BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾTRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NGUYỄN MẠNH KIÊN PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ MỘT SỐ STR MARKER TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH MỘT SỐ LỆCH BỘI NHIỄM SẮC THỂ Chuyên ngành : Y Sinh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI
NGUYỄN MẠNH KIÊN
PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ MỘT SỐ STR MARKER
TRONG CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH MỘT SỐ LỆCH BỘI NHIỄM SẮC THỂ
Chuyên ngành : Y Sinh học Di truyền
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS.BS Đoàn Thị Kim Phượng PGS.TS Trần Đức Phấn
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Polymerase Chain ReactionQuantiative Fluorescence- Polymerase Chain ReactionRibonucleic Acid
Short Tandem RepeatTheramus aquaticus
Trang 3MỤC LỤC
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Trang 6Dị tật bẩm sinh là một trong những bất thường hay gặp ở thai nhi và trẻ
sơ sinh Tại các nước đang phát triển, ước tính có khoảng 4 triệu trẻ sinh ra có
dị tật bẩm sinh [1] Trong đó bất thường nhiễm sắc thể là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng gây ra dị tật bẩm sinh Một số hội chứng bất thườngnhiễm sắc thể hay gặp như: hội chứng Down, hội chứng Edwards, hội chứngPatau và một số hội chứng bất thường nhiễm sắc thể giới như Klinefelter,Turner Các bất thường bẩm sinh này là nguyên nhân gây tử vong và bệnh tậttrong những năm đầu sau sinh, không chỉ để lại hậu quả nặng nề và thiệt thòilớn cho trẻ, mà còn là gánh nặng lớn cho gia đình và xã hội Bất thườngnhiễm sắc thể chiếm khoảng 15% các dị tật bẩm sinh được chẩn đoán trước 1tuổi ở châu Âu, và liên quan đến 25% tử vong chu sinh do dị tật bẩm sinh [2].Hiện nay việc điều trị và khắc phục hậu quả cho những hội chứng này còn rấtnhiều khó khăn, do đó việc phòng bệnh và chẩn đoán sớm các dị tật bẩm sinhthời kỳ phôi thai là một việc hết sức quan trọng và cấp thiết để có thể giảmbớt gánh nặng tâm lý và kinh tế cho gia đình và xã hội
Gần đây, người ta đã phát hiện ra các trình tự lặp lại ngắn STR (shorttandem repeat) có tính đa hình cao ở một số locus nhất định trên nhiễm sắc thể
số 13, 18, 21, X, Y Nhờ đó khi tiến hành phản ứng nhân gen những locus này,chúng ta có thể xác định được số lượng các alen trên hình ảnh điện di Do bấtthường số lượng alen tương ứng với bất thường các nhiễm sắc thể nên phươngpháp này có thể ứng dụng để chẩn đoán các hội chứng bất thường số lượngnhiễm sắc thể một cách nhanh chóng và chính xác mà không cần phải nuôi cấy
tế bào Kỹ thuật QF-PCR được gọi là phản ứng chuỗi polymer huỳnh quangđịnh lượng dùng để khuếch đại các đoạn STR, mỗi một nhiễm sắc thể sẽ đượckhảo sát trên nhiều locus STR khác nhau, nhờ đó tính chính xác của kỹ thuật
Trang 7được nâng lên rất cao Nhiều kit phản ứng đã được thương mại hóa, mỗi kit này
có thể sử dụng các marker STR khác nhau đặc trưng cho mỗi nhiễm sắc thểđược khảo sát Tuy nhiên, chủ yếu những kit này được sản xuất tại nước ngoài
và các STR được đưa vào sử dụng chủ yếu được nghiên cứu từ các chủng tộcthuộc châu Âu, châu Mỹ Do đó giá trị của việc sử dụng các marker này trênngười Việt Nam cần được đánh giá thực tiễn Bên cạnh đó, mỗi locus STRđược lựa chọn có những đặc điểm riêng về tính đa hình, hiện tượng dị/đồnghợp tử từ đó ảnh hưởng lớn đến việc phân tích kết quả và ý nghĩa chẩn đoán Vì
vậy tôi tiến hành đề tài “Phân tích giá trị một số STR marker trong chẩn
đoán trước sinh một số dị bội nhiễm sắc thể” với 2 mục tiêu:
Xác định tỷ lệ đồng hợp tử, dị hợp tử của các STR marker sử dụng trong kỹ thuật QF-PCR để chẩn đoán một số lệch bội nhiễm sắc thể.
