Đây là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Những đóng góp khoa học của đề tài được thể hiện ở một số điểm sau: Một là, khái quát một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội. Có những phân tích đánh giá cụ thể về nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội và mục đích sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay. Từ đó so sánh với các quy định về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm của một số quốc gia trên thế giới để thấy được sự tương đồng và khác biệt nhằm học hỏi và hoàn thiện Hai là, phân tích đánh giá thực tiễn tình hình áp dụng pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội và chỉ ra những khó khăn vướng mắc trong quá trình thực hiện pháp luật. Ba là, đề xuất định hướng giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHUẤT HUYỀN TRANG
PH¸P LUËT VÒ NGUåN H×NH THµNH
Vµ Sö DôNG QUü B¶O HIÓM X· HéI ë VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
KHUẤT HUYỀN TRANG
PH¸P LUËT VÒ NGUåN H×NH THµNH
Vµ Sö DôNG QUü B¶O HIÓM X· HéI ë VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ THÚY NGA
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân th nh c m n! ành cảm ơn! ảm ơn! ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Khuất Huyền Trang
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI 8
1.1 Quỹ bảo hiểm xã hội 8
1.1.1 Khái niệm quỹ BHXH 8
1.1.2 Đặc điểm của quỹ bảo hiểm xã hội 10
1.2 Pháp luật về nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội 12
1.2.1 Khái niệm nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội 12
1.2.2 Cơ sở hình thành quỹ bảo hiểm xã hội 13
1.2.3 Sự cần thiết phải phát triển nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội .16
1.2.4 Đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội 19
1.3 Pháp luật về sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 22
1.3.1 Khái niệm sử dụng quỹ BHXH 22
1.3.2 Nguyên tắc sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 24
1.3.3 Mục đích của việc sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 28
1.3.4 Nội dung sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 29
1.4 Nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội của một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 33
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 41
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 42
2.1 Sơ lược về quá trình phát triển của pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 42
2.1.1 Thời kỳ từ năm 1945 – 1960 42
2.1.2 Thời kỳ 1961 đến 1984 43
2.1.3 Thời kỳ từ năm 1985 đến 1994 44
2.1.4 Thời kỳ từ 1995 đến nay 45
2.2 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 47
2.2.1 Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay 47 2.2.2 Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay 59
2.3 Thực tiễn thực hiện pháp luật Việt Nam hiện hành về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội 74
2.3.1 Kết quả đạt được 74
2.3.2 Những vấn đề còn tồn tại 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 87
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 88
3.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 88
3.2 Các kiến nghị hoàn hiện pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 92
Trang 63.2.1 Kiến nghị hoàn hiện pháp luật về nguồn hình thành và sử
dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam 92
3.2.2 Kiến nghị hoàn hiện pháp luật liên quan về nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH ở Việt Nam 99
3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH ở Việt Nam 105
3.3.1 Trong công tác quản lý 105
3.3.2 Trong công tác tổ chức thực hiện 107
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 113
KẾT LUẬN 114
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
ILO Tổ chức lao động quốc tế
LBHXH Luật bảo hiểm xã hội 2014
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tỉ lệ trích đóng các khoản bảo hiểm mới nhất áp
Bảng 2.2: Tình hình tham gia Bảo hiểm xã hội 77
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nướcđối với người lao động nhằm từng bước mở rộng và nâng cao đảm bảo vậtchất, góp phần ổn định đời sống cho người lao động khi gặp rủi ro như bị ốmđau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động, qua đời
Vì vậy trong những năm qua Nhà nước có nhiều những văn bản sửa đổi, bổsung để phù hợp với nền kinh tế trong từng thời điểm Có thể nói chính sáchBHXH luôn mang tính cấp thiết thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước
ta trong vấn đề an sinh xã hội
Luật BHXH 2014 đã được Quốc Hội thông qua ngày 20/11/2014 và cóhiệu lực thi hành kể từ ngày 1/1/2016 với các quy định về chế độ, chính sáchbảo hiểm xã hội, quyền và trách nhiệm của người lao động, người sử dụng laođộng, thủ tục thực hiện bảo hiểm xã hội và quản lý nhà nước về bảo hiểm xãhội Sự kiện này đánh dấu bước phát triển mới về bảo đảm an sinh xã hội(ASXH) của nước ta; tiến tới lộ trình bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng, tiếpcận dần đến cân đối quỹ BHXH; bảo đảm công bằng xã hội và tính khả thi,nâng cao chất lượng phục vụ, hướng tới sự đồng thuận của xã hội
Hiện nay, tỷ lệ người lao động (NLĐ) tham gia BHXH còn thấp, dẫnđến nguồn thu của quỹ BHXH bị hạn chế, tính đến cuối năm 2017, cả nướcmới có 13.819 nghìn người tham gia bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc vàBHXH tự nguyện, chiếm 25,05% lực lượng lao động, trong khi đó có tới13.591 nghìn lao động nằm trong diện bắt buộc phải đóng [10] Nguyên tắccủa bảo hiểm là số lượng người tham gia càng đông thì rủi ro càng được chia
sẻ nhiều Mà “tiền đẻ ra tiền” nên vốn càng lớn, quỹ càng có khả năng tăngtrưởng nhanh Như vậy sẽ góp phần xây dựng nền an sinh xã hội bền vững
Trang 10Mức đóng bảo hiểm hiện nay được cho là cao [51], đặc biệt là đối vớicác doanh nghiệp Điều này cũng dẫn đến việc giảm lợi thế cạnh tranh trongthu hút đầu tư, tăng nguy cơ trốn tránh nghĩa vụ đóng BHXH của doanhnghiệp Thêm vào đó, BHXH chưa có những biện pháp tăng cường tuyêntruyền thu hút NLĐ tham gia BHXH để lấy lượng bù giá và sử dụng quỹ bảohiểm một cách hiệu quả, từ đó điều chỉnh mức phí bảo hiểm cho phù hợp.
Cùng với sự đổi mới của nền kinh tế đất nước trong thời gian vừa qua,chính sách BHXH cũng được điều chỉnh, thay đổi để phối hợp với sự chuyểnđổi của nền kinh tế đất nước, với nguyện vọng của người lao động QuỹBHXH là một bộ phận cốt lõi không thể thiếu được và có thể nói nó là vai tròquan trọng nhất trong hoạt động BHXH Việc tạo lập, quản lý sử dụng quỹBHXH ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của quỹ BHXH, ảnhhưởng tới sự ổn định của chính sách BHXH Vậy vấn đề làm thế nào để cóthể mở rộng nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội và sử dụng quỹ một cáchhiệu quả là câu hỏi được đặt ra đối với mỗi nhà làm luật, những người quan
tâm nghiên cứu hoạt động BHXH Vì lý do đó, tác giả chọn đề tài: “Pháp
luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam” làm
Luận văn thạc sĩ Luật học của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Thực trạng nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH ở nước ta hiện nayđang là vấn đề không chỉ thu hút sự quan tâm Đảng, Nhà nước và các nhàhoạch định chính sách mà còn được phần lớn tầng lớp lao động trong xã hộiquan tâm Để đưa ra những cải cách đúng, trúng trong việc tạo nguồn và sửdụng quỹ BHXH, Chính Phủ đã đề nghị Tổ chức lao động quốc tế (ILO) tiếnhành báo cáo đánh giá và dự báo tài chính quỹ BHXH nhằm có những số liệuchính xác nhất
Theo nghiên cứu của tác giả, đến nay, có rất nhiều công trình nghiên
Trang 11cứu về an sinh xã hội nổi bật như: Sách “Quyền an sinh xã hội và bảo đảm thực hiện trong pháp luật Việt Nam” (2014) của PGS.TS Lê Thị Hoài Thu; sách “pháp luật về an sinh xã hội – Lý luận và thực tiễn” (2009) của TS
Nguyễn Thị Hiền phương Hay một số công trình nghiên cứu về quỹ BHXH
dưới góc độ kinh tế như: sách “Giải pháp tài chính nhằm đảm bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH tại Việt Nam” (2008) của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thảo, Trường đại học kinh tế; bài viết “Đầu tư quỹ BHXH của một số nước
và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam” của tác giả Nguyễn Trọng Thân
trên tạp chí Nghiên cứu tài chính kế toán số 03 (104)…
Nhìn một cách tổng quan, các bài viết, các công trình nghiên cứu nêutrên đã góp phần tạo ra những cơ sở lý luận và chỉ ra được những vấn đề thựctiễn cho việc hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm xã hội Một số các công trìnhtrên đã được ứng dụng và làm cơ sở cho sự ra đời của Luật bảo hiểm xã hội
năm 2014 Trong cuốn “Quyền an sinh xã hội và bảo đảm thực hiện trong pháp luật Việt Nam”, PGS TS Lê Thị Hoài Thu thể hiện vai trò an sinh xã
hội trong xã hội hiện đại Tác giả đưa ra cái nhìn tổng thể về quyền an sinh xãhội theo quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, từ đó chỉ rathực trạng và giải pháp nhằm đảm bảo quyền an sinh xã hội trong pháp luật
Việt Nam Ngoài ra, một số cuốn như “An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020” của PGC.TS Vũ Văn Phúc hay “Pháp luật về an sinh xã hội – Lý luận
và thực tiễn” của TS Nguyễn Thị Hiền Phương cũng đưa ra những vấn đề lý
luận và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật an sinh xã hội
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu khoa học, luận văn, luận án
đi sâu nghiên cứu cụ thể hơn về Bảo hiểm xã hội và quỹ bảo hiểm xã hội như đềtài nghiên cứu khoa học cấp trường của Th.s Nguyễn Thị Kim Phụng về hoànthiện pháp luật Bảo hiểm xã hội ở Việt Nam Đề tài nghiên cứu lịch sử hìnhthành và phát triển của Pháp luật BHXH ở Việt Nam, từ đó đánh giá và chỉ rahướng hoàn thiện từng chế độ bảo hiểm xã hội vả quỹ bảo hiểm xã hội
Trang 12Tuy nhiên, các công trình này đi nghiên cứu khái quát các vấn đề lýluận và thực tiễn về bảo hiểm xã hội mà chưa có công trình nào nghiên cứuchuyên sâu về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt nam.
