyết tương thì huyết tương

sẽ đông Thời gian đông phụ thuộc vào hàm lượng fibrinogen trong huyết tương Dựa vào đó người ta cho dư lượng thrombin để đánh giá nồng độ fibrinogen

b)Ý nghĩa xét nghiệm: Khi bệnh nhân có biểu hiện tăng đông, hoặc có

nguy cơ huyết khối, nồng độ fibrinogen có thể tăng lên và ngược lại bệnh nhân có fibrinogen cao có thể gây tăng đông và có nguy cơ gặp huyết khối cao hơn các bệnh nhân có lượng fibrinogen trong giới hạn bình thường Ở cácbệnh nhân có giảm fibrinogen do thiếu hụt bẩm sinh hoặc có tiêu sợi huyết, việc sử dụng thuôc chống đông cần hết sức thận trọng

1.1.2.4 Xét nghiệm thời gian thrombin (TT).

a) Nguyên lý: Đo thời gian đông của huyết tương khi cho thrombin

vào Xét nghiệm này đánh giá giai đoạn chuyển fibrinogen thành fibrin

b) Ý nghĩa xét nghiệm: TT kéo dài trong các trường hợp thiếu yếu tố V,

VIII, có ức chế thrombin, …

1.1.3 Vì sao cần theo dõi sát PT/INR khi uống thuốc chống đông kháng vitamin K?

1.1.3.1 Thuốc chống đông kháng vitamin K có cửa sổ điều trị rất hẹp

INR thấp làm tăng nguy cơ huyết khối ( đột quỵ do tắc mạch máu não, tắc mạch chi, tắc mạch phổi, nhồi máu cơ tim…) và INR cao làm tăng nguy

cơ chảy máu ( chảy máu não, chảy máu dưới da, chảy máu tiêu hóa …) Các đích điều trị của INR được khuyến cáo tùy theo từng bệnh lý Đối với bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim, dùng thuốc chống đông kháng vitamin

K trong dự phòng đột quỵ thì INR được khuyến cáo nên duy trì trong khoảng 2,0 - 3,0 [8]

Trang 6

1.1.3.2 Đáp ứng chống đông của bệnh nhân với liều kháng vitamin K thay đổi theo từng cá thể và từng hoàn cảnh

Đáp ứng chống đông của bệnh nhân có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu

tố như: thay đổi thuốc đang dùng, chế độ ăn uống, không tuân thủ điều trị, uống rượu, tình trạng bệnh kèm theo (bệnh lý gan, thận, tim, …) và các yếu tố

di truyền

Có nhiều tương tác có thể xảy ra giữa thuốc kháng vitamin K và các thuốc khác Cơ chế của các tương tác này gồm rối loạn hấp thu, ức chế hoặc gây cảm ứng hệ thống enzym chuyển hóa ( chủ yếu là CYP2C9), giảm khả dụng sinh học của vitamin K cần thiết cho carboxyl hóa của các yếu tố đông máu tạo phức hợp prothrombin Do vậy việc theo dõi INR thường xuyên là rấtquan trọng

Các thuốc chính tương tác với thuốc kháng vitamin K

1) Các thuốc đối kháng tác dụng của kháng vitamin K :

 Giảm hấp thu : cholestyramine

 Tăng đào thải : barbiturate, rifampicin, carbamazepine, rượu

 Cơ chế chưa rõ : nafcillin, sucralfate

2) Các thuốc tăng cường tác dụng của kháng vitamin K :

 Ức chế đào thải : phenylbutazone, sulfinpyrazone, disulfiram, metronidazole, cotrimoxazole, cimetidine, amiodarone

 Tăng cường tác dụng chống đông (không ảnh hưởng đến nồng

độ kháng vitamin K huyết tương) : cephalosporin thế hệ 2-3, clofibrate, heparin, ancrod

 Cơ chế chưa rõ: erythromycin, phenytoin, ketoconazole,

fluconazole, isoniazide, quinidine, vitamin E liều cao, propafenone, anabolic steroid

3) Các thuốc tăng nguy cơ chảy máu khi phối hợp với kháng vitamin K(dù không có tác dụng chống đông) : aspirin, thuốc kháng viêm không steroid, clopidogrel, ticlopidine

Trang 7

1.1.3.3 Thuốc chống đông kháng vitamin K tương tác với một số loại thức ăn

Đối với bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông kháng vitmin K cần phải hết sức chú ý chế độ ăn hàng ngày vì thuốc kháng vitamin K tương tác với rất nhiều thức ăn và đồ uống, do đó ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị của thuốc

Các loại thức ăn và đồ uống hàng ngày có thể tương tác với thuốc kháng vitamin K như:

- Uống rượu: uống rượu tức thời làm giảm chuyển hóa thuốc kháng vitamin K  tăng tác dụng chống đông  tăng nguy cơ chảy máu Ngược lại uống rượu đều đặn hàng ngày sẽ làm tăng chuyển hóa thuốc  làm giảm tác dụng của thuốc

- Các loại thuốc bổ chứa viamin K hay thức ăn chứa nhiều vitamin K như: Bông cải xanh, gan bò hay lợn, lá trà xanh, Coenzyme Q10 ( chất hỗ trợ tuần hoàn) làm giảm tác dụng của thuốc Ngược lại vitamin E àm tăng tác dụng của thuốc

- Cần hạn chế dùng 1 số loại thảo dược, thức ăn như: đinh lăng (chứa nhiều vitamin K), măng tây, các loại cải (cải bắp, súp lơ, củ cải, cải xoong,

…), rau diếp, tỏi, sâm, ớt chuông xanh, hạt dẻ … Nguyên tắc chung : tránh các loại rau, quả có màu xanh lục đậm

1.2 TỔNG QUAN VỀ THUỐC CHỐNG ĐÔNG DABIGATRAN

Thuốc chống đông dabigatran etexilate bắt đầu được tổng hợp từ năm

1996, và dabigatran với tên biệt dược là Pradaxa lần đầu tiên được hội đồng Châu Âu (EMA) cấp phép và đưa vào sử dụng năm 2008 và đã được cấp phéplưu hành tại Việt Nam tháng 12/2010

1.2.1 Cơ chế tác dụng của thuốc chống đông dabigatran

Trang 8

Dabigatran có tác dụng ức chế thrombin có hồi phục theo sơ đồ sau:

IX IXa VIIa VII

X Xa

Prothrombin (II) Thrombin (IIa)

Fibrinogen Fibrin

Sơ đồ 1.2: Cơ chế tác dụng của thuốc dabigatran

1.2.2 Chỉ định, chống chỉ định và liều dùng của thuốc chống đông

dabigatran

Chỉ định điều trị của dabigatran:

- Phòng ngừa thuyên tắc huyết khối tĩnh mạch (VTE) sau phẫu thuật thay khớp háng hoặc khớp gối

- Phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân trưởng thành bị rung nhĩ không do bệnh van tim có một hoặc nhiều yếu tố nguy cơ

- Điều trị huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) cấp và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) và ngăn ngừa tử vong liên quan

- Phòng ngừa huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT) và/hoặc thuyên tắc phổi (PE) tái phát và tử vong liên quan

Chống chỉ định điều trị của dabigatran

- Quá mẫn với dabigatran hoặc dabigatran etexilate hoặc một trong các

tá dược của thuốc

- Suy thận nặng (CrCL < 30 mL/phút)

Dabigatran

Trang 9

- Các biểu hiện chảy máu, bệnh nhân có cơ địa chảy máu, hoặc bệnh nhân giảm đông máu do dùng thuốc hay tự phát.

