Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Phân tích các quy phạm pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Từ thực tế áp dụng, đánh giá quy định pháp luật về quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu. Chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật, nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả áp dụng của pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất khẩu trên thực tiễn. Từ thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện. Đề xuất các giải pháp mang tính chất cụ thể nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong các quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Phân tích các quy phạm pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Từ thực tế áp dụng, đánh giá quy định pháp luật về quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu. Chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật, nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả áp dụng của pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất khẩu trên thực tiễn. Từ thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện. Đề xuất các giải pháp mang tính chất cụ thể nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong các quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Phân tích các quy phạm pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Từ thực tế áp dụng, đánh giá quy định pháp luật về quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu. Chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật, nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả áp dụng của pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất khẩu trên thực tiễn. Từ thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện. Đề xuất các giải pháp mang tính chất cụ thể nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong các quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Phân tích các quy phạm pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Từ thực tế áp dụng, đánh giá quy định pháp luật về quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu. Chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật, nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả áp dụng của pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất khẩu trên thực tiễn. Từ thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện. Đề xuất các giải pháp mang tính chất cụ thể nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong các quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Phân tích các quy phạm pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu. Từ thực tế áp dụng, đánh giá quy định pháp luật về quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu. Chỉ ra những bất cập còn tồn tại trong các quy định của pháp luật, nguyên nhân làm hạn chế hiệu quả áp dụng của pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất khẩu trên thực tiễn. Từ thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu, đưa ra định hướng, kiến nghị hoàn thiện. Đề xuất các giải pháp mang tính chất cụ thể nhằm khắc phục những thiếu sót, hạn chế trong các quy định pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ NGỌC DIỆP
HOµN THIÖN PH¸P LUËT QU¶N Lý THUÕ
§èI VíI HO¹T §éNG XUÊT NHËP KHÈU ë VIÖT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2HÀ NỘI - 2018
Trang 3ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ NGỌC DIỆP
HOµN THIÖN PH¸P LUËT QU¶N Lý THUÕ
§èI VíI HO¹T §éNG XUÊT NHËP KHÈU ë VIÖT
NAM
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN AM HIỂU
Trang 4HÀ NỘI - 2018
Trang 5LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đặng Thị Ngọc Diệp
Trang 6Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ
1.1 Khái quát chung về hoạt động xuất nhập khẩu và pháp luật
thuế với hoạt động xuất nhập khẩu 8
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động xuất nhập khẩu 8
1.1.2 Các loại thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu 10
1.1.3 Pháp luật thuế với hoạt động xuất nhập khẩu 16
1.2 Khái quát chung về pháp luật quản lý thuế với hoạt động
xuất nhập khẩu17
1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu
171.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động
xuất nhập khẩu 18
1.2.3 Vai trò của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất
nhập khẩu20
1.3 Cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN 22
1.3.1 Lịch sử ra đời của Cơ chế một cửa Quốc gia và Cơ chế một
cửa ASEAN 22
1.3.2 Khái niệm cơ chế một cửa ASEAN và cơ chế một cửa Quốc gia
23
Trang 71.3.3 Quy trình thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một
cửa Quốc gia và ASEAN 23
1.3.4 Lợi ích khi triển khai cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một
cửa ASEAN 24
1.4 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về quản lý thuế
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 26
1.4.1 Kinh nghiệm về hiện đại hóa thủ tục hải quan của Hải quan New
Zealand 26
1.4.2 Kinh nghiệm về chống thất thu thuế của hải quan Hàn Quốc 281.4.3 Kinh nghiệm của Hải quan Malaysia 29
Tiểu kết chương 1 31
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI
2.1 Chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật quản lý thuế trong
lĩnh vực xuất nhập khẩu hàng hóa 32
2.1.1 Cơ quan quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu 32
2.1.2 Đối tượng nộp thuế với hoạt động xuất nhập khẩu 36
2.2 Nội dung cơ bản về thủ tục quản lý thuế đối với hoạt động
xuất nhập khẩu39
2.2.1 Quản lý thông tin người nộp thuế 39
2.2.2 Quy định về quản lý thu nộp thuế 41
2.2.3 Quản lý nợ thuế 57
2.2.4 Quản lý miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế 61
2.2.5 Thanh tra, kiểm tra thuế và xử lý vi phạm pháp luật về thuế 642.2.6 Giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế 66
2.3 Thực tiễn triển khai thực hiện Cơ chế một cửa Quốc gia và
Trang 8cơ chế một cửa ASEAN 68
Tiểu kết chương 2 71
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
QUẢN LÝ THUẾ TRONG LĨNH VỰC THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM 72
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý
thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu 72
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế đối với
hoạt động xuất nhập khẩu 74
3.2.1 Đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước 74
3.2.2 Phù hợp với chương trình cải cách hành chính, hiện đại hóa
ngành Hải quan 75
3.2.3 Đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và thực hiện các cam
kết quốc đã tham gia 77
3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản lý nhà nước đối
với hoạt động xuất nhập khẩu 78
3.3.1 Nhóm giải pháp mang tính chất chung 78
3.3.2 Nhóm giải pháp mang tính chất cụ thể 82
KẾT LUẬN CHUNG 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Chữ viết tắt Tên đầy đủ
2 C/O Giấy Chứng nhận xuất xứ nguồn gốc hàng hóa
3 FTA Hiệp định thương mại tự do
4 GTGT Giá trị gia tăng
6 NSNN Tổ chức thương mại thế giới
7 NSW Cơ chế một cửa Quốc gia
8 TPP Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
9 WTO Tổ chức thương mại thế giới
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong hơn 30 năm đổi mới (1986 – 2018) nền kinh tế - xã hội của ViệtNam đang ngày càng phát triển mạnh mẽ Trong đó hội nhập kinh tế quốc tế
là nội dung quan trọng xuyên suốt quá trình đổi mới của đất nước Mở đầucho tiến trình hội nhập là việc Việt Nam gia nhập Hiệp hội các quốc gia ĐôngNam Á(ASEAN) vào tháng 7/1997, trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN.Đến nay, Việt Nam đã là thành viên của Tổ chức thương mại thế giới WTO và
ký kết thành công 12 Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việc Việt Nam gianhập WTO vào tháng 11/2006 đã đánh dấu bước hội nhập toàn Việt Nam vớinền kinh tế thế giới Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trongnhững năm qua đã chứng minh hội nhập kinh tế thế giới có vai trò vô cùngquan trọng đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam
Hội nhập kinh tế quốc tế là đòn bẩy để Việt Nam phát huy nội lực củanền kinh kế đất nước, tạo cơ hội giao lưu học hỏi công nghệ của các nướcđang phát triển và thu hút được lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài từ đó thúcđẩy nền sản xuất trong nước phát triển, đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩuhàng hóa, hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đặcbiệt đối với hoạt động xuất nhập khẩu (XNK), hội nhập kinh tế đã mở đườngcho hoạt động XNK ở Việt Nam ngày càng tiến xa hơn trên thị trường quốc
tế Có thể thấy kim ngạch XNK của Việt Nam tăng cao và có sự thay đổi rõrệt kể từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO cho đến nay Hoạt động XNKphát triển mạnh không chỉ góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, tạo thêm công ănviệc làm cho xã hội mà còn tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước.Nguồn thu cho ngân sách nhà nước có được từ hoạt động XNK chủ yếu là từthu thuế với hoạt động XNK Việc đánh thuế với hoạt động xuất nhập khẩukhông chỉ để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước mà còn là công cụ để nhà
Trang 11nước quản lý kinh tế, bảo vệ lợi ích quốc gia, điều chỉnh các hoạt động kinh tếquốc tế Do đó hoạt động quản lý thuế nói chung và pháp luật quản lý thuế nóiriêng có vai trò vô cùng quan trọng với sự phát triển bền vững của đất nước.Pháp luật quản lý thuế hiện hành về cơ bản đã tạo được cơ sở pháp lý quantrọng để cơ quan quản lý thuế thực hiện nhiệm vụ thu thuế với hoạt độngXNK, đồng thời tạo được hành lang pháp lý cơ bản thống nhất chính sáchquản lý thu thuế và đồng bộ với các luật thuế áp dụng trong hoạt động XNK.
