ĐẶT VẪN ĐỀBệnh viêm não Nhật Bản VNNB là bệnh truyền nhiễm cấp tính lâytruyền theo đường máu, người bị nhiễm vi rút VNNB khi bị muỗi có chứa virút Arbo đốt.. Tỷ lệ xác định VNNB trong số
Trang 1ĐẶT VẪN ĐỀ
Bệnh viêm não Nhật Bản (VNNB) là bệnh truyền nhiễm cấp tính lâytruyền theo đường máu, người bị nhiễm vi rút VNNB khi bị muỗi có chứa virút Arbo đốt Muỗi Culex tritaeniohynchus là véc tơ chính truyền bệnhVNNB giữa động vật có xương sống, từ đó truyền bệnh sang người
Vi rút viêm não Nhật Bản phổ biến ở hầu hết các khu vực của Châu Á
và nhiều nơi ở khu vực Tây Thái Bình Dương Sự lây truyền vi rút viêm nãoNhật Bản chưa được phát hiện ở các khu vực thuộc Châu Phi, Châu Âu, Châu
Mỹ Sự lây truyền của vi rút chủ yếu ở khu vực nông thôn, thường có liênquan đến gặt lúa và tưới tiêu Ở vài khu vực Châu Á, đặc điểm sinh thái họcnày có thể xảy ra ở gần, thỉnh thoảng ở trung tâm của thành thị Ở vài vùngcủa Châu Á, sự lây truyền diễn ra theo mùa, đỉnh của bệnh thường vào mùa
hè và mùa mưa Ở một số khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới, sự lây truyềntheo mùa thay đổi theo mùa mưa và kỹ thuật tưới tiêu, có thể kéo dài haythậm chí có quanh năm
Ở các nước trong vùng dịch tễ, người trưởng thành thường có miễndịch mắc phải qua nhiễm trùng tự nhiên Do đó viêm não Nhật Bản là bệnh lýchủ yếu ở trẻ em
Ở Việt Nam vi rút VNNB được xác định lưu hành ở hầu hết các tỉnhđồng bằng, miền núi, trung du Các ổ dịch lớn chủ yếu tập chung ở vùng đồngbằng trồng lúa nước và vùng bán sơn địa ở vùng núi phía bắc như: Thái Bình,Hải Phòng, Bắc Ninh, Ninh Bình, Hải Dương… Do điều kiện sinh thái khácnhau, bệnh VNNB thường xẩy ra thành dịch vào mùa hè ở miền Bắc còn ởmiền Nam các trường hợp VNNB xẩy ra rải rác quanh năm
Trước năm 1995, hàng năm ước tính có khoảng 2.000 đến 3.000 người
bị hội chứng não cấp nghi do vi rút, mặc dù có một số loại vi rút khác gây hộichứng não cấp đã được phát hiện ở Việt Nam, nhưng theo kết quả giám sát vi
Trang 2rút học cho thấy vi rút VNNB vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây hội chứngnão cấp ở trẻ em Trong khoảng 20 năm gần đây với việc tăng cường sử dụngvắc xin VNNB để phòng bệnh (từ năm 1997) Đã làm thay đổi rõ ràng về mặtdịch tễ học bệnh VNNB Tỷ lệ xác định VNNB trong số trường hợp hộichứng não cấp đã giảm xuống dưới 10% ở những nơi đã được tăng cường sửdụng vắc xin phòng bệnh.
Điện Biên là tỉnh đã ghi nhận có các trường hợp mắc vi rút VNNB, với
tỷ lệ mắc viêm não vi rút/100.000 dân thường dao động từ 11,1 đến 18,2.Thực trạng hoạt động giám sát trước đây chủ yếu dựa vào giám sát lâm sàngthông qua chế độ giám sat khoa bệnh truyền nhiễm hàng tuần của hệ thốngcán bộ y tế Dự phòng Từ năm 2014 các trường hợp bị hội chứng não cấp đãđược lấy huyết thanh và dịch não tủy gửi về Viện VSDTTW xét nghiệm chokết quả năm 2015 là 18/36 mẫu dương tính với vi rút VNNB Vắc xin VNNBđược đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng tại tỉnh Điện Biên cho trẻ từ
1 đến 5 tuổi từ năm 2005
Để đánh giá hiệu quả phòng bệnh bằng vắc xin VNNB tại tỉnh TháiBình sau khi tăng cường sử dụng vắc xin để phòng bệnh , việc giám sát bệnhVNNB sẽ cung cấp số liệu khoa học , bằng trừng về sự thay đổi tình hìnhbệnh VNNB ở địa phương, là cơ sở để đưa ra chiến lược phòng, chống bệnh ởtỉnh Điện Biên trong giai đoạn tiếp theo Do đó chúng tôi tiến hành nghiêncứu đề tài “ Đặc điểm dịch tễ học bệnh viêm não Nhật Bản tại tỉnh Điện Biên
từ năm 2013-2017 và đánh giá hiệu quả sử dụng vắc xin phòng bệnh” nhằmmục tiêu sau:
1 Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh VNNB tại tỉnh Điện Biên từ năm 2013 đến năm 2017.