- Các tổn thương ở cơ quan có nguy cơ chảy máu cao trên lâm sàng, bao gồm đột quỵ xuất huyết trong vòng 6 tháng

- Điều trị đồng thời với ketoconazole, itraconazole, tacrolimus, và cyclosporin toàn thân

- Điều trị đồng thời với các thuốc chống đông khác như heparin (UFH),các heparin trọng lượng phân tử thấp (như enoxaparin, dalteparin), các dẫn xuất heparin (như fondaparinux), thuốc chống đông đường uống (như

warfarin, rivaroxaban, apixaban) ngoại trừ trong những trường hợp chuyển sang hoặc chuyển từ dabigatran hoặc khi UFH được dùng ở những liều cần thiết để duy trì thông thương catheter động mạch hoặc tĩnh mạch trung tâm

- Bệnh nhân đặt van tim nhân tạo cơ học

Liều dùng của thuốc chống đông dabigaran

Trang 10

Sơ đồ 1.3: Liều dùng của thuốc dabigatran

1.2.3 Lợi ích của việc dùng thuốc chống đông dabigatran so với thuốc chống đông kháng vitamin K trong phòng ngừa đột quỵ ở bênh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim

Thuốc chống đông máu hoạt động bằng cách can thiệp vào quá trình đông máu của cơ thể được kích hoạt bởi chấn thương mô, tổn thương mạch máu, hoặc các điều kiện nhất định Các thuốc chống đông có thể ức chế sự hình thành cục máu đông bằng cách thay đổi các con đường khác nhau trong quá trình đông máu hoặc bằng cách nhắm trực tiếp vào thrombin (yếu tố IIa) Thrombin là một enzym đông máu kích hoạt các yếu tố khác (V, VIII, IX, XIII) và kích thích sự hình thành fibrin Các Fibrin kết dính lại tạo thành cục máu đông Thuốc chống đông máu ngăn ngừa đông máu bằng cách ngăn chặn

sự hình thành fibrin

Thuốc chống đông kháng vitamin K đã được tìm ra từ hơn 60 năm nay

và được dùng để điều trị chống đông từ hơn 40 năm nay [9] Warfarin hoạt động bằng cách ngăn chặn sự tổng hợp các yếu tố đông máu phụ thuộc

vitamin-K trong gan Thời điểm khởi phát hiệu quả phụ thuộc vào yếu tố đông máu phụ thuộc vitamin-K (II, VII, IX, X) So với các thuốc chống đông máu khác, warfarin có thời gian bán hủy dài từ 20-60 giờ với hiệu quả tối đa trong 24-72 giờ Tác dụng chống đông đầy đủ 5-10 ngày Warfarin được chỉ định cho rung nhĩ, thuyên tắc phổi (PE), huyết khối tĩnh mạch sâu (DVT), và đông máu liên quan đến rung nhĩ Warfarin được sử dụng ở bệnh nhân có vấn

đề van tim (van nhân tạo), và bệnh van tim do thấp Hiệu quả lâm sàng của warfarin đối với rung nhĩ được nghiên cứu trong năm nghiên cứu lớn, ngẫu nhiên, có đối chứng, với 3.711 bệnh nhân có rung nhĩ không do bệnh thấp tim Warfarin cho thấy có giảm đáng kể nguy cơ huyết khối bao gồm đột quỵ Việc giảm nguy cơ dao động từ 60% đến 86% trong hầu hết các thử Tỷ lệ

Trang 11

xuất huyết lớn dao động từ 0,6% đến 2,7% Khi dùng warfarin phải được theodõi thường xuyên để đảm bảo rằng bệnh nhân nằm trong phạm vi điều trị (INR 2 đến 3) [10] Nói chung, thuốc kháng vitamin K có nhiều nhược điểm như: đáp ứng không tiên liệu được, khởi phát tác dụng chậm, khoảng trị liệu hẹp, tương tác với nhiều loại thức ăn và thuốc, phải theo dõi đông máu

thường quy và thường xuyên điều phải chỉnh liều thuốc uống để đạt khoảng INR trong phạm vi điều trị

Từ đầu thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đã tìm cách phát triển những thuốc chống đông đường uống thế hệ mới nhằm khắc phục các nhược điểm của thuốc kháng vitamin K Hai nhóm thuốc đã được đưa vào dùng trong lâm sàng là nhóm ức chế trực tiếp thrombin và nhóm ức chế trực tiếp Xa

Dabigatran là thuốc ức chế trực tiếp thrombin được dùng dưới dạng tiền dược dabigatran etexilat Sau khi hấp thu qua đường uống, dabigatran etexilat được chuyển thành dabigatran là dạng có hoạt tính dưới tác dụng của enzym

esterase trong huyết thanh Dabigatran được thải khoảng 80% ở thận và có thời gian bán thải là 12-17 giờ [11] Dabigatran có những ưu điểm sau so với thuốc kháng vitamin K: khởi phát tác dụng sớm (0,5-2 giờ) sau khi uống, không tương tác với thức ăn, không chuyển hóa bởi hệ CYP450 ở gan (do đó nguy cơ tương tác thuốc được giảm thiểu), dùng với liều cố định mà không cần phải theo dõi xét nghiệm đông máu [11],[12] RE-LY(Randomized

Evaluation of Long-term Anticoagulation Therapy) là một nghiên cứu lớn đã xác định được vị trí của dabigatran trong chỉ định phòng ngừa đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống ở bệnh nhân rung nhĩ [13] RE-LY là một thử

nghiệm lâm sàng phân nhóm ngẫu nhiên thực hiện trên 18.113 bệnh nhân rung nhĩ kèm ít nhất một tình trạng sau: tiền sử đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua, phân suất tống máu thất trái dưới 40%, có triệu chứng suy tim từ độ II trở lên theo phân độ NYHA trong vòng 6 tháng trước, và tuổi ít

Trang 12

nhất là 75 hoặc tuổi 65-74 kèm đái tháo đường, tăng huyết áp hoặc bệnh mạchvành Tiêu chuẩn loại trừ gồm: bệnh van tim nặng, đột quỵ trong vòng 14 ngày hoặc đột quỵ nặng trong vòng 6 tháng trước, độ thanh thải creatinin dưới30ml/phút, bệnh gan tiến triển, và có thai Bệnh nhân tham gia nghiên cứu có tuổi trung bình 71,5, nam giới chiếm tỉ lệ 64%, 20% đã từng bị đột quỵ hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua và gần 17% đã từng bị nhồi máu cơ tim Tỉ lệ rung nhĩ kịch phát (paroxysmal)/dai dẳng (persistent)/thường trực là

32%/33%/35% Bệnh nhân được phân ngẫu nhiên vào 1 trong 3 nhóm: nhóm dùng dabigatran 110 mg x 2/ngày, nhóm dùng dabigatran 150 mg x 2/ngày và nhóm dùng warfarin (với liều được điều chỉnh để đạt INR trong khoảng 2-3) Thời gian theo dõi trung vị là 2 năm Tiêu chí đánh giá chính về hiệu quả là đột quỵ hoặc thuyên tắc mạch hệ thống Tiêu chí đánh giá chính về tính an toàn là chảy máu nặng (chảy máu khiến hemoglobin giảm ít nhất 20 g/l, phải truyền ít nhất 2 đơn vị máu hoặc chảy máu có triệu chứng ở một vùng hoặc cơquan quan trọng)

Kết quả RE-LY cho thấy tần suất đột quỵ/thuyên tắc mạch hệ thống là 1,69%/năm ở nhóm warfarin, 1,53%/năm ở nhóm dabigatran 110mg (nguy cơtương đối so với warfarin 0,91; khoảng tin cậy 95% 0,74 đến 1,11) và

