Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay nên có những đóng góp khoa học như sau: Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận, đề xuất một số quan điểm, giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm mục đích đảm bảo nguyên tắc tranh tụng đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Về thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá khá toàn diện về thực trạng đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử từ thực tiễn địa bàn tỉnh Nghệ An (từ năm 2013 đến 2017), để trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý và đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trong giai đoạn hiện nay nên sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho hoạt động nghiên cứu và xây dựng văn bản pháp luật trong tố tụng hình sự hiện nay. Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đào tạoLuận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay nên có những đóng góp khoa học như sau: Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận, đề xuất một số quan điểm, giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm mục đích đảm bảo nguyên tắc tranh tụng đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Về thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá khá toàn diện về thực trạng đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử từ thực tiễn địa bàn tỉnh Nghệ An (từ năm 2013 đến 2017), để trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý và đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trong giai đoạn hiện nay nên sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho hoạt động nghiên cứu và xây dựng văn bản pháp luật trong tố tụng hình sự hiện nay. Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đào tạo luật, đào tạo nghiệp vụ ngành công an; Viện kiểm sát; Tòa án; nghề luật sư. Ngành tòa án; Viện kiểm sát; cơ quan điều tra; có thể áp dụng trong các trường đào tạo nghiệp vụ xét xử như Học viện tư pháp, Học viện Tòa án, để nâng cao chất lượng xét xử. Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay nên có những đóng góp khoa học như sau: Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận, đề xuất một số quan điểm, giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm mục đích đảm bảo nguyên tắc tranh tụng đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Về thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá khá toàn diện về thực trạng đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử từ thực tiễn địa bàn tỉnh Nghệ An (từ năm 2013 đến 2017), để trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý và đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trong giai đoạn hiện nay nên sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho hoạt động nghiên cứu và xây dựng văn bản pháp luật trong tố tụng hình sự hiện nay. Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đào tạo luật, đào tạo nghiệp vụ ngành công an; Viện kiểm sát; Tòa án; nghề luật sư. Ngành tòa án; Viện kiểm sát; cơ quan điều tra; có thể áp dụng trong các trường đào tạo nghiệp vụ xét xử như Học viện tư pháp, Học viện Tòa án, để nâng cao chất lượng xét xử. Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trước yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay nên có những đóng góp khoa học như sau: Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận, đề xuất một số quan điểm, giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm mục đích đảm bảo nguyên tắc tranh tụng đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay. Về thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá khá toàn diện về thực trạng đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử từ thực tiễn địa bàn tỉnh Nghệ An (từ năm 2013 đến 2017), để trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý và đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trong giai đoạn hiện nay nên sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễn cho hoạt động nghiên cứu và xây dựng văn bản pháp luật trong tố tụng hình sự hiện nay. Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đào tạo luật, đào tạo nghiệp vụ ngành công an; Viện kiểm sát; Tòa án; nghề luật sư. Ngành tòa án; Viện kiểm sát; cơ quan điều tra; có thể áp dụng trong các trường đào tạo nghiệp vụ xét xử như Học viện tư pháp, Học viện Tòa án, để nâng cao chất lượng xét xử. luật, đào tạo nghiệp vụ ngành công an; Viện kiểm sát; Tòa án; nghề luật sư. Ngành tòa án; Viện kiểm sát; cơ quan điều tra; có thể áp dụng trong các trường đào tạo nghiệp vụ xét xử như Học viện tư pháp, Học viện Tòa án, để nâng cao chất lượng xét xử.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH XUÂN GIÁP
HOµN THIÖN PH¸P LUËT §¶M B¶O NGUY£N T¾C TRANH TôNG
TRONG XÐT Xö ë VIÖT NAM HIÖN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH XUÂN GIÁP
HOµN THIÖN PH¸P LUËT §¶M B¶O NGUY£N T¾C TRANH TôNG
TRONG XÐT Xö ë VIÖT NAM HIÖN NAY
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 8380101.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH HOÀNG THỊ KIM QUẾ
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ đều có trích dẫn nguồn cụ thể và các trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân th nh c m n! ành cảm ơn! ảm ơn! ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đinh Xuân Giáp
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ 7
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng 7
1.2 Khái niệm, bản chất, phạm vi, nội dung tranh tụng trong xét xử 9
1.3 Pháp luật và hoàn thiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng .16
1.3.1 Khái niệm, phạm vi điều chỉnh của pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng 16
1.3.2 Hoàn thiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng 20
1.4 Vai trò của Tòa án trong tổ chức áp dụng và đảm bảo nguyên tắc tranh tụng 25
1.5 Tranh tụng trong xét xử ở một số nước trên thế giới 28
1.5.1 Tố tụng tranh tụng tại một số nước theo hệ thống Common law 28
1.5.2 Áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong mô hình tố Civil law 29
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN 31
2.1 Thực trạng pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử 31
2.1.1 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về tranh tụng trong xét xử
Trang 5trước 2003 31
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 32
2.1.3 Cơ sở bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong tố tụng 35
2.2 Thực tiễn áp dụng pháp luật về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử ở tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An 42
2.2.1 Một số đặc điểm tình hình kinh tế - Xã hội và tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An 42
2.2.2 Tổ chức bộ máy Tòa án nhân dân tỉnh nghệ An 45
2.2.3 Tình hình xét xử từ năm 2013 – 2017 trên địa bàn Tỉnh Nghệ An 47
2.2.4 Tình hình tham gia tranh tụng của luật sư tại phiên tòa ở Nghệ An 49
2.2.5 Thực tiễn thực hiện tranh tụng tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự 50
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ 57
3.1 Những vấn đề tồn tại trong việc áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong xét xử 57
3.2 Nguyên nhân của những hạn chế về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử 63
3.3 Những giải pháp cơ bản về hoàn thiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử 68
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 6XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thống kê số liệu Cán bộ Công chức TAND tỉnh Nghệ
Bảng 2.4 Các đối tượng là người chưa thành niên và bị truy tố
Bảng 2.5 Số vụ, việc do cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu 49Bảng 2.6 Số lượng tham gia của luật sư tại phiên tòa 49
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, dưới sự lãnh đạo củaĐảng, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đã có những tiến
bộ quan trọng Nhiều bộ luật, pháp lệnh được ban hành đã tạo khuôn khổpháp lý ngày càng hoàn chỉnh hơn để nhà nước quản lý bằng pháp luật trêncác lĩnh vực kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng…
Những năm qua, cùng với sự nỗ lực của toàn xã hội, các cơ quan tiếnhành tố tụng đã có nhiều cố gắng trong công tác tư pháp, góp phần quan trọngvào việc giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội Tuy nhiên, chấtlượng công tác tư pháp nói chung và công tác xét xử nói riêng còn chưangang tầm với yêu cầu và nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó, còn bộc
lộ nhiều yếu kém trong tất cả các lĩnh vực từ hình sự, dân sự, hành chính Mộttrong những nội dung cơ bản của các hạn chế đó là chưa đảm bảo nguyên tắctranh tụng trong xét xử về các nguyên tắc tố tụng, cũng như sự có mặt củangười bào chữa tại phiên tòa, quyền bào chữa của bị cáo chưa thực sự đượcđảm bảo… Đội ngũ Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên, Luật sư và cáccán bộ tư pháp khác chưa được chuẩn bị đầy đủ về kỹ năng nghề nghiệp theoyêu cầu cải cách tư pháp; kinh nghiệm thực tiễn về tranh tụng còn hạn chếnên không tránh khỏi khó khăn, lúng túng trong thực hiện chức năng, nhiệm
vụ của mình theo quy định của pháp luật Nghị quyết 08/NQ-TW ngày02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời giantới” và Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tưpháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị ra đời trở thành định hướng chiến lượccho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta Nghị quyết này đề cập nhiều nộidung khác nhau của công tác tư pháp từ hoạt động điều tra, truy tố, xét xử chođến việc đào tạo cán bộ tư pháp, trong đó tăng cường tranh tụng trong quá
Trang 9trình xét xử vụ án hình sự được coi là vấn đề trọng tâm của Nghị quyết Theo
đó, các quy định trong tố tụng hình sự (TTHS) phải đảm bảo tính khách quan,phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiêntòa, phải đảm bảo để bản án, quyết định của Tòa án là hiện thân của công lý,công bằng xã hội Như vậy, một vấn đề cấp bách được đặt ra đối với các cơquan tư pháp là làm thế nào để đạt được những yêu cầu cải cách tư pháp liênquan đến vấn đề tranh tụng Với vai trò quan trọng như vậy, việc hoàn thiệnpháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng tranh tụng luôn luôn là một nhu cầu,một đòi hỏi cấp thiết khách quan Đảm bảo nguyên tắc tranh tụng có vai trò đặcbiệt quan trọng trong công tác xét xử nhằm đưa ra phán quyết thấu tình đạt lý,đúng người đúng tội, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của những người tham gia tốtụng, qua đó thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người, bảo vệ pháp chế xã
hội chủ nghĩa, bảo vệ công bằng, lẽ phải, bảo vệ công lý [1, tr.25] Tuy nhiên,
trên thực tiễn, nguyên tắc tranh tụng được đảm bảo trong xét xử hiện nayđang có nhiều bất cập dẫn đến việc thực hiện, áp dụng pháp luật về tranh tụnggặp nhiều khó khăn, gây ra nhiều hoài nghi, bức xúc đối với các chủ thể thamgia tranh tụng; hiệu quả tranh tụng chưa cao, qua đó ảnh hưởng đến chấtlượng các phán quyết của Tòa án
Với lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Hoàn thiện pháp luật đảm bảo
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài luận văn
thạc sĩ luật học với mong muốn góp phần làm rõ thêm những khía cạnh lýluận, thực tiễn trong vấn đề này, qua đó góp phần hoàn thiện pháp luật đảmbảo nguyên tắc tranh tụng ở Việt nam hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo nguyên tắc trong xét xử không còn làmột vấn đề mới, nhưng luôn là đề tài có tính thời sự và cũng không kém phầnphức tạp trên diễn đàn cải cách tư pháp Trong những năm gần đây, đã có
Trang 10nhiều nhà khoa học, nhiều nhà nghiên cứu với nhiều công trình nghiên cứu vềnguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nhất là từkhi Nghị quyết 08/NQ-TW của Bộ Chính trị ra đời ngày 02/01/2002 mởđầu cho công cuộc cải cách tư pháp ở nước ta Nghị quyết 49/NQ-TW ngày02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.Đến nay, đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ,hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải trên một số sách, báo, tạp chí ởTrung ương và địa phương, tiêu biểu là các công trình sau đây:
- Lê Cảm (2003), “Nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống các nguyên
tắc cơ bản của luật TTHS”, Tạp chí nghiên cứu Lập pháp, tr 23 - 25
- Hoàng Thị Quỳnh Chi (2015), “Bàn về tranh tụng trong tố tụng hình
- Phan Lan (2013), “Mỹ, tranh tụng khi xét xử tại tòa”, Tạp chí Luật học.