Đánh giá giá trị của một số STR marker sử dụng trong kỹ thuật QF-PCR để chẩn đoán một số lệch bội nhiễm sắc thể.
Trang 8Về di truyền tế bào học, khoảng 92,5% trường hợp là thể ba nhiễm 21 thuần (47,XX,+21 hoặc 47,XY,+21) [6] Thể ba nhiễm này xảy ra do rối loạn sự phân ly cặp NST 21 trong quá trình tạo giao tử, karotyp của bố mẹ là bình thường Khoảng 2-3% trường hợp là thể khảm với 2 dòng tế bào, một dòng tế bào chứa 46 NST, một dòng tế bào chứa 47 NST, thừa NST số 21 [5] Khoảng2-4% trường hợp là thể chuyển đoạn [7], trẻ mắc hội chứng Down có 46 NST với 2 NST số 21 và NST 21 thứ 3 được chuyển đoạn với các NST tâm đầu khác, hay gặp là NST số 13, 14, 15 thuộc nhóm D hoặc 21, 22 thuộc nhóm G Triệu chứng lâm sàng trong những trường hợp này không khác gì so với thể
ba nhiễm 21 thuần Tuy nhiên bệnh có tính chất gia đình, bố hoặc mẹ của những đứa trẻ mắc hội chứng Down do chuyển đoạn có thể là những người bình thường nhưng mang NST chuyền đoạn cân bằng giữa NST 21 với các NST số 13, 14, 15 hoặc 21, 22 [5]
Về triệu chứng lâm sàng, hội chứng Down có những biểu hiện rất dễ nhận biết: đầu nhỏ, ngắn; mặt tròn, gốc mũi tẹt, khe mắt xếch, lưỡi to và dày, tai nhỏ, thấp; cổ ngắn, gáy phẳng rộng, bàn tay rộng, các ngón tay ngắn [8] Trẻ mắc hội chứng Down chậm phát triển trí tuệ, IQ thấp trung bình 30-50
Thường gặp dị tật tim (thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động mạch), dị tật tiêu hóa (hẹp tá tràng, không hậu môn và phình to đại tràng) Ngoài ra, hội chứng Down còn liên quan đến bệnh Alzheimer, bạch cầu cấp, tăng huyết áp…[7]
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ con mắc hội chứng Down tăng nhanh theotuổi mẹ, cơ chế liên quan đến đột biến này là do sự không phân ly của NST 21trong quá trình giảm phan tạo giao tử Bên cạnh đó, tuổi mẹ quá trẻ hoặc tuổi
bố cao cũng ảnh hưởng đến tần số sinh con Down [9] Các nguyên nhân khác
có thể kể đến đó là các rối loạn nhiễm sắc thể ở bố mẹ, các đột biến mới phát sinh và yếu tố môi trường
1.1.2 Hội chứng Edwards [ 5 ]
Trang 9Hội chứng thể ba nhiễm 18 được Edwards và cộng sự mô tả năm 1960 Tỷ lệ chung của bệnh là 1/4000-1/8000 trẻ sinh với tỷ lệ nam/nữ khoảng 1/3.
