Mục tiêu Nghiên cứu làm rõ tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên đến dải ven biển thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; từ đó đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những t
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA ĐỊA LÍ
Lê Tố Uyên
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO TAI BIẾN THIÊN NHIÊN Ở VÙNG VEN BIỂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
Lê Tố Uyên
ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO TAI BIẾN THIÊN NHIÊN Ở VÙNG VEN BIỂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
Ngành : Quản lí tài nguyên và môi trường
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lí tài nguyên và môi trường “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên đến dải ven biển thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam" được hoàn thành tại Khoa Địa lý, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Quốc gia Hà Nội
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, Học viên đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình
Trước hết Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy giáo TS Ngô Văn Liêm, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ Học viên trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Học viên cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Chủ nhiệm Khoa cùng các thầy, cô trong Khoa Địa lý, phòng Sau Đại học - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
Học viên xin được cảm ơn đề tài “Luận cứ khoa học cho việc thiết lập và giải pháp quản lý hành lang bảo vệ bờ biển Việt Nam”; Mã số: KC.09.17/16-20, do
PGS.TS Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm, đã hỗ trợ em trong quá trình khảo sát thực địa, thu thập tài liệu, cơ sở dữ liệu và hoàn thiện luận văn
Trong quá trình hoàn thành luận văn này, Học viên còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các cán bộ UBND xã Cẩm Thanh, Cục thống kê thành phố Hội An, chú Huỳnh Ty trong quá trình khảo sát và thu thập tài liệu tại địa phương Học viên xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những sự giúp đỡ quý báu đó
Cuối cùng, em xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp
đã không ngừng động viên, chia sẻ và hỗ trợ rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trong khuôn khổ một luận văn, do sự giới hạn về thời gian và kinh nghiệm nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô và các bạn
Xin trân trọng cảm ơn!
Học viên
Lê Tố Uyên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết 1
2.Mục tiêu 2
3.Nhiệm vụ 2
4.Nội dung nghiên cứu 2
5.Phạm vi nghiên cứu của luận văn 2
6.Cơ sở dữ liệu 3
7.Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3
8.Cấu trúc luận án 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO TAI BIẾN THIÊN NHIÊN 4
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1.Những khái niệm về tai biến thiên nhiên 4
1.1.2.Một số dạng tai biến thiên nhiên thường gặp ở Việt Nam 5
1.1.3.Tổng quan về tình hình nghiên cứu 6
1.2.Cơ sở lí luận nghiên cứu tính dễ bị tổn thương 13
1.3.Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 17
1.3.1.Quan điểm tiếp cận 17
1.3.2.Các phương pháp nghiên cứu 20
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 26
2.1.Vị trí địa lý 26
2.2.Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 28
2.2.1.Đặc điểm địa hình – địa mạo 28
2.2.2.Đặc điểm khí hậu 29
2.2.3.Đặc điểm thủy văn 30
2.2.4.Các nguồn tài nguyên tự nhiên 31
2.2.5.Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên 35
2.3.Điều kiện kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 36
Trang 52.3.1.Dân cư – lao động 36
2.3.2.Đặc điểm kinh tế 37
2.3.3.Đặc điểm xã hội 43
2.3.4.Cơ sở hạ tầng vật chất kĩ thuật 45
2.3.5.Đặc điểm tài nguyên nhân văn 47
2.3.6.Đánh giá chung về điều kiện kinh tế - xã hội và môi trường 50
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ TỔN THƯƠNG DO TAI BIẾN THIÊN NHIÊN TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 53
3.1.Thực trạng tai biến thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu 53
3.1.1.Xói lở bờ biển và xói lở bờ sông 53
3.1.2.Ngập lụt 60
3.1.3.Bão 62
3.1.4.Nước biển dâng 64
3.1.5.Xâm nhập mặn 66
3.2.Kết quả đánh giá tính dễ bị tổn thương 70
3.2.1.Thông tin chung về mẫu 71
3.2.2.Đánh giá về chỉ số nhạy cảm 72
3.2.3.Đánh giá về chỉ số phơi nhiễm 75
3.2.4.Đánh giá về sự thích ứng của người dân do tai biến thiên nhiên 77
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85
1 Kết luận 85
2 Kiến nghị 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 91
1.Bảng hỏi hộ gia đình 91
2.Ảnh khảo sát thực địa 97
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Số lượng phiếu điều tra chia theo khối/thôn tại hai Phường Cẩm An, Cửa
Đại và xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam 21
Bảng 1.2 Bảng chỉ thị các thành phần theo tính dễ bị tổn thương 23
Bảng 3.1: Xói lở, bồi tụ bờ biển tại khu vực Cửa Đại - Hội An (1965-2013) 57
Bảng 3.2: Mức độ xảy ra xói lở bờ biển so với trước năm 2012 59
Bảng 3.3: Mức độ tác động của xói lở bờ biển đến hộ gia đình 59
Bảng 3.4: Mức độ xảy ra ngập lụt so với trước năm 2012 61
Bảng 3.5: Mức độ tác động của ngập lụt đến hộ gia đình 61
Bảng 3.6: Mức độ xảy ra bão so với trước năm 2012 63
Bảng 3.7: Mức độ tác động của bão đến hộ gia đình 63
Bảng 3.8: Mức độ xảy ra nước biển dâng so với trước năm 2012 65
Bảng 3.9: Mức độ tác động của nước biển dâng đến hộ gia đình 65
Bảng 3.10: Mức độ xảy ra xâm nhập mặn so với trước năm 2012 68
Bảng 3.11: Mức độ tác động của xâm nhập mặn đến hộ gia đình 68
Bảng 3.12: Số lượng phiếu điều tra tại 2 phường Cẩm An, Cửa Đại và tại xã Cẩm Thanh thành phố Hội An 71
Bảng 3.13: Số lượng phiếu điều tra cụ thể tại tường khối/ thôn 72
Bảng 3.14: Số lượng nam nữ đã phỏng vấn 72
Bảng 3.15: Mô tả các yếu tố của chỉ số nhạy cảm 73
Bảng 3.16: Chỉ số nhạy cảm quy đổi của các hiện tượng tai biến thiên nhiên 74
Bảng 3.17: Số lượng và tỷ lệ hộ chia theo độ nhạy cảm 74
Bảng 3.18: Số lượng và tỷ lệ hộ chia theo khoảng cách từ nhà đến sông 75
Bảng 3.19: Số lượng và tỷ lệ hộ chia theo khoảng cách từ nhà đến biển 75
Bảng 3.20: Số lượng và tỷ lệ hộ chia theo khoảng cách từ nhà đến khu trung tâm 76
Bảng 3.21: Chỉ số nhạy cảm quy đổi của các hiện tượng tai biến thiên nhiên 76
Bảng 3.22: Số lượng và tỷ lệ hộ chia theo chỉ số lộ diện 76
Trang 7Bảng 3.23: Phương thức ứng phó với tai biến thiên nhiên trong canh tác nông nghiệp 81 Bảng 3.24: Phương thức ứng phó với tai biến thiên nhiên trong nuôi trồng thủy sản 82 Bảng 3.25: Phương thức ứng phó với tai biến thiên nhiên trong đánh bắt thủy sản 83 Bảng 3.26: Phương thức ứng phó với tai biến thiên nhiên trong hoạt động du lịch 83
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu 21
Hình 2.1: Bản đồ hành chính thành phố Hội An 29
Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu sử dụng đất thành phố Hội An năm 2016 33
Hình 3.1: Các khu vực bị ảnh hưởng bởi xói mòn bờ biển và bờ sông 54
Hình 3.2: Sơ đồ biến động đường bờ biển khu vực Cửa Đại thời kỳ 1965 – 2013 55
Hình 3.3 : Sơ đồ xói lở, bồi tụ tại khu vực Cửa Đại (Hội An) thời kỳ 1965 – 2013 56
Hình 3.4: Diện tích đất có khả năng bị ngập nước do mực nước biển dâng cao 64
Hình 3.5: Các khu vực bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn vào năm 2020 67
Hình 3.6: Tổng hợp nhận thức của người dân về tần suất xuất hiện của các hiện tượng tai biến thiên nhiên so với trước năm 2012 69
Trang 9DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BĐKH : Biến đổi khí hậu
IPCC : Ủy ban Liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu
UBND : Ủy ban nhân dân
UNESCO : Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học của Liên hiệp quốc TBTN : Tai biến thiên nhiên
TDBTT : Tính dễ bị tổn thương
Trang 10nước nóng và băng tan Sự gia tăng mực nước biển dâng và có thể gia tăng cường độ
và tần suất lốc xoáy (Unnikrishnan và cộng sự, 2006) liên quan đến tăng nhiệt độ bề
mặt biển, sẽ gây ra những hiện tượng nghiêm trọng như xói mòn ven biển và rút lui bờ
biển (Pye và Blott, 2006) Ngoài các mối đe dọa do thiên tai, các giải ven biển còn
phải đối mặt với gia tăng dân số và áp lực phát triển ngày càng tăng Sự phát triển kinh
tế của con người khu vực ven biển gây ảnh hưởng đến hoạt động ven biển tự nhiên, đặc biệt là sự cân bằng giữa các môi trường bờ biển trên mặt đất – bãi biển và bờ biển
Tỉnh Quảng Nam có diện tích 10.406km2, nằm ở ven biển Trung Trung Bộ Việt Nam Quảng Nam có 2 di sản văn hóa thế giới (khu Di tích Mỹ Sơn và phố cổ Hội An)
và khu dự trữ sinh quyển Cù lao Chàm Tuy nhiên, đây cũng là nơi hứng chịu nhiều thiên tai liên quan đến dòng chảy như hạn hán, lũ lụt Thành phố Hội An, cách Đà Nẵng khoảng 25 km về phía nam của tỉnh Quảng Nam Nằm trên vùng đồng bằng ven biển, ở cửa sông của lưu vực sông Thu Bồn, nơi các sông Thu Bồn, Đèo Vò và Cổ Cò hội tụ Hội An còn nằm trong chuỗi đô thị ven biển dài hơn 500 km vùng duyên hải miền Trung, là cơ sở quan trọng để thiết lập và mở rộng các liên kết kinh tế giữa các địa phương trong vùng Khu vực lân cận Hội An đã và đang hình thành các khu kinh
tế, khu cảng phi thuế quan, các khu đô thị mới với quy mô lớn Tuy nhiên, vùng ven biển và lưu vực sông có đặc điểm là độ cao thấp, với nền tảng địa hình không ổn định,