Tuy nhiên, đứng trước sự phát triển ngày càng mạnh mẽ, đa dạng vềhình thức, chủng loại hàng hóa của hoạt động xuất nhập khẩu cũng như yêucầu thực thi các cam kết quốc tế thì pháp luật quản lý thuế ở Việt Nam cònbộc lộ nhiều hạn chế như: Văn bản pháp luật quản lý thuế trong hoạt độngXNK thay đổi thường xuyên, nhiều quy định còn chưa rõ ràng, đồng bộ gâykhó khăn cho chủ thể quản lý thuế cũng như chủ thể nộp thuế, nhiều trườnghợp quy định pháp luật còn chồng chéo, gây nhầm lẫn, các quy định về quản
lý còn chưa hoàn thiện dẫn đến tình trạng trốn thuế, gian lận thuế, nợ đọngtiền thuế ngày càng gia tăng với thủ đoạn tinh vi phức tạp…
Để khắc phục được những hạn chế nêu trên của pháp luật quản lý thuếđối với hoạt động xuất nhập khẩu cũng như để pháp luật quản lý thuế đối vớihoạt động xuất nhập khẩu phù hợp với các cam kết quốc tế nhưng vẫn thựchiện được chức năng bảo hộ nền sản xuất trong nước, đảm bảo nguồn thu chongân sách nhà nước Đòi hỏi phải tiến hành nghiên cứu lý luận và thực tiễnđiều chỉnh pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu từ đó đưa
ra được các giải pháp hoàn thiện
Bên cạnh đó, trước yêu cầu thực hiện cơ chế một cửa quốc gia, thựchiện kết nối cơ chế một cửa ASEAN nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính,thu thuế nhanh, đầy đủ chính xác tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong quản
lý thuế XNK Ngành Hải quan, cơ quan chịu trách nhiệm chính trong việc tổ
Trang 12chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu (XK), hàng hóanhập khẩu (NK) đã và đang đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tintrong tất cả các lĩnh vực nghiệp vụ hải quan Tuy nhiên, các quy định về thủtục quản lý thuế, từ đăng ký thuế, khai thuế nộp thuế… trong Luật Quản lýthuế hiện hành về cơ bản được xây dựng theo phương pháp thủ công truyềnthống, gây cản trở việc thực hiện ứng dụng thông tin trong quản lý thuế nóichung và quản lý thuế XNK của ngành hải quan nói riêng Do đó để thực hiệnứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hải quan một cách toàn diện,nhanh chóng thì ngoài việc được đầu tư các trang thiết bị hiện đại còn cầnkhung pháp lý vững chắc để cơ quan hải quan áp dụng thống nhất đồng thờithúc đẩy người nộp thuế thực hiện thủ tục hải quan điện tử.
Nhận thức được tầm quan trọng của pháp luật quản lý thuế đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu luận văn cao học của
mình là: “Hoàn thiện pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam”.
2 Tình hình nghiên cứu
Đề tài về pháp luật thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu là đề tàiđược khá nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, các công trình nghiên
cứu có thể kể đến như: Pháp luật thuế: lý luận, lịch sử, thực trạng và so
sánh, Nguyễn Thị Lan Hương (2015); Giáo trình Luật Thuế Việt Nam, Đại
học Luật Hà Nội (2015); Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện Việt
Nam thực thi cam kết WTO, Ngô Khánh Phượng, Đại học Quốc gia Hà Nội
(2011); Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về trị giá tính thuế nhập khẩu trong
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ luật học Đỗ Văn Nhật; Cải cách thủ tục hành chính về thuế - Thực trạng và giải pháp, Hồ Thị
Hằng, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện nhà nước và pháp luật Hà Nội; Những
vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý thuế theo cơ chế tự khai tự nộp , của
Trang 13nghiên cứu sinh Vũ Văn Cương; Quản lý nhà nước trong lĩnh vực thuế xuất
nhập khẩu theo pháp luật Việt Nam, Trần Thu Trang (2012) Luận văn thạc sĩ
luật học; Pháp luật về quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và thực tiễn
thi hành tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn, Nông
Thị Phượng (2017) Luận văn thạc sĩ luật học; Pháp luật về quản lý thuế
trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thực trạng và phương hướng hoàn thiện,
Nguyễn Thị Kim Oanh (2010), Luận văn thạc sĩ luật học
Những luận văn trên đã đưa ra cái nhìn tổng quan về lý luận hoạt độngxuất nhập khẩu và lý luận pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Tuy
nhiên, chỉ có đề tài “pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
thực trạng và phương hướng hoàn thiện” Luận văn thạc sĩ luật học của tác
giả Nguyễn Thị Kim Oanh là tiến hành nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động
quản lý thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu Đề tài “pháp luật về quản lý
thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu thực trạng và phương hướng hoàn thiện”
của tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh đã phần nào làm rõ được lý luận pháp luật
về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, nghiên cứu thực tiễn đưa rađược điểm mạnh điểm yếu của pháp luật quản lý thuế trong lĩnh vực xuấtnhập khẩu Tuy nhiên đề tài trên được tác giả Nguyễn Thị Kim Oanh tiếnhành nghiên cứu vào năm 2010 do đó chủ yếu nghiên cứu và phân tích cácquy định của Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu 2005, Luật Quản lý thuế
2006, Luật Hải quan 2001, Luật Hải quan sửa đổi 2005 và các quy định trở vềtrước Trong thời gian từ năm 2010 đến nay pháp luật thực định và thực tiễn
về quản lý thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu đều có nhiều thay đổi Vớipháp luật thực định: Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu 2005 đã được thaythế bởi Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu 2016; Luật Hải quan 2001 đượcthay thế bởi Luật Hải quan 2014; Luật Quản lý thuế 2006 đã tiến hành sửa đổi
bổ sung năm 2013, 2014, 2016 Đặc biệt năm 2017 Luật Quản lý ngoại
Trang 14thương đã được ban hành và chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2018 Vềthực tiễn, bối cảnh kinh tế trong nước từ năm 2010 đến nay đã có rất nhiềuthay đổi mà nổi bật nhất là sự kiện Việt Nam đã ký kết thành công hiệp địnhđối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương(CPTTP) Vì vậy có thểthấy Đề tài vẫn đáp ứng được những yêu cầu về tính mới, tính cấp thiết so vớicác công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Ngoài ra, có một số bài viết nghiên cứu trên báo, tạp chí chuyên ngànhnhư: Thu Hòa, Thu Trang (2015), “Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu- nhữnghạn chế cần được sửa đổi”, Báo Hải Quan online; Ngọc Linh (2016), “Sẽ nângtầm nhiều thủ tục hành chính tại các Thông tư”, Báo Hải Quan online; Vũ VănCương, Vũ Ngọc Hà (2009), “Pháp luật về kiểm tra thanh tra thuế ở Việt Nam”,Tạp chí Luật học; Dương Hoàng Linh (2015), “Ảnh hưởng của hội nhập thuếquan đối với cơ cấu nhập khẩu”, Tài chính Việt Nam 2014 - 2015
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Đưa ra cái nhìn tổng quan nhất về xuất nhập khẩu, pháp luật quản lýthuế xuất nhập khẩu hiện nay ở Việt Nam Trên cơ sở đó tiến hành đánh giátình hình áp dụng pháp luật quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu trênthực tiễn, cũng như dự đoán xu hướng vận động từ đó đưa ra các giải pháphoàn thiện mang tính đồng bộ lâu dài cho pháp luật về quản lý thuế đối vớihoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
3.2 Mục tiêu cụ thể
Từ thực tiễn áp dụng pháp luật về quản lý thuế của cơ quan nhà nướctrong hoạt động xuất nhập khẩu tìm ra những điểm mạnh cần tiếp tục pháthuy cũng như những điểm yếu cần khắc phục của pháp luật quản lý thuế đốivới hoạt động xuất nhập khẩu Từ đó đưa ra những định hướng hoàn thiện quyđịnh của pháp luật quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 154 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định của pháp luật quản lýthuế với hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trong bối cảnh thực tiễnpháp lý ở Việt Nam hiện nay Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định củapháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật hiện hành về quản lý thuế với hoạtđộng xuất nhập khẩu trên phạm vi cả nước Đồng thời chỉ tập trung nghiêncứu chủ thể trực tiếp thực hiện hoạt động quản lý thuế với hoạt động xuấtnhập khẩu là cơ quan Hải quan
5 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu tiêu nghiên của đề tài, với từng nội dung nghiêncứu cụ thể, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: được sử dụng để nghiêncứu lịch sử của hoạt động xuất nhập khẩu và pháp luật quản lý thuế đối vớihoạt động xuất nhập khẩu để tìm ra bản chất quy luật phát triển
- Phương pháp phân tích: để làm rõ các vấn đề lý luận và tìm ra ưu,nhược điểm của quy định pháp luật hiện hành về quản lý thuế đối với hoạtđộng xuất nhập khẩu
- Phương pháp tổng hợp: để khái quát các vấn đề cần nghiên cứu, nhìnnhận vấn đề một cách thống nhất và đưa ra các giải pháp đồng bộ
- Phương pháp so sánh: nhằm đối chiếu các quy định trong từng thời
kỳ, các quy định trong nước và nước ngoài
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
- Tính mới của đề tài:
+ Đề tài nghiên cứu pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhậpkhẩu trong bối cảnh nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay
+ Nghiên cứu các cam kết quốc tế Việt Nam đã đã ký kết và tham gia,
Trang 16cũng như kinh nghiệm quản lý thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu của một sốnước trên thế giới từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện các quy định về quản lýthuế của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động xuất nhập khẩu.