Về di truyền tế bào, 80% trường hợp là thể ba nhiễm thuần (47,XX,+18 hoặc 47,XY,+18) Khoảng 10% ở thể khảm và 10% ở thể chuyển đoạn hoặc thể ba nhiễm kép
Trẻ sinh ra nhẹ cân, thường đẻ non, có trán hẹp, sọ dài và to, khe mắt hẹp, tai thấp, ít quăn và nhọn, miệng bé, hàm nhỏ và lùi ra sau Bàn tay rất đặc biệt, ngóncái quặp vào lòng bàn tay, bàn tay nắm lại, ngón trỏ chùm lên ngón nhẫn Bàn chân vẹo Thường kèm theo dị tật ở tim, cơ quan sinh dục, thoát vị rốn Tiên lượng rất xấu, thường chết ngay sau khi đẻ hoặc chỉ sống trung bình khoảng 10 tuần Tuổi mẹ có ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng
Trẻ mắc hội chứng Patau có đặc điểm: đầu nhỏ, nhãn cầu nhỏ hoặc không có nhãn cầu, tai thấp và biến dạng, thường điếc, sứt môi hai bên, nứt khẩu cái, tâm thần vận động kém phát triển, thường kèm theo dị tật tim và ống tiêu hóa.Tiên lượng bệnh rất xấu, phần lớn chết trong năm đầu, các trường hợp khảm biểu hiện lâm sàng nhẹ hơn có thể sống lâu hơn
1.1.4 Một số hội chứng do lệch bội NST giới [ 5 - 10 ]
Hội chứng Turner
Monosomi NST X có một tỷ lệ chết cao ngay ở giai đoạn phôi thai (98-99%), chỉ một số nhỏ sống đến khi sinh Tần số trẻ em gái bị monosomi NST X lúc sinh là 1/3000
Về di truyền tế bào, 55% trường hợp có karyotyp là 45, X; 10% trường hợp ở dạng khảm, 20% trường hợp NST X đểu ở nhánh dài hoặc nhánh ngắn, 5% trường hợp do mất đoạn, 5% trường hợp NST X vòng, 5% trường hợp có NST Y như trường hợp khảm 45,X/46,XY
Về biểu hiện lâm sàng, trẻ gái có người thấp, chậm lớn, hàm nhỏ, cằm nhỏ, taithấp, mép xệ, tóc mọc thấp xuống tận gáy, cổ ngắn và rộng Cẳng tay cong ra ngoài, ngắn đốt bàn 4 và 5, da nhiểu nốt ruồi, móng tay giảm sản và lồi Trẻ nhi tính khi đã đến tuổi dậy thì, thường kèm theo dị tật tim mạch, tiết niệu và xương Thường thiểu năng trí tuệ nhẹ, có trường hợp bình thường Bệnh nhân thường vô sinh, một số trường hợp thể khảm nhẹ có thể có thai sinh con
Hội chứng Klinefelter
Trang 10Triệu chứng lâm sàng ở giai đoạn sơ sinh và trẻ nhỏ khó nhận biết vì không
có dị dạng quan trọng hoặc có những dị dạng không đặc hiệu như tinh hoàn lạc chỗ, lỗ đái lệch thấp Ở giai đoạn dạy thì, nhiều trường hợp người cao, chân tay dài, nhưng cũng có trường hợp có hình thái nam bình thường Các triệu chứng thường thấy là tinh hoàn không phát triển, 35-50% có chứng vú
to, giới tính nam kém phát triển, không râu, ít lông mu, dương vật bé, tình dụcgiảm Trí tuệ phát triển bình thường, có trường hợp suy giảm
Một số hội chứng khác như: Hội chứng 47,XYY; Hội chứng 47,XXX;…
1.2 Các phương pháp chẩn đoán trước sinh
1.2.1 Phương pháp di truyền tế bào
- Nuôi cấy tế bào và lập karyotyp là phương pháp truyền thống được
xem như tiêu chuẩn vàng trong phân tích rối loạn NST ở người Ứng dụng kỹthuật này vào chẩn đoán trước sinh bắt đầu được nghiên cứu và thực hiện vàonăm 1966 khi Steele và Breg báo cáo về nuôi cấy tế bào ối để xác định bộNST của thai Tế bào ối, máu cuống rốn hoặc gai nhau được đem nuôi cấy từ
3 – 14 ngày, sau đó sẽ dừng chu kỳ tế bào ở chu kỳ giữa dưới tạc động củacolchicin Tiến hành thu hoạch tế bào và trải lên lam kính, nhuộm băng rồiphân tích bộ NST bằng phần mềm chuyên dụng
- Kỹ thuật này có thể xác định các bất thường về số lượng và cấu trúcNST với độ chính xác rất cao, từ 99,4-99,8% và rất đáng tin cậy
- Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp này đó là thời gian trả kết quảkéo dài từ 14-21 ngày Điều này tạo ra tâm lý bất an kéo dài đối với thai phụ
và khiến việc chấm dứt thai kỳ nếu được chỉ định trở nên phức tạp và nguyhiểm hơn Bên cạnh đó, kỹ thuật này đòi hỏi tay nghề và chuyên môn cao củangười thực hiện
1.2.2 Phương pháp di truyền tế bào – phân tử (kỹ thuật lai tại chỗ huỳnh quang FISH)
Trang 11Phép lai tại chỗ đầu tiên được thực hiện vào năm 1969 bởi hai nhà khoahọc là Joseph Gall và Mary Lou Pardue Hai người đã công bố một công trìnhchứng minh các bản sao gắn phóng xạ của DNA ribosome có thể được sửdụng để phát hiện các trình tự DNA bổ sung trong nhân tế bào Ngày nay, cácđầu dò huỳnh quang đã thay thế các đầu dò phóng xạ nhờ tính an toàn, dễphát hiện và độ ổn định cao Trên thực tế, đa số các kỹ thuật lai tại chỗ hiệnnay đều sử dụng phép lai FISH Kỹ thuật FISH đã được ứng dụng rộng rãitrên thế giới trong nhiều lĩnh vực, một trong số đó là ứng dụng phát hiện cácbất thường lệch bội trong chẩn đoán trước sinh
FISH sử dụng một trình tự ngắn của chuỗi DNA sợi đơn được đánh dấuhuỳnh quang, gọi là DNA dò DNA dò được lai với các DNA đích trên NSTcủa tế bào gian kỳ hoặc ở kỳ giữa, sau đó phân tích kết quả dưới kính hiển vihuỳnh quang Kỹ thuật FISH có nhiều hạn chế như giá thành cao, đòi hỏi thiết
bị và chuyên môn cao của người đọc kết quả
1.2.3 Phương pháp di truyền phân tử - Kỹ thuật QF-PCR (Quantiative flourescence – polymerase chain reaction)
Khái niệm
QF-PCR là phản ứng chuỗi polymer hóa huỳnh quang định lượng dùng để khuếch đại các đoạn STR (Short tandem repeat) trên DNA của bộ gen Sản phẩm khuếch đại được đánh dấu bằng tín hiệu huỳnh quang và định lượng bằng điện di mao quản
STR là những trình tự có kích thước nhỏ, thường dưới 1000 base, tạo nên bởi các trình tự lõi khoảng 2-4 base lặp lại nhiều lần (từ 10-60 lần) STR có tính
đa hình cao, phân bố khắp trong bộ gen, số lần lặp lại đặc trưng cho từng cá thể và di truyền cho thế hệ sau
Nguyên tắc phản ứng
Kỹ thuật QF-PCR được sử dụng để kiểm tra liều gen, ở đây là các đoạn STR đặc trưng cho các NST cần khảo sát (13, 18, 21, X và Y) Sản phẩm khuếch đại sau phản ứng PCR sẽ tỷ lệ trực tiếp với số lượng trình tự có trong mẫu banđầu Hình ảnh điện di huỳnh quang trên máy cho ta biết chiều dài cũng như sốlượng các trình tự STR đã được khuếch đại, từ đó khẳng định được số lượng của 1 NST có trong bộ gen ở mẫu ban đầu
Trang 12(chiều dài đoạn gen) và vị trí trên trục tung biểu hiện cho nồng độ sản phẩm [11] Trường hợp số lượng của 1 NST trong bộ gen là 2 Mỗi STR đặc trưng cho NST đó có 2 alen Nếu 2 alen này đồng hợp tử, hình ảnh điện di sẽ cho 1 đỉnh duy nhất, do 2 sản phẩm khuếch đại từ 2 alen này có cùng chiều dài của đoạn gen và cùng 1 nồng độ Nếu 2 alen là dị hợp tử, 2 sản phẩm khuếch đại tương ứng có chiều dài đoạn gen khác nhau và cùng nồng độ, do đó hình ảnh điện dicho 2 đỉnh tách biệt có cùng độ cao, gọi là tỷ lệ đỉnh 1:1.
Hình 1.1: Hai alen dị hợp tử
Trường hợp số lượng 1 NST trong bộ gen là 1, hình ảnh điện di tương ứng sẽ
là 1 đỉnh duy nhất
Trang 13Hình 1.2: Hình ảnh 1 alen của NST X, ở người có Karyotyp 46, XY.