do đó chúng rất dễ bị xói mòn Chế độ thuỷ văn của các sông Thu Bồn và sông Ðáy Vũng có ảnh hưởng lớn đến cảnh quan thuỷ văn của thành phố Đặc biệt, từ năm 2014 hiện tượng xói lở bờ biển tại bờ biển Cửa Đại diễn ra ngày càng phức tạp mà nghiêm trọng, gây ra những thiệt hai lớn cho du lịch tại Hội An
Khu vực dải ven biển thành phố Hội An nói riêng và tỉnh Quảng Nam nói chung đã có một số công trình nghiên cứu về tai biến thiên nhiên vùng ven biển Tuy
Trang 11đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình là “Đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến
thiên nhiên đến dải ven biển thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam"
2 Mục tiêu
Nghiên cứu làm rõ tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên đến dải ven biển thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam; từ đó đánh giá năng lực thích ứng của người dân trước những tác động của các hiện tượng tai biến thiên nhiên
3 Nhiệm vụ
- Thu thập tài liệu, số liệu liên quan đến vấn đề và khu vực nghiên cứu
- Tổng hợp các công trình nghiên cứu về tai biến thiên nhiên cũng như về đề tài đánh giá tính dễ bị tổn thương để lựa chọn phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương
do tai biến thiên nhiên tại khu vực nghiên cứu
- Tổng hợp các điều kiện tự nhiên; kinh tế - xã hội, và thực trạng tác động của tai
biến thiên nhiên tới khu vực nghiên cứu
- Từ số liệu thực tế đã điều tra và phương pháp đã chọn tính các chỉ số thành
phần của tính dễ bị tổn thương tại khu vực nghiên cứu
4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu về cở sở lý luận, đánh giá tình hình và phương pháp nghiên cứu tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên
- Nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực và mối liên quan của
nó với các tai biến thiên nhiên gặp phải
- Nghiên cứu, đánh giá đặc điểm các loại tai biến diễn ra tại đây và tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên của người dân tại khu vực nghiên cứu
5 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Phạm vi không gian: Là thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, trong đó đề tài tập
trung vào 02 phường Cẩm An, Cửa Đại và xã Cẩm Thanh Đây là 3 xã/phường của
thành phố Hội An thường bị ảnh hưởng lớn nhất của các dạng tai biến thiên nhiên
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu đánh giá được tiến hành trong khoảng thời gian
là 5 năm, từ năm 2012 đến năm 2017
- Phạm vi khoa học: Nghiên cứu tập trung vào đánh giá (i) tần suất của các loại
tai biến thiên nhiên so với khoảng thời gian 5 năm trước; (ii) mức độ ảnh hưởng của tai biến thiên nhiên đối với khu vực nghiên cứu và (iii) đánh giá tính dễ bị tổn thương
Trang 123
do các loại tai biến thiên nhiên tới các hộ dân trong đó chỉ số nhạy cảm và chỉ số lộ diện sử dụng phương pháp định lượng còn chỉ số thích ứng sử dụng phương pháp định tính thông qua việc đánh giá các nguồn vốn sinh kế
6 Cơ sở dữ liệu
Các dữ liệu chính được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm:
Các số liệu, dữ liệu được học viên trực tiếp thu thập trong quá trình tham gia đề
tài “Luận cứ khoa học cho việc thiết lập và giải pháp quản lý hành lang bảo vệ bờ biển Việt Nam”; Mã số: KC.09.17/16-20, do PGS.TS Đặng Văn Bào làm chủ nhiệm
Trong đó, Học viên được tham gia quá trình thực địa để thu thập các thông tin, dữ liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu, bảng hỏi điều tra hộ gia đình và các tư liệu thực tế khác tại các điểm khảo sát
Luận văn còn sử dụng các số liệu thống kê, kiểm kê qua các năm liên quan đến khu vực nghiên cứu từ niên giám thống kê của thành phố Hội An
Các tài liệu, các kết quả nghiên cứu của các đề tài, luân văn, luận án cũng như các tạp chí, sách báo,… về các lĩnh vực liên quan của phố Hội An cũng được Học viên tham khảo, kế thừa
Ngoài ra, Học viên còn sử dụng các tài liệu bản đồ liên quan đã được xuất bản
về khu vực nghiên cứu như: bản đồ hành chính, địa hình, địa mạo, địa chất, xói lở bờ sông, biển,…
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
- Ý nghĩa khoa học: Nghiên cứu làm phong phú thêm cơ sở lý luận của nghiên
cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên
- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả đánh giá về tính dễ tổn thương do tai biến thiên
nhiên sẽ góp phần đề xuất các biện pháp giảm thiểu ảnh hưởng của tai biến thiên nhiên đối với người dân và các hoạt động kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu, phục vụ công tác quy hoạch và quản lý lãnh thổ
8 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm các phần sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên
Chương 2: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tại khu vực nghiên cứu
Chương 3: Đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên tại dải ven biển thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Trang 134
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÍNH DỄ BỊ
TỔN THƯƠNG DO TAI BIẾN THIÊN NHIÊN 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những khái niệm về tai biến thiên nhiên
a Tai biến thiên nhiên
Vũ Văn Phái (2006) cho rằng tai biến thiên nhiên (TBTN) là một quá trình và
sự kiện tự nhiên có đe dọa tiềm ẩn đối với tính mạng và tài sản của con người Chính quá trình và các sự kiện không phải là tai biến, nhưng trở thành như vậy vì con người
sử dụng đất đai [15]
Tai biến thiên nhiên là các hiện tượng tự nhiên cực đoan hoặc hiếm hoi có
nguồn gốc khác nhau (khí tượng – thủy văn, địa chất – địa mạo, v.v.) xảy ra trên quy
mô cũng rất khác nhau từ toàn cầu, khu vực cho đến cục bộ địa phương, hoặc là khả năng có thể xảy ra một sự kiện cực đoan nào đó (động đất, lũ lụt, hạn hán, trượt đất, v.v.) có sức phá hoại tiềm ẩn trên một lãnh thổ nào đó Khi một hiện tượng tự nhiên có
thể là mối đe dọa đối với đời sống hoặc tài sản của con người gọi là tai biến thiên nhiên
Tai biến thiên nhiên sẽ trở thành tai họa khi vượt qua giới hạn, tác động lên khu vực nhạy cảm làm tổn thương tới con người, gây ra sự phá hoại đáng kể đối với sự sống và tài sản của con người Chẳng hạn, một trận lũ trung bình tràn lên bãi bồi sau mỗi chu kỳ vài năm thường không gây ra nhiều thiệt hại Nhưng khi có một trận lũ lớn tấn công, thì nó có thể dẫn đến tai họa làm chết người, làm thiệt hại lớn cả về người và của [15]. Tai họa là một sự kiện tai biến xảy ra qua thời gian hạn chế kéo dài trong một
vùng xác định
Các tiêu chí cho tai họa tự nhiên gồm: (i) Hơn 10 người chết; (ii) Hơn 100 người bị ảnh hưởng; (iii) Tình trạng khẩn cấp được tuyên bố; (iv) Sự giúp đỡ quốc tế được yêu cầu Nếu bất kỳ một trong bốn tiêu chí này được áp dụng thì sự kiện được xem là tai họa tự nhiên
Tai họa diễn ra ở quy mô lớn và có sức tàn phá mạnh thì gọi là thảm họa
(Catastrophe) Thảm họa là một tai họa lớn đòi hỏi chi phí lớn và thời gian lâu dài có
thể là vài năm để khắc phục những thiệt hại đã xảy ra Thảm họa (Catastrophe): Là một tai biến thiên nhiên có sức phá hoại ghê gớm – làm chết nhiều người, phá hủy tài sản trên diện rộng [15].v.v
Tai biến thiên nhiên là các sự kiện xảy ra một cách tự nhiên có động tiêu cực đến con người hoặc môi trường Một số tai biến tự nhiên có quan hệ qua lại với nhau
Trang 145
như động đất có thể gây ra sóng thần và hạn hán có thể dẫn đến nạn đói một cách trực tiếp Một ví dụ cụ thể giữa tai biến tự nhiên và thảm họa tự nhiên là trận động đất San Francisco 1960 là một thảm họa, mặc dù các trận động đất là dạng tai biến Do nó ảnh hưởng lớn tới con người với số lượng tử vong lớn hơn 10, bị thương trên 100 và gây thiệt hại 100,000 USD [15]
Tai biến thiên nhiên là một dạng thiên tai có thể xảy ra ở một vùng, một khu vực nhất định như: (sấm, sét, ), hay một quốc gia (hạn hán, ngập lụt…) hoặc có thể cho toàn thế giới (Warming Global, En Nino, La Nina,…) sự đe dọa hoặc xác suất xảy
ra của một hiện tượng có khả năng gây thiệt hại trong một khoảng thời gian nhất định
và khu vực [15]
b Phân loại tai biến thiên nhiên
Phân loại tai biến thiên nhiên theo nguồn gốc phát sinh ta được ba nhóm chính: (i) Nhóm tai biến có nguồn gốc từ khí quyển bao gồm: tuyết, bão tuyết, bão, tố lốc, vòi rồng, sương mù, sương giá,… (ii) Nhóm tai biến có nguồn gốc từ thủy quyển gồm có:
lũ lụt, hạn hán, mưa đá, lũ quét, mưa đá,…(iii) Nhóm thứ ba là tai biến có nguồn gốc địa quyển: động đất, núi lửa, sóng thần, xói mòn, xói lở bờ biển sông, trượt lở ngầm,…
1.1.2 Một số dạng tai biến thiên nhiên thường gặp ở Việt Nam
Việt Nam được xem là nước thường xuyên xảy ra các thảm họa thiên nhiên và
là một trong những nước chịu ảnh hưởng lớn nhất của các hiện tượng khí hậu cực đoan Trong tình hình BĐKH diễn ra như hiện nay thì Việt Nam cũng là nước phải chịu ảnh hưởng nặng nề Các loại tai biến chính thường xuyên xảy ra tại Việt Nam: ngập lụt, bão, lũ lụt, xói mòn, xâm nhập mặn, nước biển dâng Ngoài ra còn có các tai biến hạn hán, trượt đất, các tai biến động đất, sóng thần ít xảy ra Trong khuôn khổ luận văn chỉ tập trung nghiên cứu các loại tai biến diễn ra tại vùng ven biển Hội An, Quảng Nam (xói lở bờ biển, ngập lụt, bão, xâm nhập mặn, nước biển dâng) [16]
Xói lở bờ biển/ bờ sông: là kết quả của hoạt động địa động lực biển hoặc địa
động lực biển kết hợp địa động lực dòng sông, thường xuyên xảy ra ở các bờ biển trên toàn thế giới với những mức độ, cường độ và phạm vi ảnh hưởng khác nhau [9].Trong vài năm trở lại đây, quá trình xói lở ở bờ biển nước ta diễn ra ngày càng nghiêm trọng