- Đóng góp mới của đề tài: Đưa ra các giải pháp, kiến nghị hoàn thiện
pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu phù hợp với các camkết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và tham gia, cũng như phù hợp với bốicảnh nền kinh tế trong nước hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luậnvăn có 3 chương sau đây:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về hoạt động xuất nhập khẩu
và pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất
nhập khẩu
Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế trong
lĩnh vực thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở Việt Nam
Trang 17Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU VÀ PHÁP LUẬT QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
XUẤT NHẬP KHẨU
1.1 Khái quát chung về hoạt động xuất nhập khẩu và pháp luật thuế với hoạt động xuất nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hoạt động xuất nhập khẩu
Như chúng ta đã biết, xuất nhập khẩu là cụm từ viết tắt của hoạt độngxuất khẩu và hoạt động nhập khẩu Đây là hai hoạt động chính hình thành nênthương mại quốc tế và hoạt động ngoại thương của một nước
Pháp luật Việt Nam có đưa ra định nghĩa về hoạt động xuất khẩu hànghóa và nhập khẩu hàng hóa như sau:
1 Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏilãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnhthổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy địnhcủa pháp luật
2 Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa vào lãnhthổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnhthổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định củapháp luật (Khoản 1 và khoản 2 Điều 28 Luật thương mại 2005).Khái niệm khu vực hải quan riêng trong quy định trên được định nghĩatại khoản 4 Điều 3 Luật quản lý ngoại thương 2017 như sau:
Khu vực hải quan riêng là khu vực địa lý xác định trên lãnhthổ Việt Nam được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam
và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên; có quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa với phần lãnhthổ còn lại và nước ngoài là quan hệ xuất khẩu, nhập khẩu
Trang 18Trong lý luận thương mại quốc tế, khái niệm xuất khẩu được định nghĩa
“là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho nước ngoài” và khái niệm nhập khẩu đượcđịnh nghĩa “là việc quốc gia này mua hàng hóa dịch vụ từ quốc gia khác”
Như vậy có thể hiểu XNK là hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa,dịch vụ trên phạm vi quốc tế Trong đó, hoạt động NK là hoạt động mua hànghóa, dịch vụ từ các tổ chức kinh tế, các công ty nước ngoài, từ khu vực phithuế quan vào tiêu thụ ở thị trường trong nước hoặc tái xuất với mục tiêu lợinhuận và nối liền sản xuất giữa các quốc gia với nhau Còn hoạt động xuấtkhẩu là hoạt động bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ được sản xuất, gia công,chế biến trong nước hoặc hàng hóa mua của nước ngoài cho cá nhân, phápnhân quốc tế
Theo đó, để phân biệt hoạt động XNK với hoạt động kinh doanh thôngthường ta dựa vào các đặc điểm sau:
- Mang tính quốc tế: Chủ thể thực hiện hành vi mua bán hàng hóa, dịch
vụ đến từ các quốc gia khác nhau;
- Nguồn luật điều chỉnh: Hoạt động XNK không chỉ chịu sự điều chỉcủa pháp luật quốc gia như các hoạt động kinh doanh thông thường khác màcòn chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế: Điều ước quốc tế, công ướcquốc tế, tập quán thương mại quốc tế;
- Đồng tiền thanh toán: Sử dụng đa dạng các loại tiền tệ để thanh toán
- Đối tượng của XNK: hàng hóa, dịch vụ được phép xuất nhập khẩutheo quy định của của từng nước có liên quan và phải là loại hàng hóa, dịch
vụ được luật pháp quốc tế chấp nhận
Hoạt động XNK có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.Sau đây là các hình thức XNK thông dụng ở Việt Nam
- XNK trực tiếp hay còn gọi là XNK tự doanh: Là việc doanh nghiệpkinh doanh XNK hàng hóa dịch vụ tự mình thực hiện hoạt động buôn bán,
Trang 19trao đổi hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp mình cho đối tác nước ngoài vàngược lại mà không thông qua doanh nghiệp trung gian.
- XNK ủy thác: là hình thức XNK thông qua đơn vị trung gian XNK
ủy thác hình thành giữa một doanh nghiệp trong nước (doanh nghiệp ủy thác)
có nhu cầu XNK hàng hóa nhưng không có chức năng kinh doanh XNK trựctiếp và phải nhờ đến doanh nghiệp nhận ủy thác có chức năng kinh doanhXNK Doanh nghiệp nhận ủy thác sẽ thực hiện hoạt động mua bán hàng hóatheo những thỏa thuận với doanh nghiệp ủy thác và được nhận thù lao ủy thác
- XNK hàng đổi hàng hay còn gọi là buôn bán đối lưu: là hình thứcxuất khẩu gắn liền với nhập khẩu, người mua cũng là người bán Trong hìnhthức này tiền tệ sẽ không đóng vai trò là vật ngang giá chung mà hàng hóa vàdịch vụ XK sẽ được đổi lấy hàng hóa và dịch vụ khác có giá trị tương đương.Hình thức XNK này đang được nhà nước ta khuyến khích vì sử dụng hìnhthức này doanh nghiệp có thể thu lãi được từ hai hoạt động nhập và xuất hànghóa, đồng thời tránh được rủi ro biến động đồng ngoại tệ
- XNK liên doanh: là hoạt động XNK hàng hóa trên cơ sở liên kết mộtcách tự nguyện giữa các doanh nghiệp nhằm phối hợp khả năng sản xuất và
đề ra các chủ trương biện pháp liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu trên
cơ sở các bên cùng chịu rủi ro và chia sẻ lợi nhuận Hình thức này đỏi hỏiphải có ít nhất một doanh nghiệp có chức năng XNK
1.1.2 Các loại thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Thuế là khoản thu do Nhà nước dùng quyền lực của mình để buộc các
tổ chức, cá nhân phải nộp vào ngân sách nhà nước nhằm thực hiện các chứcnăng và nhiệm vụ của mình [29, tr 9]
Trong hoạt động XNK hàng hóa, các chủ thể thực hiện hoạt động này
sẽ phải nộp một khoản tiền theo quy định của pháp luật vào ngân sách nhànước Khoản tiền này được gọi là thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Trang 20Theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, trừ những trườnghợp được miễn thuế, thông thường hoạt động XNK thuộc đối tượng chịu thuế
XK, thuế NK, thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường
1.1.2.1 Thuế đối với hoạt động xuất khẩu
Hoạt động XK có đặc trưng cơ bản là hàng hóa, dịch vụ XK sẽ đượctiêu dùng ở ngoài nước Xuất phát từ đặc trưng này hoạt động XK theo quyđịnh của pháp luật Việt Nam thường chỉ chịu một loại thuế duy nhất là thuếxuất khẩu và được áp dụng mức thuế suất 0% với thuế giá trị tăng trừ một sốtrường hợp như chuyển giao công nghệ, chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ
ra nước ngoài; dịch vụ tài chính phái sinh…
Trên phương diện kinh tế, thuế XK được hiểu là là khoản thu nộp bắtbuộc của tổ chức, cá nhân vào NSNN khi thực hiện hành vi XK hàng hóa,dịch vụ vượt ra khỏi biên giới quốc gia
Trên phương diện pháp lý, thuế XK là khoản thu được ghi nhận trongLuật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu do Quốc hội ban hành, được thu bởi cơquan Hải quan và được bảo đảm cưỡng chế thực hiện
So với các sắc thuế nội địa, thuế XK có sự khác biệt về bản chất vàchức năng Do đó thuế XK có các đặc trưng cơ bản sau:
Thứ nhất, về đối tượng chịu thuế, thuế XK đánh vào hàng hóa được sản
xuất trong nước đưa ra nước ngoài Các hàng hóa này phải được phép vậnchuyển qua biên giới Hàng hóa bao gồm tư liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng
Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì hàng hóa khôngchỉ bao gồm những vật liệu hữu hình được chuyển trực tiếp qua biên giới cácnước mà còn bao gồm cả những hàng hóa vô hình Hàng hóa vô hình có thể
kể đến như sản phẩm phần mềm công nghệ thông tin, loại hàng hóa này đượcvận chuyển qua biên giới các nước không phải bằng cách thông thường màthông qua mạng internet Ngoài ra, dịch vụ cũng được xuất khẩu trên thực tế
Trang 21nhưng pháp luật về thuế xuất khẩu của nhiều nước trên thế giới trong đó có cảViệt Nam không quy định dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu.