- Nguyễn Đức Mai (2014), “Đặc điểm của mô hình TTHS và phương
hướng hoàn thiện mô hình TTHS ở Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát
- Nguyễn Đức Mai, “Đặc điểm của mô hình tố tụng tranh tụng và
phương hướng hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở Việt Nam”, Kỳ 1, Tạp
chí Tòa án.
Trang 11- Tôn Thiện Phương (2014), “Giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng
trong Tố tụng Hình sự”, Tạp chí Kiểm sát.
- Hồ Nguyễn Quân (2013), “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng tranh tụng tại phiên tòa Hình sự” Tạp chí Khoa học pháp lý,
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụthể sau đây:
Một là, nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về nguyên tắc tranh
tụng trong hệ thống pháp luật hiện nay
Hai là, phân tích mức độ hoàn thiện đảm bảo nguyên tắc tranh tụng
trong hệ thống pháp luật hiện nay, thực trạng đảm bảo nguyên tắc tranh tụngtrong xét xử từ thực tiễn địa bàn tỉnh Nghệ An, để chỉ ra những kết quả, hạnchế và phân tích những nguyên nhân của kết quả và hạn chế đó
Ba là, xác định quan điểm và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật đảm bảo
nguyên tắc tranh tụng và nâng cao chất lượng tranh tụng trong xét xử
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về đảm bảo
nguyên tắc tranh tụng trong hệ thống pháp luật hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu đảm bảo nguyên
tắc tranh tụng trong xét xử hiện nay, đặc biệt đi sâu nghiên cứu đảm bảo
Trang 12nguyên tắc tranh tụng trong xét xử vụ án hình sự kể từ khi bộ luật Tố tụnghình sự 2015 có hiệu lực thi hành.
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của luận văn này là quan điểm của Chủ nghĩa Mác Lênin (chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng lịchsử), tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản - Nhà nước ViệtNam về nhà nước, pháp luật Các quan điểm về xây dựng Nhà nước phápquyền, về cải cách tư pháp
-Hệ thống lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, pháp luật TTHS,pháp luật tố tụng của một số nước trên thế giới và Việt Nam, thể hiện trongquá trình chỉ đạo đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước nói chung
và cải cách tư pháp nói riêng theo yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng,chủ nghĩa duy vật lịch sử và sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như:phương pháp điều tra xã hội học, thống kê, so sánh, phân tích, tổng hợp, diễndịch và phương pháp thực chứng để phân tích làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Kế thừa có chọn lọc kết quả các công trình nghiên cứu của các tác giả khác cóliên quan đến vấn đề đang nghiên cứu như: Luận án, luận văn, đề tài nghiêncứu, bài viết đăng trên các tạp chí, báo…
6 Đóng góp về lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Luận văn là công trình nghiên cứu có hệ thống và tương đối toàn diện
về đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử trước yêu cầu cải cách tư pháphiện nay nên có những đóng góp khoa học như sau:
Trang 13Về lý luận: Luận văn góp phần làm rõ một số vấn đề về cơ sở lý luận,
đề xuất một số quan điểm, giải pháp có giá trị thực tiễn nhằm mục đích đảmbảo nguyên tắc tranh tụng đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp hiện nay
Về thực tiễn: Luận văn phân tích, đánh giá khá toàn diện về hoàn thiện
nguyên tắc đảm bảo tranh tụng trong xét xử, thực trạng đảm bảo nguyên tắctranh tụng trong xét xử từ thực tiễn địa bàn tỉnh Nghệ An (từ năm 2013 đến2017), để trên cơ sở đó phát hiện những điểm chưa hợp lý và đề xuất nhữngquan điểm, giải pháp nhằm đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xửtrong giai đoạn hiện nay nên sẽ cung cấp thêm luận cứ khoa học và thực tiễncho hoạt động nghiên cứu và xây dựng văn bản pháp luật trong tố tụng hìnhsự hiện nay
Luận văn có thể làm tư liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạytrong các trường đào tạo luật, đào tạo nghiệp vụ ngành công an, Viện kiểm sát,Tòa án, nghề luật sư, cơ quan điều tra; có thể áp dụng trong các trường đào tạonghiệp vụ xét xử như Học viện tư pháp, Học viện Tòa án, để nâng cao chấtlượng xét xử
Chương 2: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật đảm bảo nguyên
tắc tranh tụng trong xét xử ở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
Chương 3: Một số giải pháp cơ bản về hoàn thiện pháp luật đảm bảo
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
Trang 14Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO
NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ
1.1 Lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc tranh tụng trong
-Tố tụng tranh tụng cho rằng, sự thật sẽ được mở ra thông qua sự tranhluận (cuộc tranh đấu) tự do và cởi mở giữa hai bên (một bên là Nhà nước vàbên kia là nguời bị buộc tội) có các dữ kiện chính xác về vụ việc Tố tụngtranh tụng đề cao luật hình thức (thủ tục tố tụng) hơn luật nội dung (hay nóicách khác là trọng chứng hơn trọng cung) Thủ tục tố tụng tại phiên toà đượcthực hiện công khai, bằng miệng và tuân thủ triệt để nguyên tắc tranh tụng.Mọi chứng cứ viết (như biên bản của cảnh sát tư pháp) đều không được côngnhận là chứng cứ Bên buộc tội và bên bào chữa tham gia phiên tòa với tưcách là hai đối thủ có trách nhiệm chứng minh về sự có tội hay vô tội của bịcáo Mỗi bên đều bình đẳng với nhau trong việc sử dụng pháp luật (đặc biệt làcác quy tắc tố tụng và các quyền năng tố tụng) để có thể đạt được ưu thế củamình trước bên đối phương [8, tr.39]
Tố tụng tranh tụng không có giai đoạn điều tra, mọi chứng cứ hoàn
Trang 15toàn do các bên tự thu thập và chỉ được đưa ra tranh luận tại phiên xét xử.Bên buộc tội và bên bào chữa sử dụng quyền kiểm tra chéo đối với người làmchứng để xác định tính trung thực hay sự thiên vị trong các lời khai của họ(chỉ ra cái mà người làm chứng biết thực chứ không phải cái mà họ nghĩ rằng
họ biết) Vì vậy, ngay cả các sự việc diễn ra tại phiên tòa cũng có thể đượccác bên dùng làm chứng cứ chống lại nhau Mỗi bên có quyền đặt câu hỏi trựctiếp cho bên kia cũng như những người làm chứng, giám định viên, thậmchí có quyền ngắt lời bên kia để phản bác
Tố tụng tranh tụng quan tâm đặc biệt đến lợi ích của các bên và đặt lợiích của xã hội xuống hàng thứ yếu; quyền lực được chia xẻ cho cả công tốviên, luật sư và Thẩm phán Trách nhiệm chứng minh được phân đều cho haibên buộc tội và bào chữa Tại phiên toà, Công tố viên đại diện cho Nhà nướcchỉ đóng vai trò của một chủ thể thuộc bên buộc tội để thực hiện chức năngbuộc tội đối với bị cáo (chứng minh tội phạm của bị cáo và những thiệt hại
mà tội phạm đã gây ra cho xã hội) Luật sư bào chữa tranh luận về sự vô tộihay giảm nhẹ tội để bảo vệ thân chủ của mình về mặt pháp lý Toà án (Thẩmphán) chỉ đóng vai trò là người trọng tài có trách nhiệm bảo đảm để các bêntuân thủ các quy tắc tố tụng Trên cơ sở các chứng cứ đã được các bên đưa raxem xét, kiểm tra tại phiên tòa, Thẩm phán đưa ra phán quyết về vụ án (màkhông có trách nhiệm tìm ra sự thật, không có quyền được biết về các chứng
cứ của vụ án trước khi mở phiên tòa)
Tại phiên toà, các bên có thể sử dụng tất cả các phương tiện, phươngpháp mà pháp luật cho phép để tranh tụng với nhau Việc lựa chọn phươngpháp, phương tiện cụ thể nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố (thời điểm tranhtụng, từng vụ án cụ thể, sở trường, trình độ, kỹ năng nghiệp vụ, kinh nghiệmthực tiễn, của mỗi chủ thể) Phương tiện tranh tụng mà các bên sử dụngtrước hết là các chứng cứ, vật chứng được đưa ra xem xét tại phiên toà, các
Trang 16quy phạm pháp luật (hình sự, TTHS, dân sự, lao động, ), các giải thích phápluật, án lệ, phân tích, lập luận và phản bác quan điểm, kết luận của bên đốiphương, đồng thời đề nghị Toà án chấp nhận quan điểm của mình về hướnggiải quyết các vấn đề trong vụ án.