và gây nhiều hậu quả tiêu cực đối với cuộc sống của nhân dân ven biển Nhiều nhà cửa, các công trình phúc lợi công cộng bị tàn phá và diện tích đất đai bị thu hẹp Vùng biển Cửa Đại (Hội An) là một trong những vùng bờ xói lở mạnh nhất cả nước
Ngập lụt: là hiện tượng nước trong sông, hồ tràn ngập một vùng đất Lụt cũng
có thể dùng để chỉ ngập do thủy triều, nước biển dâng do bão Lụt có thể xuất hiện khi
Trang 156
nước trong sông, hồ tràn qua đê hoặc gây vỡ đê làm cho nước tràn vào các vùng đất được đê bảo vệ Trong khi kích thước của hồ hoặc các vực nước có thể thay đổi theo mùa phụ thuộc vào giáng thủy hoặc tuyết tan, nó không có nghĩa là lũ lụt trừ khi lượng nước này tràn ra gây nguy hiểm cho các vùng đất như làng, thành phố hoặc khu định
cư khác (MSN Encarta Dictionary; Glossary of Meteorology 2009)
Bão: Bão là trạng thái nhiễu động của khí quyển và là một loại hình thời tiết
cực đoan [6]
Nước biển dâng: Là sự dâng lên của mực nước của đại dương trên toàn cầu,
trong đó không bao gồm triều, nước dâng do bão Nước biển dâng tại một vị trí nào
đó có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với trung bình toàn cầu vì có sự khác nhau về nhiệt
độ của đại dương và các yếu tố khác (Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Xâm nhập mặn: là sự tích tụ quá nhiều muối hòa tan trong đất Xâm nhập mặn
bên cạnh sự axit hóa là một trong hai kết quả lâu dài của sự phát triển đất Xâm nhập mặn xảy ra khi sự bốc hơi trong sáu đến chín tháng trong một năm lớn hơn lượng mưa Thêm vào sự phát triển tự nhiên của đất, xâm nhập mặn được tăng tốc đáng kể thông qua hành động của con người như quá trình thủy lợi
1.1.3 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
a Trên Thế giới
Trên thế giới, TDBTT đã được nghiên cứu ở rất nhiều quy mô khác nhau như đối với một vùng lãnh thổ/khu vực (đới ven biển, hệ thống đảo ), một hệ sinh thái, một hệ thống tự nhiên hay một cộng đồng người vv trên nhiều lĩnh vực như kinh tế -
xã hội, môi trường, tự nhiên, thiên tai và đặc biệt quan tâm tới lĩnh vực BĐKH.Với cách tiếp cận đa ngành, đa lĩnh vực, các nghiên cứu TDBTT trên thế giới đã và đang
có những đóng góp đáng kể trong quy hoạch,ứng phó khẩn cấp đối với các tai biến, thiếu hụt lương thực, nạn đói, phát triển kinh tế, làm cơ sở cho đánh giá môi trường chiến lược và quy hoạch cơ sở hạ tầng, hình thành các chương trình ưu tiên và bảo tồn tài nguyên – môi trường biển, đô thị, hoạch định chính sách, định hướng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội cũng như thiết lập khung cho quản lý tổng hợp đới bờ tiếp cận gần với mục tiêu phát triển bền vững
Tính dễ bị tổn thương trong các nghiên cứu cụ thể được xem xét trong những hoàn cảnh và nguyên nhân rất đa dạng như sự BĐKH toàn cầu, sự biến động giá cả hàng hóa trên thị trường, sự khan hiếm lương thực, sự thay đổi tổ chức và thể chế, chiến tranh, khủng bố, những tai biến thiên nhiên, suy thoái môi trường vv Lịch sử nghiên cứu TDBTT được ghi nhận từ hơn 20 năm qua và đặc biệt được quan tâm
Trang 167
nhiều từ những năm 90 của thế kỷ XX, thể hiện trong các công trình của Watts, M.J
và Bohle, H.G (1993); Blaikie và nkk (1994); Adams, R.H (1995); Adger, W.N 91996); Cục Quản lý đại dương và khí quyển quốc gia Mỹ – NOAA (1999); Sander Evan der Leeuw và Chr Aschan-Leygonie (2000); Adger, W.N và Kelly, P.M (2001); Poul Mathieu (2001); Holger Hoff (2001) Vào cuối thế kỷ XX, một số mô hình về tổn thương và phương pháp đánh giá TDBTT dựa trên các thông số được lượng hóa có hệ thống đã được định hình trên thế giới như phương pháp của NOAA, phương pháp của Cutter
Trong các nghiên cứu TDBTT của NOAA (1999, 2001) và Cutter (1996, 2000,
2007, 2009, 2010), các bản đồ phân vùng mức độ tổn thương đã được xây dựng trên
cơ sở các bản đồ phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ các đối tượng dễ
bị tổn thương Kết quả của các công trình này đã thể hiện được tính ưu việt trong việc
dự báo mức độ bị tổn thương do tai biến cũng như đề xuất các biện pháp giảm thiểu thiệt hại, là cơ sở quan trọng trong quy hoạch, hoạch định chính sách quản lý và phát triển Đặc biệt, các nghiên cứu của NOAA (1999) đã xây dựng quy trình đánh giá TDBTT và những ứng dụng của việc đánh giá này (quy hoạch sử dụng đất, bảo vệ tài nguyên và tăng khả năng giảm thiểu, tái phát triển và xây dựng sơ sở hạ tầng, phục hồi các công trình bị hư hỏng, đưa ra các chính sách đầu tư và phát triển cần được ưu tiên…)
Trong nghiên cứu của Cutter (1996) đã đánh giá TDBTT của hệ thống tự nhiên
- xã hội Nguồn gốc của tổn thương xã hội có thể được bắt đầu từ các đánh giá về chất lượng cuộc sống và các nghiên cứu về sự sống trong khoa học xã hội và khoa học hành
vi trong suốt những năm 50 và 60 Những nghiên cứu ban đầu của Cutter đi sâu vào tìm hiểu các đặc điểm thuận lợi hay không thuận lợi của khu vực cho con người định
cư Trong đó, nhận định TDBTT của hệ thống tự nhiên - xã hội có thể thay đổi theo thời gian do sự biến động của các yếu tố gây tai biến, sự thay đổi năng lực của cộng đồng đối phó với tai biến Mức độ thiệt hại do tai biến không chỉ phụ thuộc vào bản thân các tai biến (cường độ, quy mô, tần suất…) mà còn phụ thuộc vào đặc tính và khả năng bị tổn thương của đối tượng chịu tác động của tai biến Mô hình đánh giá này có
ý nghĩa quan trọng, là cơ sở cho việc phòng tránh tai biến và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội theo cách tiếp cận “tiên đoán và ngăn chặn” những tác động tiêu cực của tai biến
Đến năm 2003, trong nghiên cứu TDBTT, Cutter đã xây dựng được bộ chỉ số
đánh giá TDBTT tổn thương xã hội (SoVI - Social Vulnerability Index) cho một vùng
cụ thể Bộ chỉ số SoVI gồm 42 tham số kinh tế xã hội, nhân khẩu và môi trường để xác
Trang 178
định mức khả năng phục hồi sau tai biến của các khu vực ở Hoa Kỳ Chất lượng cuộc sống của con người (loại và kiến trúc nhà ở, cơ sở hạ tầng,…); môi trường tác động cũng rất quan trọng để hiểu rõ tổn thương xã hội, đặc biệt là những đặc điểm ảnh hưởng đến khả năng thiệt hại về kinh tế, thiệt hại về người do tai biến thiên nhiên Chính vì vậy, bộ chỉ tiêu được xây dựng có vai trò quan trọng trong kiểm soát những biến đổi trong tổn thương xã hội về cả khía cạnh không gian và thời gian
Các mô hình nghiên cứu của NOAA và Cutter chủ yếu tập trung vào nghiên cứu xây dựng các bản đồ về phân vùng mức độ nguy hiểm do tai biến và mật độ phân
bố các đối tượng dễ bị tổn thương, từ đó thành lập bản đồ đánh giá TDBTT Để làm được điều đó phải có một cơ sở dữ liệu tin cậy, chi tiết, và được thu thập một cách có
hệ thống nhờ sự phối hợp của rất nhiều cơ quan khác nhau (khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội) Các phương pháp này đã chứng tỏ được tính ưu việt của chúng trong việc dự báo TDBTT do những tai biến tiềm tàng, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp hạn chế, giảm thiểu rủi ro và thiệt hại và là cơ sở quan trọng trong nghiên cứu TDBTT
Ngoài bộ chỉ số mà Cutter đã xây dựng, đến năm 2004 trong các nghiên cứu
của mình, SOPAC đã đưa ra bộ chỉ số (gồm 50 chỉ số) về tổn thương môi trường (EVI – Environmental Vulnerability Index) Đối với từng yếu tố gây tổn thương cho môi
trường đều được định lượng và đề xuất biện pháp giảm thiểu tổn thương Chỉ số tổn thương môi trường là cơ sở để đánh giá phúc lợi xã hội và được thiết kế để đánh giá cả TDBTT kinh tế và xã hội, cung cấp cái nhìn sâu rộng vào các quá trình tiêu cực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của quốc gia Đây là công trình nghiên cứu có ý nghĩa lớn cho các nước đang phát triển thuộc nam Thái Bình Dương, đồng thời là dữ liệu quan trọng phục vụ phát triển kinh tế bền vững tại khu vực, trong đó có Việt Nam
Trong bối cảnh Biến đổi khí hậu (BĐKH) diễn ra phức tạp như hiện nay, các công trình nghiên cứu TDBTT do BĐKH gây ra cũng ngày càng được chú trọng, trong
đó tiêu biểu có các nghiên cứu của IPCC (2007) Nghiên cứu của IPCC đã chỉ ra 7 yếu
tố quan trọng khi đánh giá TDBTT, đó là: 1) Cường độ tác động; 2) Thời gian tác động; 3) Mức độ dai dẳng và tính thuận nghịch của tác động; 4) Mức độ tin cậy trong đánh giá tác động và TDBTT; 5) Năng lực thích ứng; 6) Sự phân bố các khía cạnh của tác động và TDBTT; và 7) Tầm quan trọng của hệ thống khi gặp nguy hiểm Các yếu
tố này có thể được sử dụng kết hợp với việc đánh giá những hệ thống có mức độ nhạy cảm cao với các điều kiện về khí hậu như đới ven biển, hệ sinh thái, các chuỗi thức ăn Kết quả của nghiên cứu này có giá trị rất cao trong điều kiện hiện nay do phù hợp
Trang 18về kỹ thuật và khả năng cung cấp số liệu trong việc mô hình hóa hệ thống và đánh giá định lượng Conner (2007) đã đưa các biện pháp công trình và phi công trình vào tính toán chỉ số tổn thương lũ, nó thể hiện khả năng chống chịu của cộng đồng dân cư mà không xét đến sự phơi nhiễm của cộng đồng đó trước nguy cơ lũ Hay Sebastian (2010) đã xác định tính tổn thương lũ là sự kết hợp giữa xác suất, tác động (thiệt hại)
và khả năng chống chịu Theo như nghiên cứu này chưa xét đến phơi nhiễm, khả năng phục hồi của hệ thống, chưa xét đề cập ảnh hưởng của vùng miền (các yếu tố tự nhiên) nên chưa hoàn chỉnh hay nói cách khác chưa biểu diễn được mối tương tác tự nhiên – kinh tế xã hội khi xem xét bài toán tổng hợp đánh giá tính dễ bị tổn thương
b Tại Việt Nam
Khái niệm và những nghiên cứu về TDBTT mới được thực hiện ở Việt Nam trong thời gian gần đây, bắt đầu từ những năm cuối của thế kỷ XX
Theo luận văn của Lê Hà Phương đã viết thì lần đầu tiên TDBTT được nghiên cứu tại Việt Nam là vào các năm 1994 – 1996, do Tom.G và cộng sự đã nghiên cứu về