Thứ hai, thuế xuất khẩu vừa là thuế trực thu vừa là thuế gián thu Chủ
thể xuất khẩu hàng hóa có thể nhằm mục đích tiêu dùng hoặc kinh doanh Đốivới trường hợp cá nhân xuất khẩu hàng hóa để tiêu dùng (hàng hóa mang theongười khi xuất cảnh để tiêu dùng ở nước ngoài) thì cá nhân vừa là người nộpthuế vừa là người chịu thuế, số thuế cá nhân đã nộp có tính chất là thuế trựcthu Ngược lại, đối với cá nhân, doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa nhằm mụcđích kinh doanh thì cá nhân, doanh nghiệp đó là người nộp thuế, còn ngườichịu thuế là người tiêu dùng, số thuế đã nộp mang tính chất là thuế gián thu
Thứ ba, thuế xuất khẩu được thu bởi cơ quan Hải quan.
Từ những đặc trưng cơ bản nêu trên, thuế xuất khẩu không chỉ thựchiện những vai trò cơ bản như tạo nguồn thu cho NSNN, điều tiết nền kinh tế
và hướng dẫn tiêu dùng trong xã hội mà còn có vai trò bảo hộ nền sản xuấttrong nước, bảo hộ thị trường tiêu thụ trong nước và khuyến khích xuất khẩu,tăng khả năng cạnh tranh cho hàng hóa trong nước Đối với những mặt hàngNhà nước muốn hạn chế xuất khẩu để bảo hộ thị trường tiêu thụ trong nướcthì thuế suất với những mặt hàng này sẽ được quy định tăng lên Do bị đánhthuế xuất khẩu cao nên việc tiêu thụ những mặt hàng này ở thị trường nướcngoài sẽ khó khăn hơn thị trường nội địa và khi đó các hàng hóa này sẽ đượctiêu thụ trong nước Mặt khác, với những mặt hàng muốn khuyến khích xuấtkhẩu thì mức thuế suất đối với mặt hàng này sẽ giảm hoặc bằng không Việcgiảm thuế xuất khẩu với hàng xuất khẩu sẽ tạo ra khả năng cạnh tranh tốt hơncho loại hàng hóa này trên thị trường quốc tế, so với hàng hóa cùng loại củanhững nước khác đang lưu thông trên thị trường
1.1.2.2 Thuế với hoạt động nhập khẩu
Khác với hoạt động XK, trong hoạt động NK, hàng hóa, dịch vụ nhập
Trang 22khẩu sẽ được tiêu dùng ở thị trường trong nước Do đó, hoạt động NK ngoàiviệc phải chịu thuế nhập khẩu còn phải chịu thuế GTGT và trong nhiềutrường hợp còn phải chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế bảo vệ môi trường.
Một là, thuế nhập khẩu:
Thuế nhập khẩu là loại thuế áp dụng với chủ thể thực hiện hành vi nhậpkhẩu hàng hóa từ nước ngoài vào thị trường trong nước hoặc từ khu vực phithuế quan vào thị trường trong nước Các chủ thể khi thực hiện hành vi nhậpkhẩu hàng hóa sẽ phải nộp vào NSNN một khoản tiền theo quy định của phápluật Khoản thu nộp này được gọi là thuế nhập khẩu
Đối tượng chịu thuế NK là hàng hóa được phép vận chuyển qua biêngiới, những mặt hàng cấm như ma túy, súng… không thuộc đối tượng chịuthuế tiêu thụ đặc biệt vì không được phép vận chuyển, mua bán qua biên giới.Thuế NK không hoàn toàn là thuế trực thu hoặc thuế gián thu Thuế NK làthuế gián thu khi nhà nhập khẩu, nhập khẩu hàng hóa để bán lại cho tổ chức
cá nhân khác, vì người nộp thuế là người nhập khẩu nhưng người chịu thuế làngười tiêu dùng hàng hóa Ngược lại, thuế NK là thuế trực thu khi nhà NKnộp thuế nhập khẩu và tự tiêu dùng số hàng hóa nhập khẩu, vì chính ngườinhập khẩu vừa là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế
Khác với các sắc thuế khác như thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế
NK chủ thể trực tiếp quản lý thuế NK không phải là cơ quan thuế mà đượcthu bởi cơ quan Hải Quan
Ngoài thực hiện các vai trò cơ bản như tạo nguồn thu cho NSNN, điều tiếthoạt động kinh tế, hướng dẫn tiêu dùng trong xã hội, thuế NK còn có vai trò kháđặc thù đó là bảo vệ nền sản xuất trong nước và chống lại xu hướng cạnh tranhkhông cân sức giữa hàng hóa trong nước với hàng hóa ngoại nhập Hàng hóa
NK do phải chịu thuế NK nên giá cả của hàng hóa NK sẽ tăng cao hơn bìnhthường, còn hàng hóa trong nước do không phải chịu thuế NK nên giá thành sản
Trang 23phẩm của hàng hóa sẽ có xu hướng rẻ hơn, vì vậy sẽ có sức cạnh tranh lớn hơnvới hàng nhập khẩu Từ đó góp phần bảo vệ nền sản xuất trong nước.
Thuế GTGT hay còn gọi là thuế VAT là loại thuế gián thu, có đối tượngnộp thuế không đồng thời là đối tượng chịu thuế Thuế GTGT có những đặcđiểm sau:
- Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu thuế GTGT ThuếGTGT là thuế đánh vào hành vi tiêu dùng hàng hóa dịch vụ Số thuế GTGT
mà người tiêu dùng chi trả được cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ Tuynhiên người thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho nhà nước lại là chủ thể sản xuất,kinh doanh hàng hóa, dịch vụ Trong hoạt động NK hàng hóa, dịch vụ, ngườinộp thuế là chủ thể thực hiện hoạt động NK, người chịu thuế là người tiêudùng hàng hóa, dịch vụ NK và trong trường hợp chủ thể NK, NK hàng hóa,dịch vụ và tự tiêu dùng thì người nộp thuế và đối tượng chịu thuế là một;
- Thuế GTGT có đối tượng chịu thuế rộng Mọi tổ chức, cá nhân, làngười có thu nhập cao hay người có thu nhập thấp đều là đối tượng chịu thuếGTGT khi thực hiện hành vi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ;
- Thuế GTGT chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ
mà không phải đối với toàn bộ giá trị hàng hóa dịch vụ;
Như vậy, ngoài những trường hợp được miễn thuế, trường hợp thuộc
Trang 24đối tượng không chịu thuế thì mọi hàng hóa, dịch vụ NK đều phải chịu thuế
NK và thuế GTGT
Ba là, thuế tiêu thụ đặc biệt:
Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế đánh vào một số hàng hóa, dịch vụđặc biệt thuộc đối tượng hạn chế tiêu dùng, định hướng sản xuất và tiêu dùng,đồng thời tạo nguồn thu cho NSNN
Về bản chất, thuế tiêu thụ đặc biệt là thuế gián thu, đối tượng nộp thuế
là chủ thể sản xuất, kinh doanh và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêuthụ đặc biệt, đối tượng chịu thuế là chủ thể trực tiếp tiêu dùng Thuế tiêu thụđặc biệt phải được kê khai và nộp ngay tại khâu sản xuất và nhập khẩu, ngaykhi hàng hóa chưa chuyển giao cho người tiêu dùng, doanh nghiệp sản xuất
và doanh nghiệp nhập khẩu vẫn phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt
Khác với thuế GTGT, thuế tiêu thụ đặc biệt có diện đánh thuế hẹp Thuếtiêu thụ đặc biệt chỉ đánh vào một số loại hàng hóa, dịch vụ nhằm hạn chế vàđiều tiết tiêu dùng như rượu, bia, thuốc lá…
Chủ thể thực hiện hoạt động NK hàng hóa với những hàng hóa thuộcđối tượng chịu thế tiêu thụ đặc biệt theo quy định của pháp luật thì ngoàithuế NK, thuế GTGT còn phải chịu thêm thuế tiêu thụ đặc biệt Việc đánhthuế tiêu thụ đặc biệt với hoạt động NK, giúp nhà nước quản lý được hoạtđộng nhập khẩu những hàng hóa đặc biệt, không khuyến khích tiêu dùng,đồng thời còn hạn chế việc tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu ởnước ngoài, từ đó bảo hộ nền sản xuất trong nước, khuyến khích tiêu dùnghàng hóa, dịch vụ nội địa
Bốn là, thuế bảo vệ môi trường:
Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hànghóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môitrường (khoản 1 Điều 2 Luật thuế Bảo vệ môi trường 2010)
Trang 25Thuế bảo vệ môi trường có diện đánh thuế hẹp Không phải mọi hàng hóađều phải chịu thuế bảo vệ môi trường, đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường làmột số hàng hóa khi được sử dụng gây tác động xấu đến môi trường và đượcquy định trong Luật Bảo vệ môi trường như xăng, dầu, mỡ nhờn, hóa chất, túi nilông, các loại thuốc sử dụng để bảo vệ sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp.
Chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế bảo vệ môi trường vào NSNN là các tổchức, cá nhân sản xuất hoặc nhập khẩu hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường.Trong lĩnh vực XNK hàng hóa, thuế bảo vệ môi trường chỉ đặt ra với hoạtđộng NK Chủ thể NK hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường,ngoài thuế NK còn phải chịu thuế bảo vệ môi trường
1.1.3 Pháp luật thuế với hoạt động xuất nhập khẩu
Pháp luật thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế giữa cơ quan nhà nước cóthẩm quyền và người nộp thuế nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước
để thực hiện các mục tiêu xác định trước [53, tr.24]
Pháp luật thuế đối với hoạt động XNK là tổng hợp các quy phạm phápluật điều chỉnh quá trình thu nộp các khoản thuế phát sinh trong hoạt độngXNK giữa cơ quan có thẩm quyền và người nộp thuế
Mọi Nhà nước có chủ quyền đều có quyền đánh thuế với hoạt độngXNK, tuy nhiên để thực hiện quyền này, nhà nước cần phải sử dụng pháp luật.Pháp luật thuế nói chung, pháp luật thuế với hoạt động XNK nói riêng chính
là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc thu thuế, quyền thu thuế của nhà nước
và nghĩa vụ thu thuế của các chủ thể đủ điều kiện được quy định trong cácquy phạm pháp luật của pháp luật thuế
Căn cứ vào các quan hệ xã hội phát sinh thuộc đối tượng điều chỉnh củapháp luật thuế với hoạt động XNK, có thể phân chia hệ thống pháp luật thuếvới hoạt động XNK gồm các bộ phận sau:
Trang 26Một là, Quy phạm pháp luật về các nguyên tắc cơ bản có tính nền tảng
như nguyên tắc đánh thuế
Hai là, Luật thuế nội dung, bao gồm các quy phạm pháp luật quy định
về quyền nghĩa vụ nộp thuế với hoạt động XNK của các tổ chức, cá nhân nhưLuật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu; Luật thuế GTGT, Luật thuế Tiêu thụđặc biệt; Luật thuế Bảo vệ môi trường
Ba là, Luật thủ tục hành chính, bao gồm các quy phạm pháp luật quy
định về quá trình thu nộp thuế giữa người nộp thuế và cơ quan nhà nước cóthẩm quyền Trong hệ thống pháp luật thuế với hoạt động XNK thì luật thủ tụchành chính thuế được quy định trong Luật Quản lý thuế và Luật Hải Quan
Bốn là, Pháp luật về xử lý vi phạm và cưỡng chế thi hành pháp luật
thuế Bộ phận này bao gồm các quy phạm xử phạt vi phạm hành chính tronglĩnh vực thuế và các quy phạm pháp luật hình sự về tội phạm thuế
Năm là, pháp luật tố tụng: bao gồm các quy định pháp luật về khiếu
nại, khiếu kiện hủy bỏ quyết định của cơ quan có thẩm quyền nhằm hỗ trợcho người nộp thuế bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài về pháp luật quản lý thuế với hoạtđộng XNK, tác giả chỉ nghiên cứu chuyên sâu về các quy định của pháp luậtliên quan đến quản lý thuế với hoạt động XNK mà không nghiên cứu toàn bộ
hệ thống pháp luật thuế với hoạt động XNK
1.2 Khái quát chung về pháp luật quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm pháp luật về quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu
Quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến các đối tượng bị quản lýnhằm đạt mục tiêu đã đề ra của tổ chức Nó nhằm chỉ tập hợp các hoạt độngcần thiết phải thực hiện nhằm đạt được những mục tiêu chung [32, tr.258]
Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế là sự tác động có tổ chức và bằng
Trang 27pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân, nhằm sử dụng có hiệuquả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ cấu có thể có đểđạt được mục tiêu phát triển nền kinh tế đất nước Quản lý thuế là một bộphận của quản lý nhà nước về kinh tế.
Trong cuốn “Tài chính công” của Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí
Minh (năm 2005) thì quản lý thuế là những biện pháp nghiệp vụ do cơ quan
có chức năng thu NSNN thực hiện, đó là những hoạt động thường xuyên của
cơ quan thu hướng về phía đối tượng nộp nhằm đảm bảo thu thuế kịp thời vàđúng luật định Với quan niệm như vậy quản lý thuế bao gồm xây dựng kếhoạch thu thuế, các hoạt động của cơ quan thuế tác động lên người nộp thuế,các biện pháp hành thu và tổ chức bộ máy ngành thuế
Pháp luật về quản lý thuế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhànước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trìnhquản lý thuế giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và người nộp thuế
Như vậy, pháp luật về quản lý thuế với hoạt động XNK được hiểu làtập hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh cácquan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản lý thuế với hoạt động XNK giữa
cơ quan có thẩm quyền và người nộp thuế mà trong hoạt động XNK thì cơquan có thẩm quyền chính là cơ quan Hải Quan Pháp luật quản lý thuế đốivới hoạt động XNK quy định về quyền, nghĩa vụ cuả các chủ thể tham gia vàoquan hệ pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK và nội dung cơ bản vềthủ tục quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu như đăng ký thuế, kê khaithuế, quản lý nộp thuế, quản lý nợ thuế, quản lý thông tin người nộp thuế,kiểm tra thuế, thanh tra thuế, xử lý vi phạm pháp luật về thuế, giải quyếtkhiếu nại tố cáo về thuế, quản lý miễn giảm, hoàn thuế
1.2.2 Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu phải quán triệt
Trang 28một số nguyên tắc cơ bản sau:
Một là, nguyên tắc công bằng trong quản lý thuế: nguyên tắc công bằng
trong pháp luật quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu phải được cụthể hóa trong nguyên tắc quản lý thuế tại Luật quản lý thuế, trong quyền nghĩa
vụ của người nộp thuế và cơ quan quản lý thuế trong quá trình thực hiện thủtục thu nộp thuế, kê khai thuế, thanh tra, kiểm tra thuế… Trong quá trình thựcthi pháp luật thuế, cơ quan quản lý thuế với hoạt động XNK cụ thể là cơ quanhải quan phải áp dụng theo đúng các căn cứ tính thuế, căn cứ miễn, giảm,hoàn thuế không có sự phân biệt đối xử giữa các chủ thể khác nhau khi cócùng căn cứ và hoàn cảnh áp dụng [29, tr 37]
Hai là, nguyên tắc minh bạch trong quản lý thuế: biểu hiện của nguyên
tắc minh bạch trong quan lý thuế là các quy định của pháp luật về quản lýthuế phải đảm bảo rõ ràng, dễ hiểu cho mọi đối tượng, không được chồngchéo, mâu thuẫn Theo đó, pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNK phảiquy định rõ về chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế, đối tượng chịu thuế, thủ tục thunộp thuế với hoạt động XNK Đồng thời, pháp luật về quản lý thuế phải đượcquy định chi tiết, cụ thể để người nộp thuế dễ dàng tìm hiểu và chấp hành, cơquan quản lý thuế thuận tiện trong đối chiếu pháp luật để áp dụng, tránh tìnhtrạng tùy tiện trong áp dụng pháp luật
Ba là, nguyên tắc ổn định Pháp luật quản lý thuế nói chung, pháp luật
quản lý thuế với hoạt động XNK nói riêng phải có tính ổn định Việc thay đổicác quy định về quản lý thuế liên tục sẽ khiến các chủ thể tham gia vào quan
hệ pháp luật, kể cả cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế đều khó khăntrong việc nắm bắt quy định và thực hiện; hành lang pháp lý về thuế không ổnđịnh sẽ làm cho môi trường đầu tư biến động khó lường, người kinh doanhkhó đưa ra và thực hiện các chiến lược lâu dài
Bốn là, nguyên tắc thuận tiện, hiệu quả và tiết kiệm trong quản lý