Do vậy, Luận văn tập trung nghiên cứu và làm sáng rõ thêm những vấn đề lýluận về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam để từ
đó đưa ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các quy định của Luật bảo hiểm
xã hội trong lĩnh vực này
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ cơ sở lý luận về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảohiểm xã hội, đánh giá về thực trạng pháp luật về nguồn hình thành và sử dụngquỹ bảo hiểm ở Việt Nam, phân tích và chỉ ra những vấn đề còn bất cập chưađược giải quyết thấu đáo, từ đó đưa ra các định hướng và giải pháp hoàn thiệnpháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội, góp phần xâydựng hành lang pháp lý để phát triển nền an sinh xã hội của nước nhà
Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn thực hiện những mụctiêu cụ thể sau:
- Phân tích, làm rõ vấn đề lý luận cơ bản về nguồn hình thành và sửdụng quỹ bảo hiểm xã hội: khái niệm nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảohiểm xã hội; chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn hình thành và sử dụngquỹ bảo hiểm xã hội; tham khảo nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểmcủa một số nước trên thế giới từ đó rút ra những gợi mở cho Việt Nam
- Nghiên cứu lịch sử hình thành và phát triển của nguồn hình thành Quỹbảo hiểm Việt Nam, chỉ ra những đặc điểm đặc thù của việc hình thành và sửdụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
- Đánh giá thực trạng pháp luật hiện hành về nguồn hình thành và sử
Trang 13dụng quỹ bảo hiểm ở Việt nam theo các vấn đề: phương pháp đóng quỹ bảohiểm, đối tượng tham gia đóng, mức đóng quỹ bảo hiểm và mục đích sử dụngquỹ bảo hiểm xã hội Đưa ra định hướng hoàn thiện và các giải pháp, kiếnnghị hoàn thiện pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xãhội ở Việt Nam cho phù hợp với điều kiện thực tế và phù hợp với xu hướnghội nhập quốc tế.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu pháp luật Việt Nam vềnguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
- Phạm vi nghiên cứu: luận văn nghiên cứu các quy định của Pháp luậtViệt Nam hiện hành về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm Trongquá trình nghiên cứu, Luận văn có tham khảo pháp luật về nguồn hình thành
và sử dụng quỹ hiểm xã hội của một số quốc gia trên thế giới nhằm gợi mởkinh nghiệm cho Việt Nam Các số liệu đánh giá thực trạng của luận vănđược thu thập trong giai đoạn từ năm 2014 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn có cơ sở phương pháp luận của triết học Mác-Lênin, quanđiểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Các lập luận của Luận văn đượcthực hiện dựa trên hệ thống quan điểm tiên tiến trong học thuyết Mác-Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương đường lối của Đảng, chính sách phápluật của Nhà nước Việt Nam về vấn đề an sinh xã hội
Trong quá trình thực hiện, Luận văn sử dụng những phương phápnghiên cứu sau: phương pháp hệ thống, lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh,thống kê, tổng hợp thực tiễn được sử dụng phù hợp với từng vấn đề của đề tàinghiên cứu Cụ thể, phương pháp hệ thống được áp dụng ở cả 3 chương, dựatrên cơ sở phân tích đối tượng thành các bộ phận, các thành phần để nghiên
Trang 14cứu chúng một cách sâu sắc, tìm ra tính hệ thống của đối tượng nghiên cứu;phương pháp lịch sử được thể hiện rõ nhất tại chương 2, mục 2.1 về sơ lượcquá trình phát triển của Pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹBHXH; phương pháp so sánh được tác giả áp dụng tại chương 1, mục 1.3, tìmhiểu nguồn hình thành và sử dụng quỹ BHXH của một số nước trên thế giới
từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam; phương pháp phân tích tổnghợp được tác giả sử dụng ở cả 3 chương, tác giả đi theo cả lối diễn dịch vàquy nạp.… Việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu này khi thì rõ ràng, khithì đan xen lẫn nhau giúp cho tác giả có thể nghiên cứu đề tài mình chọn mộtcách vừa tổng quát vừa chi tiết cụ thể
6 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Đây là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống pháp luật về nguồnhình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam trên cả phương diện
lý luận và thực tiễn Do vậy, có thể coi những vấn đề sau là những đóng gópmới cho đề tài:
- Đã khái quát một cách có hệ thống những vấn đề lý luận về nguồnhình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội Có những phân tích đánh giá cụthể về nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội và mục đích sử dụng quỹ bảohiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay Từ đó so sánh với các quy định về nguồnhình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm của một số quốc gia trên thế giới để thấyđược sự tương đồng và khác biệt nhằm học hỏi và hoàn thiện
- Phân tích đánh giá thực tiễn tình hình áp dụng pháp luật về nguồnhình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội và chỉ ra những khó khăn vướngmắc trong quá trình thực hiện pháp luật
- Đề xuất định hướng giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật vềnguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam hiện nay
Trang 157 Nội dung nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dungluận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo
hiểm xã hội
Chương 2: Thực trạng pháp luật về nguồn hình thành và sử dụng quỹ
bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
Chương 3: Định hướng, giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về
nguồn hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ở Việt Nam
Trang 16Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
VÀ PHÁP LUẬT VỀ NGUỒN HÌNH THÀNH VÀ SỬ DỤNG
QUỸ BẢO HIỂM XÃ HỘI
1.1 Quỹ bảo hiểm xã hội
1.1.1 Khái niệm quỹ BHXH
Bảo hiểm xã hội là tập hợp những quy định pháp luật nhằm điều chỉnh
quan hệ kinh tế xã hội, nhằm đảm bảo trợ cấp cho người lao động trongnhững trường hợp ốm đau, thai sản, lao động nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất….Trong một số trường hợp còn là thành viên gia đình người lao động nhằmđảm bảo cuộc sống tối thiểu cho bản thân và gia đình người lao động nhanhchóng hội nhập với cộng đồng Như vậy, BHXH chính là sự đền bù, trợ giúpkhắc phục những hậu quả khi xảy ra những rủi ro trong xã hội Trong quan hệlao động, BHXH là một nhu cầu có tính khách quan, là sản phẩm tất yếu củanền kinh tế thị trường Khi nền kinh tế càng phát triển, các loại hình bảo hiểm
xã hội ngày càng phong phú Từ thực tiễn thực hiện BHXH cho thấy, sốngười tham gia BHXH càng đông, thời gian đóng góp càng dài, quy mô củaquỹ càng mở rộng thì hiệu quả kinh tế - xã hội của quỹ ngày càng tăng Mụcđích chính của quỹ BHXH là chi trả các khoản trợ cấp khi xảy ra rủi ro trongquan hệ lao động và dùng để trang trải các chi phí quản lý
Như vậy, theo nghĩa rộng, quỹ BHXH là tập hợp những phương tiệnnhằm thỏa mãn những nhu cầu phát sinh về BHXH trên cơ sở sự đóng gópcủa những người tham gia BHXH, cụ thể là các khoản dự trữ về tài chính, vàcác phương tiện, cơ sở vật chất phục vụ cho quỹ BHXH
Theo nghĩa hẹp và dưới góc độ kinh tế, quỹ bảo hiểm xã hội là một loạiquỹ tiền tệ tập trung, được dồn tích dần từ sự đóng góp của các bên tham gia
Trang 17bảo hiểm xã hội và được dùng để chi trả cho các chế độ bảo hiểm xã hội theoquy định của pháp luật Quỹ bảo hiểm xã hội còn có sự tham gia của nhànước Sự tham gia của nhà nước vào quỹ bảo hiểm xã hội để nhằm ổn địnhquỹ, thể hiện vai trò của nhà nước đối với vấn đề an sinh.