Trường hợp số lượng 1 NST là 3 như trong các trường hợp lệch bội: hình ảnhđiện di cho tỷ lệ đỉnh là 1:1:1 nếu 3 alen đó là dị hợp (Trisomy triallelic), tỷ lệđỉnh là 1:2 hoặc 2:1 nếu 2 trong 3 alen là dị hợp (Trisomy diallenic) và cho 1 đỉnh duy nhất nếu cả 3 alen đồng hợp [12]
Hình 1.3: Ba alen dị hợp tử với tỷ lệ đỉnh 1:1:1
Trang 14Nghiên cứu di truyền quần thể
Các kit thương mại dựa trên STR marker để chẩn đoán lệch bội NST
Devyser Complete
Aneufast
Cybergene
Trang 15Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
`
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng là những mẫu dịch ối của các thai phụ có tiêu chuẩn sau:
Tuần thai ≥ 16 tuần
Kết quả sàng lọc nguy cơ cao các bất thường nhiễm sắc thể bằng các phương pháp Double/Triple test hoặc siêu âm, hoặc tiền sử sinh con dị tật
Đồng ý tham gia nghiên cứu
2.2 Địa điểm nghiên cứu: Bộ môn Y sinh học – Di truyền, Đại học Y Hà Nội 2.3 Thời gian nghiên cứu: Tháng 7/2016 đến tháng 7/2018.
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang.
2.4.2 Cỡ mẫu
Trong đó: n là cỡ mẫu cần thu thập
Z1-α/2 là độ tin cậy 95% với α = 0,05
p: tỷ lệ phát hiện alen của STR marker
Lấy p = 58,2%, là tỷ lệ phát hiện alen NST 13 của STR D13S797 theo nghiên cứu của Hoàng Thị Ngọc Lan (2016)
ε: là khoảng cách sai lệch mong muốn (lấy 8%)
Trang 16Máy đo nồng độ DNA NanoDrop
Thu hoạch sau 2tuần Tách chiết DNA
Đối chiếu kết quả
Đánh giá giá trị củaphương pháp QF-
PCRĐánh giá giá trị của
các marker STR
Trang 17Máy PCR
Máy đọc trình tự tự động Applied Biosystems 3500xL
2.5.2 Hóa chất
Hóa chất tách chiết DNA
Hóa chất sử dụng cho phản ứng QF-PCR: Bộ Kit Devyser Complete v2
Hóa chất điện di huỳnh quang: Hi-Di Formamide, GeneScan 600 Liz Size
2.6 Kỹ thuật sử dụng trong phương pháp QF-PCR
Giai đoạn tổng hợp (kéo dài chuỗi): 720C, Enzyme Taq polymerase điều khiển
sự gắn tiếp các nucleotid vào đoạn DNA theo nguyên tắc bổ sung với sợi đơn DNA làm khuôn
Trang 18Sơ đồ chu tình nhiệt:
Các marker STR được khuếch đại bằng bộ kit Devyser Complete:
Gồm 36 marker được chia làm 2 Mix:
Mix 2
13E D13S800 13q22.1 180-230 Vàng13F D13S252 13q12.2 255-320 Xanh18D-2 D18S386 18q22.1 338-430 Lục18G D18S1002 18q11.2 325-380 Xanh
Trang 1918J D18S976 18p11.31 430-487 Vàng21G D21S1446 21q22.3 430-490 Lục21H D21S1442 21q21.3 362-420 Vàng21J D21S2055 21q22.2 385-485 XanhX1 DXS1187 Xq26.2 120-170 LụcX2 DXS981 Xq13.1 262-300 LụcX3 XHPRT Xq26.2-26.3 265-308 VàngX9 DXS2390 Xq27.1-q27.2 312-357 Vàng
XY2 DXYS267 Xq21.31 175-217 Xanh
Yp11.31XY3 DXYS218 Xp22.33 215-260 Lục
Yp11.32AMEL AMELX Xp22.2 X = 104 Xanh
AMELY Yp11.2 Y = 110ZFYX ZFY Yp11.31 151-160 Vàng
ZFX Xp22.11SRY SRY Yp11.31 233 XanhT1 Xq137q34 X = 2007 = 179 Lục
T3 Xq21.13p24.2 X = 1373 = 133 Xanh
2.6.4 Điện di trên máy ABI 3500XL
2.6.5 Phân tích kết quả
Kết quả điện di thu được phân tích bằng phần mềm Genmapper