1,11%/năm ở nhóm dabigatran 150 mg (nguy cơ tương đối so với warfarin 0,66; khoảng tin cậy 95%: 0,53 đến 0,82; p< 0,001) Hình 1.1 là các đường Kaplan-Meier biểu diễn tần suất dồn của biến cố đột quỵ/thuyên tắc mạch hệ thống của 3 nhóm Tần suất chảy máu nặng là 3,36%/năm ở nhóm warfarin, 2,71%/năm ở nhóm dabigatran 110 mg (p = 0,003 so với warfarin) và

3,11%/năm ở nhóm dabigatran 150 mg (p = 0,31 so với warfarin) Tần suất tử vong do mọi nguyên nhân là 4,13%/năm ở nhóm warfarin,3,75%/năm ở nhómdabigatran 110 mg (p = 0,13 so với warfarin) và 3,64%/năm ở nhóm

dabigatran 150mg (p = 0,051 so với warfarin) Nói tóm lại, nghiên cứu RE-LY

Trang 13

chứng tỏ ở bệnh nhân rung nhĩ (chủ yếu không do bệnh van tim): (1)

Dabigatran 110 mg x 2/ngày có hiệu quả tương đương warfarin trong việc ngăn ngừa đột quỵ/thuyên tắc mạch hệ thống và ít gây chảy máu nặng hơn; (2) Dabigatran 150 mg x 2/ngày có hiệu quả cao hơn warfarin trong việc ngănngừa đột quỵ/thuyên tắc mạch hệ thống nhưng gây chảy máu nặng tương đương warfarin

Hình 1.1: Tần suất dồn theo thời gian (tháng) của biến cốđột quỵ/thuyên tắc mạch hệ thống ở các nhóm warfarin, dabigatran 110 mg và dabigatran

150 mg trong nghiên cứu RE-LY.

1.2.4 Chuyển đổi từ thuốc chống đông dabigatran sang thuốc chống đông khác hoặc từ thuốc chống đông khác sang dabigatran

- Chuyển đổi từ thuốc khác sang dabigatran

+ Chuyển đổi từ Warfarin sang dabigatran:

+ Chuyển từ thuốc tiêm sang dabigatran: Bắt đầu dabigatran 0-2 giờ trước liều thuốc tiêm tiếp theo

Đợi INR về dưới 2.0

Trang 14

+ Chuyển từ thuốc truyền tĩnh mạch liên tục sang dabigatran: bắt đầu dabigatran tại thời điểm ngưng truyền tĩnh mạch liên tục.

- Chuyển đổi từ dabigatran sang thuốc khác

+ Chuyển từ dabigatran sang thuốc kháng vitamin K:

Thời điểm bắt đầu dùng thuốc kháng vitamin K dựa trên chức năng thận.

CrCl (ml/ph) Khuyến cáo

≥ 50 Bắt đầu VKA 3 ngày trước khi ngưng dabigatran

≥ 30 đến < 50 Bắt đầu VKA 2 ngày trước khi ngưng dabigatran

15 -30 Bắt đầu VKA 1 ngày trước khi ngưng dabigatran + Chuyển từ dabigatran sang thuốc chống đông đường tiêm: bắt đầu dùng thuốc chống đông đường tiêm 12 giờ sau liều

dabigatran cuối cùng.

1.3 TỔNG QUAN VỀ RUNG NHĨ

1.3.1 Định nghĩa và sinh lý bệnh của rung nhĩ [14]

RN là một rối loạn nhịp trên thất với đặc trưng bởi tình trạng mất đồng

bộ điện học và sự co bóp cơ tâm nhĩ với các đặc điểm điện tâm đồ: Các

khoảng R-R không đều nhau (khi dẫn truyền nhĩ thất còn tốt), không còn dấu hiệu của sóng P, các hoạt động bất thường của sóng nhĩ

RN gây ảnh hưởng huyết động liên quan đến tần số đáp ứng thất bất thường (quá nhanh hoặc quá chậm) và sự mất sự đồng bộ giữa nhĩ và thất RNgây ra triệu chứng rất khác nhau trên các BN: từ không triệu chứng đến mệt mỏi, hồi hộp, khó thở hoặc các triệu chứng nặng như tụt huyết áp, ngất hoặc suy tim

RN làm tăng nguy cơ đột quị và/hoặc tắc mạch ngoại vi do hình thành các huyết khối trong buồng nhĩ, thường là khởi phát từ tiểu nhĩ trái

1.3.2 Cơ chế hình thành rung nhĩ

Trang 15

RN xuất hiện khi có bất thường về cấu trúc hoặc điện sinh lý của cơ nhĩgây ra các xung động và/hoặc đường dẫn truyền bất thường.

Có nhiều giả thiết về cơ chế hình thành và duy trì rung nhĩ:

1 Thuyết vòng vào lại (multiple wavelet re-entry)

Hình1 2: Cơ chế rung nhĩ [15]

Moe và Abildskow đưa ra giả thuyết, cơ chế của RN là vào lại đa sóng nhỏ (multiple re-entrant wavelet) Cơ chế này được chứng minh bằng mô hìnhđiện tử và bằng khảo sát ghi bản đồ ở tâm nhĩ (mapping studies) Hiện nay, dựa vào nghiên cứu trên động vật và trên bệnh nhân, có 3 cơ chế của rung nhĩ:

- Vào lại đơn độc, ổn định vùng nhỏ (single, stable re - entrant circuit ofshort cycle length)

- Vào lại đa sóng nhỏ, không ổn định

Trang 16

Cơ chế RN xuất phát từ một ổ được chứng minh trên thực nghiệm dùngacotinine ở động vật và trên tạo nhịp dẫn đến RN [17],[18] Thuyết này được củng cố nhờ sự phát hiện ổ tạo ra RN trên người và điều trị phá hủy ổ bằng sóng có tần số radio giúp triệt tiêu RN [19] Các ổ này thường được tìm thấy

ở vùng tĩnh mạch phổi (TMP), tĩnh mạch chủ trên, dây chằng Marshall, vách sau nhĩ trái, mỏm cùng nhĩ (crista terminalis) và xoang vành Khảo sát mô họccho thấy đây là các sợi cơ tim có tính tạo điện nối với TMP Mô nhĩ trên TMP của bệnh nhân RN có thời kỳ trơ ngắn hơn so với người chứng hoặc với các phần khác của tâm nhĩ [17],[18] Kích hoạt bằng tạo nhịp ở vùng TMP dễ dẫn đến RN hơn ở các vùng khác của tâm nhĩ Vai trò của biến đổi chất nền

(substrate modification) tạo RN cũng quan trọng, ở một số bệnh nhân có RN kéo dài (dai dẳng), cắt đứt sợi cơ nối TMP với tâm nhĩ, làm triệt tiêu RN Một

số bệnh nhân khác, dù cắt đứt vẫn còn RN; chỉ khi chuyển nhịp bằng sốc điện mới hết RN

3.Giả thuyết đa sóng nhỏ (Mutiple wavelet Hypothesis)

Moe và cộng sự phát triển giả thuyết đa sóng nhỏ như là cơ chế vào lại của RN Các sóng đứt quãng dẫn truyền trong tâm nhĩ sẽ tạo thành các "sóng nhỏ con" làm kéo dài hiện tượng này Khối lượng nhĩ lớn làm thời kỳ trơ ngắn

và chậm dẫn truyền sẽ làm tăng số sóng nhỏ, tạo RN kéo dài [20] Hình ảnh ghi đồng thời bằng nhiều điện cực trong tâm nhĩ giúp chứng minh thuyết vào lại đa sóng nhỏ [21]

4 Yếu tố khác đóng góp vào hình thành rung nhĩ

Một số chứng cứ cho thấy các yếu tố sau góp phần vào khởi phát hoặc duy trì RN: viêm, hoạt hóa thần kinh tự chủ, thiếu máu cục bộ tâm nhĩ, dãn tâm nhĩ, dẫn truyền không đồng bộ (anisotropic conduction), thay đổi cấu trúcgiải phẫu theo tuổi [20] Một nghiên cứu bệnh chứng cho thấy nồng độ CRP, một dấu chứng viêm, tăng cao ở bệnh nhân loạn nhịp nhĩ so với người bình

Trang 17

thường [18] Tăng hoạt giao cảm hoặc phó giao cảm có thể làm khởi phát RN.Trên mô hình động vật, kích hoạt phó giao cảm làm giảm thời kỳ trơ của tâm nhĩ và TMP, dẫn đến khởi phát và duy trì RN.