Tại Khoản 4 Điều 3 Luật BHXH năm 2014 quy định: “Quỹ bảo hiểm
xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ sựđóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ củaNhà nước” Như vậy, có thể hiểu về quỹ BHXH như sau:
Thứ nhất, nguồn tài chính của quỹ BHXH được hình thành từ nguồn đóng
góp của người tham gia BHXH và sự bảo trợ của Nhà nước Những người thamgia BHXH hàng tháng sẽ trích một phần thu nhập của mình đóng vào quỹ để tạolập và duy trì sự tồn tại của quỹ Việc đóng góp này tùy thuộc vào hình thức bảohiểm sẽ được quy định là có bắt buộc đóng hay không Nhưng đây chính lànguồn hình thành quỹ thường xuyên và ổn định Ở Việt Nam, thời kỳ đầu khicác chính sách về BHXH mới được ban hành, người được hưởng BHXH khôngphải đóng góp vào quỹ BHXH Quỹ này chỉ hình thành từ sự đóng góp củangười sử dụng lao động, điều này dẫn đến chính sách BHXH trở thành gánhnặng đối với Nhà nước Việc quy định về nguồn hình thành quỹ như hiện naytheo nguyên tắc có đóng có hưởng là cơ sở để quỹ BHXH trở thành quỹ tàichinh độc lập, tập trung nằm ngoài ngân sách nhà nước
Thứ hai, quỹ BHXH là một quỹ phi lợi nhuận mang tính chất tương trợ
cộng đồng, nhằm thỏa mãn các nhu cầu phát sinh về BHXH Có thể thấy, quỹBHXH được sử dụng để bù đắp hoặc thay thế cho NLĐ khi họ gặp phải rủi robiến cố làm suy giảm khả năng lao động, suy giảm sức khỏe, mất việc làm…nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân NLĐ và thân nhân của NLĐtrực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an sinh xã hội và phát triển kinhtế
Trang 181.1.2 Đặc điểm của quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất củamột quỹ, ngoài ra do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc trưngriêng có sau:
Một là, Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập ngoài ngân sách Nhà nướcnhưng sự an toàn về tài chính của quỹ được Nhà nước đảm bảo
Sự an toàn về tài chính được thể hiện là phải có một sự cân đối giữanguồn vào và nguồn ra của quỹ BHXH Chức năng của bảo hiểm xã hội làđảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao động và để thực hiện chức năngnày, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tàichính Để tạo sự an toàn này, về nguyên tắc tổng số tiền hình thành nên quỹphải bằng tổng số tiền chi ra từ quỹ Tuy nhiên, không phải cứ đồng tiền nàovào quỹ là được dùng để chi trả ngay Nếu như vậy đã không tồn tại kháiniệm quỹ BHXH Sau một khoảng thời gian nhất định, đôi khi tương đối dài(như đối với chế độ hưu trí) số tiền ấy mới được chi ra, cùng thời gian ấyđồng tiền luôn biến động và có thể bị giảm giá trị do lạm phát, điều này đặt rayêu cầu quỹ BHXH không chỉ phải bảo đảm về mặt số lượng mà còn phải bảotoàn về mặt giá trị Do đặc thù về đối tượng đảm bảo, bản chất, ý nghĩa củahoạt động BHXH mà Nhà nước phải có trách nhiệm bảo đảm sự an toàn về tàichính cho quỹ BHXH
Hai là, quỹ BHXH là quỹ tiền tệ tập trung, tồn tại trong thời gian dài,luôn vận động và có số dư tạm thời nhàn rỗi lớn
Quỹ BHXH là “của để dành” của người lao động phòng khi ốm đau,tuổi già và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người laođộng Trong quỹ BHXH luôn tồn tại một lượng tiền tạm thời nhàn rỗi ở mộtthời điểm hiện tại để chi trả trong tương lai, khi người lao động có đủ các điềukiện cần thiết để được hưởng trợ cấp (ví dụ như về thời gian và mức độ đóng
Trang 19góp BHXH) Số lượng tiền trong quỹ có thể được tăng lên bởi sự đóng gópđều đặn của các bên tham gia và bởi thực hiện các biện pháp tăng trưởng quỹ.Như vậy, sự ra đời, tồn tại và phát triển của quỹ BHXH gắn liền với chứcnăng vốn có của Nhà nước là vì quyền lợi của NLĐ chứ không phải vì mụcđích kiếm lời mà hoạt động trên nguyên tắc bảo tồn và tăng trưởng giá trịnhằm mục tiêu an toàn về tài chính quỹ.
Ba là, quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là
để chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đếnmất hay giảm thhu nhập Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồngthời cũng là đối tượng nhận trợ cấp Tuy nhiên, thời gian, chế độ và mức trợcấp của mỗi người sẽ khác nhau, điều đó phụ thuộc vào những rủi ro mà họgặp phải cũng như mức độ đóng góp và thời gian tham gia BHXH
Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là
có đóng - có hưởng, đóng ít - hưởng ít, đóng nhiều - hưởng nhiều nhưng nhưvậy không có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắnđưọc hưởng một khoản trợ cấp như nhau Trong thực tế, cùng tham giaBHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần(với chế độ ốm đau), thậm trí không được hưởng (chế độ thai sản)
Chính từ những đặc điểm này nên một số đối tượng được hưởng trợ cấp
từ quỹ BHXH thường lớn hơn so với mức họ đóng góp vào và ngược lại.Điều này thể hiện tính chất xã hội của toàn bộ hoạt động BHXH
Bốn là, quỹ BHXH vừa mang tính kinh tế vừa mang tính xã hội Vềmặt kinh tế, quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, được tạo lập để phânphối lại thu nhập cho người lao động, đảm bảo bù đắp một phần thu nhập chongười lao động và khi có sự kiện bảo hiểm xuất hiện Về mặt xã hội, do có sựchia sẻ rủi ro nên NLĐ chỉ phải đóng góp một phần thu nhập của mình vào
Trang 20quỹ BHXH và sẽ có một lượng vật chất đủ lớn để trang trải những rủi ro xảy
ra với NLĐ Như vậy quỹ BHXH đã thực hiện nguyên tắc “lấy số đông bùcho số ít”, thể hiện sự tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau giữa các thànhviên trong xã hội
1.2 Pháp luật về nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
1.2.1 Khái niệm nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập, tập trung nằm ngoài ngânsách nhà nước Điều kiện tiên quyết để một hệ thống BHXH hoạt động được
là phải hình thành được nguồn quỹ tiền tệ tập trung để rồi nguồn quỹ nàyđược dùng để chi trả trợ cấp cho các chế độ BHXH
Theo từ điển tiếng Việt Việt nam, nguồn được hiểu là nơi bắt đầu, xuấthiện hoặc nảy sinh một sự vật sự việc
Từ những nghiên cứu của tác giả về quỹ BHXH, tác giả đưa ra khái
niệm về nguồn hình thành quỹ BHXH như sau: nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội là nguồn thu hợp phác từ những đóng góp bằng tiền của người tham gia BHXH, từ hỗ trợ của Nhà nước, thu lợi từ hoạt động đầu tư quỹ, tiền do các cơ quan tổ chức hỗ trợ cho quỹ và tiền phạt do các cơ quan đơn
vị vi phạm pháp luật về BHXH , hình thành một quỹ tiền tệ tập trung để chi trả cho người được BHXH và gia đình họ khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập
do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm và đảm bảo cho các hoạt động của hệ thống BHXH Việt Nam.
Nguồn quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành trong mỗi quốc gia, mỗithời kỳ có sự khác nhau Có thời kỳ quỹ bảo hiểm xã hội không hình thành từ
sự đóng góp của người lao động với người sử dụng lao động Trong nền kinh
tế hàng hóa, việc đóng bảo hiểm vào quỹ bảo hiểm xã hội được chia cho cảngười lao động và người sử dụng lao động dựa trên cơ sở quan hệ lao động
Trang 21được xác lập giữa hai bên bằng hợp đồng lao động Điều này là sự thể hiện lợiích giữa hai bên, không mang tính phân chia rủi ro Ở khía cạnh NSDLĐ, khitham gia đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động sẽ tránh được những thiệthại về kinh tế khi phải chi trả một khoản tiền lớn cho người lao động mìnhthuê khi có phát sinh rủi ro Đồng thời nó cũng giúp cải thiện và kiến tạo mốiquan hệ tốt đẹp hơn giữa người lao động và người sử dụng lao động Ở khíacạnh người lao động, việc đóng góp một phần vào quỹ bảo hiểm xã hội đểđảm bảo cho chính quyền lợi của mình thể hiện trách nhiệm của chính mìnhcho những rủi ro hoặc những tình huống xảy ra trong tương lai.