1.2 Khái niệm, bản chất, phạm vi, nội dung tranh tụng trong xét xử
Trên thế giới, hiện đang tồn tại nhiều loại mô hình tố tụng khác nhau,trong đó đặc trưng nhất của tố tụng hình sự gồm: Tố tụng tranh tụng, tố tụng
thẩm vấn và tố tụng hỗn hợp Mô hình tố tụng tranh tụng được hiểu: là mô hình
tố tụng hình sự mà trong đó xuất hiện bên buộc tội và bên gỡ tội có địa vị pháp
lý ngang bằng nhau trong quá trình xác định sự thật khách quan của vụ án và toà án sẽ ra phán quyết dựa trên kết quả tranh tụng giữa các bên tại phiên toà.
- Khái niệm tranh tụng
Khái niệm tranh tụng được biết đến ngay từ những thời đại xa xưa của
xã hội loài người Loại tố tụng này đã được áp dụng từ thời kỳ Hy lạp cổ đại
Ở thời đấy, nguyên cáo bị cáo đã được nhờ người thân của mình bào chữatrước tòa án Sau đó nó được đưa vào La Mã với tên gọi “thủ tục hỏi đáp liêntục” Cùng với thời gian, tranh tụng tiếp tục được kế thừa, phát triển và từngbước được khẳng định và đến nay nó được áp dụng hầu hết ở các nước thuộc
hệ thống luật lục địa cũng như hệ thống luật án lệ Ở Việt Nam, có thể nhậnxét tranh tụng trên các bình diện dưới đây:
Về mặt lập pháp: khái niệm tranh tụng chưa được chính thức ghi nhậnhoặc giải thích trong các văn bản quy phạm pháp luật của nước ta được banhành từ năm 1945 đến nay
Về mặt ngôn ngữ: theo Đại từ điển tiếng Việt năm 1998 thì tranh tụng
có nghĩa là “kiện tụng”; còn theo Hán - Việt từ điển thì tranh tụng có nghĩa là
“cãi lẽ, cãi nhau để tranh lấy phải”
Theo cách giải thích này, thì tranh tụng chính là quá trình giải quyết vụ
Trang 17kiện dân sự theo đó các đương sự được tranh luận về các yêu cầu, các chứng
cứ và chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
Đặc thù của tố tụng dân sự là các chủ thể tham gia tố tụng và chủ thểtiến hành tố tụng cùng nhau xác định sự thật khách quan trên cơ sở xem xétđánh giá khách quan, toàn diện và đầy đủ các chứng cứ, tài liệu, các tình tiếtkhác nhau của vụ án và đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng dânsự Để có thể tìm ra chân lý, xác định sự thật khách quan về vụ án thì các chủthể tham gia vào quá trình tố tụng dân sự phải phát huy tính chủ động, tíchcực trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá các chứng cứ, tàiliệu, các tình tiết liên quan một cách chính xác, khách quan và đầy đủ; đưa racác lý lẽ, các quan điểm khác nhau, viện dẫn các quy định của pháp luật đểgiải quyết vụ án Tất cả các hoạt động như cung cấp chứng cứ, đưa ra các yêucầu và phản yêu cầu, đối chất giữa các bên… trong giai đoạn trước khi xét xửcũng như tại phiên tòa đều có thể hiểu là quá trình tranh tụng Như vậy, tranhtụng được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp
Theo nghĩa rộng, tranh tụng là một quá trình được bắt đầu từ khi cácđương sự thực hiện quyền khởi kiện và kết thúc khi bản án, quyết định củaTòa án Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì quá trình tranh tụng này sẽ baogồm toàn bộ các giai đoạn khởi kiện, thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử, xét xử
sơ thẩm, phúc thẩm và cả giai đoạn giám đốc thẩm, tái thẩm Theo nghĩahẹp: tranh tụng là sự đối đáp, đấu tranh giữa các bên đương sự với nhau vềchứng cứ, yêu cầu và phản đối yêu cầu của mỗi bên để từ đó nhằm chứngminh cho đối phương và Tòa án rằng yêu cầu và phản đối yêu cầu của mình
là có căn cứ và hợp pháp
- Bản chất tranh tụng trong tố tụng
Bản chất của tố tụng tranh tụng Theo Từ điển Tiếng Việt, thì "tranhtụng” có nghĩa là "sự kiện cáo nhau” giữa hai bên (bên nguyên và bên bị) có
Trang 18lập trường tương phản yêu cầu Toà án phàn xử Tranh tụng luôn gắn liền vớihoạt động tài phán (ở đâu có xét xử thì ở đó có tranh tụng) và tồn tại khôngchỉ trong TTHS mà cả trong tố tụng dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.Mặc dù tư pháp hình sự ở các nước được tổ chức rất khác nhau (tố tụng thẩmvấn hay tố tụng tranh tụng), thì phiên toà hình sự đều là cách thức tổ chứchoạt động xét xử của Toà án, là thủ tục tiến hành các hoạt động tố tụng củacác bên và Toà án nhằm xác định sự thật về vụ án Mục đích chính của tốtụng thẩm vấn là tìm ra sự thật và đạt được sự công bằng trong tố tụng (baogồm các giai đoạn: điều tra, truy tố và xét xử) Trong khi đó mục đích của hệtố tụng tranh tụng lại khác ở chỗ việc tìm ra sự thật chỉ bắt đầu từ giai đoạnxét xử Mọi thông tin thu thập được trong quá trình điều tra đều chưa đượcxem xét cho đến khi được trình bày trước Toà Mỗi bên sẽ trình Toà "sự thậtcủa phía mình” và Hội đồng xét xử (HĐXX) sẽ xem "sự thật” nào có tínhthuyết phục hơn Hệ thẩm vấn chú trọng đến khía cạnh thực tế, còn hệ tranhtụng lại đánh giá cao khía cạnh pháp lý.
Mô hình tố tụng tranh tụng được xây dựng và vận hành trên cơ sở ápdụng triệt để nguyên tắc tranh tụng - một trong những nguyên tắc cơ bảnxuyên suốt toàn bộ quá trình TTHS đồng thời là cơ sở để xây dựng mọi chếđịnh khác của TTHS (như: Phân loại các chủ thể tham gia tranh tụng; quyềnhạn và nghĩa vụ của các chủ thể; thủ tục xét xử tại phiên toà; ) Nguyên tắcnày bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Tranh tụng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội (bào chữa) là cơ sở vậnhành của TTHS
Chức năng buộc tội, gỡ tội (bào chữa) và xét xử là độc lập với nhau và
do các chủ thể khác nhau thực hiện
Tòa án giữ vai trò trọng tài trung lập và có trách nhiệm bảo đảm cácđiều kiện cần thiết để các bên buộc tội và bào chữa thực hiện chức năng củamình; Bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trước Tòa án
Trang 19Về bản chất, quá trình tranh tụng tại phiên toà là cuộc điều tra và tranhluận công khai giữa hai bên nhằm xác định sự thật khách quan làm cơ sở đểToà án ra phán quyết về vụ án Quá trình này có một số đặc điểm sau đây:
Đây là cuộc điều tra công khai với sự tham gia đầy đủ của các chủ thểthuộc bên buộc tội, bên gỡ tội và những người tham gia tố tụng khác dưới sựđiều khiển của chủ toạ phiên toà và giám sát HĐXX Tại đây các chứng cứ,tài liệu về vụ án được các chủ thể của.các bên và HĐXX kiểm tra, đánh giácông khai trên cơ sở các quy định của pháp luật
Hoạt động tranh tụng được tiến hành theo một trình tự, thủ tục nghiêmngặt, phức tạp và bị hạn chế về mặt không gian (chỉ có thể thực hiện tại phiêntoà) và thời gian (trong thời gian diễn ra phiên toà) do pháp luật quy định
Trên cơ sở các chứng cứ, tài liệu đã được kiểm tra, xác minh tại phiêntoà và quan điểm của các bên về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án, Toà ánxác định sự thật khách quan và ra phán quyết về vụ án
Kết quả tranh tụng về vụ án được thể hiện bằng phán quyết (bản ánhoặc quyết định) của HĐXX Phán quyết của Toà án là hình thức pháp lý ghinhận kết quả tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa về vụ án
Quá trình tranh tụng tại phiên toà diễn ra ở những mức độ với các hìnhthức khác nhau Trong giai đoạn điều tra công khai tại phiên toà, hoạt độngtranh tụng giữa các bên diễn ra ở mức độ thấp (mang tính chất cảm tính).Thông qua việc xét hỏi trực tiếp đối với bị cáo, những người tham gia tố tụngkhác, xem xét vật chứng, bên buộc tội và bên bào chữa tiến hành kiểm trachéo và đánh giá các chứng cứ mà các bên đưa ra tại phiên toà nhằm xác địnhtính hợp pháp và độ tin cậy của chúng, xác nhận có hay không có sự kiện này,tình tiết kia của vụ án làm cơ sở để đưa ra đánh giá và quan điểm pháp lý củamình về vụ án ở phần tiếp theo
Phần tranh luận tại phiên toà thể hiện tập trung và rõ nét nhất hoạt động
Trang 20đối tụng của các bên Dựa vào kết quả điều tra công khai tại phiên toà, cácbên đưa ra đánh giá về mặt pháp lý lập luận của mình về sự tồn tại hay khôngtồn tại mối liên hệ khách quan giữa các sự kiện, các tình tiết của vụ án đãđược kiểm tra, xác minh ở phần xét hỏi Trên cơ sở các quy định của phápluật (hình sự, TTHS, dân sự, ), bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra kết luậncủa mình nhằm khẳng định hoặc bác bỏ các nội dung buộc tội, đưa ra các yêucầu, đề nghị cụ thể về tội danh, điều khoản, mức hình phạt hoặc đề nghị vềsự vô tội hay giảm nhẹ tội của bị cáo Sự tranh tụng ở đây đã chuyển sangmức độ cao hơn dưới hình thức tư duy, lôgíc của các chủ thể của cả hai bên.