Cơ chế rung nhĩ :

Sơ đồ 1.4: Cơ chế rung nhĩ [14]

1.3.3 Những thay đổi sinh lý bệnh do rung nhĩ gây ra

RN có thể gây giãn nhĩ thông qua mất co hồi và tăng thư giãn nhĩ [22].Các cơ chế liên quan đến sự căng giãn và xơ nhĩ làm tăng mô đệm ngoại bào,đặc biệt trong các thời kỳ RN kéo dài Xơ nhĩ không phải là đặc điểm chủ yếucủa tái cấu trúc gây RN, mặc dù sự tích tụ của mô đệm và xơ liên quan với những thay đổi tế bào cơ hơn một khi giãn nhĩ xảy ra do RN hoặc bệnh tim phối hợp [23] Những thay đổi này rất giống với những thay đổi ở các tế bào

cơ thất ở vùng cơ tim không hoạt động do thiếu máu cục bộ mãn tính [24]

Trang 18

Trong số các đặc điểm này có sự gia tăng về kích thước của tế bào, sự tích tụ glycogen quanh nhân, mất các sarcoplasmic reticulum và các sarcomere Những thay đổi về phân bổ và thể hiện các chỗ nối hở (gap junction) là trái ngược nhau và có lẽ ít quan trọng hơn sự xơ hoá và rút ngắn thời kỳ trơ trong việc làm thúc đẩy RN Mất các sarcomere và co bóp dường như giúp bảo vệ các tế bào cơ chống lại các stress chuyển hoá cao do tần số nhanh Thực vậy, khi không có các yếu tố sinh lý bệnh khác, RN có tần số nhĩ cao có thể gây thiếu máu cục bộ, điều này tác động đến các tế bào cơ hơn là mô đệm ngoại bào và mô kẽ [24]

Ngoại trừ các thay đổi về kích thước nhĩ xảy ra theo thời gian, các dữ kiện về tái cấu trúc nhĩ ở người vẫn còn hạn chế và khó để phân biệt với những thay đổi thoái hoá do tuổi già và bệnh tim phối hợp Một nghiên cứu đã

so sánh mô nhĩ từ những bệnh nhân RN kịch phát và RN dai dẳng đã cho thấy các dải co cơ thoái hoá ở cả 2 nhóm bệnh nhân RN, trong khi sự tiêu cơ và ngủ đông của mitochondria chỉ gặp ở những bệnh nhân RN dai dẳng Hoạt động của calpain I, một men tiêu protein được hoạt hoá để đáp ứng với sự quá tải củacanxi tế bào, được điều hoà tăng trong cả 2 nhóm và tương quan với protein kênh ion và tái cấu trúc giải phẫu và điện học Như vậy, hoạt hoá calpain có thểkết nối sự quá tải canxi với sự thích ứng tế bào ở bệnh nhân RN [25]

1.3.4 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của rung nhĩ

1.3.4.1 Các yếu tố làm tăng nguy cơ của rung nhĩ

* Tuổi

Tuổi làm tăng nguy cơ bị RN thông qua việc mất cô lập cơ nhĩ trái và các rối loạn dẫn truyền phối hợp Tỉ lệ mắc RN gia tăng theo tuổi, cứ sau mỗi mười năm tuổi thì tỉ lệ mắc bệnh tăng lên gấp đôi, từ < 0.5% ở lứa tuổi 40-50,đến 5-15% ở lứa tuổi 80 [26]

* Bệnh lý tim mạch

Trang 19

Tăng huyết áp (THA): là yếu tố nguy cơ (YTNC) đối với RN và các biến chứng liên quan đến RN như là đột quị và các biến cố tắc mạch toàn thể.

Suy tim ứ huyết: (theo phân độ NYHA từ độ II - IV) gặp ở 30% bệnh nhân RN và RN được cho thấy chiếm đến 30-40% bệnh nhân suy tim, phụ thuộc vào nguyên nhân nền và độ nặng của suy tim Suy tim có thể là hậu quảhoặc là nguyên nhân của RN do áp lực nhĩ trái tăng và sự quá tải thể tích, thứ phát sau rối loạn chức năng van hoặc kích thích thần kinh thể dịch mạn tính

Có một mối quan hệ trực tiếp giữa phân độ suy tim theo NYHA và tỷ lệ RN

Tỷ lệ RN tăng từ 4 - 40% theo phân độ suy tim NYHA từ I đến IV [27],[28]

Bệnh van tim: được tìm thấy khoảng 30% ở bệnh nhân RN RN được gây ra bởi giãn nhĩ trái là biểu hiện sớm của hẹp van hai lá và/hoặc hở van hai

lá RN xảy ra ở giai đoạn muộn của hở van động mạch chủ Trong khi ‘RN dothấp’ thường gặp trước đây thì hiện nay tương đối hiếm ở châu Âu

Khuyết vách liên nhĩ: liên quan đến 10-15% bệnh nhân RN trong các nghiên cứu trước đây

Bệnh tim bẩm sinh: có nguy cơ RN gồm các bệnh nhân có tâm thất đơnđộc, sau phẫu thuật Mustard hoặc sau phẫu thuật Fontan

Bệnh mạch vành: chiếm trên 20% quần thể RN RN xảy ra thoáng qua trong 6-10% BN có nhồi máu cơ tim cấp tính, có lẽ do thiếu máu cục bộ tâm nhĩ hoặc rung nhĩ kéo dài thứ phát dẫn đến suy tim [29],[30] Những bệnh nhân này có tiên lượng xấu hơn và thường có bệnh đi kèm hoặc tuổi già và suy tim Tỷ lệ RN là thấp hơn nhiều ở BN có cơn đau thắt ngực ổn định [31] Trong phẫu thuật ĐMV, trong đó bao gồm hơn 18.000 bệnh nhân bị bệnh ĐMV, RN chỉ có 0,6% Những BN này có lẽ đã có RN mãn tính, RN kết hợp với độ tuổi lớn hơn 60, giới tính nam, và suy tim; không có mối liên hệ giữa

RN và số lượng ĐMV liên quan Nghiên cứu của Cameron và các nghiên cứu

Trang 20

khác phát hiện ra rằng RN là một yếu tố dự báo độc lập tử vong tăng ở bệnh nhân bệnh mạch vành ổn định, nguy cơ tương đối là 1,98 [31].

