Để đề xuất được các giải pháp nhằm đảm bảo tính bền vững của nghề sản xuất miến dong, đồng thời, để có cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định, chính sách đ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN ĐÌNH LAN
ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NGHỀ SẢN XUẤT MIẾN DONG
Ở THÔN MINH HỒNG, XÃ MINH QUANG, HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
HÀ NỘI, 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
NGUYỄN ĐÌNH LAN
ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NGHỀ SẢN XUẤT MIẾN DONG
Ở THÔN MINH HỒNG, XÃ MINH QUANG, HUYỆN BA VÌ,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC BỀN VỮNG
Chuyên ngành: KHOA HỌC BỀN VỮNG
Mã số: Chương trình đào tạo thí điểm
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Hoàng Hà
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Hoàng Hà, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác dưới tên người khác Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng qui cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Nguyễn Đình Lan
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ “Đánh giá tính bền vững của nghề sản xuất miến dong ở thôn Minh Hồng, xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” đã được hoàn thành tại khoa Các khoa học liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội tháng 9 năm
2017 Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, học viên đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các thầy cô, bạn bè và gia đình
Đầu tiên tác học viên xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến TS Nguyễn Thị Hoàng Hà đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ học viên trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Bên cạnh đó học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Khoa Các khoa học liên ngành – Đại học Quốc gia Hà Nội và toàn thể các thầy cô giáo đã giảng dạy, tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho học viên trong thời gian học tập cũng như khi thực hiện luận văn
Học viên cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến UBND xã Minh Quang, đã tạo điều kiện và hỗ trợ cho học viên trong việc thu thập số liệu để có thể hoàn thành được luận văn
Trong khuôn khổ của luận văn, điều kiện về thời gian hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, học viên rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô, bạn bè và các đồng nghiệp
Trân trọng cảm ơn!
Học viên
Nguyễn Đình Lan
Trang 5DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
ATLĐ An toàn lao động
BVMT Bảo vệ môi trường
CNH-HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
KT- XH Kinh tế xã hội
PTBV Phát triển bền vững
QHBVMT Quy hoạch bảo vệ môi trường
SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Câu hỏi nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
6 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 4
1.1 Một số khái niệm 4
1.2 Tổng quan tài liệu 5
1.2.1 Trên thế giới 5
1.2.2 Tại Việt Nam 7
1.3 Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề, làng nghề 10
1.4 Giới thiệu khu vực nghiên cứu 15
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 15
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 17
1.4.3 Hoạt động sản xuất miến dong 19
CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22
2.1 Cách tiếp cận 22
2.1.1 Tiếp cận hệ thống 22
2.1.2 Tiếp cận phát triển bền vững 23
2.1.3 Tiếp cận khoa học bền vững 24
2.1.4 Tiếp cận liên ngành 24
2.2 Phương pháp nghiên cứu 24
2.2.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu 24
Trang 72.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học 25
2.2.3 Phương pháp đánh giá tính bền vững nghề miến dong thôn Minh Hồng 26
2.2.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 31
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 32
3.1 Hiện trạng tính bền vững của nghề miến dong Minh Hồng 32
3.1.1 Quá trình sản xuất miến dong 32
3.1.2 Quản lý, tiêu thụ sản phẩm miến dong 37
3.1.3 Khía cạnh kinh tế trong sản xuất miến dong 43
3.1.4 Khía cạnh xã hội trong sản xuất miến dong 44
3.1.5 Khía cạnh môi trường trong sản xuất miến dong 49
3.1.6 Đánh giá định lượng tính bền vững của làng nghề miến dong Minh Hồng 57
3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nghề miến dong Minh Hồng 62
3.3 Một số giải pháp đảm bảo tính bền vững của nghề miến dong Minh Hồng 64
3.3.1 Giải pháp cơ chế, chính sách 65
3.3.2 Giải pháp khoa học - kỹ thuật 66
3.3.3 Giải pháp quy hoạch 67
3.3.4 Giải pháp khác 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 1 75
PHỤ LỤC 2 80
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Chỉ số bền vững áp dụng cho nghề thuộc làng nghề 11
Bảng 1.2 Tiêu chí tính bền vững áp dụng cho nghề ở Mexico 12
Bảng 1.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề sản xuất tơ lụa 14
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng đất của thôn Minh Hồng 17
Bảng 1.5 Diện tích cây trồng của thôn Minh Hồng 18
Bảng 1.6 Số hộ tham gia sản xuất, chế biến miến dong thôn Minh Hồng 19
Bảng 2.1 Tổng hợp số lƣợng mẫu điều tra 26
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề miến dong Minh Hồng 26
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề miến dong Minh Hồng 30 Bảng 3.1 Đánh giá tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng 58
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình nghề truyền thống hướng tới tính bền vững 10
Hình 1.2 Mô hình tương tác giữa tính đổi mới nghề và tính bền vững của nghề ở Mexico 12
Hình 1.3 Mô hình tính bền vững của làng nghề 14
Hình 1.4 Sơ đồ khu vực nghiên cứu 16
Hình 2.1 Cách tiếp cận hệ thống và tiếp cận khoa học bền vững 22
Hình 2.2 Khung logic nghiên cứu luận văn 23
Hình 2.3 Phỏng vấn hộ gia đình tại thôn Minh Hồng 25
Hình 3.1 Quy mô sản xuất miến dong 32
Hình 3.2 Công nghệ sản xuất miến dong 32
Hình 3.3 Đồi dong giềng tại Minh Hồng 33
Hình 3.4 Máy guồng liên hoàn 34
Hình 3.5 Máy xay và lọc bột 34
Hình 3.6 Bể lọc trước khi đưa vào làm miến 35
Hình 3.7 Máy đóng gói miến thành phẩm 35
Hình 3.8 Máy móc sử dụng trong sản xuất 36
Hình 3.9 Một số hình ảnh máy móc sử dụng trong sản xuất 36
Hình 3.10 Thời gian tham gia sản xuất 37
Hình 3.11 Kế hoạch mở rộng sản xuất 37
