Luận văn làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và xử lý vi phạm. Thực trạng vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và xử lý vi phạm theo pháp luật Việt Nam, nhất là những tồn tại, hạn chế trong quy định pháp luật về vấn đề này. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, ngăn ngừa, hạn chế hành vi vi phạm và nâng cao hiệu quả trong việc xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ KIM ANH
Vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và xử lý vi phạm
theo pháp luật Việt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ KIM ANH
Vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và xử lý vi phạm
theo pháp luật Việt Nam
Chuyờn ngành: Luật Kinh tế
Mó số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ HẰNG
HÀ NỘI - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Kim Anh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM 6
1.1 Vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 6
1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 6
1.1.2 Phân loại vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 12
1.1.3 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 13
1.1.4 Ảnh hưởng của (hành vi) vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 17
1.2 Xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 18
1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 18
1.2.2 Sự cần thiết phải xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 19
1.2.3 Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động .20
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 26
Chương 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG, XỬ LÝ VI PHẠM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN 27
2.1 Thực trạng vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam 27
2.1.1 Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về các hành vi vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 27
Trang 52.1.2 Thực tiễn vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động 37
2.2 Thực trạng xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động theo quy định pháp luật Việt Nam 43
2.2.1 Các biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành 43
2.2.2 Thực tiễn xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động theo quy định pháp luật Việt Nam 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT, HẠN CHẾ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ VI PHẠM .58
3.1 Yêu cầu hoàn thiện pháp luật về vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và xử lý vi phạm 58
3.2 Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam về vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và xử lý vi phạm 59
3.3 Một số kiến nghị nhằm hạn chế hành vi vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm 62
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68
KẾT LUẬN 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 70
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
KLLĐ ngày càng có ý nghĩa quan trọng nhất là khi đất nước Việt Namtrong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua giai đoạn chủ nghĩa tư bản.Hơn nữa, hiện nay đất nước Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, đẩymạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo tinh thần tại đại
hội XII đó là: “Trong 5 năm tới tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chú trọng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, phát triển nhanh, bền vững; phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”[18] Để xây dựng nhà nước xã
hội chủ nghĩa, đồng thời xây dựng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước thì KLLĐ có vai trò hết sức quan trọng Có thể nói, KLLĐ là chìakhoá tạo nên thành công không chỉ đối với mỗi cá nhân mà còn tạo nên thànhcông đối với tập thể, nhóm người, tổ chức, KLLĐ giúp cho quá trình laođộng diễn ra một cách trật tự, ổn định, năng suất lao động cao đặc biệt trongnền kinh tế thị trường như hiện nay, trong đó sự phát triển của kinh tế, sựphân công lao động, tính chuyên môn hoá ngày càng cao và cả sự cạnh tranhngày càng khốc liệt
Trên thực tế, NSDLĐ chưa thực sự quan tâm nhiều tới quy định phápluật lao động nói chung và quy định pháp luật về KLLĐ nói riêng Hiện nay,hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ ngày càng gia tăng với tính chất, mức độkhác nhau Có thể kể tới một số hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ tiêu biểunhư sa thải NLĐ khi đang mang thai, nuôi con nhỏ; phạt tiền, trừ lương NLĐ;không có nội quy lao động bằng văn bản, không đăng ký nội quy lao động với
cơ quan có thẩm quyền, xử lý kỷ luật lao động vô căn cứ, không tuân thủ trình
tự, thủ tục luật định, người xử lý kỷ luật lao động vi phạm điều cấm của pháp
Trang 8luật,… Những hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ đều gây ra ảnh hưởng tớiNLĐ và toàn xã hội.
KLLĐ là vấn đề quan trọng dù ở góc độ thực tiễn, quản lý hay pháp lý.Pháp luật Việt Nam khá chú trọng tới chế định KLLĐ trong BLLĐ Nhà nướcxây dựng khung pháp lý cho vấn đề pháp luật về KLLĐ, trong đó có vấn đề
xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ Nhưng pháp luật hiện hành còn khá nhiềuđiểm bất cập dẫn tới hạn chế trong việc xác định hành vi vi phạm pháp luật vềKLLĐ và xử lý vi phạm Việc xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ chưa manglại hiệu quả cao, chưa đủ sức răn đe, giáo dục đối với chủ thể vi phạm vànhững chủ thể khác
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn nói trên, tôi lựa chọn vấn đề “Vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động và xử lý vi phạm theo pháp luật Việt Nam” làm
đề tài luận văn Thạc sỹ Luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Có thể nói việc nghiên cứu về vi phạm pháp luật về KLLĐ và xử lý
vi phạm của các nhà nghiên cứu, quản lý chưa nhiều, tập trung vào một sốhướng như: sự khác nhau cơ bản KLLĐ với kỷ luật khác, các hình thức xử
lý KLLĐ, một số vấn đề cơ bản về KLLĐ và hướng hoàn thiện Trên tạp
chí, có một số bài viết phân tích về KLLĐ như “Kỷ luật lao động – Một số bất cập và hướng hoàn thiện” của tác giả Đỗ Ngân Bình, Tạp chí Luật học
số 11/2015; “Thực trạng pháp luật về quyền xử lý kỷ luật lao động của người sử dụng lao động và một số kiến nghị” của tác giả Đỗ Thị Dung, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 2 + 3/2014; “Một số vấn đề về kỷ luật lao động
sa thải trái pháp luật theo quy định của bộ luật lao động” của tác giả
Nguyễn Hùng Cường, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước vàPháp luật số 3/2012;
Về luận văn, luận án: Một số luận văn, luận án có nghiên cứu về vấn
Trang 9đề KLLĐ như: “Kỷ luật lao động và trách nhiệm kỷ luật lao động trong pháp luật Việt Nam”, Luận văn Thạc sỹ - Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội của tác giả Hoàng Thị Huyền (2017); “Các hình thức xử lý kỷ luật lao động trong pháp luật lao động Việt Nam hiện hành”, Luận văn Thạc sỹ -
Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội của tác giả Phùng Văn Trường (2016);
“Xử lý kỷ luật lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Hương (2013);“Pháp luật về kỷ luật lao động ở Việt Nam – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện”, Luận án tiến sĩ Luật học của tác giả Trần Thị Thuý Lâm (2007); “Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam”, Luận án tiến sĩ Luật học của
tác giả Đỗ Thị Dung (2014)
Các công trình khoa học ở trên, ở những khía cạnh và cấp độ khác nhau
đã đề cập đến pháp luật về KLLĐ Tuy nhiên, các công trình nói trên còn đểlại khoảng trống, chưa đề cập một cách có hệ thống, toàn diện về vi phạm và
xử lý vi phạm trong lĩnh vực về KLLĐ Đặc biệt, đến nay chưa có công trìnhnào nghiên cứu một cách toàn diện về những vi phạm và xử lý vi phạm phápluật về KLLĐ
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễnkhách quan về vi phạm pháp luật về KLLĐ và xử lý vi phạm Từ đó đề xuấtcác quan điểm, giải pháp chủ yếu hạn chế vi phạm pháp luật về KLLĐ và xử
lý vi phạm
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, luận văn cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Thứ nhất, làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật vềKLLĐ và xử lý vi phạm
Trang 10- Thứ hai, phân tích, đánh giá một cách có khoa học về những kết quảđạt được, mặt tồn tại, hạn chế trong quy định của pháp luật đối với vi phạmpháp luật về KLLĐ và xử lý vi phạm cũng như thực tiễn phát hiện hành vi viphạm và công tác xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ ở Việt Nam trong nhữngnăm vừa qua.