* Bệnh nội tiết

Rối loạn chức năng tuyến giáp: có thể là nguyên nhân của RN và dẫn đến các biến chứng liên quan đến RN Trong số BN cường giáp có 8,3% có biến chứng RN [32]

Béo phì: được tìm thấy khoảng 25% ở bệnh nhân RN và đa số BMI trung bình là 27,5

Đái tháo đường (ĐTĐ): được điều trị gặp ở 20% bệnh nhân RN và có thể góp phần gây tổn thương nhĩ [33], liên quan làm tăng tỷ lệ RN trong nghiên cứu của Emelia J Benjamin năm 1994 (OR 1.4 đối với nam và 1.6 đốivới nữ) [34]

Hội chứng chuyển hóa: gồm tăng huyết áp, tiểu đường, béo phì có liên quan đến khả năng gia tăng sự phát triển của RN [35] Nguy cơ phát triển thành RN lớn hơn đáng kể trong những cá nhân có hội chứng chuyển hóa (OR1.61, CI 95% 1,21-2,15)

* Bệnh hô hấp

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính: gặp ở 10-15% bệnh nhân RN, và có thể

là dấu ấn cho nguy cơ tim mạch chung hơn là YTNC đặc hiệu của RN [36]

Ngừng thở trong khi ngủ: đặc biệt liên quan với THA, ĐTĐ và bệnh tim cấu trúc, có lẽ là một yếu tố sinh bệnh đối với RN do những gia tăng về

áp lực và kích thước nhĩ gây ra do ngưng thở [20]

* Bệnh thận mãn tính:

Bệnh thận mãn tính cũng làm tăng nguy cơ rung nhĩ là 1,32 lần đối với bệnh nhân mức lọc cầu thận từ 30-59 ml/min/1.73m2 so với những người có chức năng thận bình thường Rung nhĩ cũng liên quan với gia tăng tỉ lệ rối

Trang 21

loạn chức năng thận (OR 95% CI là 1,77 [1,50-2,10]) và rối loạn protein niệu (OR 95% CI là 2,20 [1,92-2,52]) [35],[37].

* Nhiễm trùng:

Thambidosai và cộng sự đã chứng minh yếu tố viêm đặc biệt là CRP gia tăng trên bệnh nhân RN và tương quan với nguy cơ đột quỵ [38]

1.3.4.2 Phân loại rung nhĩ

Theo “Hướng dẫn lâm sàng” (Guidelines) 2016 của Hội Tim mạch châu

Âu (ESC) được phát triển với sự hợp tác của hội ngoại khoa tim lồng ngực Châu Âu [8], RN được phân loại dựa vào sự xuất hiện và thời gian của RN bao gồm các loại cơ bản sau:

RN được chẩn đoán lần đầu tiên (First diagnosed AF): là RN không

được chẩn đoán trước đó, bất kể khoảng thời gian rối loạn nhịp hoặc sự hiện diện và mức độ nặng của triệu chứng liên quan đến RN

RN kịch phát (Paroxysmal AF): là cơn RN tự chấm dứt, ở đại đa số các

trường hợp trong phạm vi 48 giờ, một số cơn RN có thể tiếp diễn đến 7 ngày

RN dai dẳng (Persistent AF): là RN kéo dài hơn 7 ngày, gồm các cơn

được cắt bằng chuyển nhịp, hoặc bằng thuốc hoặc sốc điện, sau 7 ngày hoặc dài hơn

RN dai dẳng kéo dài (Long-standing persistent AF): là RN tiếp tục kéo

dài ≥ 1 năm khi nó được quyết định để tiếp nhận cho chiến lược kiểm soát nhịp

RN vĩnh viễn (Permanent AF): là RN được chấp nhận bằng cả bệnh

nhân (và thầy thuốc), sốc điện chuyển nhịp không hiệu quả Do vậy, các can thiệp kiểm soát nhịp không đặt ra với bệnh nhân RN vĩnh viễn Chiến lược kiểm soát nhịp có thể được thông qua, rối loạn nhịp sẽ được phân loại lại như

“AF dai dẳng kéo dài”

Trang 22

Ngoài ra còn có các thuật ngữ RN thường dùng:

RN mạn tính (chronic AF): là RN kéo dài ≥ 1năm

RN đơn độc (lone AF): là RN ở người < 60 tuổi, không có các triệu

chứng lâm sàng và siêu âm về bệnh lý tim phổi, kể cả tăng huyết áp

RN thứ phát: gây ra bởi các nguyên nhân cấp tính có thể điều

chỉnh được như nhồi máu cơ tim, phẫu thuật tim,viêm ngoại tâm mạc, viêmnội tâm mạc, cường giáp, bệnh phổi cấp tính

RN vô căn: là RN ở người dưới 60 tuổi, không có bằng chứng bệnh tim

phổi thực tổn (bao gồm cả tăng huyết áp)

RN không do bệnh van tim: là RN khi không có hẹp van hai lá do thấp,

không có van tim cơ học hoặc sinh học hoặc sửa hẹp van hai lá [14]

1.3.4.3 Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của rung nhĩ

Có thể có biến chứng tắc mạch là biểu hiện đầu tiên của bệnh

Nghe tim: thấy loạn nhịp hoàn toàn, có thể thấy những dấu hiệu của bệnh van tim kèm theo (nếu có)

* Phân độ rung nhĩ theo triệu chứng lâm sàng

Phân độ triệu chứng lâm sàng của RN theo của Hội Nhịp Tim Châu Âu được sửa đổ (EHRA) năm 2014 [39], chia làm 4 độ theo bảng sau:

Trang 23

Bảng 1.1: Phân loại các triệu chứng liên quan rung nhĩ

a EHRA class 2a và 2b có thể được phân biệt do đánh giá bệnh nhân có

bị ảnh hưởng do các triệu chứng của RN của họ hay không Các triệu chứng liên quan RN thông thường nhất mệt mỏi choáng váng (fatigue) / mệt

mỏi(tiredness) và khó thở khi gắng sức, hoặc thường ít hồi hộp và đau ngực.

- Các sóng f rất khác nhau về hình dạng, biên độ, thời gian

- Thấy rõ sóng f ở các chuyển đạo trước tim phải (V1, V3R), và các chuyển đạo dưới (D2, D3, aVF), còn các chuyển đạo trước tim trái thường không thấy (D1, aVL, V5, V6)

Trang 24

Nhịp thất rất không đều về tần số (các khoảng RR dài ngắn khác nhau),

và rất không đều về biên độ (biên độ sóng R thay đổi cao thấp khác nhau) không theo quy luật nào Đó là hình ảnh loạn nhịp hoàn toàn

Tần số thất nhanh hay chậm, phụ thuộc vào dẫn truyền của nút nhĩ - thấtHình dạng sóng QRS nói chung thường hẹp, nhưng trên cùng một chuyển đạo có thể khác nhau chút ít về biên độ, thời gian,…

Hình 1.3: Rung nhĩ: sóng f nhĩ rõ ở chuyển đạo V1

Siêu âm tim:

Giúp chúng ta đánhgiá xem có huyết khối trong các buồng tim hay không hoặc có thể có nguy cơ hình thành huyết khối (giãn các buồng tim, hiện tượng tăng đông trong các buồng tim)

1.3.5 Các biến cố tim mạch do rung nhĩ [1],[41]

RN liên quan với tăng tỉ lệ tử vong, đột quị và các biến cố tắc mạch khác, suy tim và nhập viện, giảm chất lượng sống, giảm hoạt động thể lực, và rối loạn chức năng thất trái

1 Tỉ lệ tử vong:

Rung nhĩ làm tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong Các nghiên cứu

Framingham, Whitehall, Regional Heart Study cho thấy RN làm tăng tỷ lệ tử vong lên từ 2 đến 6 lần, một cách độc lập với các yếu tố tiên lượng tỉ lệ tử

Trang 25

vong được biết khác Chỉ liệu pháp chống huyết khối được cho thấy làm giảm

tử vong liên quan đến RN

cơ đột quị tương đương như RN vĩnh viễn hoặc dai dẳng Trong một nghiên cứu 56 bệnh nhân với cơn thiếu máu thoáng qua hay đột quỵ, người được đánh giá với một máy ghi sự kiện (Event Recorder) điện tim bệnh nhân ngoại trú trung bình trong 21 ngày, RN đã được phát hiện trong 23% [43] Trong một nghiên cứu 149 bệnh nhân TIA hoặc đột quỵ, người được đánh giá 24 giờbằng Holter theo dõi, RN đã phát hiện 11% [44]

6 Chức năng thất trái

RN thường kèm theo nhịp thất nhanh làm cho cung lượng tim bị giảm

đi đáng kể, nhất là khi BN có các bệnh thực tổn ở tim kèm theo Bản thân RN

đó giảm khoảng 20% lượng máu xuống thất trong thời kỳ tâm trương Do đó,

Trang 26

khi RN kèm theo nhịp thất nhanh thì càng làm cho thời kỳ tâm trương ngắn, lượng máu về thất giảm đi đáng kể lâu dần dẫn đến suy tim.