Hình 3.12 Hợp đồng cung cấp nguyên liệu 38
Hình 3.13 Hỗ trợ của chính quyền trong khâu tiêu thụ sản phẩm 38
Hình 3.14 Vay vốn hỗ trợ từ ngân hàng trong 5 năm gần đây 39
Hình 3.15 Thị trường tiêu thụ 39
Hình 3.16 Hợp đồng với nơi tiêu thụ 40
Hình 3.17 Sản lượng dong (tấn/năm) 40
Hình 3.18 Sản lượng bột (tấn/ năm) 41
Hình 3.19 Sản lượng miến (tấn/năm) 41
Hình 3.20 Thay đổi sản lượng miến dong 41
Hình 3.21 Thời gian cung cấp đủ nguyên liệu sản xuất 42
Hình 3.22 Nguồn thu từ miến dong 43
Trang 10Hình 3.23 Thay đổi thu nhập từ khi làm nghề miến dong 44
Hình 3.24 Hoạt động đóng phí bảo vệ môi trường của các hộ sản xuất 44
Hình 3.25 Điều kiện vệ sinh môi trường tại hộ phỏng vấn 45
Hình 3.26 Tần suất tham gia các lớp tập huấn bảo vệ môi trường 45
Hình 3.27 Ảnh hưởng tới môi trường của hoạt động sản xuất miến dong 46
Hình 3.28 Ảnh hưởng từ sản xuất miến dong tới mối quan hệ giữa các hộ sản xuất 46
Hình 3.29 Ảnh hưởng của việc sản xuất miến dong tới mỗi quan hệ giữa các hộ có và không sản xuất 47
Hình 3.30 Nghề sản xuất miến dong và mối quan hệ giữa cộng đồng và chính quyền 48
Hình 3.31 Ảnh hưởng của việc sản xuất miến dong tới truyền thống làng nghề 48
Hình 3.32 Lượng nước dùng cho sản xuất 50
Hình 3.33 Bể lọc bột tại một hộ sản xuất miến 50
Hình 3.34 Năng lượng tiêu thụ cho sản xuất 51
Hình 3.35 Thay đổi chất lượng môi trường đất 52
Hình 3.36 Thay đổi chất lượng môi trường nước mặt 52
Hình 3.37 Thay đổi chất lượng nước sinh hoạt 53
Hình 3.38 Thay đổi chất lượng nước sản xuất 53
Hình 3.39 Sử dụng bảo hộ lao động 55
Hình 3.40 Mức độ tham gia các khóa/lớp đào tạo về an toàn lao động của các hộ sản xuất miến dong 55
Hình 3.41 Mức độ tham gia các khóa lớp đào tạo về vệ sinh công nghiệp 56
Hình 3.42 Tham gia các lớp đào tạo về xử lý chất thải 56
Hình 3.43 Hỗ trợ đào tạo nghề từ chính quyền 57
Hình 3.44 Tính bền vững của nghề sản xuất miến dong Minh Hồng 60
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở các nước Châu Á, làng nghề tồn tại như là nét văn hóa và bản sắc riêng của từng quốc gia Ở Việt Nam làng nghề là nơi lưu giữ kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể vô cùng phong phú sinh động bản sắc văn hóa đồng thời có tác động mạnh mẽ làm thay đổi đời sống và bộ mặt nhiều vùng nông thôn, mang lại lợi nhuận kinh tế và là nguồn thu chủ yếu của nhiều hộ gia đình, góp phần thúc đẩy bộ mặt kinh tế, xã hội nông thôn Theo báo cáo thống kê các làng nghề, làng có nghề của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2011), tính đến năm
2011 cả nước có 4.575 làng nghề, trong đó 3.251 làng có nghề và 1.324 làng nghề được công nhận theo tiêu chí của Thông tư số 116/2006/TT-BNN ngày 18/12/2006 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thu hút khoảng hơn 11 triệu lao động, ngoài ra còn tạo việc làm cho hàng triệu việc làm cho lao động lúc nông nhàn Nhiều làng nghề đóng vai trò quan trọng đối với việc xóa đói, giảm nghèo, trực tiếp giải quyết việc làm cho người lao động trong lúc nông nhàn, góp phần tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống Tuy nhiên, sự phát triển các làng nghề hiện nay đang bộc lộ một số vấn đề không bền vững như: một bộ phận làng nghề lâm vào tình cảnh hết sức khó khăn, sản phẩm thiếu khả năng cạnh tranh, quy mô sản xuất nhỏ, mẫu mã đơn điệu, thiếu vốn, thiếu nguyên liệu, thị trường xuất khẩu bị thu hẹp, đặc biệt là nhãn hiệu hàng hóa chưa được quan tâm Các làng nghề phát triển tự phát, nhỏ lẻ, phân tán; thiết bị sản xuất thủ công, đơn giản; công nghệ lạc hậu, hiệu quả sử dụng nguyên nhiên liệu thấp; mặt bằng sản xuất hạn chế; thêm vào đó, ý thức người dân làng nghề trong bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sức khỏe hạn chế,… đã tạo sức ép không nhỏ đến chất lượng môi trường sống của người dân làng nghề Nhiều làng nghề thiếu vai trò chủ thể quản lý chung đối với các vấn đề liên quan đến phát triển cả về kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, tình trạng này càng làm bộc lộ nhiều mâu thuẫn, bất cập về phát triển bền vững làng nghề Thách thức lớn đang hiện diện là việc duy trì bản sắc làng nghề không được quan tâm, xu hướng phát triển thuần về kinh tế, coi nhẹ quan hệ xã hội và bảo vệ môi trường đang đưa các làng nghề tới chỗ tổn thương, không đảm bảo cho phát triển lâu dài và ổn định của mỗi làng nghề Do đó, nghiên cứu, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của làng nghề đóng vai trò quan trọng đối với phát triển của hệ
Trang 12thống kinh tế - xã hội - môi trường trong tương lai
Làng nghề miến dong thôn Minh Hồng đã bắt đầu sản xuất miến từ bột làm từ
củ dong giềng từ năm 1969 với 2-3 hộ sản xuất, đến nay thì có 289 hộ sản xuất Thời gian đầu toàn bộ quy trình sản xuất từ khâu làm bột, tráng miến, cắt miến đều làm thủ công, chưa có máy móc và các phương tiện hỗ trợ, sản phẩm miến làm ra chỉ đủ cung cấp cho nhân dân trong vùng Hiện nay, do nhu cầu sản phẩm miến dong Minh Hồng càng ngày lớn, thị trường tiêu thụ sản phẩm được mở rộng, cung cấp cho địa bàn thành phố Hà Nội và một số tỉnh lân cận, người dân thôn Minh Hồng đã đầu tư một số máy móc và trang thiết bị kỹ thuật hỗ trợ các khâu trong quy trình sản xuất miến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu thị trường, nâng cao thu nhập cho hộ gia đình Tuy nhiên, việc tập trung cho phát triển sản xuất mà chưa chú ý đến công tác bảo vệ môi trường cũng như đảm bảo tính chống chịu của hệ thống tự nhiên đã gây ra những thách thức với phát triển bền vững nghề miến dong thôn Minh Hồng Để đề xuất được các giải pháp nhằm đảm bảo tính bền vững của nghề sản xuất miến dong, đồng thời, để có cơ sở khoa học và thực tiễn cho các nhà quản lý đưa ra các quyết định, chính sách đảm bảo tính bền vững của nghề sản xuất miến dong tại
thôn Minh Hồng, học viên đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tính bền vững của nghề sản xuất miến dong ở thôn Minh Hồng, xã Minh Quang, huyện Ba vì, thành phố Hà Nội”
2 Câu hỏi nghiên cứu
- Tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng có được đảm bảo hay không?
- Các yếu tố nào ảnh hưởng đến tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng?
- Các giải pháp gì cần được thực hiện để duy trì và đảm bảo tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng?