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và ngănngừa hạn chế vi phạm pháp luật về KLLĐ và nâng cao hiệu quả công tác xử
lý vi phạm pháp luật về KLLĐ ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài gồm:
- Các quan điểm khoa học về vấn đề vi phạm pháp luật về KLLĐ và xử
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Vi phạm pháp luật về KLLĐ và xử lý vi phạm theo pháp luật Việt Nam
là một đề tài có phạm vi rộng, liên quan đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễnkhác nhau Tuy nhiên vì giới hạn về thời gian, năng lực nghiên cứu và để phùhợp với yêu cầu của một luận văn thạc sỹ, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu viphạm pháp luật về KLLĐ và xử lý vi phạm theo pháp luật Việt Nam trongquan hệ lao động “làm công ăn lương” là đối tượng điều chỉnh của BLLĐViệt Nam, thể hiện qua một số vấn đề cụ thể sau: một số vấn đề lý luận về vi
Trang 11phạm pháp luật về KLLĐ và xử lý vi phạm; thực trạng vi phạm pháp luật vềKLLĐ và xử lý vi phạm theo pháp luật Việt Nam trong thời gian gần đâycũng như các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, các quy định phápluật nước ngoài có liên quan; đề ra giải pháp hoàn thiện pháp luật và hạn chế
vi phạm pháp luật về KLLĐ và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và các quan điểm đường lối củaĐảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước về vi phạm pháp luật về KLLĐ và
xử lý vi phạm
Phương pháp nghiên cứu: việc nghiên cứu luận văn tác giả đã sử dụng
một số phương pháp khoa học trên dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủnghĩa Mác – Lênin như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, phươngpháp thu thập thông tin dựa trên nguồn kết luận của cơ quan thanh tra, báochí, internet,… nhằm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu trong đề tài
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tham khảo, nội dung củaluận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật về kỷ luật lao
động và xử lý vi phạm
- Chương 2: Quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về vi phạm pháp
luật về kỷ luật lao động, xử lý vi phạm và thực tiễn thực hiện
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, hạn chế vi
phạm pháp luật về kỷ luật lao động và nâng cao hiệu quả xử lý vi phạm
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT
VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
1.1 Vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
1.1.1 Khái niệm vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Khái niệm kỷ luật lao động
Nếu coi một đất nước là một xã hội lớn thì các tổ chức, đoàn thể, cơquan, đơn vị, gia đình, trường học, bệnh viện, … trong đó là các xã hội thunhỏ Trong xã hội lớn đó, nhà nước với vai trò của mình ban hành pháp luậtgiúp duy trì trật tự, sự ổn định và phát triển của xã hội nói chung thì ở trongcác xã hội thu nhỏ, các thành viên ngoài việc chấp hành pháp luật thì còn phảituân thủ trật tự, nề nếp đã được đề ra, đó là kỷ luật Kỷ luật là một khái niệmnghe khô khan nhưng lại rất quen thuộc đối với mỗi chúng ta Kỷ luật có vaitrò hết sức to lớn, đảm bảo cho sự phát triển của cá nhân, cộng đồng, đảm bảocho sự thành công của cá nhân, tổ chức Theo từ điển Tiếng Việt - Viện Ngônngữ học [22, tr 519] thì kỷ luật được hiểu theo nghĩa đó là:
Nghĩa thứ nhất: “Kỷ luật là tổng thể những điều quy định có tính bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức, để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức” Trong mỗi tổ chức, đều có những trật tự, nền
nếp được đề ra dưới sự nhất trí của phần lớn thành viên Các thành viênđều có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh trật tự, nề nếp này để tạo ra sựthống nhất trong tổ chức, đảm bảo cho tổ chức hoạt động chặt chẽ, cùnghướng tới một mục đích đã đề ra
Nghĩa thứ hai:“KLLĐ là hình phạt đối với người vi phạm kỷ luật” Kỷ
luật được đặt ra khi có thành viên trong tổ chức vi phạm, kỷ luật chính là hìnhphạt mà thành viên vi phạm bắt buộc phải gánh chịu Tuỳ thuộc vào mức độ
Trang 13hành vi vi phạm của người vi phạm tổ chức sẽ đưa ra hình phạt tương ứng.Việc xử phạt giúp cho đảm bảo công bằng đối với thành viên khác, đồng thờigiúp cho tổ chức duy trì trật tự, sự ổn định và phát triển hơn.
Có thể hiểu một cách đơn giản, kỷ luật là trật tự, quy định mà nhữngthành viên trong đơn vị đó bằng hành vi của mình phải tuân thủ một cáchbắt buộc, nếu như vi phạm thì sẽ bị xử phạt bằng hình thức tương ứng vớihành vi vi phạm Kỷ luật trong phạm vi xã hội được coi là nền tảng xâydựng xã hội, không có kỷ luật thì không điều chỉnh được mối quan hệ giữangười với người trong quá trình sản xuất và các hoạt động của họ trong các
tổ chức xã hội Kỷ luật ngày càng có vai trò quan trọng ở tất cả mọi nơi,mọi lĩnh vực, có kỷ luật thì mới có sự phát triển Hiện nay, ý thức được vaitrò của kỷ luật, kỷ luật được thiết lập dưới dạng như: kỷ luật trong quânđội, kỷ luật trong nhà trường, kỷ luật trong bệnh viện, kỷ luật trong cơquan, đoàn thể,… và một loại kỷ luật quan trọng không thể không nhắc tới
đó là KLLĐ Vậy KLLĐ là gì?
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam thì:
Kỷ luật lao động là chế độ làm việc đã được quy định và sựchấp hành nghiêm túc và đúng đắn của mỗi cấp, mỗi nhóm người,mỗi người trong quá trình lao động Tạo ra sự hài hoà trong hoạtđộng của tất cả các yếu tố sản xuất, liên kết mọi người vào một quátrình thống nhất [20, tr 549]
Trong phạm vi quan hệ lao động, KLLĐ được hiểu là tổng thể nhữngđiều quy định có tính chất bắt buộc đối với mỗi thành viên trong quá trình laođộng Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì KLLĐ trong các đơn vị sửdụng lao động đóng vai trò ngày càng quan trọng khi mà sức lao động được coi
là hàng hoá, được tự do mua bán, trao đổi, mọi công dân có quyền thuê mướn
sử dụng sức lao động và mục tiêu lợi nhuận được đặt lên hàng đầu
Trang 14KLLĐ là yêu cầu khách quan, yếu tố không thể thiếu đối với NSDLĐ.Dưới góc độ pháp lý, trong khoa học luật lao động thì KLLĐ là một nộidung của quan hệ pháp luật lao động, là một chế định quan trọng của Luậtlao động KLLĐ là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định nghĩa vụ,trách nhiệm của NLĐ đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng như biện pháp
xử lý đối với người không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ nhữngnghĩa vụ, trách nhiệm đó [21]
Trong phạm vi một doanh nghiệp, KLLĐ là những quy định về việctuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh thể hiệntrong nội quy lao động KLLĐ được thiết lập dựa trên cơ sở chủ yếu là nhữngquy định của nội quy lao động Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu trong mỗidoanh nghiệp mà NSDLĐ sẽ xây dựng nội quy lao động phù hợp với doanhnghiệp của mình
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất về KLLĐ, đó là nghĩa vụ, trách nhiệm của NLĐ phải tuân thủ một cách bắt buộc trật tự, nề nếp khi tham gia vào quan hệ lao động, nếu như NLĐ không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ, trách nhiệm đã được quy định thì sẽ bị NSDLĐ xử lý vi phạm bằng các hình thức nhất định đã được quy định trước đó.
Ý nghĩa của kỷ luật lao động
Hiện nay, cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội, KLLĐ đóng vai tròquan trọng đối với tất cả các quốc gia, không riêng gì ở Việt Nam Việc tuânthủ KLLĐ có ý nghĩa cả về mặt kinh tế, chính trị và xã hội, đối với NSDLĐ
và NLĐ Đối với cá nhân NLĐ, chấp hành nghiêm quy định KLLĐ tạo ra tácphong công nghiệp, trước hết mang lại thành công cho chính bản thân cá nhân
đó Hay nói cách khác, trong quan hệ lao động, khi NLĐ chấp hành tốt KLLĐthì trước hết giúp cho NLĐ có thể rèn luyện bản thân, phát triển bản thânmình KLLĐ giúp cá nhân rèn luyện tác phong công nghiệp, đơn vị sử dụng
Trang 15lao động làm việc chuyên nghiệp, liên kết giữa các cá nhân với nhau.