Trang 1910
TDBTT của đới bờ Việt Nam do sự gia tăng mực nước biển và BĐKH [16] Nghiên cứu này đã chỉ ra được khả năng rủi ro cao cho khoảng 17 triệu người dân ở các đồng bằng ven biển Cho đến năm 1999, TDBT đã được mở rộng nghiên cứu không chỉ ở khía cạnh tự nhiên mà còn ở khía cạnh xã hội và khả năm phụ hồi ở Việt Nam khi môi trường thay đổi Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định bởi Adger và cộng sự Kết quả nghiên cứu đã cho thấy sự bất công bằng trong thu nhập và phúc lợi địa phương do sự đổi mới về kinh tế bắt đầu từ giữa thập kỷ 80 gây ảnh hưởng tới năng lực thích nghi của người dân địa phương khi phải đối mặt với cả sự thay đổi về thể chế tổ chức và những ảnh hưởng của sự BĐKH
Trong giai đoạn 2001 – 2002, Mai Trọng Nhuận và nhóm nghiên cứu đã thực
hiện đề tài “Nghiên cứu, đánh giá tính dễ bị tổn thương của đới duyên hải Nam Trung
Bộ làm cơ sở khoa học để giảm nhẹ tai biến, quy hoạch sử dụng đất bền vững” Trong
công trình này, lần đầu tiên các tác giả đã xây dựng được phương pháp luận và quy trình đánh giá TDBTT cho đới duyên hải Qua đó, bước đầu thiết lập được quy trình công nghệ thành lập bản đồ TDBTT của tài nguyên và môi trường đới duyên hải Nam Trung Bộ[16] Kết quả nghiên cứu đã mang lại những thành tựu to lớn, đóng góp phần quan trọng trong công tác giảm thiểu thiệt hại do thiên tai gây ra, bảo vệ nguồn tài nguyên và môi trường, quy hoạch sử dụng hợp lý lãnh thổ, lãnh hải ven bờ miền Trung, Nam Trung Bộ nói riêng và ven bờ Việt Nam nói chung Trong bối cảnh BĐKH đang diễn ra hết sức phức tạp và đang đặt ra thách thức rất lớn cho toàn nhân loại, Mai Trọng Nhuận cùng các cộng sự đã có thêm những nghiên cứu về tổn thương
do BĐKH gây ra (áp dụng cho thành phố Hạ Long, cửa sông Hồng, Chân Mây - Lăng Cô,…) Trên cơ sở những nghiên cứu đó, nhóm tác giả cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm bảo vệ môi trường, phát triển bền vững, giảm nhẹ thiên tai và thích ứng với BĐKH
Năm 2005, bản đồ TDBTT đã được thành lập bởi Lê Thu Hiền trong nghiên cứu về TDBTT tại đới ven biển Hải Phòng Bản đồ TDBTT chỉ ra rõ các khu nội thành
cũ, khu vực nuôi trồng thuỷ hải sản, rừng phòng hộ ven biển và khu bảo tồn san hô vực là những khu vực có TDBTT cao Kết quả của nghiên cứu này đã góp phần vào việc quản lý tổng hợp và phát triển bền vững đới ven biển Hải Phòng
Năm 2008, tại hội thảo ở Quảng Ninh về “Địa chất biển Việt Nam và phát triển bền vững” nhóm công tác của Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguyễn Thị Minh Ngọc và cộng sự đã trình bày báo cáo “Đánh giá mức độ tổn thương của vịnh Tiên Yên – Hà Cối (tỉnh Quảng Ninh), phục vụ quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên – môi trường”
Trang 2011
Năm 2009, Tổng cục Môi trường, Bộ TN &MT đã triển khai dự án “Điều tra, đánh giá mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường, khí tượng thủy văn biển Việt Nam; Dự báo thiên tai, ô nhiễm môi trường tại các vùng biển” gồm nhiều hợp phần, trong đó có “Điều tra, đánh giá tổng hợp mức độ tổn thương tài nguyên - môi trường vùng biển và đới ven biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp quản lý phát triển bền vững” Ngoài ra còn có các dự án nghiên cứu được tài trợ từ nước ngoài như: nghiên cứu “Đánh giá tính dễ bị tổn thương và các tác động của BĐKH tại Cần Thơ” do quỹ Rokefeller tài trợ năm 2009 “Giảm thiểu TDBTT do lũ lụt và bão ở tỉnh Quảng Ngãi;
và khả năng phục hồi của cộng đồng dân cư ở đồng bằng sông Cửu Long do tai biến thiên nhiên” do Chính phủ Úc hỗ trợ thực hiện năm 2004 – 2009
Năm 2010, Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường đã thực hiện và
xuất bản “Các kịch bản nước biển dâng và khả năng giảm thiểu rủi ro do thiên tai tại Việt Nam” Cũng trong năm này, khái niệm TDBTT đã được mở rộng bao gồm các
vấn đề kinh tế, xã hội và môi trường Tác giả Mai Đăng đã đánh giá trọng số ảnh hưởng của các yếu tố đến tính dễ tổn thương lũ như: mật độ dân số, nhận thức của cộng đồng, các công trình phòng lũ, sự ô nhiễm, sự xói mòn và nhiều yếu tố khác
trong nghiên cứu “Đánh giá các thông số rủi ro lũ ở vùng ngập lụt sông Đáy, đồng bằng sông Hồng, Việt Nam” của mình
Với đề tài “Đánh giá rủi ro do lũ cho lưu vực sông Thạch Hãn tỉnh Quảng Trị”,
Việt Trinh đã có cách tiếp cận rất mới đối với TDBTT Với cách tiếp cận này, tác giả
đã dựa trên giả thiết tính dễ bị tổn thương của cộng đồng với cùng các điều kiện kinh
tế - xã hội là giống nhau và chỉ dựa trên mật độ giá trị của các vùng khác nhau trong khu vực nghiên cứu để đánh giá rủi ro do lũ dựa trên bản đồ nguy cơ do lũ và bản đồ tính dễ bị tổn thương, coi tính dễ tổn thương do lũ là một hàm của bản đồ sử dụng đất
và mật độ dân số chưa xét đến khả năng chống chịu của cộng đồng
Năm 2011, có rất nhiều dự án đánh giá tác động TDBTT do BĐKH tại vùng
Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long được thực hiện như: dự án “Tăng cường năng lực quốc gia ứng phó với BĐKH ở Việt Nam nhằm giảm nhẹ tác động và kiểm soát phát thải khí nhà kính”đã được Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi
trường triển khai với sự tài trợ của Tổ chức quốc tế UNDP, dự án được thực hiện trên địa bàn các tỉnh Bình Định, Bình Thuận và Cần Thơ Trong dự án có nhiệm vụ đánh giá tác động, TDBTT do BĐKH ở huyện Tây Sơn tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất biện pháp thích ứng
Dự án “Đánh giá tính dễ bị tổn thương đối với lĩnh vực nước và vệ sinh môi trường tại tỉnh Bến Tre” thực hiện bởi AECOM Asia và kết thúc năm 2011 Nghiên
Trang 2112
cứu này nêu tổng quan về TDBTT do BĐKH tại tỉnh Bến Tre và xác định những huyện dễ bị tổn thương nhất đối với các lĩnh vực như tài nguyên nước, nghèo đói, các
hệ thống sinh kế và cơ sở hạ tầng và dịch vụ cấp nước sạch và vệ sinh môi trường
Dự án “Nghiên cứu tác động của BĐKH đến Đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất các giải pháp thích ứng”, dự án do Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB tài trợ với
2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: tập trung vào việc đánh giá các tác động và TDBTT do BĐKH đối với 3 lĩnh vực chính tại 2 tỉnh Kiên Giang và Cà Mau, đó là: Năng lượng và Công nghiệp, Giao thông vận thải và Quy hoạch đô thị, và Nông nghiệp và Nuôi trồng Thủy sản Giai đoạn 1 kết thúc năm 2011
- Giai đoạn 2: tập trung vào việc xác định các biện pháp thích ứng nhằm giảm thiểu các tác động của BĐKH và lựa chọn ra những dự án ưu tiên để thu hút vốn đầu
tư Giai đoạn 2 kết thúc năm 2013
Ngoài ra còn có các dự án: Nghiên cứu Đánh giá TDBTT đối với BĐKH của thành phố Cần Thơ” thuộc gói thầu Tư vấn xác định các phương án thích ứng và phòng ngừa tác động của Biến đổi khí hậu cho Thành phố Cần Thơ, dự án “Nghiên cứu thủy tai do biến đổi khí hậu và xây dựng hệ thống thông tin nhiều bên tham gia nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương ở Bắc Trung Bộ Việt Nam (CPIS)” do
DANIDA, Bộ Ngoại Giao Đan Mạch tài trợ với thời gian thực hiện 36 tháng từ 2012 đến 2015 Một trong những vấn đề đặt ra của dự án là Nghiên cứu đánh giá TDBTT nhằm nâng cao khả năng chống chịu của cộng đồng cư dân vùng đồng bằng và ven biển các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình nói riêng và ở Việt Nam nói chung
Năm 2012, nhóm tác giả Lê Anh Tuấn, Lê Văn Dũ và Tristan Skinner đã thực
hiện báo cáo “Đánh giá nhanh, tổng hợp tính tổn thương và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu - Bến Tre, Việt Nam” Bài nghiên cứu được hoàn thành trong khuôn khổ dự án “Hợp tác Toàn cầu về Quản lý Nguồn nước” (WWF và Coca – Cola) và dự
án “Xây dựng Năng lực và Sản xuất bền vững” (WWF – DANIDA) bởi WWF Kết
quả nghiên cứu đã đánh giá tính dễ bị tổn thương của hệ sinh thái và cộng đồng địa phương thuộc vùng dự án trước các mối hiểm họa biến đổi khí hậu và hoạt động nhân sinh, xây dựng được các chiến lược thích ứng ưu tiên trong mối liên hệ giữa các hệ sinh thái với sinh kế, xã hội và thể chế và xác định được các khả năng lồng ghép các giải pháp EBA vào Kế hoạch Hành động Ứng phó với BĐKH và Kế hoạch Phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Bến Tre
Năm 2014, Lê Hà Phương đã nghiên cứu đề tài “Đánh giá tác động và tính dễ
bị tổn thương do Biến đổi khí hậu đối với sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản
Trang 2213
tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” Trong bài nghiên cứu có sử khái niệm mới
nhất về tính dễ bị tổn thương của IPCC và khung khái niệm về sinh kế bền vững cùng với phương pháp điều tra bằng phiểu câu hỏi để đánh giá mức độ tác động của các hiện tượng thủy tai theo quan điểm của người dân địa phương Kết quả luận văn đã mô
tả được những tác động của các hiện tượng thủy tai đến sự thay đổi các hoạt động sản xuất và cơ cấu nghề nghiệp, thu nhập của người dân tại khu vực nghiên cứu và nhận biết được những kinh nghiệm và kiến thức bản địa mà người dân tại khu vực nghiên cứu đã áp dụng trong việc ứng phó trước những tác động đó
Hiện nay, Việt Nam đã có khá nhiều những nghiên cứu về TDBTT, đặc biệt là đánh giá TDBTT do BĐKH Có nhiều cách tiếp cận khác nhau để đánh giá TDBTT của một hệ thống kinh tế - xã hội - môi trường do BĐKH và khả năng chống chịu đã được áp dụng Dù với những cách tiếp cận khác nhau nhưng cũng đều xem xét tới cả những yếu tố bên trong và bên ngoài hệ thống trong việc đánh giá TDBTT do BĐKH Tuy nhiên, các hiện tương tai biến thiên nhiên hiện nay đang diễn ra hết sức phức tạp