2 Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng vắc xin phòng bệnh VNNB tại tỉnh Điện Biên, 2013-2017
Trang 3Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM NÃO NHẬT BẢN
Bệnh VNNB được biết đến từ từ cuối thế kỷ thứ XIX, khi liên tiếp các
vụ dịch xẩy ra ở các vùng núi Nhật Bản vào mùa hè – thu với những bệnhnhân nặng, tỷ lệ tử vong lên tới 60% Trong một thời gian dài người ta vẫnxếp bệnh này vào nhóm các bệnh viêm màng não tủy Mãi tới năm 1924người ta mới phân chia bệnh ra thành một bện riêng biệt
Vào năm 1933-1936 các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tìm ra vi rút gâybệnh và chứng minh được vi rút này truyền qua muỗi đốt
Các vụ dịch VNNB cũng được thông báo từ các nước như: TrungQuốc, Triều Tiên, Miền Điện, Philippin, Thái Lan, Liên Xô và các vùng khácthuộc châu Úc Ở Việt Nam bệnh được phát hiện từ những năm 60 của thế kỷ
XX, dịch xẩy ra hàng năm tập chung chủ yếu vào mùa hè tại miền bắc tậpchung nhiều ở vùng nông thôn đồng bằng và miền núi
1.2 TÁC NHÂN GÂY BỆNH
1.2.1 Phân loại, hình thái, cấu trúc và đặc điểm của VNNB
Tác nhân gây bệnh là virút VNNB (Japanese Encephalitis virus) Trongbảng phân loại các virút động vật, người ta xếp virút VNNB vào nhóm các
virút arbo (Arborvirus) thuộc họ Flaviviridae, giống virút flavi (Flavivirus)
cùng với các virút dengue, virút sốt vàng, virút viêm não miền tây sông Nile,
virút viêm não Saint Louis [ ]
Trang 4Virút VNNB có dạng hình cầu, đường kính trung binhg từ 40-50 nm[ ] Về mặt cấu trúc, vi rút VNNB gồm có lõi của vi rút được cấu tạo bởi axítribonucleic (ARN) sợi đơn, là vật liệu di truyền của vi rút, bao quanh bởi
nucleocapxit là nucleoprotein Hai thành phần này cấu tạo thành hạt vi rút (virion) Hạt vi rút có vỏ bọc bên ngoài với bản chất là glycoprotein[ ] Đây
là kháng nguyên bề mặt có tính ngưng kết hồng cầu nên gọi là kháng nguyên
ngưng kết hồng cầu và có hoạt tính trung hoà [ ].