Đối với NSDLĐ thì KLLĐ là công cụ để NSDLĐ quản lý đơn vị mình.KLLĐ quy định nghĩa vụ lao động mà NLĐ sẽ bắt buộc phải thực hiện Việcduy trì KLLĐ giúp ổn định sản xuất, ổn định đời sống NLĐ và trật tự xã hộinói chung KLLĐ còn là một nhân tố quan trọng để tăng năng suất lao động,nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu Trong một đơn vị sửdụng lao động, những NLĐ đều chấp hành KLLĐ thì giúp cho đơn vị sử dụnglao động đó hoạt động theo trật tự, nền nếp, ổn định, và phát triển hơn Đócũng là điều kiện để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, xuất khẩu lao động, giúpcho NLĐ không bị bỡ ngỡ khi làm việc trong các điều kiện khác biệt
Khái niệm vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm tồn tại và phát triển
xã hội Trên thực tế, không phải công dân nào cũng tuân thủ pháp luật, bêncạnh những chủ thể có ý thức chấp hành pháp luật thì đồng thời cũng cónhững chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật Vi phạm pháp luật nói chungxâm phạm tới quan hệ được pháp luật bảo vệ, gây ra những ảnh hưởng tới trật
tự xã hội Vi phạm pháp luật về KLLĐ cũng vậy Hiện nay, vi phạm pháp luật
về KLLĐ không phải hiếm gặp Vậy vi phạm pháp luật về KLLĐ là gì?
Vi phạm pháp luật về KLLĐ là một trong các dạng của vi phạm pháp
luật “Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật (hành động hoặc không hành động), có lỗi của chủ thể có năng lực hành vi (năng lực trách nhiệm pháp lý) thực hiện, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ”[23, tr 392] Vì vậy, vi phạm pháp luật về KLLĐ mang những dấu hiệu:
Vi phạm pháp luật về KLLĐ phải là hành vi xác định của con người(NSDLĐ), tức là xử sự thực tế, cụ thể của NSDLĐ là cá nhân hoặc cơ quan,tổchức, doanh nghiệp Hành vi xác định này có thể được thực hiện bằng hànhđộng hoặc không hành động
Trang 16Vi phạm pháp luật về KLLĐ phải là hành vi trái pháp luật về KLLĐ,tức là NSDLĐ xử sự trái với các quy định của pháp luật về KLLĐ, thể hiệndưới dạng vi phạm điều cấm, không tuân thủ pháp luật về KLLĐ.
Vi phạm pháp luật về KLLĐ phải là hành vi của NSDLĐ có năng lựctrách nhiệm pháp lý, hành vi có tính chất trái pháp luật nhưng của NSDLĐkhông có năng lực trách nhiệm pháp lý, thì không bị coi là vi phạm phápluật Năng lực trách nhiệm pháp lý của NSDLĐ là khả năng mà pháp luật quyđịnh NSDLĐ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình
Vi phạm pháp luật về KLLĐ phải là hành vi có lỗi của NSDLĐ, tức làkhi thực hiện hành vi trái pháp luật về KLLĐ, NSDLĐ có thể nhận thức đượchành vi của mình và hậu quả của hành vi đó, đồng thời điều khiển được hành
vi của mình Trường hợp chủ thể thực hiện một xử sự có tính chất trái phápluật nhưng không nhận thức được hành vi của mình và hậu quả của hành vi đógây ra cho xã hội hoặc nhận thức được hành vi và hậu quả của hành vi củamình nhưng không điều khiển được hành vi của mình thì không bị coi là cólỗi và không phải là vi phạm pháp luật về KLLĐ
Vi phạm pháp luật về KLLĐ là hành vi xâm hại tới các quan hệ xã hộiđược pháp luật về KLLĐ bảo vệ, tức là xâm phạm nội dung của quan hệ phápluật về KLLĐ
Dựa trên những phân tích trên thì, vi phạm pháp luật về KLLĐ là hành
vi không thực hiện hoặc thực hiện trái các quy định của pháp luật về KLLĐ,
có lỗi của chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, nhà nước và xã hội.
Sự khác nhau giữa vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động với vi phạm kỷ luật lao động
Vi phạm pháp luật về KLLĐ và vi phạm KLLĐ thường bị nhầm lẫn làcùng một Tuy nhiên, vi phạm pháp luật về KLLĐ và vi phạm KLLĐ có sự
Trang 17khác nhau trên các phương diện như sau:
i) Vi phạm pháp luật về KLLĐ là hành vi không thực hiện hoặc thựchiện trái các quy định của pháp luật về KLLĐ (thiết lập nội quy lao động,
xử lý KLLĐ, nguyên tắc, trình tự thủ tục, ) Còn vi phạm KLLĐ là hành
vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ, trách nhiệm
đã được NSDLĐ quy định khi tham gia vào quan hệ lao động (nghĩa vụ vềthời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, trật tự nơi làm việc, an toàn vệ sinhlao động, )
ii) Chủ thể vi phạm pháp luật về KLLĐ: thường là NSDLĐ Chủ thể viphạm KLLĐ là NLĐ
iii) Xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ và xử lý vi phạm KLLĐ:
Chủ thể có thẩm quyền xử lý: đối với vi phạm pháp luật về KLLĐ thìchủ thể là cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Thanh tra lao động, chủ tịch ủyban nhân dân, tòa án) Đối với vi phạm KLLĐ thì NSDLĐ có thẩm quyền xử
Trình tự thủ tục xử lý: Trình tự, thủ tục xử lý vi phạm pháp luật vềKLLĐ tuân theo trình tự thủ tục xử lý vi phạm hành chính, trình tự thủ tục
tố tụng hình sự Trình tự, thủ tục xử lý đối với vi phạm KLLĐ tuân theotrình tự thủ tục được quy định trong Bộ luật lao động, văn bản hướng dẫn
Trang 18khác có liên quan.
1.1.2 Phân loại vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Vi phạm pháp luật về KLLĐ là việc NSDLĐ không thực hiện hoặcthực hiện một cách không đúng, không đầy đủ về các nghĩa vụ, trách nhiệm
đã được pháp luật về KLLĐ xác định Một số hành vi vi phạm pháp luật vềKLLĐ có thể kể đến như sa thải trái pháp luật, xử lý KLLĐ không đúng trình
tự thủ tục, không thiết lập nội quy lao động,…
Các hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ thường đa dạng với mức độkhác nhau, có thể là hành vi vi phạm hành chính hay khi đủ yếu tố cấu thànhtội phạm bị truy cứu trách nhiệm hình sự Theo đó, căn cứ vào tính chất vàmức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, có thể chia vi phạm phápluật về KLLĐ thành các nhóm sau:
Nhóm hành vi vi phạm hành chính: Các hành vi vi phạm pháp luật về
KLLĐ bị xử phạt vi phạm hành chính thường liên quan tới quản lý nhà nước
về lao động Những hành vi này trái quy định pháp luật tuy nhiên chưa tớimức phải chịu trách nhiệm hình sự Những hành vi này được quy định trongvăn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hình chính với những chế tài phạt viphạm hành chính nhất định Chẳng hạn, Luật tiêu chuẩn lao động của ĐàiLoan quy định:
NSDLĐ sa thải NLĐ khi họ nghỉ thai sản trước và sau sinhcon trong khoảng thời gian 8 tuần; NLĐ nghỉ thai sản trong thờigian bốn tuần trường hợp sảy thai sau ba tháng đầu của thai kỳ;NLĐ đang được điều trị y tế vì tai nạn lao động thì bị xử phạt hànhchính [17, Điều 78]
Nhóm hành vi vi phạm cấu thành tội phạm, đây là những hành vi vi
phạm thoả mãn các yếu tố cấu thành tội phạm và có thể bị truy cứu tráchnhiệm hình sự Việc quy định hành vi nào trong số các hành vi vi phạm pháp
Trang 19luật về KLLĐ có thể cấu thành tội phạm do nhà làm luật ở mỗi quốc gia quyếtđịnh dựa trên sự nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lưỡng Nhìn chung rất ítquốc gia thế giới trên quy định hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ là hành vicấu thành tội phạm Ở Việt Nam, pháp luật hình sự chỉ quy định một hành vi
vi phạm pháp luật về KLLĐ là hành vi vi phạm cấu thành tội phạm Đó làhành vi sa thải NLĐ trái pháp luật Quan điểm tương tự Việt Nam đó là HànQuốc Theo quy định tại Đạo luật tiêu chuẩn lao động Hàn Quốc thì NSDLĐ
có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi thực hiện những hành vi sau:
NSDLĐ sa thải NLĐ trong thời gian ốm đau, bệnh tật, tai nạnlao động, hoặc đang bị bệnh nghề nghiệp và điều trị trong các cơ sở
y tế và 30 ngày tiếp theo đó; lao động nữ trong thời gian có thaihoặc mới sinh con 30 ngày, trừ khi doanh nghiệp rơi vào tình trạngbất khả kháng theo luật định [19, Điều 107]