do tác động của BĐKH cũng có những tác động rất lớn lên các hoạt động kinh tế - xã hội và môi trường Chúng ta cần thêm những nghiên cứu chuyên sâu hơn về TDBTT, cần có những đánh giá toàn diện hơn về các yếu tố gây ra TDBTT đến tất cả các lĩnh vực tự nhiên và kinh tế-xã hội cho từng khu vực, địa phương cụ thể của Việt Nam Vì vậy, hướng nghiên cứu đánh giá TDBTT do tai biến thiên nhiên trong thời gian tới cần phải được tiếp tục triển khai
1.2 Cơ sở lí luận nghiên cứu tính dễ bị tổn thương
Tính dễ bị tổn thương (TDBTT) là một khái niệm khá trừu tượng, đươ ̣c đề cập trong rất nhiều tài liệu và chưa được thống nhất Trong 20 năm qua, đã có rất nhiều khái niệm về tính dễ bị tổn thương (TDBTT) và việc sử dụng thuật ngữ liên quan đến tính dễ bị tổn thương Khái niệm về TDBTT đã có nhiều thay đổi và cũng có rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về TDBTT TDBTT thường đi kèm với các nguy cơ tự nhiên như lũ lụt, hạn hán và nguy cơ xã hội như nghèo đói, vv… Khái niệm TDBTT
do TBTN được sử dụng để biểu thị mức độ thiệt hại mà một khu vực dự kiến sẽ bị ảnh hưởng do các tác động khác nhau của TBTN Có nhiều nghiên cứu về TDBTT trên thế giới và khái niệm về TDBTT cũng khác nhau tùy theo quan điểm của những nhà nghiên cứu
Tính dễ bị tổn thương bao hàm rất nhiều vấn đề, từ các biểu hiện vật lý
(Mitchell, 1989; Schneider và Chen, 1980; Barth và Titus, 1984), kinh tế, xã hội và tài nguyên (Susman, O’Keefe, và Wisner 1983; Timmerman, 1981; Cannon, 1994) cho đến các mối quan hệ của nơi xảy ra tai biến với hệ thống xã hội (Dow 1992; Cutter
Trang 2314
1996, 2003)…Có rất nhiều những khái niệm dễ bị tổn thương được sử dụng, có thể chỉ
ra 3 trường phái về tính dễ bị tổn thương:
Quan điểm thứ (1): Chú trọng đến sự tiếp xúc với các hiểm họa sinh lý bao gồm
phân tích điều kiện phân bố các hiểm họa, khu vực diễn ra hiểm họa mà con người
đang sống, mức độ thiệt hại và phân tích các đặc trưng tác động (e.g., Heyman và cộng
sự 1991, Alexander 1993)
"Tổn thương" có nguồn gốc từ chữ Latin có nghĩa là sự tổn hại Ở một mức độ
rất cơ bản, dễ bị tổn thương có thể được định nghĩa là "khả năng bị thương" (Kates
1985, Dow 1992) hoặc "thiệt hại tiềm năng" (Cutter 1996) Tuy nhiên, định nghĩa
chung dễ bị tổn thương không chỉ định loại của sự thiệt hại hoặc các cá nhân, nhóm,
hoặc tổn thất xã hội (Cutter 1996, Dow 1992)
Quan điểm thứ (2): Chú trọng đến các khía cạnh xã hội và các tổn thương liên
quan đến xã hội nhằm đối phó với các tác động xấu trong cộng đồng dân cư bao gồm
cả khả năng chống chịu và khả năng tự phục hồi đối với hiểm họa (e.g., Blaikie và cộng sự 1994, Watts and Bohle 1993)
Blaikie (1994) cho rằng: Dễ bị tổn thương có nghĩa là các đặc tính của một người hoặc một nhóm về năng lực của họ có thể dự đoán, đối phó, chống lại, và phục hồi từ tác động của thiên tai Nó là sự kết hợp của các yếu tố xác định mức độ mà cuộc sống và sinh kế của người khác được đặt tại rủi ro bằng một sự kiện rời rạc và nhận
dạng trong tự nhiên hoặc trong xã hội
Theo Christian Kuhlicke quan niệm TDBTT xuất phát từ một khái niệm về sự không hiểu biết có nghĩa là con người đối phó như thế nào với kiến thức hạn chế của mình Khái niệm dễ bị tổn thương áp dụng cho một hệ thống xã hội do đó có thể được hiểu là "một tập hợp các điều kiện và quy trình kết quả từ vật lý, các yếu tố xã hội, kinh tế và môi trường, làm tăng tính nhạy cảm của một cộng đồng có các mối nguy
hiểm tác động " (ISDR 2002)
Quan điểm thứ (3): Kết hợp cả hai phương pháp và xác định tính dễ bị tổn
thương như là hiểm họa nơi mà chứa đựng những rủi ro sinh lý cũng như những tác
động thích ứng của xã hội (Cutter 1996, Weichselgartner 2001: 169 ff)
Joanne Linnerooth – Bayer định nghĩa “Tổn thương là một thuật ngữ phân tích, Tính dễ bị tổn thương là khái niệm được hiểu trong một phạm vi rộng và có quy tắc, bao gồm cả địa lý, rủi ro, hiểm họa, kỹ thuật, nhân chủng học và sinh thái”
Trang 24xã hội đã tăng lên Các định nghĩa về tính dễ bị tổn thương đã dần được cải thiện thể hiện một cái nhìn toàn diện của xã hội, liên quan đến lĩnh vực tự nhiên và kinh tế xã hội của hệ thống
Cụ thể, còn có một số định nghĩa về TDBTT điển hình như sau:
TDBTT là một đe dọa đến cộng đồng, bao gồm không chỉ cơ sở vật chất của cộng đồng đó mà còn cả đặc tính sinh thái, khả năng ứng phó với các tác động của
cộng đồng vào mọi thời điểm (Gabor, 1979)
TDBTT là mức độ ứng phó với tai biến của một hệ thống (tự nhiên - xã hội, môi trường ) Mức độ ứng phó của hệ thống đối với tai biến được coi là khả năng
phục hồi (Resilience) của hệ thống (Timmerman, 1981)
TDBTT là khả năng nguy hiểm hay hứng chịu những bất lợi của cá nhân hay một nhóm người do tác động của tai biến Tính tổn thương phụ thuộc vào độ rủi ro và
khả năng giảm thiểu tai biến của cộng đồng (Cutter, 1993 – Trích theo Phan Văn Tân, 2012)
TDBTT là sự mất an toàn của cá nhân hay cộng đồng khi phải đối mặt với sự
thay đổi của môi trường (Moser, 1996 – Trích theo Phan Văn Tân, 2012)
TDBTT là một hàm của 2 biến của mức độ tổn thất (do tai biến) và khả năng
chống chịu (Coping ability) và phục hồi (Clark, 1998 – Trích theo Phan Văn Tân, 2012)
Trang 2516
TDBTT là tính nhạy cảm của tài nguyên (tài nguyên tự nhiên, tài nguyên xã
hội) trước những tác động tiêu cực của tai biến (NOAA, 1999 – Trích theo Phan Văn Tân, 2012)
TDBTT là khả năng bị tổn thương của hệ thống tự nhiên – xã hội, là những đặc tính của hệ thống cho phép nó cảm nhận, ứng phó, chống đỡ và phục hồi từ những
thay đổi bên ngoài tác động vào hệ thống (Kasperson, 2001 – Trích theo Phan Văn Tân, 2012)
Theo quan niê ̣m thông thư ờng mà các nhà khoa học đã đưa ra, TDBTT thường được biểu thị thông qua cấu trúc của một hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội hay môi trường và được tạo ra bởi 2 nhóm yếu tố là mức độ tổn thất và khả năng chống chịu Tuy nhiên, đối với các tổ chức quốc tế, đặc biệt là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực liên quan đến tài nguyên - môi trường thì tùy thuộc vào từn mục đích nghiên cứu
và hoạt động riêng mà sẽ có những định nghĩa riêng về tính tổn thương
Chương trình lương thực thế giới (WFP) và Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) đã định nghĩa TDBTT là toàn bộ những yếu tố tác động đến con người làm cho
họ mất lương thực hoặc mất an toàn thực phẩm vì các chương trình của họ quan tâm đến tính tổn thương ở khía cạnh khủng hoảng lương thực
Cũng tương tự như thế, Cơ quan phát triển quốc tế của Hoa Kỳ (USAID, 1999)
lại cho rằng mọi người đều bị tổn thương nhưng ở mức độ khác nhau phụ thuộc vào nguyên nhân, diễn thế và điều kiện Họ coi tính tổn thương như là một công cụ đánh giá trong Hệ thống cảnh báo sớm nạn đói nghèo (Famine Early Warning System - FEWS)
Liên hợp quốc (UN, 1982) lại phân biệt định nghĩa TDBTT theo hai khái niệm khác nhau Trước tiên, phân biệt TDBTT kinh tế và tính nhạy cảm (Sensitivity) sinh
thái và cho rằng tổn thương kinh tế bao gồm cả các yếu tố sinh thái Do vậy, TDBTT phản ánh tính nhạy cảm kinh tế và sinh thái đối với những sự cố hay biến động từ bên ngoài Tiếp theo là phân biệt giữa TDBTT cấu trúc bắt nguồn từ tình hình chính trị và TBDTT bắt nguồn từ các chính sách kinh tế Theo đó, TDBTT được coi là sự mất mát/tổn thất do các hiện tượng tự nhiên có cường độ khác nhau
Trong chương trình đánh giá TDBTT vùng (Regional Vulnerability Assessment
Programme), Cục Bảo vệ Môi trường Hoa kỳ (USEPA, 2006) quan niệm TDBTT của
một hệ thống là mức độ tổn thất của hệ thống đó dưới tác động của một áp lực nào đó
từ bên ngoài hay bên trong hệ thống
Trang 2617
Uỷ ban Địa học ứng dụng Nam Thái Bình Dương (The South Pacific Applied Geo – science Commission – SOPAC, 1999) thì cho rằng tính tổn thương là khả năng
ứng phó và phục hồi của hệ thống đối với các tác động của tai biến
Từ những trình bày trên có thể coi TDBTT là mức độ tổn thất, suy thoái của một hệ thống (tự nhiên, xã hội, môi trường…) và mức độ thích ứng của hệ thống đó để chống chịu và phục hồi sau các tác động từ bên ngoài gây ra (tai biến và các hoạt động nhân sinh) Trong luận văn, học viên sử dụng quan điểm thứ 3 là cơ sở lí luận cho nghiên cứu TDBTT, chú trọng đến cả sự tiếp xúc với các tai biến thiên nhiên, mức
độ thiệt hại do các hiện tượng tai biến gây ra cho con người và cả mức độ chống chịu,
khả năng thích ứng của người dân tại khu vực chịu tai biến
1.3 Quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Quan điểm tiếp cận
a Quan điểm hệ thống
Bec-tơ-lan-phi nhận xét: “Hệ thống là tổng thể các thành phần, nằm trong
sự tác động tương hỗ, mỗi đối tượng và hiện tượng địa lí đều có nhiều thành phần
và các bộ phận có mối quan hệ biện chứng tạo thành một chỉnh thể, tạo thành
hệ thống, mỗi hệ thống đều có thể phân chia thành các cấp thấp hơn, đồng thời mỗi
hệ thống có thể là một thành phần của hệ thống cấp cao hơn”
Quan điểm hệ thống là một quan điểm khoa học chung, một trong những quan điểm đặc trưng của Địa lý học và là quan điểm cơ bản quyết định phương pháp tư duy, tiếp cận mọi vấn đề Cơ sở của quan điểm này là các yếu tố tự nhiên trên một lãnh thổ luôn có tác động qua lại và liên hệ chặt chẽ với nhau tạo nên một hệ thống động lực mở, tự điều chỉnh và có trạng thái cân bằng động