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá hiện trạng tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng, xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng;
- Đề xuất một số giải pháp duy trì và đảm bảo tính bền vững của nghề sản xuất
Trang 13miến dong thôn Minh Hồng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên nhiệm vụ cần thực hiện là:
- Tổng quan các nghiên cứu, đánh giá tính bền vững của nghề và làng nghề, bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề và làng nghề, các đặc điểm về kinh tế xã hội thôn Minh Hồng và xã Minh Quang, huyện Ba Vì;
- Lựa chọn, đề xuất bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng;
- Điều tra khảo sát trên cơ sở các phiếu điều tra đã được xây dựng;
- Đánh giá định lượng tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng;
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng;
- Đưa ra các biện pháp để đảm bảo tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nghề sản xuất miến dong và các hộ sản xuất, cá nhân tham
gia sản xuất miến dong tại làng nghề miến dong thôn Minh Hồng, xã Minh Quang, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội
6 Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn chia làm 03 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tài liệu và khu vực nghiên cứu
Chương 2: Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm
Các khái niệm và tiêu chí công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống được sử dụng theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn (2006)
Khái niệm:
Nghề truyền thống là nghề đã được hình thành từ lâu đời, tạo ra những sản
phẩm độc đáo, có tính riêng biệt, được lưu truyền và phát triển đến ngày nay hoặc có nguy cơ bị mai một, thất truyền”
Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum,
sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, phường, thị trấn có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất tiểu thủ công nghiệp sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau”
Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ
lâu đời”
Tiêu chí để công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống như sau:
- Nghề truyền thống: nghề được công nhận là nghề truyền thống phải đạt 3 tiêu
chí: (1) Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận, (2) Nghề tạo ra những sản phảm mang bản sắc văn hóa dân tộc, và (3) Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề
- Làng nghề: Làng nghề được công nhận phải đạt 03 tiêu chí: (1) Có tối thiểu
30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn, (2) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận và (3) Chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước
- Làng nghề truyền thống: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề
và có ít nhất một nghề truyền thống
Phát triển bền vững:
Định nghĩa “Phát triển bền vững” (PTBV) được đưa ra trong Báo cáo “Tương lai của chính ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED, 1987) như sau: “Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những nhu cầu hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai” Trong
Trang 15Luật Bảo vệ Môi trường năm 2014 của Việt Nam, “PTBV là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT”
Tính bền vững
Khái niệm “Tính bền vững” (Sustainability) được đưa ra trong báo cáo “Tương
lai của chúng ta” (WCED, 1987), trong đó nhấn mạnh việc phát triển nền kinh tế toàn cầu nhưng vẫn đảm bảo duy trì những hệ sinh thái cốt lõi, hỗ trợ sự cân bằng sinh thái dài hạn Tính bền vững thường được vận dụng nhằm đánh giá khả năng duy trì, phát triển của một hệ thống nhất định hoặc tích hợp các hệ thống Tính bền vững chính là khả năng duy trì sự nâng cao chất lượng cuộc sống con người hiện tại trong khuôn khổ đảm bảo duy trì chức năng của hệ thống sinh thái, nhấn mạnh sự sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong điều kiện môi trường hiện có để thỏa mãn nhu cầu của các thế hệ hiện tại, nhưng phải đảm bảo cho các thế hệ tương lai những điều kiện tài nguyên và môi trường cần thiết để họ có thể phát triển kinh tế - xã hội
Như vậy, có thể thấy rằng khái niệm về tính bền vững có mối liên quan với PTBV, nhưng PTBV có sự nhấn mạnh hơn đến phát triển hài hòa mối liên kết giữa 3 trụ cột kinh tế - xã hội - môi trường; còn tính bền vững tiếp cận theo hướng duy trì lâu dài các chức năng và giá trị của tài nguyên và môi trường cho con người (Kajikawa, 2008)
1.2 Tổng quan tài liệu
1.2.1 Trên thế giới
Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến làng nghề trên thế giới, ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX cũng có một số như: “Nhà máy làng xã” của Bành Tử (1922); “Mô hình sản xuất làng xã” và “Xã hội hóa làng thủ công” của Noace (1928)…(Ngô Trà Mai, 2008)
Đối với các quốc gia đang phát triển và có truyền thống văn hóa như các quốc gia châu Á, sự phát triển kinh tế làng nghề truyền thống là giải pháp tích cực cho các vấn đề kinh tế xã hội nông thôn Thực tế nhiều quốc gia trong khu vực có những kinh nghiệm hiệu quả trong phát triển làng nghề, điển hình là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Thái Lan Trung Quốc sau thời kỳ cải cách mở cửa năm 1978, việc thành lập và duy trì Xí nghiệp Hương Trấn, tăng trưởng với tốc độ 20 - 30 % đã giải
Trang 16quyết được 12 triệu lao động dư thừa ở nông thôn (Trần Minh Yến, 2003) Tại Nhật Bản, với sự thành lập “Hiệp hội khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống” là hạt nhân cho sự nghiệp khôi phục và phát triển ngành nghề có tính truyền thống dựa theo
“Luật nghề truyền thống” (Trần Minh Yến, 2003)
Lin và Jia (2016) đã nghiên cứu, phân tích sự chuyển đổi của làng Xiaqiao nhằm đánh giá tính bền vững cũng như khả năng thích ứng với những thay đổi trong khoảng thời gian 300 năm Nghiên cứu đã chỉ ra một làng nghề có thể bền vững hàng trăm năm nếu cộng đồng địa phương tái phân bố lại cho phù hợp với thay đổi trong phát triển cấu trúc hạ tầng (Lin và Jia, 2016)
Gao và Wu (2017) đã nghiên cứu cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình tích hợp