Hai mức độ tranh tụng tại phiên toà nêu trên của hai bên buộc tội vàbào chữa có mối liên hệ hữu cơ và biện chứng với nhau Lời buộc tội củaKiểm sát viên hay lời bào chữa của luật sư chỉ có sức thuyết phục và đượcToà án chấp nhận khi và chỉ khi nó dựa trên cơ sở các sự kiện, tình tiết và cácchứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra, xác minh công khai tại phiên toà và chỉ rađược mối liên hệ lôgíc khách quan giữa các sự kiện, tình tiết của vụ án Ví dụ:
Để kết luận bị cáo phạm tội giết người, Kiểm sát viên phải chỉ ra được tronghành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội giết người, trong đó lỗicủa bị cáo phải là cố ý Ngược lại, muốn chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹtội cho thân chủ thì luật sư bào chữa phải chỉ ra được không có quan hệ nhânquả giữa giữa hành vi của bị cáo và cái chết của nạn nhân hoặc lỗi của bị cáokhi gây ra cái chết cho nạn nhân là vô ý
- Phạm vi tranh tụng
Tranh tụng chủ yếu chỉ có thể tiến hành tại phiên toà nên quá trình này
bị giới hạn bởi chính phiên toà Nó được bắt đầu từ khi khai mạc phiên toà vàkết thúc sau khi Toà án công bố phán quyết, trong đó tranh luận của các bêntại phiên toà chi là giai đoạn thể hiện đậm nét nhất, tập trung rõ nét nhất củaquá trình tranh tụng giữa các bên về vụ án Tại phiên toà, dưới sự điều khiển
Trang 21của HĐXX, với sự tham gia đầy đủ nhất của bên buộc tội, bên bào chữa vàcác chủ thể tham gia tố tụng khác (Người làm chứng, giám định viên, phiêndịch, ), cả ba chức năng cơ bản trong TTHS (buộc tội, bào chữa và xét xử)được thực hiện Toàn bộ các hoạt động tố tụng tại phiên toà được tiến hànhvới sự tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật TTHS về trình tự, thủtục cũng như về không gian và thời gian Đây chính là những điều kiện cầnthiết để bảo đảm cho các bên và Toà án thực hiện có hiệu quả chức năng củamình nhằm đạt được mục đích đặt ra là xác định sự thật về vụ án.
Căn cứ vào nội dung hoạt động của các chủ thể tại phiên toà sơ thẩm,quá trình tranh tụng tại phiên toà được phân thành các giai đoạn sau (tươngứng với các giai đoạn xét xử vụ án tại phiên toà):
Giai đoạn chuẩn bị tranh tụng (tương ứng với phần chuẩn bị của phiêntoà): Đây là giai đoạn Toà án và các bên tiến hành các thủ tục cần thiết đểchuẩn bị cho các hoạt động tranh tụng ở các giai đoạn tiếp theo
Giai đoạn kiểm tra chứng cứ, tài liệu về vụ án (tương ứng với phần điềutra công khai tại phiên toà): ở giai đoạn này, dưới sự điều khiển và giám sátcủa HĐXX, các bên tiến hành kiểm tra chéo lời khai của những người làmchứng, các tài liệu về vụ án mà các bên xuất trình trước Toà
Giai đoạn tranh luận giữa các bên (tương ứng với phần tranh luận tạiphiên toà): Đây là giai đoạn trung tâm, là đỉnh điểm của quá trình tranh tụng.Tại đây, trên cơ sở phân tích các chứng cứ, tài liệu về vụ án (đã được kiểm tra,xác minh ở giai đoạn điều tra công khai tại phiên toà) và viện dẫn các quyphạm pháp luật cần thiết, bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra sự đánh giá pháp
lý đối với hành vi phạm tội của bị cáo và quan điểm của mình về các vấn đềcần giải quyết trong vụ án đề nghị HĐXX xem xét chấp nhận hay bác bỏ
Giai đoạn đánh giá kết quả tranh tụng (tương ứng với phần nghị án):Đây là giai đoạn có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ quá trình tranh tụng vì
Trang 22đây là giai đoạn mà Toà án (HĐXX) thực hiện chức năng xét xử - ra phánquyết (chấp nhận hoặc bác bỏ quan điểm của các bên) về vụ án.
Giai đoạn công bố kết quả tranh tụng (tương ứng với phần tuyên áncồng khai): HĐXX công bố công khai phán quyết về vụ án và kết thúc quátrình tranh tụng giữa các bên
- Nội dung tranh tụng
Về mặt nội dung, quá trình tranh tụng tại phiên toà chính là quá trìnhchứng minh tính có căn cứ và hợp pháp nội dung buộc tội đối với bị cáo Mọihoạt động của các chủ thể diễn ra tại phiên toà đều xoay quanh các nội dungcủa quyết định truy tố (cáo trạng) - cơ sở pháp lý tồn tại của giai đoạn xét xử
và cũng là trung tâm chi phối toàn bộ hoạt động của các chủ thể thuộc bênbuộc tội và bên bào chữa ở giai đoạn này
Thực chất đây là quá trình kiểm tra tính xác thực và hợp pháp của cácchứng cứ do cơ quan điều tra thu thập mà Viện kiểm sát đã dựa vào đó để buộctội đối với bị cáo Tại đây toàn bộ các chứng cứ về vụ án hình sự (đã được thuthập trong quá trình điều tra cũng như được các bên xuất trình tại phiên toà)được kiểm tra về tính hợp pháp, tính liên quan và khách quan thông qua hoạtđộng của các chủ thể và của HĐXX nhằm xác định sự thật khách quan về vụ án
Nội dung buộc tội này cũng là cơ sở để xác định sự tham gia của cácchủ thể tại phiên toà cũng như giới hạn, nội dung mà các bên cần chứngminh trong quá trình tranh tụng tại phiên toà để làm cơ sở cho Toà án raphán quyết về vụ án:
Có hành vi phạm tội xảy ra hay không? thời gian, địa điểm và nhữngtình tiết khác của hành vi phạm tội?
Ai là người thực hiện hành vi phạm tội? có lỗi hay không có lỗi? do cố
ý hay vô ý? có năng lực trách nhiệm hình sự hay không?
Mục đích, động cơ phạm tội?
Trang 23Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bịcan, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo;
Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra
1.3 Pháp luật và hoàn thiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng
1.3.1 Khái niệm, phạm vi điều chỉnh của pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng
- Khái niệm
Theo quan niệm chung, nguyên tắc của tố tụng hình sự là những tư tưởngchỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự hoặc đối với một loại hoạtđộng nhất định “là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ cácchế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về tố tụng hình sự”; hoặc đó
là “những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự
và được các văn bản pháp luật tố tụng hình sự ghi nhận” [6, tr.11-12]
Nguyên tắc tranh tụng thể hiện tính dân chủ, công khai, minh bạch,khách quan, bình đẳng trong tố tụng hình sự, đặc biệt là trong phiên tòa xét xử
vụ án hình sự
Tranh tụng tạo điều kiện tối đa cho các bên tham gia tố tụng sử dụngcác phương pháp để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Nguyêntắc tranh tụng đề cao vai trò của Luật sư, của cá nhân và đề cao các quyền cơbản của con người Thẩm phán chỉ đóng vai trò trọng tài khách quan và côngminh, ra phán quyết trên cơ sở chứng cứ mà các bên chứng minh tại phiêntòa Nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi việc chứng minh phải được thực hiện côngkhai ngay tại phiên tòa, dưới sự giám sát của Kiểm sát viên và Thẩm phánluôn phải chịu trách sức ép từ bên đối tụng Vì vậy, mục đích của các bên trongtranh tụng là phải tự chứng minh được lý lẽ phải thuộc về mình, nếu không họ sẽ
là người thua cuộc
Như đã nêu ở trên, vai trò của tranh tụng được thể hiện thông qua ba quy
Trang 24tắc cơ bản định hình cho mọi thủ tục thực hiện tranh tụng Đó là quy tắc về thủtục, quy tắc về chứng cứ và quy tắc điều chỉnh về đạo đức ứng xử của Luật sư.