Quan điểm này được vận dụng khi nghiên cứu, đánh giá TDBTT tại vùng ven biển thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam Khu vực ven biển Hội An được coi là một hệ thống tự nhiên, tạo thành từ nhiều yếu tố tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, thổ nhưỡng, sinh vật,…), bao gồm nhiều bộ phận nhỏ, chính là các đơn vị cảnh quan, đồng thời lại là bộ phận của hệ thống lớn hơn: tỉnh Quảng Nam và vùng Duyên hải Nam Trung Bộ Ở đó có sự tương tác giữa các hợp phần tự nhiên cũng như giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội Bởi vậy, khi nghiên cứu cần phải đặt nó trong hệ thống và mối quan hệ qua lại mật thiết giữa các yếu tố thành tạo cảnh quan, giữa các cảnh quan với nhau và với các lãnh thổ xung quanh Trong nghiên cứu, đánh giá TDBTT ven biển Hội An, việc vận dụng quan điểm này
có ý nghĩa quan trọng, vì ngay tại lãnh thổ tự nhiên cũng đã có những hình thái địa
Trang 2718
hình tự nhiên nhằm thích ứng với những tai biến thiên nhiên và hiện tượng tai biến thiên nhiên mỗi năm diễn ra có chu kì và quy luật riêng Tuy nhiên, sự can thiệp của con người, BĐKH đang dần tác động làm các hiện tượng tai biến diễn ra ngày một phức tạp hơn Quan điểm hệ thống giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện, xác định được vị trí của đối phương trong tổng thể, đánh giá đầy đủ các thành phần và các mối quan hệ của lãnh thổ nghiên cứu
hệ, tác động qua lại trong phạm vi lãnh thổ nhất định, trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể theo những quy luật phát triển riêng Sự tác động của con người vào một hợp phần hay bộ phận tự nhiên nào đó có thể kéo theo sự thay đổi của hàng loạt các yếu tố khác
mà nhiều khi hậu quả của nó không dừng lại ở phạm vi khu vực tác động đó xảy ra
Vận dụng quan điểm tổng hợp trong việc đánh giá cảnh quan một lãnh thổ, cho thấy sự cần thiết phải nghiên cứu một cách toàn diện, tổng hợp tất cả các yếu tố cũng như các mối quan hệ tương tác giữa các hợp phần trong tổng thể đó, phân tích tổng hợp các nhân tố tự nhiên, nhân tố kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự hình thành và phân hoá cảnh quan cũng như tác động tổng hợp của tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội, môi trường Đây là cơ sở quan trọng cho việc đánh giá quy hoạch lãnh thổ, sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường
c Quan điểm lãnh thổ
Mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại và phát triển trong một không gian nhất định Các sự vật hiện tượng địa lý cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên này Ở đó có sự phân hóa và thống nhất nội tại nhưng đồng thời lại có mối quan hệ lãnh thổ với các vùng xung quanh cả về đặc điểm địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội
Trong nghiên cứu địa lý, bất kỳ một sự vật hiện tượng nào cũng đều phải gắn với một không gian lãnh thổ nhất định Mỗi cảnh quan đều được phát sinh, hình thành, phát triển trên một vùng cụ thể Trong nghiên cứu, phân tích không gian và
mô hình hoá không gian được nhấn mạnh, vì rằng sự phân hoá cảnh quan khu vực nghiên cứu được thể hiện qua bản đồ cảnh quan Trên cơ sở phân tích bản đồ, đưa ra ý
Trang 2819
kiến đánh giá, kiến nghị việc khai thác sử dụng hợp lý đối với từng loại cảnh quan cho các mục đích cụ thể của từng vùng và trên toàn lãnh thổ
d Quan điểm phát triển bền vững
Đây là quan điểm chỉ đạo trong nghiên cứu bảo vệ môi trường Địa lý học
đã vận dụng quan điểm này vào việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp các nhân tố điều kiện địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội Ngày nay, việc đánh giá điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên cho mọi hoạt động phát triển kinh tế đều phải tuân thủ theo nguyên tắc phát triển bền vững Sử dụng hợp lý tài nguyên không phải chỉ khai thác, tận dụng triệt để các nguồn tài nguyên trên lãnh thổ phục vụ phát triển kinh tế mà còn phải đảm bảo sự cân bằng về sinh thái và bền vững về môi trường Nếu tác động con người dưới mức cho phép thì đó là động lực tạo cơ sở cho sự phát triển của hệ địa sinh thái theo chiều hướng ổn định trong trạng thái cân bằng và phát triển của toàn hệ thống Nhưng nếu tác động quá mức cho phép sẽ làm cho hệ địa sinh thái bị đảo lộn và phát triển theo chiều hướng xấu, gây mất cân bằng sinh thái và gây ra nhiều hậu quả
Sự suy giảm diện tích rừng gây xói mòn đất, hạ thấp mực nước ngầm, làm biến đổi khí hậu; biện pháp canh tác không đúng kĩ thuật làm đất đai bị bạc màu, diện tích đất hoang hoá gia tăng
Cân bằng sinh thái và phát triển bền vững là mục tiêu của việc khai thác
sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái Vận dụng quan điểm này cho phép xác định mức độ ảnh hưởng, là yếu tố cơ bản để đánh giá, phát hiện, đề xuất các giải pháp cho việc sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường
Quan điểm này chi phối định hướng đánh giá và kiến nghị sử dụng các loại cảnh quan trong khu vực nghiên cứu của đề tài Phát triển bền vững được coi là tiêu chí ưu tiên hàng đầu trong hoạt động đánh giá cảnh quan cho các mục đích cụ thể
e Quan điểm tiếp cận sinh thái học
Một trong những vấn đề quan trọng trong nghiên cứu và đánh giá cảnh quan là tìm ra được phương thức và các định hướng sử dụng, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và đem lại lợi ích cho cộng đồng Vì vậy, đánh giá cảnh quan đối với các ngành kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường, đảm bảo tính toàn vẹn lãnh thổ của hệ sinh thái, các tác động của các ngành kinh tế đến cảnh quan phải tính đến khả năng chịu đựng của hệ sinh thái, đảm bảo hiệu quả về kinh tế và bảo tồn môi trường tự nhiên một cách bền vững
Trang 2920
1.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
a Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu
Phương pháp này được thực hiện trên cơ sở kế thừa, phân tích và tổng hợp các nguồn tài liệu, tư liệu, số liệu thông tin có liên quan một cách có chọn lọc Từ đó, đánh giá chúng theo yêu cầu và mục đích nghiên cứu Đó là các tài liệu thu thập được từ các
cơ quan cấp thành phố, phường, xã như Niên giám thống kê thành phố Hội An năm 2016; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hội An đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025; Tổng hợp thiệt hại do bão lụt gây ra tại thành phố Hội An từ năm 2010 đến năm 2016; Báo cáo kinh tế xã hội thành phố Hội An, một số bào báo, tạp chí, sách, công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài…
b Phương pháp điều tra khảo sát thực địa
Các phương pháp nghiên cứu thực địa nhằm lựa chọn được khu vực nghiên cứu điển hình, mang tính đại diện và thu thập bổ sung các số liệu, tài liệu thực tế tại khu vực nghiên cứu điển hình đó
Thành phố Hội An có 9 phường và 4 xã, nhưng luận văn này chỉ chọn nghiên cứu 2 phường là phường Cửa Đại, phường Cẩm An và một xã Cẩm Thanh Vì thành phố Hội An chỉ có hai phường Cẩm An và Cửa Đại là hai phường ven biển, và cũng là nơi chịu tác động mạnh mẽ nhất của hiện tượng xói lở bờ biển trong bốn năm trở lại đây Xã Cẩm Thanh là địa phương có đầy đủ các hoạt động kinh tế đặc trưng của Hội
An như: nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và du lịch Thực tế học viên đã đi khảo sát các điểm thường xuyên xảy ra các hiện tượng tai biến, các hộ gia đình làm nông nghiệp, điểm du lịch ở các khu vực khác nhau trong khu vực nghiên cứu
c Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình bằng bảng hỏi cấu trúc (xem Phụ lục) được
sử dụng để thu thập thông tin cơ bản về hộ gia đình, thông tin liên quan đến các hoạt động sinh kế của hộ gia đình, nguồn vốn sinh kế, tính tổn thương của các nguồn vốn này, những hỗ trợ của chính quyền địa phương và các giải pháp ứng phó với các hiện tượng tai biến gặp phải cũng như việc áp dụng các kiến thức bản địa của người dân để
dự báo về tai biến có thể xảy ra và những kinh nghiệm ứng phó với các tai biến của người dân
Nghiên cứu thiết kế bảng hỏi sinh kế gồm 5 phần: (i) Thông tin chung - điều tra
về các thông tin cơ bản như Họ tên người được phỏng vấn, địa chỉ, số thành viên trong gia đình và loại hộ theo đánh giá của địa phương (nghèo/ cận nghèo ); (ii) Thông tin nhân
khẩu - khảo sát các thông tin liên quan đến các thành viên trong hộ gia đình trên các mặt
Trang 3021
năm sinh, giới tính, học vấn, nghề nghiệp; (iii) Các hoạt động sinh kế - khảo sát các thông tin liên quan đến các hoạt động sinh kế của hộ gia đình gồm 3 mục tương ứng với nông nghiệp, du lịch và các hoạt động tạo thu nhập khác; (iv) Khả năng thích ứng của hộ gia
đình khi xảy ra tai biến và (v) Sự tham gia vào các tổ chức chính trị - xã hội - khảo sát các vấn đề liên quan tới sự tham gia vào các loại hình tổ chức chính trị xã hội khác nhau và sự nhận được hỗ trợ từ các tổ chức đó
Do điều kiện không cho phép, nghiên cứu chỉ tiến hành điều tra, khảo sát 100 phiếu tương ứng với 100 hộ dân trên địa bàn gồm 2 phường Cẩm An, Cửa Đại và 1 xã Cẩm Thanh với thời gian hồi cứu là 5 năm, từ năm 2012 đến năm 2016 Cụ thể phân
bổ số lượng phiếu theo bản được đưa ra trong bảng sau:
Bảng 1.1: Số lượng phiếu điều tra chia theo khối/thôn tại hai Phường Cẩm An,
Cửa Đại và xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam
Phường/ xã Số phiếu Tỷ lệ (%)
Hình 1.1: Bản đồ khu vực nghiên cứu
Để thuận tiện trong điều tra phỏng vấn ngoài phương pháp đàm thoại trực tiếp
Trang 3122
để lấy thông tin, tác giả đã áp dụng một số kỹ thuật trong điều tra phỏng vấn như: đơn giản hóa các câu hỏi và chia nhỏ vấn đề, đặc biệt trong điều tra về tần suất xuất hiện
các tai biến nhằm đảm bảo tính khách quan, dễ hiểu cho người dân và số liệu tương