Trang 29thuế: nguyên tắc này đòi hỏi pháp luật về quản lý thuế trong lĩnh vực XNKcần có các quy định để cơ quan quản lý thuế khi thực thi nghiệp vụ quản lýthuế phải thực hiện đúng các quy định quản lý thuế theo luật định một cáchợp lý, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của đối tượng để việc quản lý thuếđược hiệu quả, tiết kiệm thời gian và nguồn lực Đồng thời, phải đảm bảotạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế trong thực hiện các thủ tục vềthuế như loại bỏ các thủ tục mang tính hình thức, ứng dụng công nghệ thôngtin trong quản lý thuế…
Bên cạnh đó, hiện nay, việc quy định của pháp luật quản lý thuế đối vớihoạt động XNK cần đảm bảo tiêu chí tương thích với pháp luật quốc tế Hiệnnay, trước xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi quy định của pháp luật quản
lý thuế đối với hoạt động XNK phải phù hợp với các chuẩn mực, thông lệ vàcam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia
1.2.3 Vai trò của pháp luật về quản lý thuế đối với hoạt động xuất nhập khẩu
Nguồn thu từ thuế đối với hoạt động XNK hàng năm là nguồn thu lớn củaNSNN Pháp luật thuế với hoạt động XNK nói chung và pháp luật về quản lýthuế với hoạt động XNK nói riêng là những công cụ vô cùng quan trọng để Nhànước quản lý về thuế với hoạt động XNK Vai trò của pháp luật về quản lý thuếđối với hoạt động xuất nhập khẩu thể hiện ở những khía cạnh sau:
1.2.3.1 Tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động quản lý thuế với hoạt động xuất nhập khẩu
Xét về mặt hình thức, pháp luật về quản lý thuế với hoạt động XNKbao gồm hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật như Luật, Nghị quyết củaQuốc hội và các văn bản dưới luật do Chính phủ, Thủ tướng chính phủ, các
bộ ngành ban hành như thông tư… Về mặt nội dung, pháp luật về quản lýthuế với hoạt động XNK lại bao hàm các quy định pháp luật về đối tượng
Trang 30điều chỉnh; phạm vi điều chỉnh; quyền, nghĩa vụ của chủ thể quản lý; quyềnnghĩa vụ của đối tượng bị quản lý; nội dung cụ thể về đăng ký thuế, khai thuế,nộp thuế, ấn định thuế, thủ tục hoàn thuế, miễn thuế, giảm thuế, xoá nợ tiềnthuế, tiền phạt, quản lý thông tin về người nộp thuế, kiểm tra thuế, thanh trathuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế, xử lý vi phạm pháp luật
về thuế, giải quyết khiếu nại, tố cáo về thuế
Trong quan hệ quản lý thuế với hoạt động XNK, cơ quản lý thuế vàngười nộp thuế đều phải tuân thủ các quy định pháp luật về quản lý thuế Quyđịnh của pháp luật về quản lý thuế là cơ sở pháp luật để cơ quan lý thực hiệnchức năng, nhiệm vụ của mình trong quá trình quản lý Đồng thời, cũng là cơ
sở pháp lý vững chắc để người nộp thuế thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.Các quy định của pháp luật về quản lý thuế với hoạt động XNK càng chặt chẽthì nguồn thu cho NSNN cũng được đảm bảo, hạn chế vi phạm của cơ quanquản lý cũng như người nộp thuế trong hoạt động XNK
1.2.3.2 Kiểm soát hàng hóa xuất nhập khẩu
Thông qua hoạt động quản lý thuế với hoạt động XNK, cơ quan Nhànước có thẩm quyền sẽ kiểm soát được số lượng, chủng loại hàng hóa xuấtkhẩu ra khỏi Việt Nam và số lượng, chủng loại hàng hóa nhập khẩu vào ViệtNam Từ đó, đưa ra giải pháp hạn chế tình trạng xuất siêu, nhập siêu, giữ cáncân xuất nhập khẩu cân bằng và hoạch định được chiến lược phát triển kinh
kế trong các giai đoạn tiếp theo
1.2.3.3 Bảo hộ nền sản xuất trong nước
Bảo hộ nền sản xuất trong nước trước sự tràn ngập của hàng hóa nướcngoài trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế là vai trò vô cùng quan trọng củapháp luật thuế với hoạt động XNK Khi nhận thấy những bất lợi nghiêng vềhàng hóa được sản xuất trong nước, mức thuế suất với hàng hóa nhập khẩu
có thể tăng để đẩy giá thành hàng hóa NK lên cao, tăng sức cạnh tranh cho
Trang 31hàng hóa trong nước Đồng thời, thực hiện giảm thuế suất hoặc áp dụng thuếsuất 0% với hàng hóa XK để giảm giá thành hàng hóa XK, tăng sức cạnhtranh của hàng hóa XK trên thị trường quốc tế Từ đó khuyến khích sản xuấttrong nước phát triển.
Hàng hóa nhập lậu qua các cửa khẩu do không phải chịu thuế nhậpkhẩu và các loại thuế khác nên có giá thành rất thấp so với hàng sản xuấttrong nước, do đó nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ tạo sức ép rất lớncho nên sản xuất trong nước Việc quản lý thuế với hoạt động XNK giúp hạnchế một số lượng lớn hàng hóa nhập lậu, từ đó góp phần quan trọng trong việcbảo hộ nền sản xuất trong nước
Bên cạnh đó, trước xu thế mở của hội nhập, để bảo vệ hàng hóa trongnước thì Luật thuế Xuất khẩu, thuế Nhập khẩu năm 2016 đã bổ sung các quyđịnh về thuế chống bán pháp giá, thuế chống trợ cấp và thuế tự vệ
1.2.3.4 Hạn chế tối đa hành vi vi phạm pháp luật thuế
Quản lý thuế với hoạt động XNK có vai trò quan trọng trong việc hạnchế tối đa các hành vi trốn thuế, gian lận thuế, các hành vi vận chuyển tráiphép hàng hóa qua biên giới, hành vi buôn lậu Đồng thời làm tăng cường sựtuân thủ pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế và người nộp thuế
1.3 Cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa ASEAN
1.3.1 Lịch sử ra đời của Cơ chế một cửa Quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN
Việt Nam chính thức tham gia xây dựng Cơ chế một cửa ASEAN(ASW) từ năm 2005 với việc ký kết Hiệp định về xây dựng và thực hiện cơchế một cửa ASEAN ngày 9/12/2005 tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 11được tổ chức tại Malaysia và Nghị định thư về xây dựng và thực hiện ASWvào ngày 20/12/2006 tại Siêm Riệp, các nước thành viên trong đó có ViệtNam cần phải triển khai cơ chế một cửa quốc gia của mình
Trang 32Là một thành viên tích cực của ASEAN, sau một quá trình chuẩn bị vớinhiều lỗ lực, thủ tục hành chính đầu tiên được triển khai thông qua Cơ chế mộtcửa Quốc gia bắt đầu từ tháng 11 năm 2014 ASW được Việt Nam triển khai từ1/1/2018, Việt Nam là một trong 5 Quốc gia đầu tiên trong khu vực thực hiệnchính thức ASW cùng với Indonesia, Malaysia, Singapore và Thái Lan.
1.3.2 Khái niệm cơ chế một cửa ASEAN và cơ chế một cửa Quốc gia
Cơ chế một cửa ASEAN là một môi trường trong đó các Cơ chế một
cửa Quốc gia hoạt động và tích hợp với nhau
Cơ chế một cửa quốc gia là việc cho phép người khai hải quan gửi
thông tin, chứng từ điện tử để thực hiện thủ tục hải quan và thủ tục của cơquan quản lý nhà nước liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu thôngqua một hệ thống thông tin tích hợp Cơ quan quản lý nhà nước quyết địnhcho phép hàng hóa được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh; cơ quan hải quanquyết định thông quan, giải phóng hàng hóa trên hệ thống thông tin tích hợp(Điều 4, Luật Hải quan 2014)
1.3.3 Quy trình thực hiện thủ tục hành chính thông qua Cơ chế một cửa Quốc gia và ASEAN
Cổng thông tin một cửa Quốc gia là nơi tiếp nhận và phản hồi cácthông tin từ Bộ, ngành và các bên liên quan như sau: Các Bộ, ngành tham giavào quá trình cấp phép đối với hàng hóa XNK, quá cảnh, phương tiện xuấtnhập cảnh, quá cảnh; Cơ quan Hải quan; người vận tải, đại lý hãng tầu, đại lýgiao nhận; Ngân hàng, bảo hiểm; doanh nghiệp XNK, đại lý hải quan; các bênliên quan khác
Trên cơ sở đó, Cổng thông tin một cửa quốc gia kết nối với Cơ chế mộtcửa ASEAN và các đối tác thương mại khác của Việt Nam
Khi thực hiện các thủ tục cấp phép và thông quan hàng hóa XNK cógiấy phép trên Cổng thông tin một cửa Quốc gia, doanh nghiệp thực hiện theo
Trang 33và trả kết quả về Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia.