1.3.6 Dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân RN không do bệnh van tim

1.3.6.2 Sinh lý bệnh của huyết khối trong rung nhĩ

Sinh lý bệnh của huyết khối trên bệnh nhân RN thường phức tạp

- Huyết khối ở bệnh nhân RN thường xuất phát từ tiểu nhĩ trái và

thường khó phát hiện được trên siêu âm thường quy qua thành ngực Siêu âm tim qua thực quản là phương pháp đánh giá chức năng tiểu nhĩ trái và phát hiện hình thành huyết khối có độ nhạy và đặc hiệu hơn và huyết khối thường gặp ở bệnh nhân rung nhĩ có đột quỵ hơn là bệnh nhân rung nhĩ mà không có đột quỵ [46] Mặc dù nhận định lâm sàng rằng RN liên tục trên 48 giờ mới có thể hình thành huyết khối nhưng trên thực tế siêu âm tim qua thực quản phát hiện huyết khối nhĩ trái, TNT ở thời gian RN sớm hơn [47] Nhiều nghiên cứu

về nhĩ trái và TNT trong điều trị chuyển nhịp từ RN sang nhịp xoang đã cho thấy vận tốc dòng chảy TNT giảm có liên quan đến mất co hồi cơ học của nhĩ trong khi RN Nguyên nhân làm gia tăng các biến cố tắc mạch sau điều trị chuyển nhịp thành công bất chấp phương pháp chuyển nhịp là sốc điện, thuốc hay tự phát dường như chính là sự đờ đẫn (stunning) của cơ nhĩ [48] Sự đờ đẫn của nhĩ ở mức tối đa ngay sau chuyển nhịpvà giảm dần trong vài ngày nhưng đôi khi kéo dài đến 3-4 tuần, phụ thuộc vào thời gian RN Do đó điều trị chống đông được khuyên dùng trong khi chuyển nhịp ở tất cả các bệnh nhân RN kéo dài ≥ 48 giờ hoặc không xác định thời gian, kể cả RN đơn độc trừ khi có chống chỉ định dùng thuốc chống đông

Trang 27

- Giảm vận tốc dòng chảy trong TNT trong khi RN liên quan với sự hình thành âm cuộn tự nhiên, huyết khối và các biến cố tắc mạch ở bệnh nhân

RN [49] Các âm cuộn tự nhiên này có thể được phát hiện bởi siêu âm tim quathành ngực hay siêu âm tim qua thực quản ở các buồng tim và các mạch máu lớn trong các trường hợp dòng chảy chậm Hiện tượng này liên quan với sự ngưng tập hồng cầu qua trung gian fibrinogen và không được giải quyết bởi thuốc chống đông [50]

1.3.6.3 Thang điểm đánh giá nguy cơ tắc mạch ở bệnh nhân RN không do bệnh van tim

Mặc dù có nhiều thể lâm sàng của RN như: RN cơn, RN kéo dài, RN vĩnhviễn nhưng nguy cơ đột quỵ và thuyên tắc mạch hệ thống không có sự khác biệt.Đặc biệt trong thực hành lâm sàng, đối tượng RN cơn không triệu chứng có nguy cơ đột quỵ tương đương với RN mạn tính nhưng thường bị bỏ sót trong chẩn đoán và không được điều trị phòng ngừa biến chứng thuyên tắc mạch

Trong thực hành lâm sàng đã có nhiều thang điểm được đưa ra để đánh giá nguy cơ đột quỵ trên bệnh nhân RN như thang điểm AFI, thang điểm SPAF,thang điểm Framingham, thang điểm CHADS2 và CHA2DS2 - VASc Tuy nhiên hiện nay thang điểm CHA2DS2-VASc do Hội Tim mạch châu Âu đưa ra năm 2010 thường dược áp dụng hơn cả [41] Thang điểm CHA2DS2-VASc được đưa ra với các tiêu chí: C được viết tắt bởi Congestive heart failure (suy tim ứ huyết hoặc phân suất tống máu ≤ 40%), H là Hypertension (THA), A2 là Age (tuổi ≥ 75), D là Diabetes mellitus (ĐTĐ), S2 là Stroke (tiền sử đột quị hoặc cơn thiếu máu não thoáng qua), V (Vascular disease - bệnh mạch máu gồm tiền sử nhồi máu cơ tim, bệnh động mạch ngoại vi và mảng vữa phức tạp động mạch chủ), A (Age - tuổi 64-75) và S (Sex - giới nữ)

Trang 28

Bảng 1.2: Thang điểm CHAD2DS2-VASc [14]

Trang 29

Có mối quan hệ rõ ràng giữa điểm CHA2DS2-VASc và tỉ lệ đột quị hàng năm ở bệnh nhân RN không do bệnh van tim.

Bảng 1.3: Điểm CHA2DS2-VASc và tỉ lệ đột quị/năm [14]

Trang 30

- Tiêu chuẩn xác định yếu tố nguy cơ theo thang điểm CHA2DS2-VASc:+ Suy tim ứ huyết hoặc phân suất tống máu thất trái (EF ≤ 40%)

(Congestive heart failure)

Chẩn đoán suy tim ứ huyết khi có đồng thời ít nhất 2 tiêu chuẩn chính hoặc 1 tiêu chuẩn chính cùng với 2 tiêu chuẩn phụ dưới đây:

Bảng 1.4: Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim (tiêu chẩn Framimgham)

Tràn dịch màng phổiGiảm dung tích sống 1/3 so với bìnhthường

Nhịp tim nhanh (>120 chu kỳ/phút)

+ Tăng huyết áp (Hypertension): Chúng tôi phân loại THA theo JNC VII: THA được chẩn đoán khi HA tâm thu ≥ 140 mmHG và/hoặc HA tâm trương ≥ 90 mmHg hoặc khi BN đang được điều trị thuốc hạ HA

+ Đái tháo đường (Diabetes Mellitus): Theo khuyến cáo của hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) năm 2012, để chẩn đoán ĐTĐ chúng ta dựa vào 1 trong

4 tiêu chẩn sau:

Trang 31

(1) HbA1c ≥ 6,5%(Xét nghiệm phải được làm ở labo sử dụng phương pháp chuẩn)

(2) Đường máu lúc đói Go ≥ 7.0 mmol/l (≥ 126 mg/dl) (Đường máu lúc đói Go đo khi đã nhịn ăn ít nhất 8 giờ)

(3) Đường máu 2 giờ trong nghiệm pháp dung nạp glucose G2 ≥11,1 mmol/l (≥ 200 mg/dl) Nghiệm pháp dung nạp glucose phải được thực hiện đúng mô hình của tổ chức Y tế Thế giới WHO, sử dụng 75g glucose

(4) Đường máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l ( ≥ 200 mg/dl)

+ Tiền sử đột quỵ (Stroke) hoặc thiếu máu não thoáng qua (TIA)

Cơn thiếu máu não thoáng qua (TIA- Transient Ischemic Attack) là cơnngắn rối loạn chức năng thần kinh do thiếu máu khu trú ở não hay võng mạc mắt với các triệu chứng lâm sàng kéo dài ít hơn 1 giờ và không có bằng

chứng nhồi máu não cấp Dựa vào khai thác tiền sử và xem các tài liệu chẩn đoán hình ảnh có từ trước