đối chính xác; sử dụng card trong điều tra các câu hỏi về mặt nhận thức như các câu
1-5 của mục III.3.1; mục III.3.2, mục III.3.3 trong bảng hỏi
Sau khi phỏng vấn hộ gia đình, tiếp tục thực hiện một cuộc phỏng vấn sâu để nhằm tìm hiểu một cách rõ hơn về các hoạt động sinh kế, kinh nghiệm và nhận thức của người dân địa phương trong việc ứng phó với những tác động của thủy tai Các hộ được lựa chọn điều tra là những hộ mang tính đại diện cho từng loại hình sản xuất, chịu ảnh hưởng của các loại hình tai biến và phải bao gồm các hộ khá giàu, nghèo và trung bình theo hướng dẫn của cán bộ địa phương
Yêu cầu của một bảng hỏi vừa phải có tính khái quát (tính đại diện cho điểm nghiên cứu) vừa phải có tính đặc thù (sự khác biệt về mức sống, vị trí địa lý,…) và đáp ứng được mục đích kiểm tra tính lôgic của hệ thống câu hỏi (tức tính loại trừ, tính kết hợp,… để kiểm tra chéo, phát hiện những sai sót, đánh giá được độ tin cậy,…)
Tổng số hộ gia đình được điều tra là 100 hộ Với cách tiếp cận như trên, kiến thức bản địa và sự biến đổi sinh kế dưới tác động của thủy tai đối với 02 lĩnh vực chính là nông nghiệp nói chung (nông nghiệp trong bài học viên sử dụng nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng, đánh bắt thủy sản) và du lịch sẽ được thu thập và điều tra khảo sát hộ gia đình thông qua bảng hỏi, bảng hỏi này cần phải được thiết kế sao cho bao quát được tất cả các nội dung cần thiết
d Phương pháp xây dựng chỉ sỗ dễ bị tổn thương
Hiện nay, có rất nhiều phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương được đưa ra Luận văn sử dụng phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương theo sát khuôn khổ được sử dụng trong Sáng kiến Ðô thị và Biến đổi khí hậu của Liên Hợp Quốc tại Châu
Á Thái Bình Dương, sử dụng khung dễ bị tổn thương của Uỷ ban Liên Chính phủ về Thay đổi Khí hậu Phương pháp đánh giá tính dễ bị tổn thương do tai biến thiên nhiên trên ba khía cạnh: độ nhạy cảm, độ phơi lộ và khả năng thích ứng Ví dụ, nếu tiếp xúc hoặc nhạy cảm với các tai biến thiên nhiên tăng lên mà không tăng tương ứng khả năng thích ứng, tổn thương sẽ tăng lên Độ phơi lộ được định nghĩa là mức độ tác động của các hiện tượng tai biến thiên nhiên và khả năng xảy ra những tác động này Độ nhạy được định nghĩa là mức độ mà một hệ thống sẽ thay đổi để đáp ứng với một sự thay đổi nhất định của các tai biến thiên nhiên Năng lực thích ứng được định nghĩa là
Trang 32- Chỉ số nhạy cảm (tính nhạy): tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp (chỉ
số này cho thấy mối tương quan với tính dễ bị tổn thương như sau: nếu như trình độ học vấn mà cao thì cho thấy được hiểu biết về tai biến cũng như là nguy cơ, tác động, rủi ro mà chúng mang lại, do đó sẽ có biện pháp thích ứng thích hợp hơn, và nó sẽ có quan hệ ngược chiều với tính dễ tổn thuơng), cấu trúc nhà, thời gian ở trong khu vực ảnh hưởng của tai biến, kinh nghiệm đối phó với các tai biến thiên nhiên, nhận thức về nguy cơ tai biến, sự chuẩn bị cho việc xuất hiện của các tai biến thiên nhiên
- Chỉ số lộ diện (tiếp xúc): khoảng cách từ nhà tới dòng sông, biển và khoảng cách đến khu trung tâm
Sau khi có phiếu trả lời của các hộ dân trong vùng nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích mô tả của tất cả các chỉ số dễ bị tổn thương thông qua các bảng câu hỏi khảo sát được Trong nghiên cứu này khả năng thích ứng sẽ được tính theo phương pháp định
tính còn chỉ số lộ diện và chỉ số nhạy cảm được tính theo phương pháp định lượng
Quy trình tính toán chỉ số dễ bị tổn thương:
Bước 1: Thu thập dữ liệu
Thu thập dữ liệu và phân tích những thông tin thu thập được thành nhóm chỉ tiêu và các chỉ tiêu thành phần
Khoảng cácn từ nhà đến sông Khoảng cách từ nhà đến biển Khoảng cách từ nhà đến khu trung tâm
Trang 3324
Bước 2: Hiệu chỉnh
Trong khuôn khổ luận văn, khả năng thích ứng sẽ được tính theo phương pháp định tính, chỉ số lộ diện và độ nhạy cảm sẽ được tính theo phương pháp định lượng Phương pháp xác định chỉ số lộ diện và độ nhạy cảm áp dụng theo công thức tính được
đề cập đến trong Phương pháp đánh giá chỉ số tổn thương sinh kế (LVI) do Hahn et al (2009) đề xuất Theo đó, mỗi chỉ số chính lại bao gồm các yếu tố phụ, những yếu tố phụ này bao gồm cả chỉ tiêu định tính và định lượng, có các đơn vị khác nhau nên để tính toán được chỉ số lộ diện và nhạy cảm thì các chỉ tiêu này cần được xử lý và tính toán theo lý thuyết chuẩn hóa dữ liệu min – max đối với các chỉ số có giá trị định lượng (phương trình 1 và 2)[17]. Các chỉ số có giá trị bán định lượng được quy đổi theo thang điểm từ 1 – 4
Đối với các chỉ tiêu có tương quan thuận với tính dễ bị tổn thương thì áp dụng phương trình (1)[5]:
Sau khi các số liệu đã được chuẩn hóa, đưa về số liệu cụ thể chúng ta đánh giá các chỉ số lộ diện và chỉ số nhạy cảm theo kết quả thu được
Trang 3425
Số liệu trong bài được quản lý và xử lý bằng phần mềm SPSS version 17 (2005) Trình ứng dụng thống kê mô tả được sử dụng xuyên suốt trong quá trình xử lý
số liệu
Năng lực thích ứng: Báo cáo sử dụng khung sinh kế để nói lên năng lực thích
ứng của các hộ gia đình trong khu vực nghiên cứu Khung sinh kế bền vững bao gồm 5
nguồn vốn sinh kế: con người, tự nhiên, tài chính, vật chất và xã hội
Bộ tiêu chí đại diện cho từng loại vốn được xác định như sau:
- Vốn tự nhiên: bao gồm các loại như đất đai, nguồn tài nguyên rừng, nước, hệ
sinh vật Khi gặp phải những rủi ro do tai biến thiên nhiên dẫn đến thiệt hại về sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, hộ gia đình có thể phải bán hoặc cho thuê một phần hay toàn bộ những loại tài sản này để lấy tiền Hoặc hộ gia đình có thể thay đổi hình thức sử dụng đất hoặc phương thức canh tác tại thời điểm hiện tại để giảm mức đầu tư cho sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Những thay đổi về cách các
hộ sử dụng vốn tự nhiên có thể dẫn tới những hậu quả khác nhau đối với hộ, ví dụ như bán đất canh tác đồng nghĩa với việc hộ không có đất canh tác trong tương lai, điều này đe dọa nghiêm trọng đến sinh kế của họ
- Vốn xã hội: khi gặp khó khăn do tác động của tai biến thiên nhiên, hộ gia đình có
thể phải nhờ đến sự giúp đỡ từ gia đình, dòng họ, bạn bè hoặc hội nhóm Các hình thức giúp đỡ rất đa dạng, có thể là tiền mặt hoặc hiện vật như: quần áo, thực phẩm, thuốc men, Những sự hỗ trợ này có thể giúp hộ gia đình khắc phục được phần nào những khó khăn, nâng cao năng lực phục hồi của hộ, thay vì hộ đó phải bán đất hoặc của cải để chuyển đi nơi khác kiếm kế sinh nhai
- Vốn con người: trong tình trạng gặp khó khăn, thành viên của hộ có thể sử dụng
tri thức của mình (thông qua giáo dục, đào tạo, học nghề) để kiếm kế sinh nhai khác
Hộ có thể phải bán sức lao động của mình đi làm thuê cho người trong thôn xóm hoặc tại các nơi khác
- Vốn tài chính: khi gặp khó khăn, hộ gia đình có thể phải sử dụng vốn sẵn có hoặc
đi vay vốn để đầu tư sản xuất, kinh doanh, tìm nguồn thu nhập thay thế Hộ có thể phải cắt giảm chi tiêu làm ảnh hưởng tới một số khía cạnh trong cuộc sống Chẳng hạn như
do khó khăn về nguồn thu nhập, hộ có thể phải cắt giảm đầu tư cho học hành của con cái, hoặc thậm chí bắt con phải bỏ học, hoặc hộ cũng có thể không có tiền để chữa trị bệnh tật cho các thành viên khi bị ốm
- Vốn vật chất: đề cập đến các vật dụng trong gia đình, trang bị công cụ sản xuất
như máy sấy nông sản, máy bơm nước, cơ sở hạ tầng, chuồng trại vật nuôi có bị hư hại bởi tai biến thiên nhiên hay không Hộ có thể phải bán hoặc cho thuê nhà, phương tiện sản xuất, các vật dụng trong gia đình để kiếm thu nhập Hậu quả của những việc làm như vậy rất lớn đó là hộ có thể không có nơi ở tốt như nơi cũ trong tương lai Việc bán phương tiện sản xuất sẽ dẫn tới tình trạng năng lực sản xuất của hộ bị giảm đáng kể
Trang 3526
CHƯƠNG 2: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 2.1 Vị trí địa lý
Hội An là một thành phố trực thuộc tỉnh, được thành lập năm 2008, cho đến hiện nay thì Hội An đã được công nhận là đô thị loại III, trực thuộc tỉnh Quảng Nam Thành phố Hội An nằm bên bờ Bắc hạ lưu sông Thu Bồn, được giới hạn bởi tọa độ từ
15015’26” đến 15055’15” vĩ độ Bắc và từ 108017’08” đến 108023’10” kinh độ Đông; cách quốc lộ 1A khoảng 9 km về phía Đông, cách thành phố Đà Nẵng khoảng 25 km
về phía Đông Nam, cách thành phố Tam Kỳ khoảng 50 km về phía Đông Bắc Phía Đông: giáp Biển Đông Phía Tây và phía Bắc giáp: huyện Điện Bàn Phía Nam giáp: huyện Duy Xuyên Hội An hiện tại phân chia thành 9 phường: Cẩm An, Cẩm Châu, Cẩm Nam, Cẩm Phô, Cửa Đại, Minh An, Sơn Phong, Tân An, Thanh Hà và 4 xã: Cẩm Hà, Cẩm Kim, Cẩm Thanh, Tân Hiệp (xã đảo nằm trên Cù lao Chàm)
Vào các thế kỷ trước, nhờ những yếu tố địa lý và khí hậu thuận lợi, Hội An ở giữa vùng đồng bằng giàu có của xứ Quảng và giữ một vị trí đầu mối giao thông thuận lợi với các thị trường trong nước và với hệ thống hàng hải quốc tế Từ những bộ sưu tập hiện vật quý được thu thập từ các di tích khảo cổ với đa dạng chủng loại và chất liệu đến từ nhiều nước khác nhau như Trung Quốc, Nam Ấn Độ, Sri Lanka, Trung Đông đã thể hiện rõ mối quan hệ giao lưu văn hóa của Hội An với các nước cùng các hoạt động buôn bán với nước ngoài, lập nên một cảng - thị sơ khai, là nền móng cho các cảng - thị sau này tại Hội An Tiếp sau dân cư Sa Huỳnh cổ là dân cư Champa với nền văn hoá rực rỡ, mở đầu cho thời kỳ vàng son của một cảng – thị hưng thịnh Khoảng cuối thế kỷ 15, tiếp nối thời kì Champa, Hội An đã có dân cư Đại Việt tới sinh sống Tại đây, ngoài khai hoang lập địa người Việt cổ còn sáng tạo ra những ngành nghề phù hợp với điều kiện tự nhiên nơi đây Từ cuối thế kỷ 16 - thế kỷ 17, thương nghiệp Hội An ngày càng phát triển do có nhiều người Hoa và người Nhật đến đây sinh sống Thời kì Pháp thuộc, Đà Nẵng là nhượng địa, còn Quảng Nam được hưởng quy chế bảo hộ Bên cạnh chính quyền Nam triều còn có chính quyền bảo hộ của thực dân Pháp, mà đứng đầu là công sứ Pháp kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng tỉnh Quảng Nam, đóng tòa sứ tại Hội An cùng các cơ quan đầu não của bộ máy chính quyền bảo