Bước 6: Cổng thông tin điện tử một cửa quốc gia trả kết quả thông quan vềcho doanh nghiệp và gửi kết quả đến hệ thống của Bộ, Ngành để tham khảo
1.3.4 Lợi ích khi triển khai cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN
Thứ nhất, đối với đối tượng nộp thuế
- Tiết kiệm thời gian hoàn thành thủ tục cấp phép và thông quan lô hàngXNK Khi thực hiện thủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa quốc gia,với việc hồ sơ, chứng từ của doanh nghiệp sẽ được điện tử hóa thì doanhnghiệp chỉ cần ngồi tại trụ sở của mình và gửi hồ sơ đến Cổng thông tin mộtcửa quốc gia là có thể hoàn thành cấp phép và thủ tục thông quan lô hàng
- Tiết kiệm chi phí và sử dụng nguồn lực một cách hiệu quả Đơngiản hài hòa hóa thủ tục giữa cơ quan quản lý Do đó, giúp doanh nghiệpgiảm thời gian chi phí chuẩn bị hồ sơ, đi lại để thực hiện thủ tục cấp phép
và thông quan hàng hóa
- Tăng cường tính minh bạch trong quá trình làm thủ tục hành chính:Việc thực hiện thủ tục hành chính qua Cổng thông tin một cửa quốc gia giúp
Trang 34tăng tính minh bạch trong quá trình làm thủ tục cho doanh nghiệp Hệ thốngCổng thông tin một cửa quốc gia sẽ lưu các thông tin hồ sơ, ngày giờ màdoanh nghiệp gửi đến, các thông tin có liên quan đến việc thực hiện thủ tụchành chính được công khai, minh bạch tại Cổng thông tin một cửa quốc gia.
- Giảm sự tiếp xúc giữa người dân và doanh nghiệp với cơ quan quản lýnhà nước trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính: khi thực hiện thủtục hành chính thông qua Cổng thông tin một cửa quốc gia sẽ giảm được sựtiếp xúc giữa doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước Theo đó vấn đề tiêucực, nhũng nhiễu của một bộ phận cán bộ công chức sẽ giảm đi
- Nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý của doanh nghiệp: khi thực hiệnthủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa quốc gia, toàn bộ thông tin hồ
sơ của doanh nghiệp, người dân gửi đến, cũng như thông tin kết quả xử lý hồ
sơ của cán bộ, công chức được lưu lại trên hệ thống Do đó, việc thực hiện cácthủ tục hành chính trên Cổng thông tin một cửa quốc gia đảm bảo tính minhbạch trong phục vụ người dân và doanh nghiệp
Thứ hai, lợi ích với cơ quan quản lý nhà nước
- Thúc đẩy cải cách hành chính, hoàn thiện chế độ chính sách quản lýnhà nước với hoạt động XNK
- Thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan quản lýnhà nước hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử: triển khai NSW là đòn bẩy
để các Bộ, Ngành đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt độngquản lý của mình, hướng tới xây dựng Chính phủ điện tử theo Nghị quyết số36a/NQ-CP về Chính phủ điện tử
- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước và chất lượng trong việc cungcấp dịch vụ công Việc thực hiện NSW còn góp phần nâng cao trình độ kỹnăng và thay đổi phương pháp, thói quen làm việc từ thủ công biệt lập sangphương thức điện tử hiện đại và hợp tác Qua đó, trình độ, năng lực của cán
bộ công chức được nâng lên cả về tư duy lẫn phương pháp làm việc, góp phần
Trang 35nâng cao năng lực quản lý nhà nước.
- Giảm thiểu việc dư thừa về các yêu cầu hồ sơ, thông tin, dữ liệu, tăng
sự tin cậy và chính xác của thông tin Giúp các cơ quan quản lý nhà nướckiểm soát doanh nghiệp tốt hơn
- Ngăn ngừa các nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia cũng như anninh của cộng đồng đến từ các hoạt động vận tải và thương mại bất hợp pháp.Giúp việc trao đổi thông tin giữa các cơ quan nhà nước được nhanh chóng,chính xác Theo đó, các cơ quan nhà nước sẽ có nhiều thông tin và tính kịp thờinhanh hơn để đảm bảo việc quản lý nhà nước đối với hàng hóa và phương tiệnvận tải qua biên giới Điều đó cho phép các cơ quan quản lý biên giới quản lýhàng hóa, phương tiện một cách hiệu quả hơn, công tác đấu tranh phòng chốngbuôn lậu và gian lận thương mại sẽ hiệu quả hơn, đảm bảo an ninh quốc giacũng như ngăn chặn các hoạt động vận tải và thương mại bất hợp pháp
Tóm lại, triển khai NSW không chỉ là thực hiện cam kết của Việt Namtrong thực hiện ASW, mà còn là một giải pháp quan trọng được kì vọng manglại sự đột phá trong cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho hoạt độngXNK, giảm thời gian thông quan hàng hóa
1.4 Kinh nghiệm của các nước trên thế giới về quản lý thuế trong lĩnh vực xuất nhập khẩu
1.4.1 Kinh nghiệm về hiện đại hóa thủ tục hải quan của Hải quan New Zealand
New Zealand được biết đến là một quốc gia thực hiện cải cách, hiện đạihóa công tác quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu rất tích cực và đạt đượcnhiều thành quả Hiện đại hóa hải quan được coi là bí quyết thành công của
cơ quan Hải quan New Zealand trong việc quản lý thuế với hoạt động XNK
Để triển khai thực hiện hiện đại hóa hải quan cơ quan Hải quan NewZealand đã triển khai chương trình hiện đại hóa hải quan mang tên
Trang 36“CusMod” Chương trình này không chỉ là sự phát triển và ứng dụng hệ thốngthông tin mới mà còn là một bước tiến quan trọng trong việc cải cách thủ tụchành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp có hoạt động XNK tạiNew Zealand Việc đăng ký tờ khai hải quan tại hải quan New Zealand đượcthực hiện thông qua CusMod, cụ thể: Trong quá trình đăng ký tờ khai hảiquan tại cơ quan hải quan nếu doanh nghiệp không có vướng mắc phát sinh
về các vấn đề như phân loại hàng hóa, chính sách hàng hóa… thì tờ khai đượcCusMod chấp nhận, việc xác nhận trị giá hải quan coi như hoàn thành Nếu cóvướng mắc trong quá trình xử lý điện tử thì doanh nghiệp tiến hành giải trình với
cơ quan hải quan để giải quyết Nếu có nghi ngờ về trị giá hải quan của lô hàng,
bộ phận làm thủ tục hải quan sẽ thông báo với bộ phận kiểm tra sau thông quankiểm tra lại trị giá hải quan sau khi hàng hóa được giải phóng Nếu trị giá hảiquan không được chấp nhận thì Cục trưởng Cục hải quan địa phương ra quyếtđịnh điều chỉnh giá và doanh nghiệp có quyền khiếu nại nếu không đồng ý, cấp
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp sau cùng là Tòa án [60]
Như vậy, để quản lý thuế đối với hoạt động XNK, cơ quan hải quanNew Zealand đã áp dụng phương thức quản lý thuế điện tử, đẩy mạnh ứngdụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế Đồng thời áp dụng phương thứcquản lý xác định trị giá hải quan theo Hiệp ước chung về thuế quan và mậudịch (Hiệp định trị giá GATT) của tổ chức Thương Mại thế giới
Qua nghiên cứu kinh nghiệm của cơ quan hải quan New Zealand có thểrút ra bài học cho Việt Nam như sau: Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệthông tin trong quản lý thuế, thực hiện đăng ký thuế, kê khai thuế, nộp thuếđiện tử, từng bước cải cách thủ tục hành chính thuế để nâng cao hiệu quảquản lý Đồng thời, xây dựng chương trình kế hoạch, hoàn thiện hành langpháp lý để triển khai thực hiện tốt phương thức quản lý xác định trị giá hảiquan theo Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (Hiệp định trị giá GATT)của tổ chức Thương Mại thế giới mà Việt Nam đã tham gia ký kết, kết hợp
Trang 37ứng dụng công nghệ hiện đại trong xác định trị giá hải quan.