Đột quỵ là bệnh nhân đã được chẩn đoán dựa vào lâm sàng và chụp cắt lớp vi tính (CT scanner) sọ não cho thấy hình ảnh giảm tỉ trọng khu vực tưới máu bởi một động mạch trong não tương ứng với vị trí tổn thương thần kinh khu trú

+ Bệnh mạch máu (Vascular disease): bao gồm tiền sử nhồi máu cơ tim,bệnh động mạch ngoại vi và mảng xơ vữa phức tạp động mạch chủ

- Phân tầng nguy cơ tắc mạch theo thang điểm CHA2DS2-VASc thành

3 nhóm:

+ Nhóm 1: gồm CHA2DS2-VASc 0 điểm : nguy cơ thấp

+ Nhóm 2 : gồm CHA2DS2-VASc 1 điểm : nguy cơ trung bình

+ Nhóm 3: gồm CHA2DS2-VASc 2 điểm : nguy cơ cao

Trang 32

Ngoài ra, khi lựa chọn các thuốc chống đông cho bệnh nhân còn cần cân nhắc giữa lợi ích của phòng ngừa huyết khối với nguy cơ chảy máu của người bệnh Vì vậy, các nhà lâm sàng tim mạch còn cần đánh giá nguy cơ chảy máu trước khi đưa ra chỉ định dùng thuốc chống đông Thang điểm đượckhuyến cáo sử dụng rộng rãi để đánh giá nguy cơ chảy máu là thang điểm HAS - BLED: theo hướng dẫn lâm sàng của hội Tim mạch Châu Âu (ESC) năm 2010 [41].

Bảng 1.5: Thang điểm HAS-BLED

A(Abnormal renal/liver

function)

Bất thường chức năng thận/gan

1 hoặc 2

D(Drugs/alcohol) Dùng đồng thời thuốc tăng nguy

cơ chảy máu hoặc nghiện rượu (một điểm cho mỗi yếu tố)

1 hoặc 2

Tối đa 9điểm

- Tiêu chuẩn xác định yếu tố nguy cơ theo thang điểm HAS-BLED+ Tăng huyết áp : được định nghĩa là huyết áp tâm thu > 160 mm Hg+ Bất thường chức năng thận/gan: trong đó bất thường chức năng thận

là thận nhân tạo định kỳ, ghép thận hoặc creatinin huyết thanh ≥ 200 mmol/l; bất thường chức năng gan là bệnh gan mạn như xơ gan hoặc bất thường sinh hóa rõ rệt, ví dụ bilirubin > 2 giới hạn trên kèm AST, ALT, alkaline

phosphatase > 3 giới hạn trên

+ Chảy máu: gồm tiền sử chảy máu và/hoặc tạng chảy máu

Trang 33

+ INR dao động: là INR không ổn định hoặc tỉ lệ thời gian INR trong khoảng trị liệu < 60%

+ Dùng đồng thời thuốc tăng nguy cơ chảy máu hoặc nghiện rượu :có dùng đồng thời thuốc tăng nguy cơ chảy máu như thuốc chống tiểu cầu hoặc kháng viêm không steroid hoặc nghiện rượu

- Phân tầng nguy cơ chảy máu theo thang điểm HAS-BLED: gồm 3 nhóm+ Nhóm 1: gồm HAS-BLED 0 điểm - nguy cơ thấp

+ Nhóm 2: gồm HAS-BLED 1-2 điểm - nguy cơ trung bình

+ NHóm 3: gồm HAS-BLED ≥ 3 điểm - nguy cơ cao

1.3.6 4 Điều trị chống đông trong dự phòng đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh van tim

(Khuyến cáo về Chẩn đoán và điều trị rung nhĩ 2016 của Hội Tim mạchhọc Việt Nam và khuyến cáo điều chỉnh rung nhĩ của Hội Tim mạch Châu Âu năm 2016 được phát triển với sự hợp tác của hội ngoại khoa tim & lồng ngựcChâu âu) [8],[14]

Bảng 1.6: Tóm tắt khuyến cáo về điều trị thuốc chống đông trên bệnh

nhân RN không do bệnh van tim

Khuyến cáo

Mức khuyến cáo

Mức độ bằng chứng

Sử dụng các biện pháp dự phòng huyết khối cần cân

nhắc giữa nguy cơ đột quỵ, nguy cơ xuất huyết và

mong muốn của bệnh nhân

Thang điểm CHA2DS2-VASc được khuyến cáo để

đánh giá nguy cơ đột quỵ ở bệnh nhân rung nhĩ không

do bệnh van tim

Các BN RN không do bệnh van tim và điểm

CHA2DS2-VASc là 0 điểm có thể không cần dùng

thuốc chống đông

Điều trị kháng đông uống để ngăn ngừa thuyên tắc

Trang 34

được khuyến cáo cho tất cả các bệnh nhân nam giới RN

với thang điểm CHA2DS2-VASc bằng 2 hoặc hơn

Điều trị kháng đông uống để ngăn ngừa thuyên tắc

được khuyến cáo cho tất cả các bệnh nhân nữ RN với

thang điểm CHA2DS2-VASc bằng 3 hoặc hơn

Điều trị kháng đông uống để ngăn ngừa thuyên tắc nên

được xem xét ở các bệnh nhân nam AF có thang điểm

CHA2DS2-VASc bằng 1, xem xét các đặc điểm cá nhân

và sở thích của bệnh nhân

Điều trị kháng đông uống để ngăn ngừa thuyên tắc nên

được xem xét ở các bệnh nhân nữ RN có thang điểm

CHA2DS2-VASc bằng 2, xem xét các đặc điểm cá nhân

và sở thích của bệnh nhân

Trường hợp BN có tiền sử đột quỵ, TIA hoặc có điểm

CHA2DS2-VASc từ 2 điểm trở nên cần sử dụng thuộc

chống đông đường uống Các lựa chọn bao gồm:

A

- Dabigatran, Rivaroxaban hoặc Apixapan I AKhi khởi đầu kháng đông đường uống ở một bệnh nhân

RN có hội đủ điều kiện cho một NOAC (apixaban,

dabigatran, edoxaban, hoặc rivaroxaban), NOAC được

khuyến cáo ưu tiên hơn kháng vitamin K

Các bệnh nhân RN đã điều trị thuốc kháng vitamin K có

thể được xem xét điều trị NOAC nếu phạm vi điều trị

không được kiểm soát tốt mặc dù tuân thủ tốt, hoặc nếu

bệnh nhân ưa thích và không có chống chỉ định với

NOAC

Cần đánh giá chức năng thận trước khi dùng thuốc

chống đông thế hệ mới và cần đánh giá lại khi có triệu

chứng lâm sàng gợi ý và ít nhất 1 lần/1 năm

BN có CHA2DS2-VASc từ 2 điểm trở nên và suy thận

giai đoạn cuối ( mức lọc cầu thận < 15 ml/ph) hoặc

đang lọc máu chu kì nên sử dụng VKA

Trang 35

Sơ đồ 1.5: Tóm tắt dự phòng huyết khối ở bệnh nhân rung nhĩ

Trang 36

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu bao gồm những bệnh nhân được chẩn đoán xác định là rung nhĩ không do bệnh van tim và được chỉ định dùng thuốc chống đông kháng vitamin K hoặc dabigatran (với tên biệt dược là Pradaxa hàm lượng 110mg hoặc 150 mg do công ty Boehringer sản xuất tai Đức) để dự phòng đột quỵ, được điều trị tại Viện Tim mạch Quốc Gia Việt Nam Tất cả các bệnh nhân này được lấy theo trình tự thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 3/2018

2.1.1.Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: gồm 2 nhóm

Nhóm A:

1A Đồng ý ký vào phiếu cung cấp thông tin và tình nguyện tham gia

trước khi tham gia nghiên cứu

2A Bệnh nhân nam hoặc nữ ≥ 18 tuổi có chẩn đoán rung nhĩ không do

bệnh van tim

3A Sử dụng VKA ít nhất trong 3 tháng liên tục cho phòng tránh đột

quỵ trước đánh giá ban đầu

4A Bệnh nhân chuyển qua điều trị với Pradaxa theo thông tin kê toa

được phê duyệt ở nước sở tại và theo quyết định bác sĩ

HOẶC

Nhóm B:

1B Đồng ý ký vào phiếu cung cấp thông tin và tình nguyện tham gia

trước khi tham gia nghiên cứu

2B Bệnh nhân nam hoặc nữ ≥ 18 tuổi mới được chẩn đoán rung nhĩ

không do bệnh van tim và chưa có điều trị dự phòng đột quỵ trước đó (không dùng thuốc chống đông máu đường uống (OAC) trong vòng 1 năm trước khi thu tuyển)

Trang 37

3B Điều trị dự phòng đột quỵ khởi đầu với hoặc Pradaxa hoặc VKA

theo thông tin kê toa được phê duyệt ở nước sở tại và theo quyết định bác sĩ

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân

1 Có chống chỉ định sử dụng Pradaxa hoặc VKA theo thông tin kê toa

được phê duyệt ở nước sở tại

2 Bệnh nhân đang điều trị với Pradaxa hoặcVKA cho các bệnh lý khác,

không phải là dự phòng đột quỵ cho bệnh nhân rung nhĩ

3 Đang tham gia vào thử nghiệm lâm sàng về thuốc hoặc thiết bị

4 Đang tham gia và một thử nghiệm Đăng ký, tức là một trong các

chương trình Gloria, về việc sử dụng thuốc kháng đông ở bệnh nhân RN

2.1.3 Tiêu chuẩn chẩn đoán rung nhĩ

Tiêu chuẩn chẩn đoán rung nhĩ trên điện tâm đồ:

- Mất sóng P, thay thế bằng các sóng “f” có tần số từ 400-600 chu kỳ trên phút Các sóng “f” này có hình dạng, biên độ và tần số khác nhau

- Các khoảng RR không đều nhau

2.1.4 Tiêu chuẩn chẩn đoán rung nhĩ không do bệnh van tim

RN không do bệnh van tim là RN khi không có hẹp van hai lá do thấp, không có van tim cơ học hoặc sinh học hoặc sửa hẹp van hai lá [14]

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Thiết kế nghiên cứu

- Đây là nghiên cứu không can thiệp, theo dõi dọc có so sánh, được tiếnhành theo trình tự thời gian

Bệnh nhân sẽ được theo dõi trong giai đoạn quan sát 6 tháng Dữ liệu

sẽ được thu thập tại 3 thời điểm:

1 Tại thời điểm ban đầu (khởi đầu dùng Pradaxa hoặc VKA)

2 Tại thời điểm từ 30-45 ngày sau khi bắt đầu sử dụng Pradaxa hoặc VKA (Giai đoạn khởi đầu)

Trang 38

3.Tại thời điểm từ 150-210 ngày sau khi sử dụng Pradaxa hoặc VKA (giai đoạn tiếp theo).

- Cách lấy cỡ mẫu: lấy cỡ mẫu thuận tiện

Bệnh nhân ở nhóm A và nhóm B phải được cân bằng (A:B = 1:2) Trong nhóm B, số lượng bệnh nhân cũng phải được kiểm soát, để đảm bảo số lượng dữliệu tương đương sẽ được thu thập của bệnh nhân RN mới được điều trị với Pradaxa (nhóm nhỏ B1) hoặc với VKA (nhóm nhỏ B2) (Pradaxa:VKA = 1:1)

2.2.2 Nội dung, biến số và chỉ số nghiên cứu

Bảng 2.1 Nội dung, biến số và chỉ số nghiên cứu chính

Nội dung

Kỹ thuật thu thập

Đặc trưng cá

nhân

Tuổi (tính theo Dương lịch)

- Tỷ lệ % theo nhóm tuổi (<65, 65-74, 75)

- Trung bình ± SD hoặc trung vị

Thang điểm

Điểm CHAD2DS2-VASc

Trung bình ± SD hoặc trung vị

Phỏng vấn,khámĐiểm HAS-BLED Trung bình ± SD hoặc

trung vị

Phỏng vấn,khámChức năng

thận

Mức lọc cầu thận CrCl (ml/ph) (công thức Cockroft-Gault)

Trung bình ± SD hoặc trung vị

Bệnh án nghiên cứu

Trang 39

Mục tiêu 1

- Nhóm A

- Nhóm B

-Điểm PACT-Q2 ở lần đánh giá ban đầu

Trung bình ± SD hoặc trung vị

Bộ câu hỏi

- Điểm PACT-Q2 ở lần đánh giá thứ 2

Trung bình ± SD hoặc trung vị

Bộ câu hỏi

- Điểm PACT-Q2 ở lần đánh giá cuối

Trung bình ± SD hoặc trung vị

Bộ câu hỏi

- Điểm PACT-Q1 ở thời điểm ban đầu

Trung bình ± SD hoặc trung vị (ở 2 nhóm nhỏ)

Bộ câu hỏi

- Điểm PACT-Q2 ở lần dánh giá thứ 2

Trung bình ± SD hoặc trung vị (ở 2 nhóm nhỏ)

Bộ câu hỏi

- Điểm PACT-Q2 ở lần đánh giá cuối

Trung bình ± SD hoặc trung vị (ở 2 nhóm nhỏ)

- Chân răng hay mũi

- Chảy máu kéo dài khi gặp vết thương nhỏ

Bộ câu hỏi

Không có biến chứng Tỷ lệ (%) theo từng Bộ câu hỏi

Trang 40

nào kể trên nhóm nhỏ

2.2.3 Địa điểm và thời gian tiến hành ngiên cứu

2.2.2.1 Địa điểm tiến hành nghiên cứu:

Viện Tim Mạch Việt Nam, Bệnh viện Bạch Mai - số 78 Giải Phóng - Đống Đa - Hà Nội

2.2.2.2 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 8 năm 2017 đến tháng 10 năm 2018

2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu

Bệnh nhân sẽ được xem xét thu tuyển vào nghiên cứu chỉ khi bệnh nhân ký vào phiếu cung cấp thông tin và đồng ý tham gia nghiên cứu

Lần khám đầu: Các quy trình sau sẽ được tiến hành tại lần khám ban đầu:

• Ký vào phiếu cung cấp thông tin và đồng ý tham gia nghiên cứu

• Xem xét tiêu chuẩn thu nhận và loại trừ

• Thu thập dữ liệu nhân chủng học: tuổi, giới tính, nghề nghiệp, điều kiện kinh tế, trình độ học vấn,cân nặng, chiều cao

• Thu thập các thông tin về bệnh đi kèm dựa vào tiền sử và tại thời điểm ban đầu

• Thu thập về trị liệu đi kèm hiện tại

• Độ thanh thải creatinine: (độ thanh thải Creatinine theo công thức Cockcroft-Gault) ,điểmCHA2DS2-VASc và HAS-BLED

• Chỉ dành cho nhóm A: ghi nhận thời gian điều trị VKA trước đó

• Chỉ dành cho nhóm A: ghi nhận lý do chuyển sang điều trị với Pradaxa

• Ghi nhận liều dùng của Pradaxa

• Bệnh nhân sẽ được hỏi để hoàn tất hai bản câu hỏi dành cho bệnh nhân sau:

- PACT-Q2 (Chỉ dành cho nhóm A)

- PACT-Q1 (Chỉ dành cho nhóm B)

Ngày đăng: 09/11/2019, 10:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w