- Ngoài ra, có thể căn cứ vào nội dung của các hành vi vi phạm, cónhiều loại hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ, ví dụ: hành vi vi phạm nộidung nội quy lao động, hành vi vi phạm thủ tục ban hành nội quy lao động,hành vi vi phạm quy định về hình thức xử lý KLLĐ, hành vi vi phạm trình tự,thủ tục xử lý vi phạm KLLĐ,…
1.1.3 Các yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Thông thường cấu thành của vi phạm pháp luật nói chung gồm 4 yếutố: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể Vi phạm pháp luật
về KLLĐ là một loại vi phạm pháp luật cho nên cấu thành của nó bao gồmcác yếu tố:
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Mặt khách quan của của vi phạm pháp luật về KLLĐ là những dấuhiệu biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm pháp luật vềKLLĐ Mặt khách quan của vi phạm pháp luật về KLLĐ bao gồm các dấu
Trang 20hiệu như những đặc điểm cơ bản của hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ:hành vi biểu hiện ra bên ngoài thông qua hành động hay không hành động vàtrái với các quy định của pháp luật về KLLĐ, gây ra các thiệt hại cho cácthành viên cụ thể trong xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm
và hậu quả mà nó gây ra
i) Hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ được biểu hiện ra bên ngoàithông qua hành động hay không hành động của NSDLĐ khi tham gia vàoquan hệ lao động Như vậy, các hành vi vi phạm được nhận diện, xác địnhtrên thực tế được xác định dựa trên NSDLĐ có thực hiện hay không thực hiệnmột hành động cụ thể nào đó Thông qua sự thể hiện ra bên ngoài để đánh giáhành vi đó là hành vi hợp pháp hay không hợp pháp Hành vi vi phạm phápluật về KLLĐ thông qua tên gọi của nó có thể thấy được tính trái với các yêucầu của pháp luật về KLLĐ hay nói cách khác là tính trái pháp luật Tính tráipháp luật được thể hiện ở việc không thực hiện hoặc thực hiện nhưng khôngđúng hoặc không đầy đủ quyền và nghĩa vụ được quy định trong pháp luật vềKLLĐ, vi phạm các điều cấm của pháp luật về KLLĐ
ii) Mọi hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ nhìn chung đều gây ra thiệthại nhất định cho xã hội Thiệt hại ở đây cả về vật chất lẫn tinh thần Khitham gia vào quan hệ lao động, các chủ thể đều mong muốn có lợi ích chomình, đồng thời tạo ra của cải, vật chất cho xã hội Do đó, NSDLĐ có nhữnghành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ thì có những tác động, ảnh hưởng nhấtđịnh tới toàn thể xã hội Tuỳ theo mức độ vi phạm mà mức độ thiệt hại cho xãhội là khác nhau
iii) Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả của nó Mốiquan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả của nó là một trong nhữngdấu hiệu quan trọng của mặt khách quan Mối quan hệ nhân quả ở đây đượchiểu là hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ sẽ dẫn tới một hậu quả trực tiếp
Trang 21và ngược lại Nếu như hậu quả xảy ra từ hành vi gián tiếp thì không coi là mốiquan hệ nhân quả Việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm
và hậu quả của nó có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định hành vi vi phạm
và xác định NSDLĐ có trách nhiệm khi đã thực hiện hành vi đó
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về KLLĐ là mặt bên trong của sựxâm hại nguy hiểm tới các khách thể và xã hội được bảo vệ bằng pháp luật vềKLLĐ Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật về KLLĐ được thể hiện qua lỗi,động cơ và mục đích của hành vi
Lỗi là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội
và hậu quả của nó Lỗi là dấu hiệu bắt buộc của vi phạm pháp luật về KLLĐ.Lỗi được thể hiện dưới 02 hình thức lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý thể hiện ởviệc NSDLĐ biết được hành vi mà mình thực hiện là trái pháp luật nhưngvẫn thực hiện vì lý do nào đó Lỗi vô ý thể hiện ở việc NSDLĐ không nhậnthức được hành vi của mình làm là trái pháp luật hoặc nhận thức được nhưnglại cho rằng hậu quả không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được hậu quả xảy
ra Thông thường, trước khi tiến hành việc xử lý vi phạm pháp luật lao động,yếu tố lỗi của NSDLĐ được xem xét để quyết định việc tăng nặng hay giảmnhẹ chế tài
Ngoài việc xét yếu tố lỗi thì động cơ và mục đích của NSDLĐ khi thựchiện hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tớitoàn bộ hành vi của NSDLĐ Động cơ là lý do thúc đẩy chủ thể thực hiệnhành vi Mục đích là điều mà NSDLĐ mong muốn có được Trong quan hệlao động thì NSDLĐ mong giảm chi phí, tăng lợi nhuận Chính vì thế,NSDLĐ không thực hiện hoặc thực hiện một cách không đầy đủ quyền vànghĩa vụ của mình đối với quy định về KLLĐ trong đơn vị sử dụng lao động
Trang 22mà mình tham gia.
Chủ thể của thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ thường làNSDLĐ Tuy nhiên, khi tham gia vào quan hệ lao động nói chung hay liênquan tới KLLĐ nói riêng thì điều kiện cần và đủ của NSDLĐ đó là cần cónăng lực pháp luật lao động và năng lực hành vi lao động Chủ thể thựchiện hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ cũng có đầy đủ năng lực tráchnhiệm pháp lý khi họ có đầy đủ năng lực pháp luật lao động và năng lựchành vi lao động Vậy khi nào NSDLĐ có các năng lực này để có năng lựctrách nhiệm pháp lý?
NSDLĐ là cá nhân thì: Năng lực pháp luật lao động là khả năng đượcpháp luật quy định cho các quyền nhất định để có thể tham gia vào quan hệpháp luật lao động NSDLĐ có năng lực pháp luật lao động khi đạt đến một
độ tuổi nhất định Về hình thức, độ tuổi này thể hiện mặt pháp lý khả nănghành động và tự chịu trách nhiệm một cách độc lập trước đối tác và trước xãhội Theo quy định pháp luật Việt Nam thì cá nhân NSDLĐ phải đạt từ 18tuổi trở lên Còn năng lực hành vi lao động là khả năng bằng chính hành vicủa mình, NSDLĐ có thể tuyển chọn và trực tiếp sử dụng lao động đó
Đối với NSDLĐ là tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan thì năng lực phápluật của tổ chức, doanh nghiệp, cơ quan này không dựa trên độ tuổi mà căn cứvào một số yếu tố sau:
i) Đối với NSDLĐ là doanh nghiệp thuộc các loại hình doanh nghiệptheo quy định của Luật doanh nghiệp thì cần có giấy phép đăng ký kinhdoanh, giấy phép đầu tư; có khả năng bảo đảm việc làm và trả công cho NLĐ
ii) Đối với trường hợp NSDLĐ là tổ chức, cơ quan thì cần được thànhlập một cách hợp pháp (sự cho phép của nhà nước, sự thành lập của nhà nướchoặc sự công nhận của nhà nước), có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có tài sản độclập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản và nhân danh mình tham gia vào các
Trang 23quan hệ pháp luật một cách độc lập
Năng lực pháp luật của NSDLĐ là cơ quan, tổ chức, doanh nghiệpchính là cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành các hoạt động tuyển chọn và sửdụng lao động Năng lực hành vi lao động của cơ quan, tổ chức bao giờ cũngthông qua người đại diện theo pháp luật hay người được uỷ quyền trong việctuyển chọn và sử dụng lao động
Khách thể của vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều xâm hại đến một quan hệ xã hộinhất định Vì vậy, khách thể vi phạm pháp luật là cái được pháp luật bảo vệ
và điều chỉnh, tránh khỏi sự xâm hại của những vi phạm pháp luật, đó là cácquan hệ xã hội Hay nói một cách khác, khách thể của vi phạm pháp luật làquan hệ xã hội bị hành vi vi phạm đó xâm hại đến
Khách thể của hành vi vi phạm về KLLĐ là những quan hệ xã hội đượcpháp luật lao động về KLLĐ bảo vệ Các loại quan hệ là khách thể của hành
vi vi phạm pháp luật về KLLĐ có nhiều loại khác nhau như: nội quy laođộng, xử lý kỷ luật lao động, thời hiệu, trình tự, thủ tục,