1.2.2 Tính kháng nguyên của vi rút
Vi rút VNNB có 3 loại protein kháng nguyên: protein lõi (hoặcC) là nucleoprotein bao lấy ARN vi rút, protein màng (hoặc M) và protein vỏV3 (hoặc E) là glycoprotein Trong các loại protein cấu trúc này thì proteinkháng nguyên vỏ (E) nằm trên bề mặt của hạt virút đóng vai trò quan trọngnhất trong phản ứng đầu tiên giữa sự hấp phụ của virút trên tế bào chủ và tạo
ra kháng thể miễn dịch bảo vệ cơ thể [ ]
Hình 1.1 Hình thái virus viêm não Nhật Bản
Trang 51.2.3 Tính nuôi cấy
Vi rút VNNB có tính hướng thần kinh do đó dễ dàng nhân lên ở tổ chứcnão như tổ chức não chuột ổ, vi rút phát triển làm chuột bị liệt Chuột Swisstrắng, Hamster là những động vật thích nghi với sự nhân lên của vi rút vàthường được sử dụng trong phòng thí nghiệm
Trên tổ chức động vật và côn trùng: vi rút VNNB phát triển trên bàothai gà 9 ngày tuổi và làm cho sự phát triển của bào thai gà bị chậm lại Cácloại muỗi Aeds Albopictus, Toxorhynchites cũng là những côn trùng thựchiện dùng để cấy truyền vi rút VNNB
Trên các dòng tế bào: vi rút có thể nuôi cấy trên các dòng tế bào thậnkhỉ, tế bào muỗi Aedes Albopictus
1.3 SINH BỆNH HỌC
1.3.1 Sinh bệnh lý
Vi rút được muỗi truyền vào máu qua da, chúng phát triển
ở trong máu và sẽ đi khắp cơ thể
Nhờ tính hướng thần kinh, vi rút xâm nhập vào các tế bào thần kinhsinh sản và phát triển nhanh ở trong đó Sau khi sinh sản đạt mật độ cao vi rútlại lần thứ 2 xâm nhập vào máu Nhiễm vi rút lần thứ 2 ở máu bắt đầu gâyphản ứng sốt Trên lâm sàng nó tương ứng với thời kỳ khởi phát của bệnh Sựbiến đổi rõ rệt nhất ở hệ thống thần kinh Người ta có thể thấy trên kính hiểm
vi những biến đổi đó là: phù nề màng não và các tổ chức não, các mạch máunão dãn rộng và ứ máu, xuất huyết đốm nhỏ ở tổ chức não và phần mềm.Trong các cơ quan nội tạng cũng đều có ứ máu, có nhiều đám xuất huyết ởniêm mạc Thoái hóa tổ chức cơ tim, gan, thận và viêm phổi
Trang 6Đối với thể ẩn, cơ thể có đủ khả năng bảo vệ thông qua hệthống miễn dịch đã tiêu diệt hết vi rút VNNB, nên vi rút không đến được thầnkinh trung ương và cơ thể không có biểu hiện bệnh lý gì Trong trường hợpnày tuy không mắc bệnh nhưng kháng thể kháng vi rút VNNB vẫn xuất hiện ởmáu ngoại vi.
1.3.2 Đáp ứng miễn dịch
Kháng thể kháng vi rút VNNB được tạo ra sau nhiễm tự nhiện hoạctiêm phòng vắc xin.Trong tự nhiên hoạt động của hệ thống miễn dịch thườngxẩy ra trước khi có triệu chứng lâm sàng
Sau khi nhiễm vi rút có ít nhất 3 loại kháng thể được tạo ra đó là khángthể ức chế ngưng kết hồng cầu, kháng thể kết hợp bổ thể và kháng thể trunghòa các kháng thể được đăt tên theo hiện tượng dùng để phát hiện ra nó trên Invitro nhưng về bản chất kháng thể là các globulin miễn dịch gồm 5 lớp: Ig A,
Ig D, IgE, IgG, IgM Trong đó IgM và IgG chiếm tỷ lệ chủ yếu trong dịch thể
IgM xuất hiện sớm sau khi nhiễm vi rút và tồn tại khoảng 30 đến 90ngày tùy theo nhiễm tiên phát hay nhiễm thứ phát Sự có mặt của IgM trongmáu là bằng chứng của sự mới niễm vi rút
Bình thường trong dịch não tủy không có IgM nó chỉ qua hàng rào máunão để thực hiện chức năng bảo vệ Do vậy sự xuất hiện được IgM trong dịchnão tủy là tiêu chuẩn vàng trong chuẩn đoán bệnh VNNB Khi phát hiện IgMhiệu kháng vi rút ở trẻ dưới 1 tuổi là bằng chứng phản ứng bảo vệ của cơ thểkhông phải kháng thể do mẹ truyền
1.4 ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG
Trang 7Sau khi vi rút VNNB xâm nhập vào cơ thể tùy vào sự đápứng miễn dịch của cơ thể, trên lâm sàng có thể gặp các thể điểm hình, thể cụt,thể ẩn.