1.2.2 Cơ sở hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Hình thành quỹ BHXH là khâu quan trọng nhất, quyết định đến sự tồntại và phát triển của cả hệ thống BHXH, đảm bảo sự cân đối, điều tiết của quỹBHXH Để quỹ bảo hiểm được hình thành và phát triển bền vững, lâu dài, cơ
sở hình thành quỹ BHXH phải được đặt trong tổng thể chính sách và nội dungphát triển kinh tế, xã hội Quỹ BHXH được hình thành dựa trên các cơ sở sau:
Thứ nhất, quỹ BHXH hình thành từ điều kiện về tài chính TrongBHXH hiện đại, điều kiện về tài chính là điều kiện tiên quyết làm cơ sở xâydựng quỹ BHXH và các chế độ BHXH Quỹ BHXH ở Việt Nam nói riêng và
ở các nước chủ yếu hình thành trên cơ sở sự đóng góp của các bên tham giaBHXH Sự đóng góp này tạo ra trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi giữa cácbên Thông qua việc đóng góp, BHXH đã gắn kết và điều hòa các mâu thuẫn
và lợi ích các bên Tuy nhiên, trong mối quan hệ tài chính BHXH, để xác địnhmức đóng góp của từng bên là rất phức tạp Nhìn chung, người ta lựa chọncách tổ chức và sử dụng quỹ BHXH thông qua sự đóng góp dần dần theo thờigian của nhiều người trong quan hệ BHXH Về phương diện kinh tế, việchàng tháng các chủ thể phải đóng một lượng tiền nhất định vào quỹ BHXH là
sự tồn tích dần theo thơi gian một quỹ tiền tệ Với cách này, phần tích hữu ích
Trang 22của giá trị sử dụng bị mất đi sẽ nhỏ hơn rất nhiều so với cách chi một lúc mộtkhoản tiền lớn Đây là phương pháp dàn trải đồng đều thiệt hại theo thời gian.
Về phương diện xã hội, thông qua sự tham gia của nhiều người dựa trên sựtính toán sác xuất phát sinh các thiệt hại của cả tập hợp NLĐ tham gia BHXHthì thiệt hại mà mỗi người gánh chịu sẽ không đáng kể nhưng lợi ích nhậnđược sẽ rất lớn Sự huy động nhiều người tham gia như vậy còn gọi là dàn trảithiệt hại cho số đông theo không gian và thời gian
Thứ hai, quỹ BHXH ra đời để khắc phục những “méo mó” của nềnkinh tế thị trường Quỹ BHXH góp phần đảm bảo an toàn, bình ổn nền kinh
tế Để phòng ngừa các hạn chế, tổn thất, các đơn vị kinh tế phải đề ra các quyđịnh chặt chẽ về an toàn lao động buộc mọi người phải tuân thủ Khi có rủi rovới NLĐ, quỹ BHXH kịp thời hỗ trợ, tạo mọi điều kiện cho NLĐ nhanhchóng khắc phụ được những tổn thất về vật chất và tinh thần để tiếp tục quátrình hoạt động bình thường
Thứ ba, quỹ BHXH hình thành từ nhu cầu của con người Nghiên cứu
về bảo hiểm xã hội và từ thực tiễn cuộc sống chúng ta có thể thấy, trong cuộcsống thường nhật, không có gì là đảm bảo vĩnh viễn rằng cuộc sống của mộtcon người sẽ bình yên từ khi sinh ra đến khi chết đi, mà có rất nhiều nhữngtrường hợp bất lợi phát sinh, làm cho con người bị giảm thu nhập hay mất đithu nhập như thai sản, gặp tai nạn, thất nghiệp, ốm đau, chết hay khi họ hếttuổi lao động không còn khả năng lao động Khi bị rơi vào những tình huốngnày, những nhu cầu cấp thiết về cuộc sống của con người không những khônggiảm đi mà còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm nhu cầu mới như thaisản cần có người chăm sóc, cần thêm kinh tế để trang trải chi tiêu hàngngày… Từ những lý do đó, con người cần tìm ra những biện pháp khắc phục,làm biện pháp phòng ngừa, khắc phục khi những tình huống trên xảy ra
Trong quan hệ lao động, khi nền công nghiệp hàng hóa phát triển, xuất
Trang 23hiện những nhà tư bản, họ không trực tiếp tạo ra của cải mà thuê nhân công
về làm thuê, sau đó họ trả thù lao cho người lao động Dần dần, từ thực tiễncuộc sống, nhu cầu của những người lao động cũng dần tăng lên, họ khôngchỉ đòi tiền lương mà còn đòi hỏi một khoản bù đắp hoặc thay thế để trangtrải cuộc sống khi họ gặp phải những bất lợi trong cuộc sống như ốm đau, tainạn, thất nghiệp, thai sản, tử tuất… Tuy nhiên, không phải trong cuộc sốngcủa mỗi người lúc nào cũng gặp phải những khó khăn đó, và như vậy lúc đóông chủ sẽ không phải chi trả một khoản tiền nào cho người lao động Ngượclại, có lúc các tình xuống xấu cứ dồn dập đến với người lao động, và do đóngười sử dụng lao động phải chi ra một khoản rất lớn Tránh gây tốn kém chomình, người sử dụng lao động đã không thực hiện những cam kết trợ cấp vớingười lao động, vì thế đã xảy ra mâu thuẫn giữa hai bên Để giải quyết mâuthuẫn này, cần phải có một bên thứ ba đủ uy tín và uy lực đóng vai trò làngười trung gian đảm bảo điều hòa lợi ích giữa người lao động và người sửdụng lao động Bên thứ 3 không ai khác chính là Nhà nước Hàng tháng,người lao động sẽ trích một khoản tiền nhỏ dựa trên phần trăm mức lương trảcho người lao động Đồng thời, người lao động cũng phải đóng góp một phầnđảm bảo cho chính lợi ích của mình Số tiền này sẽ giao cho bên thứ ba giữ.Các nguồn đóng của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ củanhà nước tạo thành một quỹ gọi là quỹ bảo hiểm xã hội Quỹ bảo hiểm xã hội
ra đời để đảm bảo nhu cầu được bảo đảm hoặc bù đắp khi người lao động gặpphải rủi ro, tai nạn, ốm đau, thai sản… Quỹ bảo hiểm xã hội ra đời thể hiệntruyền thống tốt đẹp của con người từ thuở xa xưa với một lòng “tương thântương ái”, “lá lành đùm lá rách”, sự đùm bọc lẫn nhau Bảo hiểm xã hội chính
là sự “bảo đảm thay thế hoặc bù đắp” một phần nào đó thu nhập của người laođộng khi họ gặp phải những khó khăn hoặc những sự kiện làm cho họ bị giảmthu nhập hoặc mất thu nhập như ốm đau, tai nạn lao động, thai sản, mất việc,
Trang 24bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết Khoản tiền để bù đắp chongười lao động dựa trên trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội.