1.1.4 Ảnh hưởng của (hành vi) vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Mọi vi phạm pháp luật dù với tính chất, mức độ khác nhau nhưngđều gây ảnh hưởng nhất định về vật chất và tinh thần đối với chủ thể chịutác động Vi phạm pháp luật về KLLĐ gây ảnh hưởng về vật chất, tinh thầnkhông chỉ đối với NLĐ mà còn toàn xã hội Thiệt hại vật chất có thể làthiệt hại về tài sản như: tiền bạc, nhà cửa, đất đai, xe cộ,… Thiệt hại tinhthần như là danh dự, nhân phẩm, uy tín,… Hành vi vi phạm pháp luật vềKLLĐ gây mất ổn định trong sản xuất, kinh doanh của NSDLĐ, đời sốngcủa NLĐ không được đảm bảo, trật tự xã hội không được ổn định; để lạinhiều hậu quả mà xã hội phải gánh chịu như tỷ lệ thất nghiệp tăng, tệ nạn
Trang 24xã hội xảy ra ngày một nhiều,…
1.2 Xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
1.2.1 Khái niệm xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Vi phạm pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật là hai khái niệm luônđồng hành cùng nhau, bởi khi có vi phạm pháp luật thì sẽ có xử lý vi phạm
Xử lý vi phạm pháp luật là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền căn cứ vàocác quy định pháp luật hiện hành áp dụng các biện pháp xử lý hành chínhhoặc hình sự đối với chủ thể vi phạm pháp luật Việc xử lý vi phạm pháp luậtnhằm trừng phạt chủ thể có hành vi vi phạm, qua đó giáo dục, răn đe chủ thểkhác không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Bên cạnh đó, còn có mụcđích giữ vững trật tự, tạo ra môi trường lành mạnh, phát triển xã hội
Trong quan hệ lao động, xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ là hoạtđộng mang tính cưỡng chế, buộc chủ thể vi phạm phải chịu hình thức xử lýtương ứng với hành vi vi phạm Việc xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ cũnggiống như xử lý vi phạm pháp luật Pháp luật mỗi quốc gia có thể khác nhaunhưng khi xử lý vi phạm đều phải tuân thủ theo những nguyên tắc nhất định
Về chủ thể có thẩm quyền xử lý, trình tự, thủ tục, các biện pháp và các chế tàiđều được quy định chặt chẽ, rõ ràng Việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạmcần xem xét, cân nhắc, sao cho cho áp dụng biện pháp trừng phạt đúng người,đúng hành vi vi phạm nhằm đảm bảo cho việc xử lý vi phạm được diễn ra mộtcách khách quan, đúng pháp luật và đúng với bản chất của nó Việc áp dụngbiện pháp xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ đối với chủ thể thực hiện hành vi
vi phạm luôn đem lại những hậu quả bất lợi cho chủ thể vi phạm
Trong quá trình xử lý vi phạm pháp luật nói chung, hay xử lý viphạm pháp luật về KLLĐ nói riêng, cần đảm bảo sự công bằng, bình đẳngđối với chủ thể vi phạm khi xử lý vi phạm Dù họ có là ai, có địa vị, quốctịch,… như thế nào thì khi họ vi phạm pháp luật thì sẽ bị chủ thể có thẩm
Trang 25quyền xử lý vi phạm Trong Tuyên ngôn nhân quyền quốc tế (1948), tại
điều 7 có nêu “mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ bình đẳng không kỳ thị”[16, Điều 7] Ngoài ra, chủ thể vi phạm còn được đảm bảo sự an toàn về thân thể, tính mạng “không ai có thể bị tra tấn hay bị những hình phạt hoặc những đối xử tàn ác, vô nhân đạo, làm hạ thấp nhân phẩm” [16, Điều 5].
Như vậy, từ những phân tích trên, có thể hiểu, xử lý vi phạm pháp luật
về KLLĐ là tổng thể các hoạt động của chủ thể có thẩm quyền áp dụng đối với chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật về KLLĐ và có lỗi, có năng lực trách nhiệm pháp lý, xâm hại tới quan hệ được pháp luật về KLLĐ bảo vệ.
1.2.2 Sự cần thiết phải xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Có thể thấy ý thức chấp hành pháp luật về KLLĐ của các chủ thể trongquan hệ lao động còn kém Số lượng hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐngày càng gia tăng cả về số lượng lẫn tính chất, mức độ, để lại những hậu quảnghiêm trọng, tác động tới sự ổn định, phát triển của toàn xã hội
Nếu vi phạm pháp luật về KLLĐ không được xử lý thì làm mất sự ổnđịnh, phát triển của quan hệ lao động Pháp luật khi đó không còn thể hiệntính nghiêm minh, cá nhân không còn sự tôn trọng đối với pháp luật Hậuquả là ngày càng có nhiều hành vi vi phạm xảy ra Còn ngược lại vi phạmpháp luật về KLLĐ được xử lý kịp thời sẽ tạo điều kiện cho môi trường laođộng phát triển lành mạnh Bằng việc áp dụng biện pháp xử lý vi phạm phùhợp thì ngoài tác dụng trừng phạt, việc xử lý vi phạm còn có tác dụng giáodục răn đe chủ thể thực hiện hành vi vi phạm, duy trì sự ổn định và pháttriển trong quan hệ lao động nói riêng và quan hệ xã hội khác nói chung, xãhội ngày một phát triển hơn Chủ thể nâng cao ý thức chấp hành, thực hiệnpháp luật một cách tự giác, đấu tranh phòng chống biểu hiện của vi phạmpháp luật Qua đó, giúp hạn chế hành vi vi phạm pháp luật và dần dần loại
Trang 26bỏ được vi phạm ra khỏi xã hội.
Hơn nữa, đất nước Việt Nam đang trong quá trình xây dựng và hoànthiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Báo cáo chính trị Đại hội XIIcủa Đảng nêu ra vấn đề tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Nhà nước pháp quyền luôn đề cao tính thượng tôn Hiếnpháp và pháp luật Việc xử lý vi phạm pháp luật là rất cần thiết để tăng cườngpháp chế xã hội chủ nghĩa thì ngăn ngừa vi phạm pháp luật là một trongnhững hoạt động chính của nhà nước và xã hội
Từ những phân tích trên, việc xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ là điềucần thiết và vô cùng cấp bách
1.2.3 Nội dung pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật về kỷ luật lao động
Xử lý đối với NSDLĐ vi phạm pháp luật về KLLĐ là hoạt động của cơquan quyền lực nhà nước áp dụng những biện pháp cưỡng chế buộc NSDLĐchịu hình thức xử lý đã được quy định trước đó Xử lý đối với NSDLĐ viphạm pháp luật về KLLĐ với mục đích trừng phạt NSDLĐ vi phạm, thể hiệntính uy nghiêm của pháp luật, góp phần đóng góp vào ngân sách của quốc gia;đồng thời lấy đó làm tấm gương cho việc giáo dục, răn đe chủ thể khác khôngthực hiện hành vi vi phạm
Việc xử lý đối với NSDLĐ vi phạm pháp luật về KLLĐ phải tuân theoquy định của pháp luật ở mỗi quốc gia về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, và ápdụng các biện pháp xử lý vi phạm
Trang 27phải tuân theo Những nguyên tắc này định hướng cho quá trình xử lý viphạm pháp luật về KLLĐ, đảm bảo xử lý đượckhách quan Trong suốt quátrình xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ, chủ thể có thẩm quyền phải tuân theocác nguyên tắc sau:
i) Mọi vi phạm phải được phát hiện, ngăn chặn kịp thời và phải bị xử lýnghiêm minh, mọi hậu quả do hành vi vi phạm gây ra phải được khắc phụctheo đúng quy định của pháp luật;
ii) Việc xử lý vi phạm được tiến hành nhanh chóng, công khai, kháchquan, đúng thẩm quyền, bảo đảm công bằng, đúng quy định của pháp luật;
iii) Mọi người chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệtgiới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội;
iv) Việc xử lý vi phạm phải căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả viphạm, đối tượng vi phạm và tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng;
v) Chỉ xử lý vi phạm khi có hành vi vi phạm do pháp luật quy định.vi) Người có thẩm quyền xử lý có trách nhiệm chứng minh vi phạm Cánhân, tổ chức bị xử lý có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợppháp chứng minh mình không vi phạm [25]
cơ quan tư pháp là toà án Chẳng hạn, Đạo luật việc làm của Singapore có quyđịnh về thẩm quyền của toà án: bất kỳ hành vi nào trái với quy định trong Đạo
Trang 28luật việc làm của Singapore thì toà án có thẩm quyền áp dụng các án phạt vàcác hình phạt đối với NSDLĐ vi phạm [29, Điều 129]