du lịch nông thôn với sinh kế bền vững tại các làng nghề truyền thống tại Trung Quốc Nghiên cứu trường hợp tại làng nghề Yuanjia cho thấy đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa 3 khía cạnh của mô hình (vật chất, xã hội, tinh thần) là những cách thức hiệu quả
để phục hồi thành công làng nghề này (Gao và Wu, 2017) Vấn đề phát triển du lịch trong các làng nghề truyền thống cũng được nghiên cứu bởi Dewi (2014) Nghiên cứu này cho thấy phát triển du lịch tại các làng nghề truyền thống có thể mang lại nguồn lợi kinh tế cho cộng đồng địa phương, tuy nhiên sự phát triển không được quản lý tốt
có thể gây suy thoái môi trường và ảnh hưởng đến truyền thống văn hóa làng nghề cũng như làm nảy sinh mâu thuẫn, xung đột giữa chính quyền và người dân địa phương Các phương pháp phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi tại làng nghề Pancasari dựa vào các tiêu chí du lịch bền vững làng nghề truyền thống (kinh tế, xã hội, du lịch, môi trường) được thực hiện nhằm xác định các yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của làng nghề cũng như du lịch bền vững làng nghề (Dewi, 2014)
Hailemichael và nnk (2017) đã đánh giá hiện trạng và các yếu tố chi phối (kỹ thuật, hộ gia đình, cơ sở hạ tầng, thể chế, chính sách) nghề truyền thống sản xuất gia cầm tại Ethiopia Nghiên cứu này cũng đề xuất giải pháp cải thiện hiệu suất sản xuất thông qua áp dụng đồng thời việc ứng dụng công nghệ với hỗ trợ về cơ sở hạ tầng và thể chế phù hợp với mục tiêu của các nhóm hộ gia đình
Nhiều nghiên cứu về đánh giá tính bền vững được thực hiện ở nhiều khu vực trên thế giới, điển hình là ở Nhật Bản (Komiyama và Takeuchi, 2006), Trung Quốc (Yu và nnk, 2016), Pháp (Cissé và nnk, 2014), Tây Ban Nha (Jurado và nnk, 2012) và
Trang 17Mexico (Leslie và nnk, 2015) Tuy nhiên, chưa có nhiều các nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tính bền vững của nghề truyền thống Một số nghiên cứu đề xuất
bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững được thực hiện như các nghiên cứu của Durham và Litterll (2000), Patricia và nnk (2011), Santitaweeroek (2008), Mahanty và nnk (2012)
(Các nghiên cứu này được trình bày chi tiết trong mục 1.3)
1.2.2 Tại Việt Nam
Tại Việt Nam, các làng nghề có lịch sử phát triển lâu đời, các vấn đề về làng nghề được nghiên cứu chú trọng các khía cạnh KT-XH, văn hóa và môi trường
Báo cáo môi trường quốc gia 2008 về môi trường làng nghề Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2008) là báo cáo đề cập toàn diện nhất về các vấn đề lịch sử phát triển và phân loại làng nghề Việt Nam, vai trò của làng nghề trong sự phát triển KT-XH, những tồn tại và xu thế phát triển làng nghề, hiện trạng ô nhiễm môi trường làng nghề (khí, nước, chất thải rắn) và dự báo xu thế ô nhiễm môi trường làng nghề, tác động của ô nhiễm môi trường làng nghề đến sức khỏe cộng đồng, KT-XH, hiện trạng và các bất cập trong quản lý môi trường làng nghề, giải pháp bảo vệ môi trường làng nghề Việt Nam (thể chế, quy hoạch, quản lý, công nghệ, khuyến khích sản xuất sạch hơn, công nghệ giảm thiểu ô nhiễm, xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường làng nghề và đa dạng hóa đầu tư tài chính cho bảo vệ môi trường làng nghề)
Khía cạnh KT-XH làng nghề cũng được tập trung nghiên cứu Trong, công trình “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam”, Bùi Văn Vượng (2002) đã đưa ra bức tranh khá tổng quát về các nghề và làng nghề tiêu biểu của Việt Nam trong quá khứ cũng như hiện tại, đồng thời thể hiện những trăn trở về nghề thủ công Việt Nam Trong công trình “Phát triển làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam trong thời
kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa” (Trần Minh Yến, 2003); “Nghiên cứu về quy hoạch phát triển làng nghề thủ công theo hướng công nghiệp hóa nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn hợp tác cùng với
tổ chức JICA của Nhật (2002)… đã tập trung nghiên cứu đánh giá hiện trạng KT-XH
và đưa ra các giải pháp về chính sách, kinh tế, tài chính cho phát triển làng nghề
Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa việc bảo tồn và phát triển làng
nghề cũng đặt ra nhiều vấn đề và thách thức Vì vậy trong cuốn “Bảo tồn và phát triển các làng nghề trong quá trình công nghiệp hóa” của Dương Bá Phượng (2001) đã đề
cập những vấn đề chung về làng nghề, vai trò tác động và những nhân tố ảnh hưởng tới
Trang 18sự phát triển của làng nghề, đưa ra các quan điểm và phương hướng bảo tồn, phát triển các làng nghề trong quá trình CNH, HĐH nông thôn mang tính khả thi cao và gắn liền với thực tế
Các làng nghề để tồn tại và phát triển cần thiết phải có chính sách đặc trưng như trong tiêu thụ sản phẩm, trong đề tài khoa học của Trần Công Sách (2003) “Tiếp tục đổi mới chính sách và giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm của làng nghề truyền thống ở Bắc Bộ đến năm 2010” Đề tài đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của các chính sách, giải pháp tiêu thụ sản phẩm của các làng nghề truyền thống trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Hay trong đề tài “Những giải pháp nhằm phát triển làng nghề ở một số tỉnh đồng bằng sông Hồng”, Nguyễn Trí Dĩnh và nnk (2005) cũng đã đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao sức cạnh tranh và tính hiệu quả của một số làng nghề khu vực nghiên cứu Đinh Xuân Nghiêm và nnk (2010) cũng phân tích và đề xuất một số chính sách chủ yếu nhằm phát triển bền vững làng nghề ở Việt Nam
Bên cạnh các lợi ích về kinh tế và phát huy giá trị văn hóa làng nghề mang lại, các vấn đề ô nhiễm môi trường ngày càng nổi cộm tại các làng nghề Nhiều nghiên
cứu về môi trường làng nghề đã được thực hiện Nghiên cứu“Làng nghề Việt Nam và Môi trường” (Đặng Kim Chi và nnk, 2005) là một công trình nghiên cứu tổng quát
nhất về môi trường làng nghề Trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu rõ từ lịch sử phát triển, phân loại, các đặc điểm cơ bản làng nghề cũng như hiện trạng kinh tế, xã hội của các làng nghề Việt Nam hiện nay Cùng với đó là hiện trạng môi trường các làng nghề (có phân loại cụ thể 5 nhóm ngành nghề chính) Qua đó cũng nêu rõ các tồn tại ảnh hưởng tới phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường của làng nghề, nêu dự báo phát triển