Từ những cơ sở trên đã hình thành nên quỹ BHXH nhằm đáp ứng sựphát triển chung của toàn xã hội Để quỹ bảo hiểm xã hội ngày càng phát triểnmạnh, đòi hỏi nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội ngày càng được củng cố
và hoàn thiện ở mỗi quốc gia nói riêng và trên toàn thế giới nói chung Sựhình thành và phát triển của quỹ bảo hiểm xã hội phụ thuộc vào tình hình kinh
tế, chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, sự trợ giúp nhiều hay ít của Nhà nước.Song, nhìn chung cơ sở hình thành quỹ bảo hiểm xã hội chủ yếu được hìnhthành từ nhu cầu của nền kinh tế, xã hội và nhu cầu của con người
1.2.3 Sự cần thiết phải phát triển nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Từ xưa đến nay, con người sống, lao động và làm việc để nhằm mụcđích thỏa mãn các nhu cầu của mình Con người có các nhu cầu cơ bản như
ăn, ở, đi lại… đến các nhu cầu cao hơn như vui chơi, giải trí, được bảo vệ…
Xã hội ngày càng phát triển, cùng với đó nhu cầu của con người càng cao Vànhư vậy BHXH ra đời là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế hàng hóa
Trong hoạt động bảo hiểm xã hội, tồn tại mối quan hệ xuyên suốt giữanghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của các bên tham gia BHXH Mối quan hệnày dựa trên quan hệ lao động và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia Bảo hiểm
xã hội, bên BHXH và bên được BHXH Thứ nhất, bên tham gia BHXH là bên
có trách nhiệm đóng góp BHXH theo quy định của pháp luật BHXH Bêntham gia BHXH gồm có người lao động, người sử dụng lao động và Nhànước Người lao động tham gia BHXH để bảo hiểm cho chính mình trên cơ
sở san sẻ rủi ro của số đông người lao động khác Người sử dụng lao động cótrách nhiệm phải bảo hiểm cho người lao động mà mình thuê mướn Khi thamgia BHXH, người sử dụng lao động còn vì lợi ích của chính họ Bởi người sửdụng lao động cũng thực hiện san sẻ rủi ro với tập đoàn người sử dụng lao
Trang 25động, để bảo đảm cho quá trình sản xuất của họ không bị ảnh hưởng khi phátsinh nhu cầu BHXH Nhà nước tham gia BHXH với tư cách là người bảo hộcho các hoạt động của quỹ BHXH, bảo đảm giá trị đồng vốn, và hỗ trợ choquỹ BHXH trong những trường hợp cần thiết Ngoài ra, Nhà nước tham giaBHXH còn với tư cách chủ thể quản lý, định ra những chế độ, chính sách,
định hướng cho các hoạt động BHXH Thứ hai, bên BHXH, đó là bên nhận
BHXH từ những người tham gia BHXH Bên BHXH thường là một số tổchức (cơ quan, công ty…) do Nhà nước lập ra (ở một số nước có thể do tưnhân, tổ chức kinh tế – xã hội lập ra) và được Nhà nước bảo trợ, nhận sự đónggóp của người lao động, người sử dụng lao động, lập nên quỹ BHXH BênBHXH có trách nhiệm thực hiện chi trả trợ cấp cho bên được BHXH khi có
nhu cầu phát sinh và làm cho quỹ BHXH phát triển Thứ ba, bên được BHXH
là bên được quyền nhận các loại trợ cấp khi phát sinh những nhu cầu BHXH,
để bù đắp thiếu hụt về thu nhập do các loại rủi ro được bảo hiểm gây ra.Trong BHXH, bên được BHXH là người lao động tham gia BHXH và nhânthân của họ theo quy định của pháp luật, khi họ có phát sinh nhu cầu đượcBHXH do pháp luật quy định Giữa các bên có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Trong kinh tế thị trường, bên tham gia BHXH có thể đồng thời là bênđược BHXH (ví dụ như người lao động) Đối với người lao động độc lập, họvừa là người tham gia BHXH vừa là người được quyền hưởng BHXH vì họđóng phí được BHXH để bảo hiểm cho chính họ
Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có quy định mọi ngườitham gia BHXH đều phải có trách nhiệm đóng góp một phần thu nhập củamình vào quỹ BHXH Tuy nhiên, mức đóng góp ở mỗi quốc gia là ko giốngnhau Mức đóng BHXH thực chất là phí BHXH Phí BHXH là yếu tố quyếtđịnh cân đối thu chi cho quỹ BHXH Vì vậy, quỹ này phải được tính toán mộtcách khoa học Dựa vào nhu cầu khách quan của người lao động để xác định
Trang 26mức hưởng, rồi từ mức hưởng sau xác định mức phí phải đóng Việc xác địnhmức phí đóng BHXH là khá phức tạp vì nó liên quan đến NLĐ, NSDLĐ vàNhà nước Vì vậy để xác định mức phí đúng BHXH phải dựa vào nhiều yếu
tố, nhiều thông tin khác nhau về nguồn lao động, cơ cấu lao động theo ngành,
độ tuổi, giới tính… Ngoài ra còn phải xác định được tuổi thọ bình quân củamột quốc gia, xác suất ốm đau, tử vong của người lao động
Ở Việt Nam, quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ năm nguồn lànguồn đóng góp của NSDLĐ, nguồn đóng góp của NLĐ, hỗ trợ của Nhànước, tiền sinh lời từ hoạt động đầu tư từ quỹ và các nguồn thu khác (nhưnguồn tài trợ, viện trợ quốc tế, các tổ chức và cá nhân từ thiện ủng hộ, phầnnộp phạt của cá nhân và tổ chức vi phạm…) Trong các nguồn hình thành quỹBHXH này thì NLĐ và NSDLĐ đóng góp là cơ bản và chủ yếu Thôngthường nhà nước chỉ bù thiếu Thực tiễn lịch sử phát triển các nguồn hìnhthành quỹ BHXH cho thấy pháp luật luôn có sự quan tâm và điều chỉnh kịpthời các quy định về nguồn thu quỹ BHXH Trong đó phải kể đến quy định vềtrách nhiệm của người lao động hàng tháng phải trích tiền lương đóng vàoquỹ BHXH với một mức nhất định Quy định này hoàn toàn phù hợp với điềukiện kinh tế thị trường, góp phần tăng nguồn thu, tạo sự cân đối trong thu chicho quỹ BHXH
Như vậy, BHXH là một chế định bảo vệ người lao động, sử dụng tiềnđóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, và được sự tài trợ, bảo
hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đìnhtrong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạnlao động, thai sản, hết tuổi lao động hoặc chết theo quy định của pháp luật
Do đặc thù người tham gia bảo hiểm đóng phí trong một thời gian dài vàthường là rất lâu sau mới được hưởng các chế độ trợ cấp dài hạn (như hưu trí, tửtuất ), đồng thời, số người tham gia đóng phí và hưởng tại một thời điểm
Trang 27thường có chênh lệch dương nên quỹ BHXH tại một thời điểm nhất định có sốtiền kết dư lớn Tuy nhiên, quỹ BHXH cũng luôn phải đối mặt với những nguy
cơ rủi ro như việc tính toán mức đóng - mức hưởng của đối tượng không khoahọc; những biến động xã hội đặc biệt dẫn đến việc bội chi quỹ; bị giảm giá trị dolạm phát thông thường, do lạm phát từ các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị,
xã hội trong nước và nước ngoài tác động Vậy nên, việc phát triền nguồn hìnhthành quỹ BHXH giúp giải quyết mọi rủi ro trong phạm vi xác định của toàn bộnhững người tham gia BHXH trong mọi giai đoạn nhất định Nó giúp làm giảmtối thiểu thiệt hại kinh tế cho NSDLĐ và NLĐ, tiết kiệm chi ngân sách nhà nước
và ngân sách gia đình, gắn bó lợi ích của các bên với nhau, đồng thời còn đóngvai trò như những công cụ điều tiết và quản lý quan trọng trong lĩnh vực quan hệlao động và trên phạm vi cả xã hội
Từ những phân tích trên về các yếu tố tác động đến quỹ BHXH và sự cầnthiết phải phát triển quỹ BHXH, để phát triển quỹ BHXH cần tăng nguồn thu quỹBHXH Và điều này phải được thể chế hóa bằng các chính sách của pháp luật Một
số biện pháp tăng quỹ BHXH như tăng sự hỗ trợ của nhà nước, tăng đối tượngtham gia BHXH, tăng mức đóng, tính tỉ lệ cân đối giữa mức đóng với mức hưởng
để tránh chi vượt thu dẫn đến tình trạng vỡ quỹ Thực tế cho thấy các chính sáchBHXH của Việt Nam cũng thay đổi qua các thời kỳ để phù hợp với tình hình chinhtrị, kinh tế xã hội của đất nước nhằm duy trì và phát triển quỹ BHXH bền vững vàđảm bảo tính chiến lược, đảm bảo an sinh xã hội cho người dân
1.2.4 Đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội.
Luật BHXH 2014 quy định: “Quỹ bảo hiểm xã hội là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người
sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của Nhà nước” [34, Điều 3, Khoản 4] Quỹ
BHXH nhằm mục đích chi trả cho những người được BHXH và gia đình họkhi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do gặp các rủi ro, mất khả năng lao độnghoặc mất việc làm
Trang 28Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH là hoạt động BHXH ViệtNam sử dụng số tiền tạm thời nhàn rỗi để cho vay, tham gia đầu tư vốn, muatín phiếu, trái phiếu, công trái của kho bạc Nhà nước và các ngân hàng thươngmại của Nhà nước.