Quy tắc về thủ tục bao gồm một loạt các quy định giúp các bên chuẩn
bị chứng cứ trước khi bước vào xét xử chính thức là một thủ tục tư pháp đểtòa án xem xét các chứng cứ đã đủ cho việc mở phiên tòa xét xử sơ thẩmchính thức hay chưa Quy tắc này cũng nhằm mục đích tránh những thủ tụcđiều tra có thể diễn ra không cần thiết tại phiên tòa
Quy tắc về chứng cứ nhằm ngăn chặn việc sử dụng những chứng cứkhông đáng tin cậy có thể làm cho tòa án đưa ra phán quyết trên cơ sở nhữngthông tin sai lệnh Đồng thời quy tắc về chứng cứ cũng nghiêm cấm sử dụngchứng cứ có thể gây ra những định kiến không công bằng cho một trong các bêntham gia tố tụng
Với những quy định trong quy tắc về chứng cứ, nguyên tắc tranh tụngđảm bảo sự trung lập và thụ động của tòa án trong quá trình xét xử Hơn nữa,quy tắc về chứng cứ cũng tạo điều kiện để Luật sư của các bên và Kiểm sátviên, buộc họ phải biết được những chứng cứ nào có thể được chấp nhận tạiphiên tòa trong khi xét xử Nó cũng là cơ sở để xác định thẩm quyền củaThẩm phán chủ tọa phải điều hành phiên tòa theo các diễn biến của nó theođúng thủ tục Khác với hệ thống tố tụng thẩm vấn, Thẩm phán chủ tọa phiêntòa không có quyền chọn chứng cứ mà họ cho là thích hợp nhất mà phải tuânthủ các quy tắc về chứng cứ đã được xác định trước
Do tính chất cạnh tranh, đối đầu trong tranh tụng tố tụng đã dẫn tới tìnhtrạng buộc các bên phải đặt mục tiêu phải thắng trong cuộc đối đầu tại phiêntòa kể cả bằng bất cứ giá nào, nên nguyên tắc tranh tụng còn đặt ra một loạtcác quy tắc về đạo đức nghề nghiệp để kiểm soát đội ngũ Luật sư của các bên.Quy tắc về đạo đức hành nghề Luật sư còn đòi hỏi Luật sư phải trung thànhvới quyền lợi của thân chủ như chính quyền lợi của mình Những thủ đoạn
Trang 25hay hành vi che dấu, làm sai lệch thông tin có thể làm cho tòa án định kiếnđều bị pháp luật ngăn cấm và loại trừ.
- Phạm vi điều chỉnh của pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng
Sau năm 1945, hệ thống cơ quan tư pháp ở nước ta được hình thành,chịu sự ảnh hưởng mạnh mẽ từ mô hình của Pháp Từ Hiến pháp năm 1959đến Hiến pháp năm 1980, mô hình tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan
tư pháp và hệ thống luật nước ta chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của mô hình XôViết Trong lĩnh vực TTHS, sự ảnh hưởng này được thể hiện đậm nét trongBLTTHS đầu tiên của nước ta ban hành năm 1988 và tiếp tục ảnh hưởngtrong BLTTHS năm 2003 đến BLTTHS 2015 Vì thế, có thể khẳng định môhình TTHS ở nước ta về cơ bản là mô hình TTHS thẩm vấn Tuy nhiên, trongquá trình phát triển của nó, đã tiếp thu một số hạt nhân của mô hình TTHStranh tụng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của ViệtNam Để bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các
vụ án hình sự cần chú ý điều chỉnh trong những phạm vi sau đây:
Một là, tất cả các cơ quan và những người tham gia tố tụng đều có
quyền và nghĩa vụ xác định sự thật vụ án
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự đòi hỏi người bào chữa và cả bị can, bị cáo và những người thamgia tố tụng khác cũng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sựthật của vụ án
Hai là, kết hợp phương pháp điều tra, thẩm vấn với phương pháp
tranh tụng: Thể chế hóa quan điểm của Đảng về tăng cường tranh tụng tạiphiên tòa, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung một chương riêng về tranh luậntại phiên tòa: phương pháp tố tụng áp dụng trong giai đoạn này là phươngpháp tranh tụng Việc tranh tụng, đối đáp chỉ diễn ra giữa KSV và ngườibào chữa cùng những người tham gia tố tụng khác Chủ tọa phiên tòa
Trang 26không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những ngườitham gia tranh luận trình bày hết ý kiến.
Ba là, về vị trí, vai trò của các chủ thể trong TTHS: Khác với mô hình
TTHS tranh tụng, phân chia các chủ thể tố tụng dựa vào tiêu chí là các chứcnăng cơ bản của TTHS: chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chứcnăng xét xử, trên cơ sở đó hình thành các bên trong quan hệ tố tụng: bên buộctội, bên bào chữa và Tòa án trung lập
Khác với mô hình TTHS tranh tụng, người bị hại trong TTHS nước
ta không có quyền khởi tố vụ án hình sự; không có quyền lựa chọn cáchthức giải quyết vụ án, dừng kiện, hay chấp nhận việc mặc cả thú tội nhưtrong mô hình TTHS tranh tụng do quan niệm vụ án hình sự xảy ra bị xem
là đã xâm hại tới trật tự công cộng, lợi ích chung của toàn xã hội và tráchnhiệm giải quyết vụ án hình sự phải thuộc về Nhà nước Người bị hại chỉ
có quyền trình báo với các cơ quan có thẩm quyền về vụ việc xảy ra, cungcấp thông tin cho các cơ quan tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng với vaitrò gần như người làm chứng
Bốn là, về việc thực hiện các chức năng cơ bản của TTHS: Dù áp dụng
mô hình TTHS nào thì trong TTHS luôn tồn tại 3 chức năng cơ bản, đó làbuộc tội, bào chữa và xét xử Vai trò, thẩm quyền của các chủ thể được phânđịnh theo các chức năng tố tụng là điều kiện quan trọng bảo đảm mục tiêu,hiệu quả của TTHS
Có thể thấy, tính tranh tụng trong hoạt động TTHS ở nước ta còn rấthạn chế, chức năng bào chữa dường như bị lấn át bởi chức năng buộc tội
Năm là, hồ sơ vụ án chỉ là căn cứ để buộc tội của bên buộc tội: trong
TTHS Việt Nam luôn tồn tại hồ sơ vụ án hình sự Như vậy, hồ sơ vụ án - kếtquả hoạt động của CQĐT và Cơ quan công tố trong mô hình tranh tụng - chỉ
là căn cứ để buộc tội của bên buộc tội TA còn phải căn cứ vào hồ sơ và lý lẽ
Trang 27tranh luận của bên gỡ tội để phán xét có tội phạm hay không và hình phạtđược áp dụng.
1.3.2 Hoàn thiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng
- Nhu cầu cấp thiết phải hoàn thiện
Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là một trong những mục tiêuquan trọng của Đảng và Nhà nước ta, điều này đã được Hiến pháp 2013khẳng định rõ tại Điều 2: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam làNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhândân” Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam cần đáp ứng những yêu cầuchung của một nhà nước pháp quyền như: Nhà nước quản lý xã hội bằng phápluật và theo pháp luật; nội dung của pháp luật phải mang tính nhân văn sâusắc, pháp luật phải vì con người, vì sự tiến bộ của xã hội, phản ánh và phùhợp với các quy luật phát triển khách quan của tự nhiên, xã hội và con người.Trong nhà nước pháp quyền, pháp luật giữ vị trí ngự trị trong tất cả các hoạtđộng của Nhà nước; quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; sự tôn trọng vàbảo vệ các quyền và tự do của con người được xem là giá trị cao quý nhất; tổchức bộ máy nhà nước theo nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soátgiữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hànhpháp và tư pháp Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong điều kiện củanước ta hiện nay nhằm bảo đảm và phát triển quyền con người, quyền côngdân và mục tiêu vì một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng,văn minh, do nhân dân làm chủ” Phương thức bảo đảm quyền con người củaNhà nước pháp quyền là công nhận quyền con người, xác lập quyền côngdân bằng hoạt động lập pháp; tổ chức thực thi quyền con người, quyền côngdân bằng hoạt động hành pháp và bảo vệ các quyền đó bằng hoạt động tư pháp.Cải cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN phảibảo đảm giữ vững và phát huy bản chất dân chủ, vì còn người và bảo vệ quyềncon người của các cơ quan thực hiện quyền tư pháp [3, tr.23 – 25]
Trang 28Trong bối cảnh đó, việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cũng phải lấytrọng tâm là phục vụ lợi ích của nhân dân, phục vụ cho mục tiêu tôn trọng vàbảo vệ ngày càng tốt hơn các quyền của con người, quyền công dân trongTTHS Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền đòi hỏi các quyền và lợi íchhợp pháp của người dân cần được tôn trọng và bảo vệ bằng luật pháp TrongBLTTHS năm 2015 đã ghi nhận nhiều nguyên tắc nhằm bảo đảm tốt hơn cácquyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong TTHS Công dân có quyền tranhtụng, có quyền được bào chữa, quyền được đưa ra chứng cứ, lập luận, phản báclại hành vi kết tội của bên buộc tội.