và mức độ ô nhiễm đến năm 2010, một số định hướng xây dựng chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền vững và đề xuất các giải pháp cải thiện môi trường cho từng loại hình làng nghề của Việt Nam Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi trường làng nghề và công nghệ xử lý ô nhiễm cũng được thực hiện như làng nghề Triều Khúc, xã Tân Triều, huyện Thanh Trì (Phạm Thị Thanh Thùy và nnk, 2012), chất lượng nước thải làng nghề tỉnh Thái Bình (Đoàn Thị Thu Trà và nnk, 2008), đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề và các cụm công nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn thành phố Hà Nội (Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, 2006), làng nghề Dương Liễu, huyện Hoài Đức (Trần Bá Thạch, 2012)
Bên cạnh đó, có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề ảnh hưởng của ô
Trang 19nhiễm môi trường làng nghề như nghiên cứu “Những vấn đề về sức khỏe và an toàn trong các làng nghề Việt Nam” (Nguyễn Thị Hồng Tú và nnk, 2005) và Cuốn “Nghiên cứu nguy cơ sức khoẻ ở các làng nghề tại một số tỉnh phía Bắc và giải pháp can thiệp”
(Nguyễn Thị Liên Hương, 2006) đã nêu lên một số nét về lịch sử phát triển làng nghề, môi trường và sức khoẻ người lao động, an toàn sản xuất làng nghề, các biện pháp phòng ngừa, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho người lao động làng nghề
Hiện nay, ở Việt Nam các nghiên cứu liên quan đến phát triển bền vững làng nghề chủ yếu được nghiên cứu theo góc độ quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề
(QHBVMT) QHBVMT được xác định nhiệm vụ “cân bằng các hoạt động của con người” Nghiên cứu về QHBVMT làng nghề điển hình như đề tài “Nghiên cứu xác lập
cơ sở khoa học cho quy hoạch bảo vệ môi trường một số làng nghề ở tỉnh Hà Tây (cũ)” (Ngô Trà Mai, 2008) đã xác lập cơ sở khoa học do việc QHBVMT làng nghề gia
công kim loại Phùng Xá và sơn mài Duyên Thái Ngoài ra, QHBVMT làng nghề cũng
đã được đề cập trong một số nghiên cứu như “Nghiên cứu cơ sở khoa học cho quy hoạch môi trường làng nghề đúc đồng, nhôm Đại Bái, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh” (Trần Thị Ninh, 2009), “Cơ sở khoa học cho việc định hướng quy hoạch bảo vệ môi trường làng nghề dệt nhuộm Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội” (Lê Việt Thùy,
2010) Trong các đề tài này, các tác giả đã nghiên cứu đưa ra hiện trạng môi trường và những điểm bất cập tại làng nghề, tìm hiểu xu hướng biến đổi môi trường, từ đó định hướng tổ chức không gian bảo vệ môi trường làng nghề
Thời gian gần đây các nghiên cứu về chính sách làng nghề, các tiêu chí để phát triển làng nghề như nghiên cứu của Đào Ngọc Tiến và nnk (2012) cũng đã đề xuất và thử nghiệm một hệ thống tiêu chí thuộc 3 khía cạnh kinh tế - xã hội – môi trường để đánh giá mức độ phát triển bền vững của các làng nghề truyền thống của vùng đồng bằng Bắc Bộ Kết quả khảo sát các cơ sở sản xuất tại 5 làng nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ cho thấy các làng nghề vẫn còn thiếu sự liên kết dọc và ngang về kinh tế, hạn chế trong các vấn đề xã hội và không chú ý đến môi trường Hệ thống tiêu chí này
có thể được sử dụng để có thể đánh giá, so sánh mức độ phát triển bền vững của các làng nghề nói chung
Nhìn chung, các nghiên cứu về nghề và làng nghề trên thế giới và Việt Nam chủ yếu tập trung đánh giá các khía cạnh kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, quy hoạch, quản lý nghề và làng nghề Một số bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề,
Trang 20làng nghề trên thế giới đã được đề xuất; tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào tại Việt Nam được thực hiện nhằm đề xuất và áp dụng bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề, làng nghề Các nghề truyền thống của Việt Nam với những đặc trưng riêng và các yếu tố tác động khác nhau đòi hỏi cần phải có những nghiên cứu đánh giá tính bền vững dựa vào bộ tiêu chí phù hợp nhằm xác định hiện trạng, yếu tố ảnh hưởng nhằm
đề xuất giải pháp duy trì tính bền vững, PTBV làng nghề
1.3 Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề, làng nghề
Sự phát triển của làng nghề cũng gặp nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động như thị trường tiêu thụ sản phẩm, giá cả bấp bênh, chất lượng môi trường không đảm bảo … dẫn đến nhiều làng nghề có nguy cơ bị thất truyền Trước những vấn đề trên có nhiều công trình nghiên cứu tính bền vững, PTBV làng nghề đã thực hiện như Mexico, Bangladesh,… Các nhà nghiên cứu đã đưa ra các tiêu chí cũng như mô hình thể hiện mối tương quan giữa các yếu tố để đảm bảo tính bền vững của các làng nghề
Hình 1.1 Mô hình nghề truyền thống hướng tới tính bền vững
Nguồn: Durham và Litterll, 2000
Durham và Litterll (2000) đã đề xuất nghề thủ công truyền thống hướng tới tính bền vững cần đảm bảo các yếu tố/phương diện: thu nhập, văn hóa, cơ sở bán hàng, quỹ, vật liệu thô, cơ sở vật chất, kỹ năng sản xuất, bản quyền… (Hình 1.1) Các tác giả
Trang 21cũng đề xuất 6 chỉ số bền vững áp dụng cho nghề thuộc làng nghề bao gồm: vật liệu thô, cơ sở sản xuất, công nghệ sản xuất, kĩ năng sản xuất, gây quỹ, cơ sở bán hàng (Bảng 1.1) Các chỉ số này đánh giá tương đối bao quát các vấn đề để PTBV nghề, làng nghề nhưng chưa đề cập đến các khía cạnh xã hội, môi trường
Bảng 1.1 Chỉ số bền vững áp dụng cho nghề thuộc làng nghề
Vật liệu thô Vật liệu thô sẵn có tự nhiên, sẵn có trong địa phương
Cơ sở sản xuất Đảm bảo, hiệu quả, an toàn
Công nghệ sản xuất Công cụ đơn giản và công nghệ sản xuất bản địa, có được thiết kế
bằng cách sử dụng gỗ, kim loại hoặc vật liệu tái chế
Kĩ năng sản xuất Cơ sở sản xuất phải đảm bảo các kĩ năng (trình độ chuyên môn, kĩ
năng sản xuất, kĩ năng kinh doanh, kĩ năng lãnh đạo…) Gây quỹ Quyên góp được nguồn vốn, trang thiết bị, phương tiện và các đóng
góp cần thiết khác
Cơ sở bán hàng Có cơ sở bày bán sản phẩm
Nguồn: Durham và Litterll, 2000