Các biện pháp xử lý NSDLĐ vi phạm pháp luật về KLLĐ
Biện pháp xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ là cách thức mà Nhà nước
áp dụng trách nhiệm pháp lý đối với hành vi vi phạm của NSDLĐ tuỳ theotính chất, mức độ vi phạm và được đảm bảo thực hiện bởi Nhà nước KhiNSDLĐ vi phạm pháp luật về KLLĐ thì căn cứ vào tính chất, mức độ viphạm mà bị áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính, hay bị truy cứu tráchnhiệm hình sự; bên cạnh đó nếu gây thiệt hại thì cần bồi thường Ngoài raNSDLĐ còn có thể bị áp dụng các biện pháp khác nhằm khắc phục hậu quảtuỳ thuộc vào sự quy định pháp luật mỗi quốc gia Biện pháp xử lý vi phạmthường được quy định trong pháp luật ở các quốc gia đó là:
Xử phạt vi phạm hành chính: Biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
được áp dụng khi NSDLĐ có những hành vi vi phạm quy định về quản lý nhànước trong lĩnh vực lao động liên quan đến KLLĐ Những hành vi vi phạmnày không cấu thành tội phạm hình sự và theo quy định thì phải bị xử phạthành chính
Đối với hành vi vi phạm hành chính, cơ quan có thẩm quyền tiến hành
áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính và áp dụng các biện pháp khắcphục hậu quả Các biện pháp hành chính thường được áp dụng đối với viphạm pháp luật về KLLĐ chủ yếu là các biện pháp như phạt cảnh cáo, phạttiền,… Cụ thể:
Biện pháp cảnh cáo là một biện pháp xử phạt nhẹ nhất, có thể coi đây
là một biện pháp về tinh thần Biện pháp này được áp dụng đối với những viphạm hành chính lần đầu và mức độ vi phạm ít nghiêm trọng Biện pháp cảnhcáo áp dụng đối với những hành vi vi phạm lần đầu, lỗi vô ý của NSDLĐ, cótình tiết giảm nhẹ mà chưa gây ra thiệt hại về vật chất, tinh thần nhưng chưa
Trang 29đến mức được miễn hình phạt So với hình thức xử phạt khác thì biện phápcảnh cáo mang ý nghĩa giáo dục nhiều hơn Nếu như NSDLĐ tiếp tục có hành
vi vi phạm hành chính thì họ bị xử phạt bởi biện pháp xử lý nặng hơn Tuynhiên, cảnh cáo vẫn là biện pháp xử phạt hành chính mang tính cưỡng chếnhà nước, vậy nên dù có là biện pháp xử phạt nhẹ nhưng vẫn gây ra nhữngtổn thất nhất định đối với NSDLĐ Thẩm quyền áp dụng, trình tự, thủ tục khitiến hành áp dụng biện pháp này phải tuân theo quy định pháp luật Hình thức
xử phạt cảnh cáo do người có thẩm quyền ra quyết định bằng văn bản haychính là quyết định xử phạt hình chính dưới dạng viết chứ không phải là lờinói, nếu là lời nói nhắc nhở thì không thể coi là bị xử phạt cảnh cáo
Biện pháp phạt tiền là hình thức chủ yếu và khá phổ biến trong xử phạt
vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm pháp luật về KLLĐ nóiriêng Biện pháp này được các quốc gia áp dụng phổ biến Phạt tiền là hìnhthức xử lý nặng hơn so với phạt cảnh cáo Tuỳ theo mức độ vi phạm NSDLĐphải nộp một khoản tiền mặt vào ngân quỹ Nhà nước Phạt tiền là tác động tớivật chất, lợi ích kinh tế của NSDLĐ, gây ra hậu quả bất lợi về tài sản Mứcphạt được nghiên cứu dựa trên tính chất, mức độ xâm hại của vi phạm đối vớitrật tự quản lý nhà nước trong lao động, bên cạnh đó cũng xét tới sự áp dụng
nó trên thực tiễn, tính hiệu quả của nó trong thực tiễn, trong đấu tranh phòngchống vi phạm nhằm đảm bảo tính hợp lý, phù hợp với điều kiện kinh tế, xãhội Mức phạt phải tương xứng với hành vi vi phạm và đủ sức răn đe thì đấy
là biện pháp mang lại hiệu quả cao và ngược lại, khi đó, phạt tiền có thể coikhông còn mang tính nghiêm minh và hiệu quả trong xử phạt vi phạm hànhchính Biện pháp phạt tiền thường áp dụng đối với các hành vi vi phạm củaNSDLĐ như: không ban hành nội quy lao động, không đăng ký nội quy laođộng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xử lý KLLĐ không theo trình tự,thủ tục,… Cũng giống như biện pháp cảnh cáo, biện pháp phạt tiền cũng tuân
Trang 30theo quy định về thẩm quyền xử phạt, về trình tự, thủ tục xử phạt
Một số quốc gia áp dụng hình thức phạt tiền đối với hành vi sa thải tráipháp luật như Đài Loan Trở lại với Đạo luật tiêu chuẩn lao động Đài Loan thìNSDLĐ sa thải NLĐ trái pháp luật thì sẽ bị phạt số tiền từ NT$90,000 –NT$450,000 [17, Điều 78]
Ngoài các trong biện pháp xử phạt vi phạm hành chính thì còn có cácbiện pháp khắc phục hậu quả Biện pháp này chỉ mang tính khôi phục lạinhững việc mà theo pháp luật quy định NSDLĐ đã thực hiện không đúng,hoặc chưa đủ
Truy cứu trách nhiệm hình sự:Truy cứu trách nhiệm hình sự là áp
dụng các biện pháp tố tụng hình sự qua các giai đoạn từ khởi tố vụ án, khởi tố
bị can, đến điều tra, truy tố và xét xử để buộc người đã có hành vi nguy hiểmcho xã hội mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm phải chịu trách nhiệm vềhành vi ấy, tức là phải chịu hình phạt Người có khả năng nhận thức đượchành vi của mình, có khả năng điều khiển được hành vi đó là người có nănglực trách nhiệm hình sự và sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu người đóthực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự.Hiện nay, số vụ tranh chấp lao động giữa NSDLĐ và NLĐ ngày càng giatăng, đặc biệt là tranh chấp về sa thải ngày càng gia tăng về số lượng và mức
độ ngày càng phức tạp Việc NSDLĐ sa thải NLĐ trái pháp luật đã gây táchại không nhỏ khiến cho NLĐ lâm hoàn cảnh khó khăn, kéo theo đó là sự tácđộng lớn tới xã hội Trong trường hợp, NSDLĐ vi phạm pháp luật về KLLĐthoả mãn yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị truy tố, đưa ra xét xử theo quy địnhcủa luật tố tụng hình sự Truy cứu trách nhiệm hình sự là hình phạt nặng nhấtđối với NSDLĐ vi phạm
Biện pháp truy cứu trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với trườnghợp NSDLĐ vi phạm quy định của pháp luật lao động về KLLĐ đủ các yếu tố
Trang 31cấu thành tội phạm Qúa trình áp dụng biện pháp mang tính hình sự được thểhiện qua các hoạt động tố tụng hình sự Trách nhiệm hình sự đối với NSDLĐ
có thể là áp dụng hình phạt chính như phạt tiền, phạt tù treo hay phạt tù giam
có thời hạn tuỳ vào mức độ của vi phạm; ngoài ra còn có thể áp dụng hìnhphạt bổ sung khác
Luật bảo vệ lao động của Thái Lan quy định: NSDLĐ sa thải NLĐ khi
họ mang thai thì bị phạt tù không quá 06 tháng, hoặc phạt tiền không quá 100Baht, hoặc cả hai [30, Điều 144]
Trái ngược lại thì, tại một quốc gia phát triển như Nhật Bản, Pháp,…việc sa thải trái pháp luật hoặc vi phạm thoả thuận trong hợp đồng lao độngkhông nằm trong nhóm tội hình sự
Tại một quốc gia trong khu vực ASEAN có môi trường đầu tư cũngnhư thị trường lao động cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam như Indonesia:
Đạo luật Nhân sự 2013 của họ (the Manpower Law), đưa ra
10 trường hợp không được sa thải NLĐ và cho phép 10 trường hợp
mà doanh nghiệp có quyền sa thải Indonesia không truy cứu tráchnhiệm hình sự đối với chủ doanh nghiệp có hành vi sa thải hay chothôi việc trái pháp luật như chế tài hình sự [32]
Bồi thường thiệt hại: Là biện pháp tác động vào kinh tế của NSDLĐ
với mục đích là bù đắp lại những tổn thất mà NLĐ gặp phải bởi hành vi viphạm pháp luật về KLLĐ của NSDLĐ gây ra cho họ Biện pháp này nhằmbảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của NLĐ đặc biệt khi họ bị NSDLĐ sa thảitrái pháp luật Vấn đề bồi thường được quy định tại pháp luật lao động, phápluật dân sự và các văn bản pháp luật khác của các quốc gia Mức bồi thườngthiệt hại do các quốc gia quy định căn cứ vào điều kiện kinh tế xã hội củatừng quốc gia khác nhau Luật lao động nước Pháp quy định về việc NSDLĐ
sa thải NLĐ một cách không chính đáng, bị NLĐ kiện ra toà thì mức bồi
Trang 32thường tối đa tương đương với 20 tháng lương, ngay cả trong trường hợpngười bị sa thải đã làm việc cho NSDLĐ trong 30 năm [33].