Trong giai đoạn hiện nay, yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra mục tiêu xâydựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công
lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt NamXHCN; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành
có hiệu quả cao nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền và lợi ích củacon người Trong yêu cầu cải cách tư pháp đối với hoạt động TTHS, bảo đảmnguyên tắc tranh tụng được xem là một trong những yêu cầu cải cách có tínhđột phá Việc bảo đảm nguyên tắc tranh tụng cần bám sát các quan điểm, chủtrương cải cách tư pháp trong các Nghị quyết của Đảng
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 nêu rõ: Nâng cao chấtlượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủvới luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Việcphán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiêntòa trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàndiện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, nhânchứng, nguyên đơn, bị đơn để đưa ra những bản án, quyết định đúng phápluật, có sức thuyết phục trong thời hạn do luật định Các cơ quan Tư pháp cótrách nhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham giahỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa [1]
Trang 29Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiếnlược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2011,định hướng đến năm 2020 nhấn mạnh: Cải cách mạnh mẽ các thủ tục tố tụng tưpháp theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai, minh bạch, chặt chẽ, nhưngthuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát của nhân dân đối với hoạt động tưpháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranhtụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết bản án, coi đây là khâu đột phá
để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 cũng chỉ rõ: Đổi mới việc tổchức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn trách nhiệm củangười tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tínhcông khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tranh tụng tại cácphiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp, Hoàn thiện
cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồngthời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư [2, tr.22]
Từ thực tiến công tác áp dụng PL TTHS trong những năm qua, nguyêntắc tranh tụng chưa được đảm bảo và đi vào thực chất Do đó, yêu cầu hoànthiện pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng là cấp thiết
- Tiêu chí hoàn thiện
Bảo đảm tranh tụng là một nguyên tắc quan trọng trong hoạt độngTTHS Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự phải đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
Một là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi các quy định pháp luật
phải xác định rõ ràng địa vị pháp lý của các bên tham gia tố tụng Cần phải cóđầy đủ các văn bản pháp luật quy định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyềnhạn của các chủ thể trong quá trình tố tụng
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đòi hỏi sự phân định rõ ràng các chức
Trang 30năng buộc tội, bào chữa và xét xử giữa bên buộc tội, bên bào chữa và Toà án.Mỗi chủ thể này khi tham gia vào quá trình tranh tụng chỉ có một chức năngduy nhất và được pháp luật quy định Theo pháp luật hiện hành, chức năngbuộc tội (thực hành quyền công tố) thuộc về Viện Kiểm sát, chức năng xét xửthuộc về Toà án, chức năng bào chữa thuộc về bên bào chữa Bảo đảmnguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi phải nhận thức đúng vai trò, chứcnăng của các chủ thể khi tham gia tố tụng.
Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS nhấn mạnh đến chức năngcủa Toà án trong việc bảo đảm sự bình đẳng giữa các bên trong tranh tụngnhằm đạt được mục đích của tranh tụng trong TTHS là xác định sự thật kháchquan về vụ án, nếu Toà án thực hiện các nhiệm vụ thuộc chức năng bào chữahay tranh tụng sẽ phá vỡ sự bình đẳng cần thiết giữa bên buộc tội và bên bàochữa Như vậy, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi sự phânđịnh rõ ràng các chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử của các bên và Toà án
Để thực hiện đúng chức năng này, Toà án phải có thái độ khách quan, vô tư vàcông minh Hội đồng xét xử không bị ràng buộc bởi các yêu cầu, đề nghị củacác bên hoặc bất kỳ ai, không được định kiến vì bất kỳ lý do nào trong quátrình giải quyết vụ án
Hai là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi hoàn thiện
các quy định về thủ tục TTHS bảo đảm cho các bên tham gia tranh tụngquyền bình đẳng, các bên có quyền xét hỏi, tranh luận một cách khách quan,công bằng và bình đẳng
Để việc tranh tụng được thực hiện và thực hiện có hiệu quả, cần phải cócác điều kiện khác nhau, một trong các điều kiện quan trọng là bên buộc tội
và bên bào chữa thực sự bình đẳng với nhau và Toà án phải độc lập, kháchquan bảo đảm cho hai bên có các điều kiện như nhau để thực hiện chức năngcủa mình Trong TTHS điều đó có nghĩa sự thật chỉ được tìm thấy qua tranh
Trang 31luận tự do và công bằng Tranh tụng đòi hỏi pháp luật TTHS phải bảo đảmcho các bên đầy đủ các phương tiện cần thiết để có thể thực hiện được chứcnăng của mình Phương tiện của các bên phải tương xứng với nhau và phảiphù hợp với chức năng của chúng Sẽ bất bình đẳng khi pháp luật dành chomột bên quá nhiều phương tiện còn bên kia lại quá ít Không nên quan niệmrằng vì bên buộc tội (công tố) là đại diện cho Nhà nước còn Bên bào chữa chỉđại diện cho quyền lợi của đương sự nên không thể bình đẳng được Quanđiểm này cần phải được xem xét lại Tư tưởng này không chỉ thể hiện ở tạiphiên toà mà còn phải được bảo đảm từ trước khi mở phiên toà, ở đó các bênphải được bảo đảm các điều kiện thuận lợi trong việc chuẩn bị các điều kiệncho cuộc tranh tụng tại phiên toà Tác giả cho rằng nếu bên buộc tội và bênbào chữa không thực sự bình đẳng và Toà án không độc lập trong quá trìnhxét xử thì sẽ không có tranh tụng hoặc tranh tụng nửa vời Bên cạnh sự bìnhđẳng giữa bên buộc tội, bên bào chữa và sự độc lập của Toà án về phươngdiện pháp lý, yêu cầu và hiệu quả của tranh tụng còn đòi hỏi sự bình đẳng vàđộc lập trên phương diện thực tiễn Những biểu hiện vi phạm các quy địnhpháp luật tố tụng vốn đã có và sẽ có trong thực tiễn tranh tụng phải được khắcphục bằng những hình thức như: công tác tổ chức, đào tạo, tuyển chọn Thẩmphán và những chủ thể tham gia tranh tụng, nâng cao nhận thức, nhất là lươngtâm, trách nhiệm, trình độ chuyên môn, kiến thức văn hoá pháp lý cho họ.
Ba là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng đặt ra yêu cầu tiếp tục xây dựng
và hoàn thiện các cơ quan tiến hành tố tụng, các cơ quan bổ trợ tư pháp vớichức năng phù hợp với nguyên tắc tranh tụng Bảo đảm nguyên tắc tranh tụngtrong TTHS đòi hỏi xác định rõ mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tốtụng đặc biệt mối quan hệ giữa Viện Kiểm sát và cơ quan Điều tra
Bốn là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đặt ra nhiệm vụ
phải tiếp tục nâng cao trình độ, nhận thức của người tiến hành tố tụng, ngườitham gia tố tụng, bảo đảm cho họ có đủ năng lực chuyên môn thực hiện tốt
Trang 32việc tranh tụng tại phiên toà.