Do đặc thù của BHXH là người tham gia BHXH đóng phí trong mộtthời gian dài và thông thường rất lâu sau họ mới được hưởng các chế độ trợcấp dài hạn như hưu trí, tử tuất , đồng thời số người tham gia đóng phí vàhưởng tại một thời điểm thường có chênh lệch dương (đôi khi khá lớn) nênquỹ BHXH tại một thời điểm nhất định có số tiền kết dư lớn Bên cạnh đó,quỹ BHXH cũng luôn phải đối mặt với những nguy cơ rủi ro, như việc tínhtoán mức đóng - mức hưởng của đối tượng không khoa học; những biến động
xã hội đặc biệt dẫn đến việc bội chi quỹ; bị giảm giá trị do lạm phát thôngthường, do lạm phát từ các cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội trongnước và nước ngoài tác động Từ những lý do này đòi hỏi quỹ BHXH phảiđược đầu tư tăng trưởng để tránh bị bội chi Sự quay vòng bảo toàn và tăngtrưởng quỹ BHXH là một đặc trưng cơ bản của hoạt động BHXH trong nềnkinh tế thị trường Hoạt động đầu tư quay vòng vốn để bảo toàn và tăngtrưởng giá trị quỹ BHXH là một yêu cầu tất yếu khách quan, đảm bảo cho sựtồn tại, phát triển và phát huy tác dụng của chính sách BHXH trong việc bảođảm an sinh xã hội và hỗ trợ cho nền kinh tế phát triển bền vững, được thểhiện cụ thể như sau:
Thứ nhất, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH trước hết là giúp
mang lại lợi ích cho chính quỹ BHXH Thông qua hoạt động đầu tư quỹBHXH vào các lĩnh vực có khả năng sinh lời của nền kinh tế, nguồn tài chínhnhàn rỗi từ quỹ BHXH có thể tạo ra một nguồn tài chính tương đối lớn bổ sungvào quỹ, từ đó tăng quy mô và sức mạnh cho quỹ BHXH Mặt khác, quy mô sốngười tham gia BHXH ngày càng tăng cũng tạo nên sự tăng trưởng cho quỹ,đảm bảo khả năng chi trả thường xuyên cho các đối tượng hưởng chế độ
Trang 29Thứ hai, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH giúp mang lại lợi ích
nền kinh tế Nguồn vốn lớn có được từ tín dụng quỹ BHXH sẽ hỗ trợ quantrọng để đầu tư phát triển một số dự án phát triển kinh tế - xã hội của Nhànước, giúp thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Đặc biệt, trong điềukiện nền kinh tế đang phát triển, nhu cầu vốn cho đầu tư không ngừng tăngnhanh thì bên cạnh việc thu hút các nguồn vốn đầu tư trong nước và nướcngoài, việc cung ứng vốn từ nền kinh tế thông qua các tụ điểm tài chính nhưquỹ BHXH có ý nghĩa rất quan trọng, nhất là tạo ra sự tự chủ và thế chủ độngtrong việc phát triển kinh tế đất nước
Thứ ba, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH giúp mang lại lợi ích
cho chính nguồn ngân sách nhà nước Thông thường Nhà nước phải hỗ trợmột phần ngân sách Nhà nước để cân bằng thu - chi quỹ BHXH Quỹ BHXHđầu tư hiệu quả, đem lại một nguồn tài chính không nhỏ sẽ giúp ngân sáchNhà nước giảm gánh nặng bù đắp cho quỹ BHXH
Hiện nay, quỹ BHXH thường được đầu tư vào các lĩnh vực như: muacác loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu địa phương hoặc trái phiếu công ty;gửi tiết kiệm ở ngân hàng, mua kỳ phiếu ngân hàng; mua cổ phiếu; cho cáccông ty vay vốn; trực tiếp liên doanh hoặc uỷ thác kinh doanh; kinh doanh bấtđộng sản Trong đó, mua trái phiếu chính phủ và gửi ngân hàng là an toàn hơn
cả và được hầu hết các nước áp dụng
Tại điều 92 Luật BHXH 2014 quy định về các hình thức đầu tư tăngtrưởng quỹ BHXH bao gồm: mua trái phiếu Chính phủ; gửi tiền, mua tráiphiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi tại các ngân hàng thương mại có chất lượnghoạt động tốt theo xếp loại tín nhiệm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; chongân sách nhà nước vay
Tuy nhiên, ở những nước có hệ thống BHXH trưởng thành và hệ thống
Trang 30pháp luật hoàn chỉnh, Nhà nước một mặt để hệ thống BHXH tự chủ về tàichính, mặt khác luôn hậu thuẫn để BHXH dám đầu tư vào lĩnh vực có thể ítlãi hơn nhưng có mục tiêu xã hội quan trọng như cho vay xây dựng các côngtrình phúc lợi công cộng, các công trình giáo dục hay chăm sóc sức khoẻ Một
số nước lập ngân hàng riêng trong hệ thống BHXH để đầu tư vào các xínghiệp với mục tiêu chính là tạo công ăn việc làm … (31)
Hoạt động đầu tư và tăng trưởng quỹ BHXH phải được hoạch toán vàbáo cáo riêng theo các quy định tại chế độ hoạch toán kế toán BHXH Bêncạnh đó, hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH phải tuân thủ các nguyêntắc đầu tư Quá trình đem số dư tạm thời nhàn rỗi của quỹ BHXH đầu tư sinhlời phải tuân thủ chặt chẽ những nguyên tắc về an toàn và hiệu quả để hạn chếtối đa rủi ro Mặt khác, xuất phát từ đặc điểm và mục đích hoạt động của quỹBHXH, hoạt động đầu tư vốn nhàn rỗi còn phải đảm bảo nguyên tắc thanhkhoản và lợi ích xã hội
Tại Luật BHXH 2014 quy định về nguyên tắc đầu tư: “Hoạt động đầu
tư từ quỹ bảo hiểm xã hội phải bảo đảm an toàn, hiệu quả và thu hồi được vốnđầu tư” [34, Điều 91]
Như vậy, đầu tư nhằm bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH có vai trò quantrọng và góp phần đảm bảo quyền lợi cho người lao động, thực hiện an sinh xãhội Song với sự vận động không ngừng của thực tiễn kinh tế, nội dung và hìnhthức đầu tư cần được tiếp tục nghiên cứu để hoạt động đầu tư quỹ BHXH đạthiệu quả cao nhất, phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước
1.3 Pháp luật về sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
1.3.1 Khái niệm sử dụng quỹ BHXH
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu để chi trả cho các đối tượng hưởngchế độ BHXH Các chế độ BHXH được áp dụng đối với NLĐ nhiều hay ít,mức độ hưởng của từng loại chế độ cao hay thấp phụ thuộc vào chính sách xã
Trang 31hội do mỗi quốc gia quy định.
Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành công ước số 102 ngày04/6/1952 quy định các chế độ trợ cấp gồm: trợ cấp ốm đau, chăm sóc y tế,trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp tàn tật trợ cấp thai sản và trợ cấp tử tuất Tuynhiên, dựa vào tình hình kinh tế - xã hội mà mỗi quốc gia lại quy định nhiệm
vụ chi đối với từng chế độ cụ thể mà công ước quy định Ở Việt Nam, banđầu quỹ BHXH chỉ tập trung chi cho quỹ hưu trí do kinh tế Việt Nam cònchưa đáp ứng được điều kiện chi trả cho các chế độ khác Nhưng đến nay, cơcấu quỹ BHXH của Việt Nam khá đầy đủ và ổn định cho các chế độ hưu trí,chế độ TNLĐ – BND, chế độ ốm đau, chế độ thai sản và tử tuất
Bên cạnh đó, quỹ BHXH còn được sử dụng cho các nhiệm vụ chi khácnhư chi cho hoạt động thường xuyên để duy trì bộ máy làm việc của cơ quanBHXH, đầu tư cơ sở vật chất, chi cho khen thưởng các cá nhân đạt thành tíchtốt trong công tác thực hiện pháp luật về quỹ BHXH và chi cho hoạt động đầu
tư để bảo toàn và tăng trưởng quỹ BHXH
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXH được
sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH nhằm mục đích ổn địnhcuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp rủi
ro Ngoài việc chi trả trợ cấp theo các chế độ BHXH, quỹ BHXH còn được sửdụng cho chi phí quản lý cho những người làm việc trong hệ thống BHXH, khấuhao tài sản cố định, văn phòng phẩm và một số khoản chi khác v.v
Như vậy, có thể hiểu sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội là quá trình phân phối, chi trả từ tiền quỹ BHXH cho các đối tượng hưởng các chế độ bảo hiểm
xã hội khi đối tượng tham gia BHXH giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm nhằm mục đích ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ và đảm bảo cho các hoạt động của hệ thống BHXH Việt Nam.
Sử dụng quỹ BHXH được thực hiện bởi hai quá trình phân phối và chi
Trang 32hỗ trợ 1 phần đóng [18, tr.17] Ở nước ta, quỹ BHXH được chia thành baquỹ là quỹ BHXH bắt buộc, quỹ BHXH tự nguyện và quỹ BHXH thất nghiệp.