Phân tích kết quả dựa theo Guideline của tổ chức Di truyền tế bào học lâm sàng (ACC) và Hội di truyền phân tử lâm sàng (CMGS) năm 2012
- Phân biệt các marker đồng hợp và dị hợp:
Một marker đồng hợp khi marker đó chỉ biểu thị bởi 1 peak và được xem như không có ý nghĩa chẩn đoán
Một marker dị hợp khi nó được biểu thị bởi 2 peak có vị trí phân biệt trên trụchoành (chiều dài 2 alen khác nhau) và có diện tích vùng (peak area) giống nhau
- Tiêu chí xác định mẫu bình thường/bất thường:
Để khẳng định kết quả bình thường đối với 1 NST cần có ít nhất 2 marker của NST đó cho kết quả bình thường và tất cả các marker còn lại của NST đó không
Trang 20Để khẳng định một kết quả bất thường đối với 1 NST cần ít nhất 2 marker củaNST đó cho kết quả bất thường và tất cả các marker còn lại của NST đó không xác định Một marker cho kết quả bất thường khi nó được biểu thị bởi
2 peak khác nhau về chiều cao/diện tích và tỷ lệ peak là 1:2 hoặc 2:1, hay khi
nó được biểu thị bởi 3 peak có cùng chiều cao/diện tích và tỷ lệ peak là 1:1:1
Tỷ lệ peak được tính toán dựa trên tỷ lệ diện tích vùng dưới đường cong của mỗi peak (peak area) và được phân loại theo bảng sau:
Đối với marker có 2 peak:
Bảng 2.2 Đối với marker có 2 peak
Đối với marker có 3 peak:
Bảng 2.3 Đối với marker có 3 peak
Trang 211.7 Kỹ thuật sử dụng trong phương pháp di truyền tế bào
1.7.1 Nuôi cấy tế bào
- Chuẩn bị môi trường nuôi cấy
- Đặt các tube nuôi cấy trong tủ ấm 370C, thời gian 48 hoặc 72h
- Cho dung dịch colcemid hoặc colchicin vào lọ nuôi cấy trước khi thu hoạch2h để làm dừng các tế bào đang phân chia ở kỳ giữa
1.7.2 Các bước thu hoạch tế bào
- Sau khi ly tâm loại bỏ dung dịch nổi phía trên để lại phần cặn tế bào rồi chodung dịch nhược trương (KCl 0,075M) vào để phá vỡ màng tế bào
- Sau khi dùng sốc nhược trương, ly tâm loại bỏ dịch nổi phía trên để lại phầncặn tế bào Phần căn tế bào được định hình bằng dung dịch carnoy Bước địnhhình tế bào được lặp lại 3 lần
- Sau khi ly tâm loại bỏ dịch nổi ở phía trên để lại phần cặn tế bào, tế bào đượctrộn đều và dàn lên tiêu bản để nhuộm băng
2.7.3 Phân tích tiêu bản nhiễm sắc thể
- Chụp hình các cụm NST dưới kính hiển vi bằng hệ thống camera cókết nối máy tính
- Lập karyotyp và phân tích bất thường NST với phần mềm phân tíchIkaros analysis
- Kết luận về bộ NST của mẫu dịch ối
2.8 Xử lý và phân tích số liệu: Bằng phần mềm SPSS 16.0
2.9 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành sau khi được phép của hội đồng đạo đức trường Đại học Y Hà Nội
Trang 22Các đối tượng thai phụ tham gia nghiên cứu hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện.
Các thông tin thu thập trên bệnh nhân được hoàn toàn giữ bí mật và chỉ sự dụng cho mục đích nghiên cứu, tư vấn cho thai phụ, không nhằm mục đích nào khác
Trang 23Chương 3
DỰ KIẾN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng
3.2.1 Tỷ lệ dị hợp tử, đồng hợp tử của các marker STR đối với NST 13
Bảng 3.2: Tỷ lệ dị/đồng hợp tử của các marker đối với NST 13