Patricia và nnk (2011) đã đề xuất mô hình và tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề tại Mexico (Hình 1.2, Bảng 1.2) Mô hình và các tiêu chí này thể hiện mối quan hệ giữa đổi mới và bền vững môi trường được phân tích dựa trên 168 doanh nghiệp nghề thủ công mỹ nghệ ở các bang của Mexico như Oaxaca, Puebla và Tlaxcala Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực giữa đổi mới môi trường và tính bền vững trong ba khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường Nhìn chung, bộ tiêu chí này đã đánh giá tổng thể các khía cạnh khác nhau của nghề bao gồm: Quá trình sản xuất, phương thức quản lý, kinh tế (lợi nhuận), xã hội (tính trung thực và cam kết với cộng đồng, đạo đức kinh doanh), môi trường (các nguyên liệu/nhiên liệu sử dụng trong sản xuất, nước, rủi ro trong sản xuất, năng lượng, ô nhiễm môi trường) (Bảng 1.2) Tuy nhiên, bộ tiêu chí này lại chưa đề cập đến các tiêu chí/chỉ tiêu thể hiện xu thế phát triển
và các yếu tố tác động (Kajikawa, 2008)
Trang 22Hình 1.2 Mô hình tương tác giữa tính đổi mới nghề và tính bền vững của nghề ở
Mexico
Nguồn: Patricia và nnk, 2011
Bảng 1.2 Tiêu chí tính bền vững áp dụng cho nghề ở Mexico
- Phương pháp sản xuất (công nghệ, quy trình sản xuất)
- Máy móc, thiết bị (thủ công, máy móc…)
- Dụng cụ sử dụng Phương thức quản lý:
- Kinh doanh
- Khách hàng
- Cung ứng sản phẩm Kinh tế 2 Lợi nhuận Dùng phương pháp phân tích lợi nhuận theo tiếp cận kinh tế
Chỉ số lợi nhuận (Return on assets – ROA) chỉ ra hiệu suất một cơ sở sản xuất sử dụng tài sản theo công thức:
ROA = vòng quay tổng tài sản x biên lợi nhuận (Thông số cần thu thập: giá bán sản phẩm, tổng sản phẩm/tháng, chi phí vận hành, chi phí thuê nhân công, chi phí nguyên vật liệu đầu vào, thuế…)
Xã hội 3 Tính trung
thực và cam kết với cộng đồng
- Trách nhiệm khuyến khích người lao động thực thi các giải pháp bảo vệ môi trường
- Nhận thức về trách nhiệm bảo vệ môi trường
- Tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường
4 Đạo đức kinh doanh
- Nhận thức về ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động sản xuất
- Nhận thức về việc sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên
Trang 23Hợp phần Chỉ số Chi tiết (chỉ tiêu/tiêu chí)
- Nhận thức về việc sử dụng các hợp chất độc hại có thể ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Môi trường 5 Các nguyên
liệu/nhiên liệu
sử dụng trong sản xuất
- Nguyên liệu sử dụng trong sản xuất (dong)
- Nhiên liệu sử dụng cho đun nấu…
6 Nước - Sử dụng nước trong sản xuất (hiệu quả/tiết kiệm)
- Sử dụng nước để làm sạch dụng cụ sản xuất
- Sử dụng nước cho vệ sinh cá nhân sau sản xuất
- Sử dụng nước trong sinh hoạt
- Lượng nước tiêu thụ trong sản xuất
- Lượng nước tiêu thụ trong sinh hoạt
7 Rủi ro trong sản xuất
- Sử dụng dụng cụ an toàn và bảo hộ lao động
- Đào tạo/tập huấn về sơ cứu, an toàn lao động
- Đào tạo/tập huấn về vệ sinh công nghiệp
- Đào tạo/tập huấn xử lý chất thải độc hại
8 Năng lượng - Năng lượng tiêu thụ trong sản xuất
- Năng lượng tiêu thụ trong sinh hoạt
9 Ô nhiễm môi trường
và phương thức quản lý (kinh doanh, khách hàng và cung ứng sản phẩm)
Trang 247 Đạo đức kinh doanh
8 Phát triển kĩ năng con người
9 Các tác động tới cộng đồng
10 Các nhân tố và xu hướng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất tơ lụa
Môi trường
11 Tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên
12 Quản lí chất ô nhiễm, rác thải
Trang 25Hợp phần Tiêu chí
19 Hiệu suất sản xuất
20 Đa dạng sản phẩm
21 Sức khỏe và an toàn nghề nghiệp
22 Các nhân tố và xu hướng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất tơ lụa
Nguồn: Satitaweeroek, 2008
Bên cạnh đó Mahanty và nnk (2012) cũng đề xuất các tiêu chí đánh giá tính bền vững của làng nghề liên quan đến quản lí ô nhiễm nguồn nước ở các làng nghề Việt Nam Các tiêu chí này tập trung vào các khía cạnh: (1) Sinh kế địa phương; (2) Phản ứng địa phương với ô nhiễm và (3) Quản trị (Quy định, sự điều phối, quy hoạch và cơ
sở hạ tầng, tài nguyên và năng lực, tham gia của địa phương) Nghiên cứu này chủ yếu tập trung đến yếu tố môi trường chứ chưa quan tâm toàn diện đến các yếu tố kinh tế,
xã hội
Như vậy, nhìn chung các tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề nói chung đều đề cập đến các khía cạnh kinh tế/sinh kế, xã hội, môi trường và sản xuất tại làng nghề Tuy nhiên, các làng nghề thường có những đặc thù riêng về ngành nghề sản xuất
và truyền thống văn hóa, do đó, việc áp dụng bộ tiêu chí đánh giá cần phải phù hợp với đặc thù riêng cũng như điều chỉnh cho phù hợp với từng khu vực nghiên cứu
1.4 Giới thiệu khu vực nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý: Xã Minh Quang nằm cách trung tâm huyện Ba Vì 25 km, cách
trung tâm Hà Nội gần 70km về phía Đông Phía Bắc giáp xã Ba Tra ̣i và Thuần Mỹ , phía Nam giáp xã Khánh Thượng , phía Đông giáp xã Ba Vì , phía Tây giáp huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ (Hình 1.4)
Thôn Minh Hồng nằm cạnh tuyến đường ĐT 415 nối với quốc lộ AH13 và đường ĐT414 dọc sông Đà nên khả năng kết nối với các địa phương khác thuận lợi
Địa hình, địa mạo: Thôn Minh Hồng nói riêng và xã Minh Quang nói chung có
địa hình không bằng phẳng, phía Tây được bồi đắp bởi phù sa của lưu vực sông Đà, rất thuận lợi cho trồng lúa và các hoa màu, phía Đông tiếp giáp với Vườn Quốc gia Ba Vì, đất ở đây phù hợp để trồng cây dong giềng
Khí hậu: Thôn Minh Hồng mang đặc điểm chung của khí hậu đồng bằng Bắc
Bộ thể hiện tính chất nhiệt đới ẩm gió mùa Mùa mưa trùng với thời kì gió Đông Nam
Trang 26kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 Mùa khô trùng với thời kì gió Đông Bắc kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Nhiệt độ trung bình năm là 24°C Các tháng có nắng, ít mưa, thuận lợi cho chế biến nông sản là tháng 5, 6, 10, 11, 12 Biên độ dao động nhiệt giữa tháng nóng nhất và tháng lạnh nhất là 13°- 14° Tổng lượng nhiệt đạt 8400-
8600°C Lượng mưa trung bình năm là 1600- 1800mm
Hình 1.4 Sơ đồ khu vực nghiên cứu
Nguồn: Tác giả biên tập trên cơ sở bản đồ hành chính huyện Ba Vì 2017
Đặc điểm khí hậu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất miến dong của thôn cũng như đến thời vụ trồng và thu hoạch cây dong giềng Thời gian cuối mùa mưa bắt đầu hoạt động thu hoạch cây dong giềng và cũng là thời điểm đi vào sản xuất từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Vào chính mùa khô là thời điểm sản xuất cao điểm miến dong, đây cũng là thời điểm thích hợp cho phơi sấy miến dong, bởi hiện nay công đoạn này