Phân phối và chi trả quỹ BHXH là hai phạm trù khác nhau nhưng trongthực tế hai quá trình này thường đan xen lẫn nhau Tuy nhiên cũng có nhữngtrường hợp, từ mục đích sử dụng quỹ đòi hỏi phải tách riêng hai quá trìnhtheo thứ tự trước sau
1.3.2 Nguyên tắc sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Một trong những nguyên tắc khi thực hiện chính sách bảo hiểm xãhội được quy định trong BHXH là:
Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minhbạch; được sử dụng đúng mục đích và được hạch toán độc lập theo các quỹ thànhphần, các nhóm đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định vàchế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định [34, Điều 5, Khoản 4]
Bảo hiểm xã hội là chính sách lớn, ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời
Trang 33sống xã hội, chứa đựng cả nội dung kinh tế, nội dung xã hội và nội dung pháp
lý Để đảm bảo thực hiện hài hòa các nội dung nói trên và đạt được mục tiêu
mà bảo hiểm xã hội đặt ra thì việc thực hiện bảo hiểm xã hội trước hết là tráchnhiệm của Nhà nước Nhà nước là người trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lýtoàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội thông qua việc ban hành các quy định phápluật về bảo hiểm xã hội và kiểm tra thực hiện các quy định đó
Mặt khác, quỹ bảo hiểm xã hội với ý nghĩa là một quỹ tích lũy hìnhthành trên cơ sở đóng góp của ba bên (Nhà nước – người sử dụng lao động –người lao động), nhằm giúp đỡ về mặt vật chất cho người lao động khi họ gặprủi ro, khó khăn không chỉ khi đang tham gia quan hệ lao động Do đó bêncạnh nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm cho các chủ thể tham gia quan hệ lao độngthì Nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội và trong trường hợpcần thiết Nhà nước có các biện pháp để bảo toàn giá trị quỹ, đảm bảo sự antoàn về tài chính cho quỹ bảo hiểm xã hội
Sử dụng quỹ BHXH là một hoạt động phức tạp, lâu dài và có liên quanđến sự ổn định của cả hệ thống BHXH do vậy việc sử dụng quỹ BHXH đòihỏi phải thực hiện nhất quán các nguyên tắc sau:
- Khi sử dụng quỹ BHXH phải chú ý đến cân bằng thu – chi: đây lànguyên tắc căn bản nhất để đảm bảo cho sự tồn tại cũng như phát triển củaquỹ BHXH, mức đóng phải cân bằng với mức hưởng, với nhu cầu BHXH vàđược điều chỉnh một cách tối ưu nhất
- Sử dụng quỹ BHXH phải đúng đối tượng: đối tượng được hưởng trợcấp BHXH thường rất phức tạp và tương đối đa dạng, do đó khi sử dụng quỹBHXH để chi trả cho các đối tượng không được phép xảy ra sự sai xót đángtiếc nào, nếu để xảy ra sai xót không những ảnh hưởng tới quyền lợi của ngườiđược hưởng trợ cấp BHXH mà còn ảnh hưởng tới uy tín của ngành BHXH
- Sử dụng quỹ BHXH đúng chế độ: chi BHXH là công tác quan trọng
Trang 34không chỉ cho đối tượng được hưởng BHXH mà còn đảm bảo sự thườngxuyên, liên tục của công tác BHXH, sự nghiệp BHXH do đó xác định đúngchế độ hưởng cho người lao động là việc hết sức cần thiết.
- Sử dụng quỹ BHXH đầy đủ, chính xác: NLĐ tham gia BHXH mộtcách đầy đủ thì họ có quyền hưởng đầy đủ lợi ích mà họ đã tham gia khi gặpphải những rủi ro trong cuộc sống Nguyên tắc đầy đủ, chính xác ở đây không
có nghĩa đóng bao nhiêu NLĐ hưởng lại đúng bấy nhiêu mà còn tùy thuộcvào những rủi ro mà họ gặp phải Như vậy, việc sử dụng quỹ BHXH nhằmchi trả đầy đủ, chính xác với mỗi trường hợp thụ hưởng
- Quỹ BHXH được sử dụng kịp thời: chi trả BHXH là góp phần trợ giúpcho người lao động những lúc họ gặp khó khăn trong cuộc sống vì vậy chi trảnhanh chóng, kịp thời là nguyên tắc cơ bản để giữ gìn niềm tin của người lao độngđối với chế độ BHXH cũng như hỗ trợ người lao động khi họ khốn khó nhất
- Sử dụng quỹ BHXH an toàn: nguyên tắc quan trọng hàng đầu tronghoạt động đầu tư quỹ BHXH là an toàn An toàn ở đây không chỉ bảo toànđược số vốn đầu tư mà còn phải giữ được giá trị thực sự của vốn nhằm trướchết là bảo toàn được quỹ, đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động
về chi trả BHXH Nếu hoạt động đầu tư để xảy ra tình trạng không an toàn,gánh nặng sẽ đè lên vai Nhà nước và nguy hại hơn là dẫn đến sự mất ổn định
về xã hội - chính trị, mất lòng tin của người dân An toàn tiền mặt khôngnhững góp phần đảm bảo nguồn quỹ chi trả mà còn thể hiện tính pháp luậtcao trong công tác bảo vệ tài sản chung của xã hội Mặt khác, do hậu quả củaviệc mất quỹ BHXH là rất nghiêm trọng nên quỹ BHXH không được đầu tưvào lĩnh vực rủi ro cao, mạo hiểm lớn; không nên tập trung đầu tư vào một ít
dự án hoặc công trình, mà nên phân tán đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác nhau
cả trong nước và ngoài nước để giảm thiểu rủi ro trong đầu tư Ngoài ra, quỹBHXH cần được Chính phủ ưu tiên đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao
Trang 35- Đầu tư tăng trưởng quỹ BHXH đảm bảo tính hiệu quả Nguyên tắcnày rất quan trọng vì nếu đầu tư không sinh lời thì không thể thực hiện đượcmục tiêu tăng trưởng quỹ, và ảnh hưởng tới độ an toàn của quỹ cũng như khảnăng chi trả trong tương lai Để thực hiện được nguyên tắc này, cần thiết phảixác định được danh mục đầu tư, các lĩnh vực đầu tư chủ yếu Đối với từng dự
án đầu tư, phải đánh giá chính xác nhất hiệu quả kinh tế dựa trên một hệthống các chỉ tiêu khoa học, từ đó mới có được quyết định đầu tư đúng đắn,mang lại lợi nhuận cao
- Sử dụng quỹ BHXH phải chú trọng đến tính thanh khoản của dòngvốn Quỹ BHXH luôn vận động không ngừng, đó là quá trình tạo lập và sửdụng quỹ để chi trả cho các đối tượng hưởng chế độ BHXH Do vậy, đầu tưquỹ vào lĩnh vực nào, dưới hình thức nào cũng phải đảm bảo khả năng chuyểnđổi các tài sản đầu tư thành tiền mặt để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ chi trảcho người lao động
Thủ tục thanh toán cũng là một vấn đề cần xem xét khi quyết định đầu
tư, đảm bảo thủ tục không quá phức tạp, dẫn đến tồn khoản Ngoài ra, đầu tưtăng trưởng quỹ BHXH còn phải đảm bảo lợi ích kinh tế và xã hội, bởiBHXH là một chính sách xã hội quan trọng của Nhà nước
Tuỳ theo tính chất và nội dung đầu tư mà các nguyên tắc trên có tầm quantrọng khác nhau Chẳng hạn, khi đầu tư dài hạn thì nguyên tắc dễ luân chuyểnvốn không quan trọng bằng nguyên tắc an toàn và hiệu quả Ngược lại, đầu tưngắn hạn thì nguyên tắc dễ luân chuyển vốn phải được ưu tiên hàng đầu
Để hạn chế được thất thoát cho quỹ và nâng cao tính hiệu quả trongquản lý quỹ bảo hiểm xã hội thì cần phải thực hiện được đầy đủ các nguyêntắc này Trong quản lý nhà nước về tài chính bảo hiểm xã hội cần quy định vàhướng dẫn cụ thể về các hạng mục thu, chi; quy chế quản lý đầu tư quỹ bảohiểm xã hội cũng cần phải rõ ràng, minh bạch…; đồng thời phải có cơ chế
Trang 36kiểm tra, giám sát, chế độ báo cáo, kiểm toán… Bên cạnh đó, bảo hiểm xãhội là cơ quan quản lý quỹ cần có chiến lược về tuyển dụng, đào tạo, bồidưỡng để hình thành được một đội ngũ cán bộ có đầy đủ chuyên môn nghiệp
vụ, kỹ năng về quản lý tài chính nhằm đáp ứng tốt nhiệm vụ được giao.Nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính hiệu quả của an sinh xã hội, tính thốngnhất, công khai và minh bạch nhằm tránh sự chồng chéo trong hệ thốngBHXH, tạo điều kiện thuận lợi cho các đối tượng tham gia BHXH
1.3.3 Mục đích của việc sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Pháp luật về sử dụng quỹ BHXH quy định những vấn đề quan trọng, cơbản nhất về sử dụng quỹ BHXH như chi trả trợ cấp của quỹ và tổ chức quản
lý quỹ BHXH Trong đó quy định về chi quỹ BHXH là quan trọng nhất Việc
tổ chức quản lý với quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cũng là nội dung quantrọng không thể thiếu khi điều chỉnh pháp luật về quỹ BHXH
Quỹ BHXH chủ yếu được sử dụng để chi trả các chế độ BHXH Ngoài
ra, quỹ BHXH còn được sử dụng để chi trả chi phí cho bộ máy quản lý, chicho hoạt động đầu tư quỹ
Thứ nhất, quỹ BHXH được sử dụng để chi trả cho các chế độ BHXH.Mức chi các chế độ BHXH cho người thụ hưởng được xây dựng theo nguyêntắc: “mức hưởng BHXH được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóngBHXH và có chia sẽ giữa những người tham gia BHXH” (Khoản 1 Điều 5Luật BHXH 2014) Như vậy thông thường lao động đóng góp nhiều vào quỹBHXH thì sẽ được hưởng mức cao do nguồn quỹ chi trả Mức hưởng của cácchế độ còn phụ thuộc vào điều kiện hưởng như tình trạng sức khỏe và tuổi đờicủa người tham gia bảo hiểm.Thông thường mức hưởng các chế độ BHXHcủa NLĐ được tính trên mức thu nhập bình quân trước thời điểm NLĐ đượchưởng các chế độ BHXH nhân với tỉ lệ phần trăm (%) Tuy nhiên cũng có chế
độ quy định mức hưởng tuyệt đối chung cho mọi người có đủ điều kiện được
Trang 37hưởng và mức trợ cấp của NLĐ thường sẽ thấp hơn khi đang làm việc.