1.4.1 Thể điểm hình: diễn biến của bệnh theo 4 giai đoạn
- Thời kỳ nung bệnh: kéo dài 5 đến 14 ngày, trung bình 7 ngày
- Thời kỳ khởi phát: 1 – 2 ngày với triệu chứng sốt cao 39-40 C.Hội chứng màng não, rối loạn ý thức từ nhẹ đến nặng
- Thời kỳ toàn phát: từ ngày thứ 3-4 đến ngày thứ 6-7 của bệnh,các triệu chứng ngày càng nặng thêm bệnh nhân đi vào mê sảng, kích thíchdần dần đi vào hôn mê sâu Xuất hiện các dấu hiệu tổn thương não, thần kinhkhu trú Bệnh nhân cuồng sảng, ảo giác tăng trương lực cơ làm cho bệnh nhânnằm co quắp Bệnh nhân có nguy cơ tử vong cao trong giai đoạn này( trongkhoảng 7 ngày) nếu vượt qua được giai đoạn này bệnh có tiên lượng tốt
- Thời kỳ lui bệnh: thông thường bước sang tuần thứ 2 bệnh nhân
sẽ đỡ dần, nhiệt độ giảm từ sốt cao xuống sốt nhẹ có thể hết sốt từ ngày thứ 10nếu không có bội nhiễm vi khuẩn khác Cùng với nhiệt độ mạch cũng giảm dần,nhịp thở không còn rối loạn, hội chứng não- màng não cũng dần dần mất.Tuynhiên các tổn thương thần kinh khu trú ngày càng rõ rệt hơn bệnh nhân có thểxuất hiện liệt chi, liệt các dây thần kinh sọ não hoạc rối loạn sự phối hợp vậnđộng
1.4.2 Thể cụt
Chỉ có hội chứng nhiễm trùng, nhiễm độc( sốt cao, xung huyết da, niêmmạc, nhức đầu), ngoài ra không có triệu chứng gì của hội chứng màng não
1.4.3 Thể ẩn
Trang 8Không phải trường hợp nào bị vi rút xâm nhập vào cơ thể cũng gây bệnh,người ta thấy sau các vụ dịch số người không mắc bệnh mà vẫn có đáp ứng miễndịch chiếm tỷ lệ rất cao( gấp hàng trăm lần số người mắc) đó là thể ẩn.
Trang 91.5 CHẨN ĐOÁN BỆNH
1.5.1 Trường hợp nghi VNNB
Một trường hợp nghi VNNB là bất kỳ một trường hợp nào có triệu
chứng Sốt đột ngột tại bất cứ thời điểm nào trong năm và có MỘT hoặc
NHỮNG triệu chứng sau:
Thay đổi tình trạng tinh thần (bao gồm các dấu hiệu như nhầm lẫn, mấtphương hướng, hôn mê hoặc khả năng nói bị thay đổi)
Rối loạn vận động (co giật, co cứng, cử động bất thường, liệt)
(Cần phân biệt dấu hiệu co giật này với co giật do sốt đơn thuần ( ở trẻ
từ 6 tháng đến dưới 6 tuổi xảy ra trong vòng 15 phút và hồi phục ý thức sau
co giật 1 giờ)
1 Chẩn đoán ca bệnh: Các trường hợp nghi VNNB theo định
nghĩa trên sẽ được chẩn đoán xác định hoặc loại bỏ theo các tiêu chuẩn sau:
- Chẩn đoán VNNB xác định: Một trường hợp nghi ngờ VNNB
được lấy mẫu bệnh phẩm dịch não tủy và/hoặc huyết thanh đúng quy định cókết quả chẩn đoán IgM dương tính bằng phương pháp MAC-ELISA
- Loại bỏ không phải là VNNB: Một trường hợp nghi ngờ
VNNB được lấy mẫu bệnh phẩm dịch não tủy và/hoặc huyết thanh đúng quyđịnh có kết quả chẩn đoán IgM âm tính bằng phương pháp MAC-ELISA
- Không rõ: Một trường hợp nghi ngờ VNNB mà không lấy được
mẫu bệnh phẩm dịch não tủy hoặc huyết thanh hoặc mẫu bệnh phẩm khôngđúng quy định hoặc kết quả xét nghiệm IgM không rõ
Ngoài phương pháp MAC-ELISA tìm IgM còn có nhiều phương pháp
chẩn đoán khác: phân lập vi rút VNNB từ dịch não tủy hoặc huyết thanh, PCR phát hiện bộ gene vi rút VNNB, phát hiện kháng thể IgG (trong trường hợp này hiệu giá kháng thể đặc hiệu với vi rút VNNB tăng 4 lần hoặc cao hơn trong huyết thanh giai đoạn hồi phục so với giai đoạn cấp tính.