vẫn hoàn toàn nhờ ánh nắng mặt trời sấy khô
Thủy văn: thôn Minh Hồng nằm gần sông Đà nên rất thuận lợi cho việc tưới
Trang 27tiêu nông nghiệp và điều hòa khí hậu địa phương Hệ thống ao hồ là nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất Ngoài ra còn có hệ thống mương kênh trong xã làm nhiệm vụ cấp thoát nước cho nông nghiệp
Đất đai: Thôn Minh Hồng có diện tích tự nhiên 152,25 ha trong đó đất rừng sản
xuất và đất vườn chiếm chủ yếu (UBND xã Minh Quang, 2016) (Bảng 1.4) Thôn không có đất trồng lúa và người dân sống bằng nghề làm miến, làm bột và trồng cây dong giềng, một phần nhỏ các hộ dân trồng đót trên phần diện tích đất vườn và rừng sản xuất
Bảng 1.4 Cơ cấu sử dụng đất của thôn Minh Hồng
Nguồn: UBND xã Minh Quang, 2016
1.4.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Dân cư, lao động: Hiện nay xã Minh Quang có 11429 người với 2953 hộ trong
đó thôn Minh Hồng có 1378 người với 356 hộ, được chia 4 khu, thôn có dân số cao nhất trong xã (UBND xã Minh Quang, 2016) Dân cư ở đây gồm nhiều dân tộc sinh sống như Kinh, Mường, Dao nhưng chủ yếu là dân tộc Kinh Toàn thôn Minh Hồng có
874 lao động, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chiếm trên 61%, đây là nguồn lao động dồi dào cho hoạt động sản xuất của làng nghề, hiện nay gần như tất cả số lao động này đều có việc làm thường xuyên
Hoạt động kinh tế: Hoạt động kinh tế chính của thôn là trồng trọt, chăn nuôi và
sản xuất miến dong Hầu hết các hộ tham gia trồng dong giềng, chế biến tinh bột và sản xuất miến dong, một số ít số hộ còn lại tham gia hoạt động dịch vụ Sản xuất nông nghiệp chủ yếu trồng cây hàng năm và trồng cây dong giềng phục vụ sản xuất miến dong Các hộ gia đình chăn nuôi các gia súc như trâu, bò, lợn và các loại gia cầm như
Trang 28vịt, ngan, gà, ngỗng, quy mô chăn nuôi gia súc, gia cầm ở dạng các hộ nhỏ lẻ Trong những năm gần đây diện tích trồng cây dong giềng của xã Minh Quang nói chung liên tục tăng, cây dong giềng được người dân trồng trên diện tích đất vườn, đất rừng sản xuất (Bảng 1.5)
Sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Nghề sản xuất chế biến tinh bột
dong giềng và làm miến được hình thành từ năm 1969 khi đó mới có 2-3 hộ, khi nghề này đem lại nguồn thu ổn định thì các hộ của thôn cũng tham gia trồng nguyên liệu, chế biến và sản xuất miến Đến nay toàn thôn có 215 hộ sản xuất tinh bột, 55 hộ sản xuất miến, có những hộ vừa sản xuất tinh bột vừa sản xuất miến, một số rất ít hộ tham gia dịch vụ khác như: bán tạp hóa, hàn xì, Sản xuất chế biến tinh bột và làm miến dong đã đem lại nguồn thu lớn cho các hộ trung bình 3-5 triệu đồng /tháng/người
Bảng 1.5 Diện tích cây trồng của thôn Minh Hồng
STT Loại cây trồng chính Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 THÔN MINH HỒNG (đơn vị tính: ha)
4 Cây dong giềng 165,2 181,8 180,8 184 187,8
5 Cây ăn quả 1,2 1,95 2,2 3,15 3,15
4 Cây dong giềng 264,32 264,32 328,24 480,33 480,33
Giao thông: Xã Minh Quang nói chung và thôn Minh Hồng nói riêng có hệ
thống đường giao thông kiên cố, kết nối với các đường tỉnh lộ nên hoạt động giao
Trang 29thương phát triển không chỉ trong địa bàn xã huyện mà còn sang các tỉnh lân cận như Hòa Bình, Phú Thọ, đây cũng là một trong những nhân tố góp phần để mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của thôn
1.4.3 Hoạt động sản xuất miến dong
Nghề sản xuất miến dong của các hộ dân tại thôn Minh Hồng được hình thành
từ năm 1969, ngày nay đã phát triển và trở thành nghề sản xuất chính của các hộ dân trong thôn, thôn Minh Hồng là một trong những làng nghề nổi tiếng của huyện Ba Vì
Hiện tại, toàn thôn có 289 hộ có liên quan đến sản xuất miến dong (gồm các hộ sản xuất tinh bột, làm miến), với 162 máy chế biến tinh bột và có 9 hộ đầu tư máy làm miến, một số hộ khác vẫn thực hiện tráng miến bằng phương pháp thủ công Khoảng
10 năm trở lại đây, nghề làm miến dong ngày càng phát triển bởi nguồn thu nhập từ miến mang lại có thể cao gấp 15-20 lần thu nhập làm nông nghiệp, đặc biệt sản phẩm miến dong Minh Hồng được coi là đặc sản, được người tiêu dùng lựa chọn Hiện nay, thôn Minh Hồng cũng đã thành lập được hợp tác xã nông nghiệp Minh Hồng, hợp tác
xã có nhiệm vụ tham gia phối hợp trong việc tổ chức vận hành các quy chế quản lý tập thể trong quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể Đến năm 2015 thì miến dong Minh
Hồng đã được Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cấp Nhãn hiệu tập thể “Minh Hồng” cho sản phẩm miến dong thôn Minh Hồng, xã Minh Quang, huyện Ba Vì (Mã
xuất tinh bột vừa sản xuất miến 45 45 45 45 70 Trồng cây dong giềng và chuyên
Chỉ trồng nguyên liệu (cây dong
Tổng số hộ trong thôn 289 289 289 289 356 Tổng số hộ tham gia sản xuất miến
Trang 30Theo số liệu thống kê đến năm 2016 toàn thôn có 356 hộ sau khi đã tách hộ, trước đó 289 hộ, 100% các hộ có tham gia hoạt động có liên quan đến sản xuất miến dong (các hộ được tách ra chỉ nhằm mục đích để giảm chi phí sử dụng điện vì khi tách các hộ sẽ tăng số hợp đồng điện) Các hộ được phân theo các loại hình: các hộ chuyên sản xuất tinh bột, các hộ chuyên làm miến, các hộ vừa sản xuất tinh bột vừa làm miến
và các hộ chỉ trồng nguyên liệu Tính từ năm 2012 đến nay thì các hộ làm miến tăng lên đáng kể nếu trước kia chỉ có 2 hộ chuyên làm miến thì đến năm 2016 đã có 19 hộ, các hộ vừa sản xuất tinh bột và làm miến cũng tăng từ 45 hộ lên 70 hộ Trước kia việc làm miến dong chỉ tập trung một số hộ đã làm nghề lâu năm, nhưng trong thời gian vừa qua khi nghề này mang lại kinh tế ổn định nên nhiều hộ tham gia sản xuất miến, thậm chí không chỉ thôn Minh Hồng mà các thôn khác của xã Minh Quang cũng có nhiều gia đình đã học và làm miến dong
Sản lượng miến dong của thôn được sản xuất tập trung từ tháng 9 đến tháng 12 năm cũng trùng vào thời điểm thu hoạch cây dong giềng Vì sản phẩm không sử dụng chất bảo quản đối với cả nguyên liệu là củ dong khi thu hoạch cũng như chất bảo quản trong sản phẩm miến nên việc sản xuất miến hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu, thị trường tiêu thụ và điều kiện thời tiết Hiện nay nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất của thôn được cung cấp bởi 3 địa phương chính là xã Minh Quang, Khánh Thượng và Ba Vì Theo số liệu thống kê năm 2016 diện tích đất nông nghiệp trồng cây dong giềng của các xã này là khoảng 900,13 ha