Năm là: Bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong TTHS đòi hỏi phải có
những bảo đảm vật chất cho quá trình tranh tụng, trước hết là chú ý đến việccải thiện chế độ chính sách cho những người tiến hành tố tụng, các chế độ đãingộ khác đối với Thẩm phán và công chức Toà án phải cụ thể, rõ ràng và cókhả năng thực thi Cần có chế độ, đầu tư tài chính hợp lý cho những ngườilàm chứng trong phiên toà
1.4 Vai trò của Tòa án trong tổ chức áp dụng và đảm bảo nguyên tắc tranh tụng
Theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống pháp luật án lệ, thì quátrình TTHS chỉ bắt đầu từ thời điểm xét xử vụ án tại phiên toà và được tiếnhành dưới hình thức tranh tụng giữa bên buộc tội (đại diện là Công tố viên) vàbên bào chữa (đại diện là luật sư bào chữa) trước Toà án (gồm Thẩm phán vàBồi thẩm đoàn) làm trọng tài phân xử Đây là sự chia sẻ quyền lực giữa Côngtố viên, Luật sư bào chữa, Thẩm phán và Bồi thẩm đoàn Như vậy, chức năngxét xử chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất là Toà án và chỉ có thể được thựchiện ở tại phiên toà Toà án có trách nhiệm giám sát, kiểm tra và bảo đảm sựbình đẳng và các điều kiện cần thiết khác để các bên tiến hành tranh tụng mộtcách khách quan, toàn diện và công bằng về các vấn đề cần giải quyết trong
vụ án làm cơ sở cho Toà án ra phán quyết để kết thúc quá trình tranh tụng củahai bên về vụ án
So với chức năng buộc tội và chức năng bào chữa, chức năng xét xửxuất hiện muộn hơn rất nhiều và được thực hiện thông qua các Thẩm phánchuyên nghiệp và không chuyên (Bồi thẩm) Khác với chế định Hội thẩm ởmột số nước thuộc hệ tố tụng thẩm vấn (theo đó Hội thẩm là những ngườikhông chuyên nghiệp đại diện cho nhân dân để tham gia xét xử Khi xét xửThẩm phán và các Hội thẩm đều có quyền ngang nhau và cùng quyết định tất
Trang 33cả các vấn đề về vụ án), ở các nước thuộc hệ tố tụng tranh tụng (như: Anh,
Mỹ, Canađa, Ôxtrâylia, ) áp dụng chế định bồi thẩm cho phép những côngdân bình thường với sự hiểu biết pháp luật ở mức tối thiểu tham gia xét xửcác vụ án hình sự Bồi thẩm đoàn chỉ có nhiệm vụ xác định bị cáo có tội haykhông có tội, còn việc áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo thuộcthẩm quyền của Thẩm phán chuyên nghiệp
Với vai trò là người trọng tài "cầm trịch” giữa hai bên, trước khi phiêntoà bắt đầu, Thẩm phán và các Bồi thẩm không hề có một tài liệu, hồ sơ gìtrong tay, vì vậy họ không biết gì về vụ án ngoài cái tên gọi của nó Thẩmphán có nhiệm vụ duy trì trật tự phiên toà và giám sát quá trình tranh tụnggiữa hai bên, còn vai trò của Bồi thẩm đoàn tại phiên toà giống như "nhữngkhán giả” ngồi trong nhà hát Họ hầu như bị tách ra khỏi phiên toà và chỉ cómột nhiệm vụ duy nhất là quan sát quá trình tranh cãi gay gắt giữa bên buộctội (đại diện là Công tố viên) và bên bào chữa (đại diện là luật sư bào chữa)cho đến khi vào phòng nghị án để quyết định vấn đề bị cáo có tội hay không
có tội Mặc dù pháp luật của các nước đều quy định cho Toà án có quyềnthẩm vấn các người làm chứng, bị cáo, nhưng trên thực tế hầu như chẳng baogiờ Thẩm phán hoặc các Bồi thẩm đoàn sử dụng quyền hạn này Bồi thẩmđoàn chỉ có một nhiệm vụ là xác định sự kiện: Xem bị cáo có tội hay không
có tội? Nếu đại đa số các bồi thẩm xác định bị cáo không có tội thì anh
ta được tuyên vô tội (trắng án) Nếu bồi thẩm đoàn xác định bị cáo có tội thìThẩm phán sẽ có trách nhiệm áp dụng điều khoản cụ thể của pháp luật để xácđịnh bị cáo phạm tội gì, loại hình phạt nào và mức hình phạt cụ thể: Trước khiđưa vụ án ra xét xử, trách nhiệm tìm kiếm, thu thập các chứng cứ, tài liệu vềcác tình tiết của vụ án do bên buộc tội và bên bào chữa độc lập tiến hành Tạiphiên toà, các bên có nhiệm vụ xuất trình các chứng cứ, tài liệu về vụ án,kiểm tra chéo nhau để khẳng định hay bác bỏ chứng cứ của nhau trước sự
Trang 34giám sát của Toà án Kết quả xét xử vụ án tại phiên toà "ai thắng, ai thua” chủyếu phụ thuộc vào trình độ, năng lực chuyên môn của Công tố viên và củaluật sư bào chữa Mặt tích cực của thủ tục xét xử này là phát huy được tínhtích cực, chủ động của các bên, bảo đảm được sự bình đẳng về hình thức giữahai bên trong quá trình tranh tụng Nhưng mặt khác, nó làm cho vai trò củaToà án quá thụ động và chức năng xét xử bị hạn chế, nên không phải trongmọi trường hợp đều bảo đảm đạt được mục đích đặt ra của TTHS là xác địnhsự thật về vụ án và tất nhiên sẽ có người vô tội bị oan hoặc kẻ phạm tội thoátkhỏi sự trừng phạt.
Theo pháp luật của các nước thuộc hệ thống luật lục địa, thì vai trò củaToà án và chức năng xét xử trong tố tụng nói chung và trong tranh tụng nóiriêng được đề cao Toà án không chỉ là trọng tài mà còn tích cực tham gia vàoquá trình chứng minh bị cáo có tội hay không có tội Pháp luật đã đặt hầu nhưtoàn bộ trách nhiệm lên vai HĐXX, còn bên buộc tội hoặc bên bào chữa chỉtham gia vào quá trình chứng minh ở mức độ hạn chế Điều đó không chỉ đãdẫn đến tình trạng Toà án "lấn sân” của bên buộc tội hoặc của bên bào chữa,dẫn đến sự "quá tải” đối với HĐXX và sự "quá nhàn” đối với các bên mà cònhạn chế Toà án trong việc thực hiện chức năng xét xử, không phát huy đượctính chủ động, tích cực của các bên tranh tụng, kết quả giải quyết vụ án chủyếu phụ thuộc vào HĐXX, vì vậy các phán quyết về vụ án có thể không bảođảm tính khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác
Chức năng xét xử của Toà án quyết định các nhiệm vụ cụ thể của Toà
án trong các hoạt động của mình Bởi vậy, Toà án không thể và không đượcthực hiện các nhiệm vụ không thuộc về chức năng tố tụng của mình Khi thựchiện chức năng xét xử, Toà án có trách nhiệm phải làm sáng tỏ tất cả các tìnhtiết của vụ án (bao gồm cả các tình tiết buộc tội, các tình tiết gỡ tội hoặc giảmnhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo) nhưng không phải để buộc tội hay bào
Trang 35chữa đối với bị cáo mà nhằm thực hiện chức năng xét xử - xác định sự thậtkhách quan và ra quyết định đúng đắn về vụ án Nếu Toà án tham gia thụchiện cả chức năng buộc tội hoặc chức năng bào chữa thì vai trò trọng tài,người cầm trịch giữa hai bên sẽ mất đi và Toà án sẽ trở thành một công tốviên hay một luật sư "thứ hai” trong tranh tụng Điều đó sẽ dẫn đến sự bấtbình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa và mục đích xác định sự thật về
vụ án không thể đạt được: "Trong phiên toà hình sự, thì quan toà, chưởng lý
và trạng sư bào chữa được kết hợp vào một con người Sự kết hợp này mâuthuẫn với tất cả những quy luật của khoa tâm lý học” [7, tr.46]
Với vai trò là trọng tài giữa bên buộc tội và bên bào chữa, Toà án phải
có thái độ vô tư, khách quan và công minh Các thành viên HĐXX phải quantâm ở mức độ như nhau đối với tất cả những người tham gia phiên toà (Côngtố viên, luật sư bào chữa, bị cáo, người bị hại, ) và có thái độ khách quan,không thiên vị đối với các chứng cứ, các yêu cầu, đề nghị của các bên đưa racũng như đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật dành cho
họ Toà án không được phép định kiến đối với bất cứ bên nào và cũng khôngthể bị ràng buộc bởi bất cứ một yêu cầu, đề nghị hoặc ý kiến của bất kỳ ai:
“Đối với quan toà, thì không có cấp trên nào khác ngoài luật pháp”
1.5 Tranh tụng trong xét xử ở một số nước trên thế giới
1.5.1 Tố tụng tranh tụng tại một số nước theo hệ thống Common law
- Vương quốc Anh
Cũng giống như tất cả các nước theo hệ tố tụng tranh tụng khác, phiêntòa ở Anh quốc cũng có sự tham gia của công tố viên, bồi thẩm đoàn, thẩmphán chủ toạ và luật sư bào chữa Toà hoàng gia của Anh có thẩm phán và 12bồi thẩm, ở các toà khác bồi thẩm được bầu theo đơn vị bầu cử, số lượng bồithẩm căn cứ vào sự trưng cầu ý kiến nơi bầu họ Ở Anh, bồi thẩm đoàn chỉ cóquyền khẳng định là bị cáo có tội hay không có tội, trong trường hợp bị cáo tự
Trang 36thú tội thì phiên toà xét xử sẽ không cần có sự tham gia của bồi thẩm đoàn.Mỗi phòng xét xử ở Anh có một camera quay trực tiếp và khi xét xử, công tốviên không được đề nghị mức án, khác với ở Mỹ, công tố viên ở Anh chỉ trìnhbày lại các nội dung tình tiết của vụ án cho toà nghe Cơ quan công tố ở Anhkhông phải là cơ quan độc lập như ở một số quốc gia vì họ có thể hôm naylàm công tố, hôm sau làm bào chữa viên.