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Là một chương lý luận, chương 1 chủ yếu nghiên cứu những vấn đề lýluận cơ bản về vi phạm pháp luật về KLLĐ và xử lý vi phạm Qua đó, có thểrút ra những kết luận sau đây:
KLLĐ là tổng hợp các quy định của pháp luật xác định NSDLĐ cóquyền thiết lập, duy trì KLLĐ trong đơn vị của mình và NLĐ có nhiệm vụ,bổn phận phải tuân theo KLLĐ có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảocho quá trình lao động diễn ra ổn định, góp phần nâng cao năng suất, chấtlượng hiệu quả công việc trong đơn vị sử dụng lao động
Vi phạm pháp luật về KLLĐ là hành vi không thực hiện hoặc thực hiệnmột cách trái các quy định của pháp luật về KLLĐ, có lỗi của chủ thể có nănglực chịu trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại tới quyền, lợi ích hợp phápcủa NLĐ, nhà nước và xã hội
Nội dung của pháp luật đối với xử lý vi phạm pháp luật về KLLĐ gồmtổng thể các quy phạm pháp luật gồm các nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự,thủ tục, chế tài xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ, Nhà nước và xã hội
Trang 33Chương 2 QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG, XỬ LÝ VI PHẠM VÀ
về hành lang pháp lý, cơ sở cho việc xử lý các vi phạm pháp luật về KLLĐ ởViệt Nam, nhà nước đã ban hành các văn bản pháp lý quy định các hành vi viphạm pháp luật về KLLĐ gồm có: BLLĐ 2012; Nghị định 05/2015/NĐ-CP,Thông tư 47/2015/TT-BLĐTBXH; Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;Nghị định 95/2013/NĐ-CP; Nghị định 88/2015/NĐ-CP; Bộ luật hình sự số100/ 2015/ QH13 và Luật số: 12/2017/QH14 sửa đổi, bổ sung một số điều của
bộ luật hình sự số 100/2015/QH13 và các văn bản pháp lý liên quan Dướiđây là một số hành vi vi phạm pháp luật về KLLĐ Cụ thể:
2.1.1.1 Hành vi vi phạm quy định pháp luật về nội quy lao động
Nội quy lao động là văn bản nội bộ quan trọng của cơ quan, đơn vị, tổchức, doanh nghiệp Nội quy lao động do NSDLĐ ban hành, quy định về cácquy tắc xử sự mà NLĐ có trách nhiệm bắt buộc phải tuân thủ khi tham giaquan hệ lao động, cũng như các biện pháp xử lý đối với những NLĐ khôngchấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ nghĩa vụ được giao; là cơ sở điềuchỉnh hành vi, hoạt động, quá trình thực hiện công việc, quá trình công táccủa NLĐ, giúp cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp đảm bảo sự ổn định,
Trang 34nề nếp, nâng cao hiệu quả quản lý điều hành Tuy nhiên, NSDLĐ chưa chấphành nghiêm quy định pháp luật về nội quy lao động Một số hành vi vi phạmquy định pháp luật về nội quy lao động:
Không có nội quy lao động
Nội quy lao động có vai trò quan trọng đối với các cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải tất cả mọi cơ quan, tổ chức, doanhnghiệp phải có nội quy lao động bằng văn bản Theo quy định tại khoản 1điều 119 BLLĐ, “NSDLĐ sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải có nộiquy lao động bằng văn bản.” Đối với đơn vị sử dụng lao động sử dụng từ 10lao động trở lên thì việc quản lý phức tạp hơn, do đó thiết lập KLLĐ ở nhữngđơn vị này là cần thiết và giúp NSDLĐ quản lý NLĐ tốt hơn Trên thực tế,NSDLĐ sử dụng từ 10 người lao động trở lên không có nội quy lao độngbằng văn bản vẫn còn nhiều
Không đăng ký nội quy lao động với cơ quan có thẩm quyền
NSDLĐ sử dụng từ 10 người lao động trở lên phải đăng ký nội quylao động tại cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh Trong thời hạn
10 ngày, kể từ ngày ban hành nội quy lao động, NSDLĐ phải nộp hồ sơđăng ký nội quy lao động Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhậnđược hồ sơ đăng ký nội quy lao động, nếu nội quy lao động có quy định tráivới pháp luật thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh thông báo,hướng dẫn NSDLĐ sửa đổi, bổ sung và đăng ký lại [24, Điều 120] Bản nộiquy lao động phải đăng ký với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấptỉnh để bản nội quy lao động phát sinh hiệu lực và với mục đích kiểm soátnội dung trong nội quy lao động có phù hợp với quy của NSDLĐ Thực tếcho thấy, NSDLĐ đăng ký nội quy lao động với cơ quan nhà nước chưa đượcnghiêm túc thực hiện
Trang 35Không thông báo đến người lao động và những nội dung chính của nội quy lao động không được niêm yết ở những nơi cần thiết tại nơi làm việc
Theo quy định tại khoản 4 điều 119 BLLĐ “Nội quy lao động phảiđược thông báo đến NLĐ và những nội dung chính phải được niêm yết ởnhững nơi cần thiết tại nơi làm việc” Việc thông báo nội dung chính của nộiquy lao động nhằm công khai quy định hay nghĩa vụ, hành vi vi phạm KLLĐ,hình thức xử lý KLLĐ, để NLĐ biết được và thực hiện nghĩa vụ của mình.Niêm yết nội quy lao động tại những nơi cần thiết tại nơi làm việc ngoài việcnhằm công khai nội dung nội quy lao động, ngoài ra còn nhắc nhở NLĐ tuântheo quy định nghĩa vụ Trên thực tế, nhiều đơn vị sử dụng lao động khôngthông báo và niêm yết nội quy lao động nhưng vẫn tiến hành xử lý KLLĐ
Sử dụng nội quy lao động không được đăng ký hoặc đã đăng ký nhưng chưa có hiệu lực hoặc đã hết hiệu lực
Nội quy lao động có hiệu lực sau thời hạn 15 ngày, kể từ ngày cơ quanquản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nhận được hồ sơ đăng ký nội quy laođộng, trừ trường hợp trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được
hồ sơ đăng ký nội quy lao động, nếu nội quy lao động có quy định trái vớipháp luật thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh thông báo, hướngdẫn người sử dụng lao động sửa đổi, bổ sung và đăng ký lại [24, Điều 122]
Nội dung của nội quy lao động chưa phù hợp với quy định pháp luật
Nội dung nội quy lao động không được trái với pháp luật về lao động
và quy định khác của pháp luật có liên quan Nội quy lao động bao gồmnhững nội dung chủ yếu sau đây:
Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi: căn cứ vào quy định Công ướcILO số 47 năm 1935, điều kiện kinh tế xã hội, điều kiện tâm lý, sinh lý củacon người Việt Nam, đặc thù của ngành, đặc thù của loại công việc khácnhau,… Nhà nước quy định thời gian làm việc, thời giờ nghỉ ngơi phù hợp
Trang 36Theo đó, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi bao gồm những quy định thờigiờ làm việc bình thường trong 01 ngày, trong 01 tuần, ca làm việc; thời điểmbắt đầu, thời điểm kết thúc ca làm việc; làm thêm giờ (nếu có); làm thêm giờtrong các trường hợp đặc biệt; thời điểm các đợt nghỉ ngắn ngoài thời giannghỉ giữa giờ; nghỉ chuyển ca; ngày nghỉ hàng tuần; nghỉ hàng năm, nghỉ việcriêng, nghỉ không hưởng lương
Trật tự tại nơi làm việc: quy định về phạm vi làm việc, đi lại trong thờigiờ làm việc; văn hóa ứng xử, trang phục; tuân thủ phân công, điều động củaNSDLĐ (trừ trường hợp thấy rõ nguy cơ xảy ra tai nạn lao động, bệnh nghềnghiệp, đe dọa nghiêm trọng tính mạng và sức khỏe của mình)