hộ Sang thế kỷ 19, do nhiều nguyên nhân bên trong và bên ngoài, do cả những biến đổi của địa hình sông nước nên vị thế và tính chất phát triển của đô thị đã có nhiểu biến đổi Đến giữa thế kỷ 19, nền kinh tế Hội An nhanh chóng suy thoái do nhiều nguyên nhân bất lợi: sự bồi cạn, sông chuyển dòng, chính sách kinh tế hạn chế của triều đình phong kiến Ngay gần đó, thương cảng Đà Nẵng hiện đại do người Pháp lập
Trang 36Những thuận lợi của vị trí địa lí thành phố Hội An
- Trọng tâm của cụm động lực phía Bắc của Vùng Đông tỉnh Quảng Nam; có mối quan hệ mật thiết với thành phố Đà Nẵng, trung tâm phát triển của Vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung
- Là điểm đầu tuyến của hành lang Bắc trong chiến lược kết nối phát triển Vùng Đông - Vùng Tây tỉnh Quảng Nam
- Các mối liên hệ ngoại vùng quan trọng như sau:
Theo trục dọc, tuyến ven biển Việt Nam kết nối theo hướng Bắc Nam được xem là tuyến lực đầy tiềm năng bên cạnh tuyến quốc lộ 1A Đây là tuyến giao thông quan trọng để phát triển các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch và công nghiệp nằm trong chiến lược hướng biển của quốc gia
Theo trục ngang, Hội An và thành phố Đà Nẵng được xem là hai điểm đầu đồng thời kết nối theo hướng Đông Tây theo trục quốc lộ 14B qua cửa khẩu Nam Giang của Hành lang kinh tế EWEC2 và Vùng kinh tế Tây Nguyên đầy tiềm năng theo trục quốc lộ
Hồ Chí Minh
Hành trình kết nối di sản: Hội An là một trong ba điểm kết nối di sản khu vực miền Trung, bao gồm Huế, Mỹ Sơn và Hội An Trong chiến lược liên kết sẽ bao gồm một số các thành tố bổ trợ, bao gồm: đô thị dịch vụ Đà Nẵng, vùng văn hóa đặc sắc Tây Nguyên và vệt
đô thị biển từ Đà Nẵng đến Dung Quất Quảng Ngãi
Thành phố Hội An có vị trí địa lí không chỉ thuận lợi cho giao thương buôn bán, phát triển du lịch mà còn có ý nghĩa quan trọng trong giảm thiểu các tai biến thiên nhiên Tuy là thành phố biển xong nhờ có Cù Lao Chàm che chắn mà cường độ các cơn bão đổ bộ tại đây đã giảm đi đáng kể Nhờ đó mà người dân nơi đây không phải chịu những thiệt hại quá lớn do bão gây ra
Trang 3728
Hình 2.1: Bản đồ hành chính thành phố Hội An
2.2 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
2.2.1 Đặc điểm địa hình – địa mạo
Thành phố Hội An nằm trên vùng đồng bằng có độ dốc nhỏ, sát khu vực bờ biển,
hình thành trên giải cồn cát của cửa sông, địa hình toàn vùng có dạng đồi cát thoải, độ dốc
trung bình 0,015 Nhìn chung, địa hình thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Toàn bộ
thành phố có 02 dạng địa hình: địa hình đồng bằng và hải đảo
2.2.1.1 Địa hình đồng bằng
Nền địa hình với hệ thống sông, mương, lạch chằng chịt bị chia cắt thành nhiều
mảnh nhỏ hẹp, rất đa dạng và phức tạp, các dạng địa hình này có thể được chia ra
thành 3 vùng:
a Vùng cồn cát phía Tây Bắc
Trải dài từ dốc Lai Nghi địa bàn phường Thanh Hà (cao độ trung bình 4,5m)
sang xã Cẩm Hà (cao độ trung bình +5,3m) qua phường Cẩm An (cao độ trung bình
Trang 38c Vùng đất ngập nước:
Khu vực hạ lưu sông Thu Bồn Khu rừng dừa nước Cẩm Thanh, cồn nổi trên các sông thuộc Phường Cẩm Nam, xã Cẩm Thanh, xã Cẩm Kim
2.2.1.1 Địa hình hải đảo
Bao gồm toàn bộ cụm đảo Cù Lao Chàm, chủ yếu là đồi núi thấp, hầu hết các đảo nhỏ có địa hình thấp cụt, độ cao lớn nhất so với mặt biển dao động từ 70-517m Đảo lớn nhất là Hòn Lao có một dãy núi xếp theo hình cánh cung từ Tây Bắc xuống Đông Nam, chia Hòn Lao thành hai sườn có địa thế khác nhau: sườn Đông có độ dốc lớn, đá tảng bao quanh chân núi hiểm trở; sườn Tây dốc thoải, ít đá tảng, nhiều bãi bồi ven biển Cù Lao Chàm có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với vùng hạ lưu sông Thu Bồn – rừng ngập nước Cẩm Thanh trong hệ sinh quyển
2.2.2 Đặc điểm khí hậu
Hội An nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vùng Nam Hải Vân, mang tính chất khí hậu ven biển Miền Trung, nóng ẩm, mưa nhiều và mưa theo mùa,
có nền nhiệt độ cao, nắng nhiều, ít chịu ảnh hưởng của gió mùa đông
Theo số liệu của Đài khí tượng thuỷ văn Quảng Nam, đặc điểm các yếu tố thời tiết thành phố Hội An như sau:
Nhiệt độ: Hội An không có mùa đông lạnh Mùa khô từ khoảng tháng 2 đến
tháng 8, mùa mưa kéo dài từ tháng 9 đến tháng Giêng năm sau Nhiệt độ không khí ở Hội An lệ thuộc nhiều vào khí hậu nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình năm là 25,60C; nhiệt độ cao nhất: 39,80C; nhiệt độ thấp nhất: 22,80C
Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình năm: 83%, mùa khô 75%, mùa mưa 85%
Khí hậu Hội An có đặc điểm nóng ẩm, có hai mùa rõ rệt: mùa mưa bão và mùa nắng nóng kết hợp thêm tính chất khí hậu duyên hải Miền Trung
Trang 3930
Lượng mưa, bão: Tổng lượng mưa bình quân 2.504,57 mm/năm, lượng mưa
cao nhất vào tháng 10, 11 (550 – 1.000 mm/tháng), thấp nhất vào các tháng 1, 2, 3, 4 (23 – 40 mm/tháng) Bão ở Hội An thường xuất hiện vào các tháng 9, 10, 11 hằng năm; các cơn bão thường kéo theo những trận mưa lớn gây lũ lụt toàn khu vực
Bốc hơi: Lượng bốc hơi trung bình trong một năm là 2.507 mm/năm Tháng lớn
nhất là: 241 mm, tháng ít nhất: 119 mm
Số giờ nắng: Bình quân số giờ nắng trong năm là 2.156,2 giờ Vào tháng 5 – 6
số giờ chiếu nắng là nhiều nhất và số giờ chiếu nắng ít nhất vào tháng 11,1 Trung bình
số giờ nắng trong năm từ 69 – 165 giờ/tháng
Mây: Trung bình vân lượng toàn thể: 5,3; vân lượng hạ tầng: 3,3
Gió: Hướng gió thịnh hành mùa hè: Đông, mùa Đông: Bắc và Tây Bắc Tốc độ
gió trung bình: 3,3m/s.Tốc độ gió mạnh nhất: 40m/s Chế độ gió có 2 mùa rõ rệt Gió mùa hè từ tháng 4 đến tháng 9, gió mùa đông từ tháng 9 đến tháng 4 năm sau
2.2.3 Đặc điểm thủy văn
Hội An là vùng cửa sông - ven biển, chịu ảnh hưởng của chế độ thủy văn sông Thu Bồn, gồm các sông lớn: hạ lưu sông Thu Bồn, đoạn qua Hội An gọi là sông Cái hoặc sông Hội An; sông Trường Giang theo trục Nam - Bắc; sông Cổ Cò (Lộ Cảnh Giang) theo trục ngang Bắc - Nam, đoạn sông Cổ Cò chảy qua Hội An gọi là sông Đế Võng Các nguồn sông Thu Bồn, Vu Gia, Đế Võng hợp lưu với nhau tại Cửa Đại (Đại Chiêm Hải Khẩu) trước khi đổ ra biển Đông
* Sông Hội An: Đoạn sông chảy qua thành phố Hội An có chiều dài 8,5km,
rộng 120 240 m Diện tích lưu vực sông là 3.510 km2, lưu lượng nước bình quân đạt
232 m3/giây Lưu lượng lũ bình quân: 5.430 m3/giây, lưu lượng kiệt: 40 60 m3/giây Vào mùa lũ, mực nước bình quân là +2,48 m, thời điểm lưu lượng kiệt mực nước bình quân là: +0,19 m
* Sông Đế Võng : Đoạn chảy qua thành phố Hội An có chiều dài 8,5 km, chiều
rộng 80 - 100 m Chế độ mực nước sông Đế Võng phụ thuộc vào chế độ thuỷ triều từ Cửa Đại và cửa sông Hàn Tại khu vực Cửa Đại, biên độ nhật triều không đều, từ 1,0m
1,5m, biên độ triều chênh lệch không đáng kể Khi triều lên từ Cửa Đại, mực nước trong sông dâng lên, khi triều xuống, dòng nước trong sông lại đổ ra biển Nhìn chung dòng chảy tương đối điều hoà nhưng do lưu tốc nhỏ nên thường gây bồi cạn trong sông Về mùa khô một số đoạn sông bị cạn, nước bị nhiễm mặn
Thuỷ triều: Biển Hội An chịu ảnh hưởng chế độ thuỷ triều của biển miền Trung
Trung Bộ, mỗi ngày thuỷ triều lên xuống 2 lần (bán nhật triều) Biên độ dao động của
Trang 4031
thủy triều trung bình là 0,6m Trong các cơn bão, những đợt sóng có biên độ rất lớn, cao độ cao nhất của sóng lên đến 3,4m ở khoảng cách 50m so với bờ biển, gây thiệt hại lớn cho vùng ven biển Về mùa khô, do nước sông xuống thấp, nước biển thâm nhập sâu vào lục địa gây nên hiện tượng nhiễm mặn Độ nhiễm mặn trung bình ở Hội
An là 12%, ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình canh tác, sản xuát và sinh hoạt của người dân
2.2.4 Các nguồn tài nguyên tự nhiên
Nhóm đất cát trắng vàng: Phân bố chủ yếu ở các khu vực ven biển Đất có thành phần cơ giới hạt thô, cấu tượng rời rạc, khả năng giữ nước kém Nhìn chung đất cồn cát có phẩu diện chưa phân hóa rõ, phần lớn đất này hiện nay được trồng các loại cây lâu năm và cải tạo sản xuất nông nghiệp
Nhóm đất cát ven biển: Loại đất này khả năng giữ nước kém, thành phần cơ giới hạt khô, tơi, rời rạc, độ phì thấp nên sản xuất nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế không cao Hiện nay loại đất này đang được khai thác để xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển du lịch
Nhóm đất mặn
Nhóm đất này được hình thành do quá trình bồi lắng sản phẩm bị rửa trôi từ thượng nguồn kết hợp với xác sinh vật ven biển, có diện tích 1.793,36 ha, chiếm 29,06% tổng diện tích tự nhiên Phân bố chủ yếu ở xã Cẩm Thanh, Cẩm Hà, Cẩm Kim và phường Cẩm Châu
Nhóm đất phù sa
Nhóm đất này được hình thành do bồi đắp phù sa của hệ thống sông Thu Bồn, có diện tích 854,72 ha, chiếm 13,85% tổng diện tích tự nhiên, bao gồm 3 loại: đất phù sa được bồi hằng năm, đất phù sa không được bồi hằng năm và đất phù sa glây Phân bố chủ yếu ở
xã Tân Hiệp, Cẩm Hà, Cẩm Thanh, Cẩm Kim, phường Cẩm Phô, Sơn Phong, Cẩm Châu và Minh An