- Hoa Kỳ
Hoa Kỳ tuy là một quốc gia có lịch sử không lâu đời lại là lại là thuộcđịa trước đây của người Anh Điêng nhưng hiện nay xét trên bất cứ phươngdiện nào Hoa Kỳ cũng không hề thua kém các nước Châu Âu lục địa Nền tưpháp của Hoa Kỳ là một ví dụ điển hình, tuy tố tụng tranh tụng có khởi nguồn
từ nước Anh nhưng lại được tiếp thu và phát huy một cách rực rỡ tại Hoa Kỳ
và có thể nói rằng Hoa Kỳ có một hệ tố tụng hình sự rất điển hình và tiến bộ
- Ôxtraylia
Cũng giống như Hoa Kỳ, hệ tố tụng hình sự của Ôxtraylia cũng là hệthống tố tụng tranh tụng nên theo luật pháp của nước này, luật sư bào chữađược tiến hành công việc của một điều tra viên trước khi phiên toà xét xử diễn
ra nhằm chuẩn bị cho phần biện hộ của mình Luật đòi hỏi bên công tố phảicung cấp cho bị can một số tài liệu liên quan đến vụ án Tại phiên toà, vai tròcủa công tố viên rất quan trọng, việc có bảo vệ được cáo trạng hay không phụthuộc rất nhiều vào năng lực của công tố viên, nếu công tố viên không bảo vệđược lời buộc tội của mình thì cáo trạng rất dễ bị đổ
1.5.2 Áp dụng nguyên tắc tranh tụng trong mô hình tố Civil law
Tố tụng thẩm vấn là một hệ tố tụng truyền thống của các nước theoCivil law Nhưng thời gian dần trôi đã chứng minh rằng trong một thế giới đềcao quyền con người thì kiểu loại tố tụng này dường như không còn phù hợpnữa Trong quá trình thực hiện công cuộc cải cách tư pháp, nhiều quốc gia
Trang 37trên thế giới đã tìm thấy ở hệ tố tụng tranh tụng rất nhiều điểm hợp lý để thaythế cho những nhược điểm cố hữu của hệ tố tụng thẩm vấn Tuy không saochép y nguyên hệ tranh tụng vào trong hoạt động tố tụng hình sự của nướcmình nhưng tiếp thu những hạt nhân hợp lý của nguyên tắc tranh tụng đã làmcho hoạt động tố tụng hình sự ở các nước này đổi mới khởi sắc hơn.
- Cộng hoà Pháp
Trong nghiên cứu của luật so sánh, Pháp được xếp vào các nước theotruyền thống pháp luật Châu Âu lục địa Trước đây, cũng như nhiều quốc giakhác, tố tụng hình sự ở Pháp được bắt đầu từ mô hình đối tụng Nhưng khi xãhội phát triển đến một giai đoạn nhất định thì nhà nước ngày càng giữ một vaitrò quan trọng trong phòng chống tội phạm, chính vì lẽ đó mô hình thẩm tra
đã thay thế mô hình đối tụng ở hầu hết các nước Châu Âu lục địa
- Trung Quốc
Cũng giống như Việt Nam, Trung Quốc theo mô hình XHCN nên đã từlâu nay hoạt động tố tụng hình sự của Trung Quốc đều được tổ chức theo kiểutố tụng thẩm vấn nhưng với một đất nước rộng lớn và nhiều tiềm năng nhưTrung Quốc thì trong quá trình hội nhập kiểu tố tụng này ngày càng bộc lộnhiều thiếu sót vì lẽ đó, Trung Quốc đã quyết định thực hiện công cuộc cải tổnền tư pháp của mình, kết hợp các nội dung đảm bảo yếu tố tranh tụng côngkhai trong mô hình tố tụng thẩm vấn
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT ĐẢM BẢO
NGUYÊN TẮC TRANH TỤNG TRONG XÉT XỬ
Ở TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
2.1 Thực trạng pháp luật đảm bảo nguyên tắc tranh tụng trong xét xử
2.1.1 Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về tranh tụng trong xét xử trước 2003
- Trước năm 1988
Sau khi Nhà nước ta ban hành Hiến pháp 1959 và các luật tổ chức Toà
án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân, đến năm 1964 căn cứ vào các quyđịnh của pháp luật, những kinh nghiệm thực tiễn của gần 20 năm thực tiễntiến hành tố tụng và việc tham khảo học tập pháp luật tố tụng của Liên Xô vànhiều nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu, Toà án nhân dân Tối cao đã hệ thống
lại các quy định của pháp luật tố tụng lúc bấy giờ thành Bản đề án về trình tự
xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, trong đó có quy định tương đối cụ thể về hình
thức và thủ tục tiến hành tố tụng tại phiên toà của Toà án nhân dân, để gửi vềcác Toà án nhân dân địa phương thống nhất áp dụng
- BLTTHS năm 1988 với những quy định về tranh tụng tại phiên toà
BLTTHS Việt Nam năm 1988, tranh tụng tại phiên toà chưa được nhàlàm luật nước ta ghi nhận với tính chất là một nguyên tắc cơ bản của luật tốtụng hình sự nhưng những dấu hiệu về tranh tụng cũng đã được quy định rảirác ở một số điều luật Ví dụ như một vài điều ở chương XVII quy định về thủtục tố tụng tại phiên toà, một số điều tại chương XVIII thủ tục bắt đầu phiêntoà, chương XX thủ tục xét hỏi tại phiên toà, chương XXI tranh luận tại phiêntoà Điều 159 quy định về việc xét xử phải trực tiếp, bằng lời nói và liên tục,đây thực chất cũng là một nguyên tắc của tranh tụng
Trang 39Đặc biệt tại BLTTHS năm 2003 khi quy định về tranh luận và đối đáptại phiên toà đã có những quy định mới đảm bảo cho việc luận tội của Viện
kiểm sát tại phiên toà được khách quan: “Luận tội của Kiểm sát viên phải căn
cứ vào những tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra tại phiên toà và ý kiến của
bị cáo, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà” [24, Điều 217] Và để đảm bảo
cho quá trình tranh tụng tại phiên toà được khách quan, sau khi nghe lời luậntội bị cáo có quyền trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người bào chữa thìngười này bào chữa cho bị cáo Bị cáo có quyền bổ sung ý kiến bào chữa.Người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa
vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện hợp pháp của họ được trình bày ýkiến để bảo vệ quyền và lợi ích của mình; nếu có người bảo vệ quyền lợi cho
họ thì người này có quyền trình bày, bổ sung ý kiến
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tranh tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Điều 26 BLTTHS năm 2015 với tên gọi “Tranh tụng trong xét xử đượcbảo đảm” đã mở rộng phạm vi tranh tụng hơn, không chỉ thể hiện trong giaiđoạn xét xử mà thời điểm xuất hiện tranh tụng bắt đầu từ giai đoạn khởi tốđến giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử Ở mỗi giai đoạn khác nhau thì biểuhiện của tranh tụng cũng khác nhau, ở các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tốthì tương đối mờ nhạt và tranh tụng được thể hiện đậm nét, rõ ràng nhất ở giaiđoạn xét xử, đặc biệt là trong phần thủ tục tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm
Do đó, đã có quan điểm đánh đồng giữa tranh tụng và tranh luận Với việcquy định các bên “đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, đánhgiá chứng cứ, đưa ra yêu cầu để làm rõ sự thật khách quan của vụ án” trongquá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử là một quy định tiến bộ tạo ra cơ sở
Trang 40pháp lý định hướng cho các quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng hình sựnăm 2015 nhằm đảm bảo cho các bên có điều kiện để tranh tụng hiệu quả.
Tại đoạn 2 của điều luật, một nội dung tiến bộ khác trong nguyên tắcđược quy định đó là: “… kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, những ngườitham gia tố tụng khác thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ của mình và tranhtụng dân chủ, bình đẳng trước Tòa án” Nội dung này cũng đã từng được ghinhận trong nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án trong Bộ luậtTố tụng hình sự năm 2003 Để thực hiện được điều này, Bộ luật Tố tụng hìnhsự năm 2015 đặt ra yêu cầu Tòa án phải có trách nhiệm “tạo điều kiện” Đểtranh tụng có hiệu quả nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án thì mộttrong những điều kiện quan trọng nhất là các bên buộc tội và bên gỡ tội phảithật sự bình đẳng với nhau và Tòa án phải đứng ở vị trí trung gian, độc lập,khách quan, là trọng tài bảo đảm cho hai bên thực hiện chức năng của mình,Tòa án không có nghĩa vụ chứng minh tội phạm mà chứng minh tội phạm làviệc của bên buộc tội Điều luật đã không thể hiện được những nội dung này.Mặt khác, việc liệt kê không theo hướng tách bạch và phân định rõ các chủthể tham gia tố tụng tương ứng với bên buộc tội, bên gỡ tội dẫn đến quy địnhkhác rườm rà, không rõ ràng Ngoài ra, còn có những điểm không thể hiệnđược là nguyên tắc như: Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án phải chuyển choTòa án đầy đủ, hợp pháp; phiên tòa phải có đầy đủ người tham gia tố tụng trừtrường hợp vắng mặt vì lý do bất khả kháng, do trở ngại khách quan hoặctrường hợp khác mà luật quy định
Nội dung của nguyên tắc tranh tụng tại BLTTHS năm 2015 còn thể hiện:Mọi chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội, các tình tiết tăngnặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, áp dụng điểm, khoản, điều của Bộ luậtHình sự để xác định tội danh, quyết định hình phạt, mức bồi thường thiệt hại