An toàn lao động, vệ sinh lao động ở nơi làm việc: đó là trách nhiệmnắm vững các quy định về an toàn, vệ sinh lao động, phòng chống cháy nổ;chấp hành biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động, phòng ngừatai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; tuân thủ nội quy, quy trình, quy chuẩn,tiêu chuẩn an toàn lao động, vệ sinh lao động; sử dụng và bảo quản phươngtiện bảo vệ cá nhân; vệ sinh, khử độc, khử trùng tại nơi làm việc
Bảo vệ tài sản, bí mật công nghệ, bí mật kinh doanh, sở hữu trí tuệ củangười sử dụng lao động: NSDLĐ quy định danh mục tài sản, tài liệu, bí mậtcông nghệ, bí mật kinh doanh, sở hữu trí tuệ phải bảo vệ thuộc phạm vi tráchnhiệm được giao
Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, hình thức xử lý kỷ luật lao động
và trách nhiệm vật chất: Danh mục hành vi vi phạm, mức độ vi phạm tươngứng với các hình thức xử lý kỷ luật lao động; mức độ thiệt hại [12, Điều 27]
NSDLĐ sẽ căn cứ vào quy định pháp luật và đặc thù của ngành nghềtrong đơn vị mình để từ đó cụ thể hoá những nội dung nêu trên trong nội quycủa đơn vị mình Tuy nhiên, NSDLĐ thường chép y nguyên quy định phápluật mà không cụ thể hoá quy định phù hợp với đơn vị của mình, có nhữngđơn vị sử dụng lao động quy định trái pháp luật
Trang 372.1.1.2 Hành vi vi phạm quy định pháp luật về xử lý kỷ luật lao động
Xử lý kỷ luật lao động là hình thức xử lý do NSDLĐ áp dụng đối vớiNLĐ khi họ thực hiện hành vi vi phạm KLLĐ, buộc họ sẽ phải chịu một hìnhthức kỷ luật nhất định theo quy định của pháp luật, giúp cho ổn định trật tựtrong nội bộ đơn vị của NSDLĐ Nhà nước trao toàn quyền xử lý KLLĐ choNSDLĐ Khi NSDLĐ tiến hành xử lý KLLĐ phải tuân theo quy định phápluật nhất định về nguyên tắc, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thẩm quyền, Trongquá trình xử lý KLLĐ, NSDLĐ có hành vi vi phạm dưới đây:
Vi phạm điều cấm khi xử lý KLLĐ
Theo quy định tại điều 128 BLLĐ khi xử lý KLLĐ nhà nước nghiêmcấm việc xâm phạm thân thể, nhân phẩm của NLĐ; dùng hình thức phạt tiền,cắt lương thay việc xử lý kỷ luật lao động; xử lý KLLĐ đối với NLLĐ cóhành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động
Căn cứ để xử lý KLLĐ đó là NLĐ có hành vi vi phạm KLLĐ được quyđịnh trong nội quy lao động của đơn vị sử dụng lao động và có lỗi Nếu nhưNLĐ có hành vi vi phạm KLLĐ nhưng hành vi đó không được quy định trongnội quy lao động thì NSDLĐ không thể xử lý KLLĐ Pháp luật quy địnhNSDLĐ phải quy định cụ thể hành vi vi phạm KLLĐ trong nội quy lao động
để tránh sự lạm quyền của NSDLĐ viện ra nhiều lý do để xử lý KLLĐ Thực
tế, NSDLĐ tùy tiện đưa ra lý do để xử lý KLLĐ
NSDLĐ xử lý KLLĐ không đúng trình tự, thủ tục, thời hiệu theo quy định của pháp luật
Mặc dù pháp luật trao quyền xử lý KLLĐ cho NSDLĐ, tuy nhiên, NSDLĐkhi xử lý KLLĐ phải tuân theo trình tự, thủ tục nhất định đã được quy định
Pháp luật hiện hành thì xử lý KLLĐ thực hiện như sau: Theo quy địnhtại Bộ luật lao động và nghị định 148/2018/NĐ-CP thì việc xử lý KLLĐ phảitiến hành theo:
Trang 38Các nguyên tắc đó là:
NSDLĐ phải chứng minh được lỗi của người lao động; phải
có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; ngườilao động phải có mặt và có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặcngười khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thì phải có
sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật; việc xử
lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản; không được ápdụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động đối với một hành vi viphạm kỷ luật lao động; khi một người lao động đồng thời có nhiềuhành vi vi phạm kỷ luật lao động thì chỉ áp dụng hình thức kỷ luậtcao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất; không được xử
lý kỷ luật lao động đối với người lao động đang trong thời gian sauđây: nghỉ ốm đau, điều dưỡng; nghỉ việc được sự đồng ý của người
sử dụng lao động; đang bị tạm giữ, tạm giam; đang chờ kết quả của
cơ quan có thẩm quyền điều tra xác minh và kết luận đối với hành
vi vi phạm đó là NLĐ có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ýgây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ
bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trítuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêmtrọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợiích của người sử dụng lao động; lao động nữ có thai, nghỉ thai sản;người lao động nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi; không xử lý kỷluật lao động đối với người lao động vi phạm kỷ luật lao động trongkhi mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhậnthức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình [24, Điều 123]
Trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật lao động được quy định như sau:
i) Khi phát hiện NLĐ có hành vi vi phạm kỷ luật lao động tại thời điểm
Trang 39xảy ra hành vi vi phạm, NSDLĐ tiến hành lập biên bản vi phạm, thông báođến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; cha, mẹ hoặc người đại diệntheo pháp luật trong trường hợp NLĐ là người dưới 18 tuổi để tiến hành họp
xử lý kỷ luật lao động
ii) Trường hợp NSDLĐ phát hiện hành vi vi phạm kỷ KLLĐ sauthời điểm hành vi phạm đã xảy ra, có đủ căn cứ chứng minh được lỗi củaNLĐ và trong thời hiệu xử lý kỷ luật thì thực hiện như sau: NSDLĐ thôngbáo nội dung, thời gian, địa điểm cuộc họp xử lý kỷ luật lao động đến tổ chứcđại diện tập thể lao động tại cơ sở; NLĐ phải có mặt và có quyền tự bào chữa,nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa; trường hợp là người dưới 18 tuổi thìphải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật; đảm bảocác thành phần này nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp và tiếnhành cuộc họp xử lý kỷ luật lao động khi có sự tham gia của các thành phầnthông báo Khi nhận được thông báo của người sử dụng lao động, trong thờihạn tối đa 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo các thành phầntham dự cuộc họp xử lý KLLĐ phải xác nhận tham dự cuộc họp Trường hợpkhông tham dự phải thông báo cho người sử dụng lao động và nêu rõ lýdo.Trường hợp một trong các thành phần tham dự cuộc họp xử lý KLLĐkhông xác nhận tham dự cuộc họp, hoặc nêu lý do không chính đáng, hoặc đãxác nhận tham dự nhưng không đến họp thì người sử dụng lao động vẫn tiếnhành xử lý kỷ luật lao động
iii) Cuộc họp xử lý kỷ luật lao động phải được lập thành biên bản vàđược thông qua các thành viên tham dự trước khi kết thúc cuộc họp Biên bảnphải có đầy đủ chữ ký của các thành viên tham dự cuộc họp Trường hợp mộttrong các thành viên đã tham dự cuộc họp mà không ký vào biên bản thì phảighi rõ lý do
iv) Quyết định xử lý kỷ luật lao động phải được ban hành trong thời