Trang 10Sơ đồ chẩn đoán viêm não Nhật Bản
Ghi chú: Phần lớn nhiễm VNNB là thể ẩn, vì thế ở những nơi lưu hành
nặng bệnh VNNB có thể có trường hợp hội chứng não cấp do nguyên nhânkhác không phải vi rút VNNB và có kháng thể IgM đặc hiệu với vi rút VNNB
Loại bỏ (không phải VNNB)
Kết quả xét nghiệmIgM âm tính
Kết quả xét nghiệmIgM dương tính Chẩn đoán xác định
Kết quả xét nghiệm
Có mẫu bệnhphẩm (huyếtthanh, dịchnão tủy)KHÔNG đúngquy định
Không rõ
Không có mẫu
Trang 11trong huyết thanh Để tránh chẩn đoán VNNB thể ẩn là nguyên nhân của hộichứng não cấp, khuyến nghị thu thập và xét nghiệm dịch não tủy của tất cảbệnh nhân hội chứng não cấp nếu có thể là cần thiết và được coi là tiêu chuẩnvàng trong chẩn đoán VNNB.
1.6 NGUYÊN TẮC ĐIỀU TRỊ
Đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu Chủ yếu là điều trị triệuchứng, chống phù nề não, chống bội nhiễm Các biến chứng nhiễm khuẩnđường hô hấp, tránh ứ đọng đầm dãi, thông thoáng đường hô hấp, chống suy
hô hấp Điều trị các biết chứng nhiễm khuẩn, loét, di chứng
1.7 QUÁ TRÌNH DỊCH
1.7.1 Ổ chứa vi rút
Ổ chứa virút tiên phát quan trọng nhất trong thiên nhiên là các loài
chim, dơi có thể gặp ở một số loài bò sát Ổ chứa virút thứ cấp là súc vật nuôi
gần người, quan trọng nhất là lợn, sau đó là các súc vật khác như trâu, bò, dê,cừu, chó, khỉ [ ]
Chu trình chim - muỗi của virút VNNB cũng được coi 1à quan trọngtrong việc duy trì và phát triển virút VNNB trong thiên nhiên Thời giannhiễm virút huyết thường xảy ra ngay sau khi bị nhiễm virút VNNB của cả 2loài chim hoang dại và chim nuôi trong nhà [ ]
Chu trình lợn – muỗi rất quan trọng không chỉ để duy trì virút VNNBtrong thiên nhiên mà còn là nguồn virút VNNB quan trọng nhất lây sangngười [ ], bởi vì :
Chỉ số lợn bị nhiễm virút VNNB trong thiên nhiên cao hơn cả
Sự xuất hiện virút VNNB trong máu lợn thường xảy ra ngay sau khi lợn
bị nhiễm virút
Trang 12Thời gian nhiễm virút huyết ở lợn kéo dài từ 2 đến 4 ngày với hiệu giá
virút VNNB trong máu đủ để gây nhiễm cho muỗi Culex (Cx.)
tritaeniorhynchus
Sự lây truyền của virút VNNB từ lợn sang lợn đã được thử nghiệm
bằng muỗi Cx tritaeniorhynchus nuôi trong phòng thí nghiệm
Muỗi Cx tritaeniorhynchus ưa thích hút máu lợn trong thiên nhiên
Số lượng lớn quần thể lợn cảm nhiễm mới từ 6-8 tháng tuổi được thaythế hàng năm cho lò mổ
1.7.2 Véc tơ truyền bệnh
Cho đến nay vi rút VNNB đã được phân lập từ khoảng 30 loại muỗithuộc 5 giống Culex, Anopheles, Aedes, Mansonia và Amergeres; trong đóCulex đặc biệt la Culex tritaeniorhynchus là vec tơ cính truyền vi rút VNNB ởViệt Nam
1.8 ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ HỌC
1.8.1 Sự phân bố theo vùng địa lý
Vi rút VNNB được xác định chủ yếu lưu hành ở các vùng nông thôn,đồng bằng và miền núi ở châu Á bao gồm Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên,
Ấn Độ, hầu hết các nước Đông Nam châu Á và miền Bắc nước Úc Cho đếnnay chưa phát hiện được vi rút VNNB ở châu Âu, châu Mỹ và Châu Phi mặc
dù châu lục này cũng có đặc điểm sinh thái như trồng lúa nước, nuôi lợn vàmuỗi Culex
Ước tính có khoảng 50% dân số thế giới đang sống trong vùng lưuhành vi rút VNNB, với sự lan rộng cuarvi rút VNNB đến những vùng địa lýmới, bệnh VNNB đang trở thành vẫn đề y tế trên toàn cầu Theo số liệu thống
kê hàng năm có 50.000 trường hợp mắc VNNB và khoảng 10.000 người tửvong Trong những năm gần đây hình ảnh dịch tễ và sự phân bố địa lý của