1.4.2 Kinh nghiệm về chống thất thu thuế của hải quan Hàn Quốc
Cũng giống như quy định của pháp luật Việt Nam, tại Hàn Quốc, tất cảcác hàng hóa nhập khẩu đều phải thực hiện nghĩa vụ nộp thuế trước khi hànghóa được thông quan hoặc phải được ký quỹ bảo lãnh nộp thuế bởi ngân hàngthương mại Đồng thời phải được cơ quan Hải quan chấp thuận Nếu hết thờihạn cho phép ký quỹ, bảo lãnh mà tổ chức đứng ra ký quỹ, bảo lãnh khôngthực hiện nghĩa vụ nộp thuế thì sẽ bị phạt chậm nộp theo cam kết
Để ngăn chặn trốn thuế, thất thu thuế và gian lận thương mại, pháp luậtHàn Quốc đã xây dựng quy trình nộp thuế với hàng hóa XNK theo các bước sau:
Bước một, cơ quan Hải quan Hàn Quốc ra thông báo nộp thuế và yêucầu nộp thuế: đối với cá nhân người nộp thuế, sau 15 ngày kể từ ngày đến ânhạn của số thuế phải nộp, Cơ quan Hải quan Hàn Quốc sẽ ra thông báochuyển đến người nộp thuế và yêu cầu nộp thuế
Bước hai, thực hiện lệnh thu thuế, ra quyết định tịch biên: sau khi hếthạn thời gian thông báo nếu đối tượng nộp thuế vẫn chây ỳ không nộp thuế thì
cơ quan Hải quan Hàn Quốc sẽ tiến hành kiểm tra tài sản của đối tượng nộpthuế thông qua Hệ thống quản lý thuế hiện đại, hệ thống này cho phép cơquan Hải quan truy cập thông tin về tài sản, bất động sản, …từ hoạt động kinhdoanh của đối tượng nộp thuế sau đó ra quyết định tịch biên Đối với ngườinộp thuế là cá nhân cơ quan Hải quan Hàn Quốc còn tiến hành thu thuế bằngcách khấu trừ từ tiền lương hoặc thu nhập của người nộp thuế
Bước ba, bán tài sản tịch biên: nếu quá thời hạn thông báo nộp thuế màđối tượng nộp thuế vẫn không nộp thuế thì cơ quan hải quan chuyển sang bántài sản tịch biên thông qua việc đăng thông báo về tài sản chờ bán trên báo địaphương hoặc tờ rơi và đợi một thời gian nhất định trước khi bán Thôngthường việc bán tài sản tịch biên ở Hàn Quốc thường do Công ty quản lý tài
Trang 38sản tịch biên ở Hàn Quốc thực hiện.
Bước bốn, trả nợ thuế bằng số tiền thu được từ việc bán tài sản: Sau khibán tài sản tịch biên, số tiền thu được trước tiên được sử dụng để chi trả chocác chi phí liên quan đến việc tịch biên và bán tài sản Số tiền còn lại được sửdụng để nộp thuế Nếu số tiền thu được lớn hơn số thuế phải nộp thì ngườinộp thuế được hoàn thuế Ngược lại nếu số tiền bán tài sản thấp hơn số thuếphải nộp và chi phí cho việc tịch biên bán tài sản thì đối tượng nộp thuế phảitiếp tục nộp số thuế còn thiếu [55]
Bên cạnh việc xây dựng quy trình quản lý nộp thuế chặt chẽ, Hải quanHàn Quốc còn đẩy mạnh công tác đào tạo nghiệp vụ hải quan cho đội ngũthanh tra thuế và kiểm tra sau thông quan Đồng thời, chủ động phối hợp vớicác cơ quan kiểm soát nội địa nhằm kiểm soát hoạt động buôn lậu, gian lậnthương mại đối với những mặt hàng trong diện chịu thuế
Qua nghiên cứu công tác quản lý nộp thuế của Hải quan Hàn quốc cóthể rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau: Công tác quản lý thuếhiện nay cần phải dựa vào sức mạnh của công nghệ thông tin; xây dựng hệthống quản lý thuế điện tử hiện đại cho phép cán bộ Hải quan truy cập đượcthông tin tài sản của đối tượng nộp thuế; triển khai đồng bộ các biện pháp ápdụng kỹ thuật quản lý rủi ro, quản lý tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp; đẩymạnh công tác đào tạo nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ công chức ngành Hảiquan, chú trọng chất lượng đào tạo Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với ban chỉđạo quốc gia về phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (398)kiểm soát hoạt động buôn lậu, gian lận thương mại đối với hàng chịu thuế
1.4.3 Kinh nghiệm của Hải quan Malaysia
Hải quan Malaysia và Hải quan Hàn Quốc đều rất chú trọng đến côngtác quản lý thuế XNK, phòng chống gian lận thương mại, chống thất thu thuế.Tuy nhiên, do đặc thù phát triển kinh tế xã hội và phương thức quản lý mà Cơquan Hải quan Malaysia có những biện pháp chống thất thu thuế, chống gian
Trang 39lận thương mại khác với Hải quan Hàn Quốc.
Cơ quan hải quan Malaysia sử dụng các biện pháp sau để chống gianlận thương mại và thất thu thuế:
Thứ nhất, tập trung vào công tác trao đổi thông tin về thủ tục hải quan,trong đó có thông tin liên quan đến chống gian lận thương mại và thất thuthuế đối với những mặt hàng XNK khó xác định mã số
Thứ hai, về cơ cấu tổ chức của cơ quan hải quan: Tổng cục hải quanMalaysia xây dựng Cục Nghiệp vụ với trách nhiệm quản lý toàn bộ việc thựchiện Hiệp định trị giá GATT/WTO, đơn vị này còn là đầu mối tiến hành cơ sở
dữ liệu về giá được sử dụng như một tham số để so sánh giá Để hỗ trợ chohoạt động quản lý hải quan, Tổng cục Hải quan Malaysia còn xây dựng cụcNgăn chặn và Điều tra là đơn vị chịu trách nhiệm toàn bộ thông tin tình báo vàtiến hành điều tra những vụ việc ở mức độ quốc gia Đặc biệt, tại các đơn vị hảiquan vùng ở Malaysia còn có các bộ phận quản lý thông tin tình báo, tiến hànhđiều tra và kiểm tra sau thông quan Các đơn vị này sẽ nhận thông tin tình báo
từ Tổng cục Hải quan và xây dựng thực hiện kế hoạch hành động để đấu tranhchống các hành vi gian lận trong khu vực quản lý của hải quan vùng
Thứ ba, thành lập Ủy ban hỗn hợp giữa cơ quan hải quan và các doanhnghiệp đại lý để hỗ trợ cho doanh nghiệp trong việc khai hải quan, trong đó cóviệc xác định mã số hóa theo các quy tắc phân loại hàng hóa (HS), xác địnhtrị giá tính GATT Đồng thời, thường xuyên tổ chức gặp gỡ giữa hải quan vớicác doanh nghiệp đại lý, để trao đổi vướng mắc xung quanh thủ tục hải quan
và phổ biến văn bản pháp luật mới được ban hành Thông qua đó kịp thời tháo
gỡ khó khăn của doanh nghiệp kinh doanh XNK [55]
Qua nghiên cứu kinh nghiệm quản lý thuế XNK của hải quan Malaysia
và thực tiễn hoạt động quản lý thuế XNK ở Việt Nam, từ đó rút ra bài họckinh nghiệm cho Việt Nam như sau: Xây dựng bộ phận quản lý thông tin tình
Trang 40báo tại các Cục hải quan địa phương là biện pháp hứa hẹn đem lại hiệu quảcao trong công tác phòng chống gian lận thương mại và trốn thuế Bên cạnh
đó, việc thành lập cơ quan tình báo tại các các cơ quan hải quan địa phươngcấp Cục và Chi cục ở Việt Nam là một giải pháp khả thi
cơ chế một cửa ASEAN cũng như tầm quan trọng của việc triển khai thựchiện Cơ chế nói trên với công cuộc cải cách thủ tục hành chính và hiện đạihóa ngành hải quan
Từ đó, xác định những yêu cầu cần thiết, định hướng sửa đổi cho việcxây dựng hệ thống pháp luật về quản lý thuế với hoạt động XNK