Hiện nay, quỹ BHXH được dùng chủ yếu để chi trả cho các chế độBHXH Ở Việt Nam hiện nay, BHXH gồm 5 chế độ: trợ cấp thai sản, trợ cấp
ốm đau, trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hưu trí và tử tuất Do
đó, mức chi các chế độ BHXH cho người được hưởng BHXH chiếm phần lớn
và quan trọng trong tổng mức chi của quỹ BHXH
Thứ hai, chi cho hoạt động của bộ máy quản lý và chi phí cho hoạt độngđầu tư quỹ BHXH Chi phí quản lý là khoản chi cho bộ máy quản lý BHXH nhưtrả lương cho các bộ nhân viên ngành bảo hiểm, chi đầu tư xây dựng cơ sở vậtchất, mua trang thiết bị và những tài sản cố định nhằm duy trì hoạt động của các
tổ chức BHXH Mức chi này có thể được quy định trong điều lệ BHXH hoặccũng có thể được lập trong NSNN Nguồn chi này chỉ chiếm tỉ lệ trong tổngnguồn chi từ quỹ Tuy nhiên, nếu tiết kiệm đến mức tối đa nguồn chi này thìcũng đồng nghĩa với việc tăng nguồn thu cho quỹ BHXH
Như vậy, quỹ bảo hiểm xã hội được chi trả chủ yếu cho các đối tượnghưởng chế độ BHXH Các chế độ BHXH được áp dụng đối với người laođộng nhiều hay ít, mức độ hưởng của từng loại chế độ cao hay thấp phụ thuộcvào chính sách BHXH do mỗi nhà nước quy định Ngoài ra quỹ BHXH cònđược sử dụng cho các mục đích chi khác như chi cho hoạt động thường xuyên
để duy trì bộ máy làm việc của cơ quan BHXH, chi cho đầu tư cơ sở vật chất,chi cho cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác thực hiện pháp luật vềquỹ BHXH Bên cạnh đó quỹ BHXH còn chi cho hoạt động đầu tư để bảotoàn và tăng trưởng quỹ BHXH Phần quỹ nhàn rỗi phải được đem đầu tư sinhlời nhằm bảo toàn và tăng trưởng nguồn quỹ Quá trình đầu tư phải đảm bảonguyên tắc an toàn, có lợi nhuận, có khả năng thanh toán và đảm bảo lợi íchkinh tế xã hội
1.3.4 Nội dung sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Trang 38Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) quỹ BHXHđược sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH nhằm mục đích
ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia bảohiểm gặp rủi ro Thực chất là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lêntrong Công ước 102 tháng 6 năm 1952 tại Giơnevơ bao gồm: chăm sóc y tế;trợ cấp ốm đau; trợ cấp thất nghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động
và bệnh nghề nghiệp; trợ cấp gia đình; trợ cấp sinh đẻ; trợ cấp khi tàn phế; trợcấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Chín chế độ này đã hình thành nên một hệ thống các chế độ BHXH Tuỳtheo điều kiện kinh tế - xã hội mà mỗi nước tham gia công ước Giơnevơ thựchiện khuyến nghị đó ở mức độ khác nhau, nhưng ít nhất mỗi nước phải thực hiệnđược 3 chế độ Trong đó, ít nhất phải có một trong năm chế độ: trợ cấp thấtnghiệp; trợ cấp tuổi già; trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp; trợ cấpkhi tàn phế; trợ cấp cho người còn sống (trợ cấp mất người nuôi dưỡng)
Mỗi chế độ trong hệ thống này khi xây dựng đều dựa trên những cơ sởkinh tế xã - hội, tài chính, thu nhập, tiền lương… Đồng thời, tuỳ từng chế độkhi xây dựng còn phải tính đến yếu tố sinh học, tuổi thọ bình quân, nhu cầudinh dưỡng, xác suất tử vong… của mỗi quốc gia
Nội dung sử dụng quỹ BHXH ở nước ta hiện nay theo Luật BHXH
Trang 39độ BHXH trước ngày 01/01/1995, gồm: các chế độ BHXH hàng tháng nhưlương hưu (hưu quân đội và hưu công nhân viên chức), trợ cấp mất sức laođộng, trợ cấp công nhân cao su, trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTgngày 4/8/2000, trợ cấp theo Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010, trợcấp TNLĐ-BNN, trợ cấp phục vụ người bị TNLĐ-BNN, trợ cấp tuất (địnhsuất cơ bản và định suất nuôi dưỡng) Các chế độ BHXH một lần như trợ cấptuất một lần trong các trường hợp được quy định khi người hưởng lương hưu,trợ cấp mất sức lao động, người hưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng đãnghỉ việc, chết; trợ cấp mai táng khi người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sứclao động, trợ cấp theo Quyết định số 91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000, trợ cấptheo Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010, trợ cấp công nhân cao su vàTNLĐ-BNN hàng tháng đã nghỉ việc, chết; BHXH một lần đối với ngườiđang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng ra nước ngoài định cư; cấpphương tiện trợ giúp sinh hoạt, dụng cụ chỉnh hình cho người bị TNLĐ-BNN;phí khám giám định mức suy giảm khả năng lao động; Phụ cấp khu vực; Trợcấp theo Quyết định số 52/2013/QĐ-TTg ngày 30/8/2013 Đóng BHYT chongười hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp Quyết định số91/2000/QĐ-TTg ngày 4/8/2000, trợ cấp công nhân cao su, trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng, trợ cấp theo Quyết định số 613/QĐ-TTg ngày 6/5/2010.
Thứ hai, chi từ nguồn quỹ BHXH cho người hưởng các chế độ BHXH
từ ngày 01/01/1995, gồm:
Quỹ hưu trí, tử tuất chi cho: Một là, chế độ BHXH bắt buộc hàng tháng
như lương hưu (hưu quân đội và hưu công nhân viên chức), trợ cấp cán bộ xã,
phường, thị trấn, trợ cấp tuất (định suất cơ bản, định suất nuôi dưỡng) Hai là, chế độ BHXH tự nguyện hàng tháng như lương hưu Ba là, các chế độ BHXH
một lần: Chế độ BHXH bắt buộc như trợ cấp một lần khi nghỉ hưu; BHXHmột lần; trợ cấp mai táng; trợ cấp tuất một lần; trợ cấp khu vực một lần; chế
độ BHXH tự nguyện như trợ cấp một lần khi nghỉ hưu; BHXH một lần đối
Trang 40với người không đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng; trợ cấp tuất mộtlần; trợ cấp mai táng; trợ cấp khu vực một lần; BHXH một lần đối với ngườiđang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng ra nước ngoài định cư.
Bốn là, đóng BHYT cho người hưởng lương hưu, cán bộ xã, phường, thị trấn
đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng, người từ đủ 80 tuổi trởlên đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng
Quỹ TNLĐ-BNN theo Luật an toàn, vệ sinh lao động 2015 chi cho: Một
là, trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng; trợ cấp phục vụ TNLĐ-BNN Hai là, trợ
cấp TNLĐ-BNN một lần, gồm: chi phí giám định thương tật, bệnh tật; chiphí khám giám định y khoa đối với trường hợp người lao động chủ động đikhám giám định mức suy giảm khả năng lao động và kết quả khám giám định
đủ điều kiện để hưởng bảo hiểm xã hội; trợ cấp một lần khi bị TNLĐ-BNN;trợ cấp một lần khi chết do TNLĐ-BNN; chi hỗ trợ phương tiện trợ giúp sinhhoạt, dụng cụ chỉnh hình; chi hỗ trợ phòng ngừa, chia sẻ rủi ro về tai nạn laođộng, bệnh nghề nghiệp (bao gồm các hoạt động: khám bệnh, chữa bệnh nghềnghiệp, phục hồi chức năng lao động, điều tra lại các vụ TNLĐ-BNN theo yêucầu của cơ quan BHXH, huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người thamgia bảo hiểm TNLĐ-BNN); hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người bị tai nạnlao động, bệnh nghề nghiệp khi trở lại làm việc; dưỡng sức phục hồi sức khỏesau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật; trợ cấp một lần đối với người đanghưởng trợ cấp TNLĐ-BNN hàng tháng ra nước ngoài định cư Đóng BHYTcho người đang hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng
Quỹ ốm đau, thai sản chi cho: Một là, chế độ ốm đau; chế độ thai sản; dưỡng sức phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, thai sản Hai là, đóng BHYT cho
người lao động mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tếban hành; người lao động nghỉ thai sản khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi
Quỹ BHTN chi cho: trợ cấp thất nghiệp; hỗ trợ học nghề; hỗ trợ tư vấn,