Trang 13VNNB đã có sự thay đổi do kết quả của chương trình tiêm chủng quốc giaphòng chống VNNB tác động đến số ca bệnh đã được khống chế thành công
ở một số nước Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, ngược lại bệnh VNNB vẫncòn là vẫn đề y tế cần quan tâm đối với các nước nghèo trong khu vực châu Á
do tỷ lệ bao phủ vắc xin cho trẻ em còn thấp
Ở Việt Nam, bệnh VNNB được ghi nhận từ năm 1952, vụ dịch VNNBVào mùa hè năm 1959 ở miền Bắc đã được xác định là do vi rút VNNB Năm
1964 chủng vi rút VNNB được phân lập lần đầu tiên từ não tử thi 1 bệnh nhânsống ở Đông Anh ngoại thành Hà Nội, chủng vi rút được ký hiệu là HN-60,được xác định thuộc gentype 3 Trước năm 1995 hàng năm ước tính cókhoảng 2.000 đến 3.000 bị hội chứng não cấp trong đó vi rút VNNB lànguyên nhân hàng đầu gây lên bệnh, tuy nhiên trong khoảng 15 năm gần đâyvới việc tăng cường sử dụng vắc xin VNNB để phòng bệnh đã làm thay đổi rõràng về mặt dịch tễ học bệnh VNNB Tỷ lệ xác định VNNB trong các trườnghợp hội chứng não cấp đã giảm xuống dưới 10% ở những nơi đã được tăngcường sử dụng vắc xin phòng bệnh
Vi rút VNNB được xác định lưu hành ở hầu hết các tỉnh đồng bằng, miềnnúi, trung du ở Việt Nam Các ổ dịch phần lớn tập trung tại các vùng đồng bằngtrồng lúa nước hoạc vùng bán sơn địa ở miền Bắc Việt Nam như: Thái Bình,Bắc Ninh, Hải Dương, Ninh Bình, Hải Phòng và ngoại thành Hà Nội…
Điện Biên là tỉnh đã ghi nhận có các trường hợp mắc vi rút VNNB, với
tỷ lệ mắc viêm não vi rút/100.000 dân thường dao động từ 11,1 đến 18,2.Thực trạng hoạt động giám sát trước đây chủ yếu dựa vào giám sát lâm sàngthông qua chế độ giám sat khoa bệnh truyền nhiễm hàng tuần của hệ thốngcán bộ y tế Dự phòng Từ năm 2014 các trường hợp bị hội chứng não cấp đãđược lấy huyết thanh và dịch não tủy gửi về Viện VSDTTW xét nghiệm cho
Trang 14kết quả năm 2015 là 18/36 mẫu dương tính với vi rút VNNB Vắc xin VNNBđược đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng tại tỉnh Điện Biên cho trẻ từ
1 đến 5 tuổi từ năm 2005
1.8.2 Mùa dịch
Dịch VNNB bùng phát trong những điều kiện sinh thái nhất định phùhợp cho sự phát triển của các loại muỗi Culex với mật độ cao Do vậy bệnhVNNB xẩy ra thành dịch vào mùa hè ở những vùng cận nhiệt đới như NhậtBản, Hàn Quốc, miền Bắc Việt Nam, miền Bắc Thái Lan, còn ở các vùngnhiệt đới các trường hợp VNNB xẩy ra rải rác quanh năm như Malaysia, Ấn
Độ, miền Nam Việt Nam
Ở Việt Nam số liệu thống kê về ca bệnh VNNB thường được nhómchung với các trường hợp có chẩn đoán lâm sàng là viêm não vi rút Do điềukiện địa lý và sinh thái khác nhau giữa các vùng miền, nên phần lớn cáctrường hợp VNNB được ghi nhận ở miền Bắc tập chung chủ yếu vào mùahè( tháng 5, 6 và 7 với tỷ lệ dương tính cao nhất vào tháng 6) Còn ở miềnTrung, Tây Nguyên cũng có tính chất theo mùa nhưng sớm hơn miền Bắc Tỷ
lệ dương tính cao vào tháng 4 ở miền Trung và tháng 5 ở Tây Nguyên Còn ởmiền Nam các trường hợp VNNB xẩy ra rải rác quanh năm
1.9 CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG BỆNH
Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu bệnh VNNB nên điều trị triệuchứng là chủ yếu Do đó phòng bệnh VNNB là biện pháp tốt nhất, chúng ta cóthể cắt đứt một trong ba mắt xích của dây truyền dịch tễ đó là: Ổ chứa virút( chim, lợn…), véc tơ truyền bệnh( các loại muỗi Culex) và đối tượng cảmnhiễm( người)