Đặc điểm sản xuất:
Theo số liệu điều tra khảo sát các hộ sản xuất, kinh doanh sản phẩm miến dong Minh Hồng, tổng số nhân khẩu trung bình của một hộ là 4 người/hộ, số lao động được
sử dụng trong sản xuất miến là 5-6 người/hộ, các lao động chủ yếu là thành viên của
hộ gia đình (nhiều gia đình có 2-3 hộ cùng sống chung trên một thửa đất thổ cư nên họ tập trung sản xuất cùng nhau), chỉ có một số ít hộ thuê thêm lao động khi vào mùa sản xuất chính Mặc dù sản xuất của các hộ cũng sử dụng máy móc nhưng do việc sản xuất mất nhiều công đoạn, các công đoạn cần có người đứng vận hành máy móc, các công đoạn diễn ra liên tục từ đánh bột, tráng miến, riêng việc tráng miến cũng cần 3-4 người
để cho vào phên và máy tráng
Sản xuất miến dong tại địa phương được chia làm hai thời điểm trong năm, thời gian sản xuất cao điểm nhất kéo dài nhất từ tháng 10 âm lịch năm trước đến tháng 02
âm lịch năm sau, đây là thời điểm thu hoạch củ dong để sản xuất tinh bột vì vậy nguồn
Trang 31nguyên liệu tinh bột dồi dào và đạt chất lượng tốt nhất Khoảng thời gian còn lại từ tháng 02 đến tháng 10 âm lịch nhiều hộ dừng sản xuất, tập trung cho khâu chuẩn bị giống, trồng và chăm sóc lại diện tích dong giềng đã thu hoạch để làm nguyên liệu cho
vụ sản xuất năm sau, một phần phụ thuộc vào thời tiết do toàn bộ khâu phơi miến là nhờ ánh nắng tự nhiên để sấy khô, ngoài ra cũng phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ miến; toàn thôn chỉ có 03 hộ là hoạt động sản xuất miến quanh năm do các hộ này nhập thêm nguyên liệu sản xuất từ tỉnh khác
Sản xuất miến dong ban đầu được làm hoàn toàn bằng tay đến năm 2000 một số
hộ bắt đầu trang bị máy tráng tự động và máy cắt sợi để sản xuất nên sản lượng cũng như thu nhập tăng cao Từ năm 2010-2012 cơ cấu thu nhập của các hộ có sự thay đổi
rõ rệt tăng lên từ 76% lên 80% thu nhập của hộ Hiện nay thu nhập tính trung bình của
hộ sản xuất đạt xấp xỉ 154 triệu/hộ/năm
Tiêu thụ sản phẩm:
Sản phẩm miến dong Minh Hồng được tiêu thụ khá rộng không chỉ trong địa bàn thành phố Hà Nội mà các tỉnh thành khác như Hà Nam, Hưng Yên, Hòa Bình, đây là những thị trường tiềm năng, 78% sản lượng miến dong được tiêu thụ ở bên ngoài huyện Ba Vì Sản phẩm được các thương lái các địa phương đến đặt mua trực tiếp tại các hộ sản xuất hoặc các đại lý trong thôn Tuy nhiên sản phẩm chưa được tiêu thụ qua các siêu thị lớn, đây cũng là một trong những mục tiêu mà sản phẩm hướng tới Hầu hết các hộ sản xuất kinh doanh đều hoạt động dưới hình thức là cơ sở sản xuất nhỏ lẻ mang tính chất hộ gia đình, mới đây mới xây dựng được hợp tác xã Minh Hồng nhưng thực chất hợp tác xã được xây dựng để xây dựng nhãn hiệu tập thể Minh Hồng, còn hầu như vai trò của hợp tác xã chưa phát huy đúng nhiệm vụ để đưa sản phẩm mở rộng thị trường tiêu thụ, đây cũng là một trong những hạn chế của làng nghề
Trang 32CHƯƠNG 2 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Cách tiếp cận
2.1.1 Tiếp cận hệ thống
Các hợp phần tự nhiên, xã hội và con người là một thể thống nhất, tồn tại trong một không gian và có mối quan hệ không thể tách rời (Hình 2.1) Bất kỳ một yếu tố nào trong hợp phần này thay đổi thì tác động lên các yếu tố khác và sẽ chịu tác động của các yếu tố khác nên chúng được coi là một hệ thống Các yếu tố trong hệ thống không chỉ tác động qua lại mà còn có mối tương tác qua lại với các hệ thống khác Con người cũng như hoạt động sản xuất của con người tồn tại trong một không gian, sẽ chịu ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên và KT-XH và nó cũng nằm trong một hệ thống Làng nghề miến dong Minh Hồng cũng được coi là hệ thống, hoạt động sản xuất của các hộ dân có tác động đến các yếu tố tự nhiên cũng như xã hội nơi đây Việc
sử dụng các nguồn lực tự nhiên như đất đai cho trồng nguyên liệu, cho bố trí không gian sản xuất, sử dụng nguồn nước,… hay sử dụng nguồn lao động, hạ tầng giao thông,… phục vụ sản xuất đã tác động đến chúng và ngược lại các yếu tố đó cũng tác động đến hoạt động sản xuất Do vậy, khi nghiên cứu tính bền vững làng nghề đòi hỏi phải phân tích, đánh giá các yếu tố này trong một hệ thống có tương tác với nhau, từ
đó đánh giá tổng hợp rồi đưa ra những nhận định
Hình 2.1 Cách tiếp cận hệ thống và tiếp cận khoa học bền vững
Trang 332.1.2 Tiếp cận phát triển bền vững
Quan điểm PTBV đã được khẳng định trong văn kiện của Đảng và Nhà nước như "Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và BVMT"; trong định hướng chiến lược PTBV ở Việt Nam (Agenda 21 của Việt Nam) ban hành năm 2004 và trong Chiến lược PTBV Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 12/4/2012 (Quyết định số 432/QĐ-TTg) Theo đó, PTBV cần đảm bảo đồng bộ 3 trụ cột: phát triển kinh
tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường Để phát triển bền vững được nghề truyền thống tại thôn Minh Hồng, hoạt động sản xuất phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích kinh
tế, đảm bảo sinh kế cho cộng đồng địa phương với duy trì sức khỏe hệ sinh thái, môi trường và mục tiêu văn hóa – xã hội Do đó, bộ tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng cần đảm bảo tuân thủ được các định hướng, tiêu chí PTBV
Hình 2.2 Khung logic nghiên cứu luận văn
Kế thừa, tổng hợp tài liệu
Điều tra xã hội học
Đánh giá tính bền vững nghề miến dong thôn Minh Hồng
Xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp nghiên cứu
Cách tiếp cận
Hệ
thống
Phát triển bền vững Liên
ngành
Tính bền vững nghề miến dong thôn Minh Hồng
Hiện trạng
Yếu tố tác động
Khoa học bền vững
Phát triển bền vững nghề miến dong thôn Minh Hồng
Trang 342.1.3 Tiếp cận khoa học bền vững
Khoa học bền vững làm rõ sự tương tác giữa các hệ thống tự nhiên – xã hội – con người và xác định các vấn đề nảy sinh từ hệ thống này ảnh hưởng đến PTBV (Kajikawa, 2008) Đảm bảo tính bền vững của nghề truyền thống cần được tiếp cận dựa trên đánh giá tích hợp sự tương tác giữa các yếu tố thuộc hệ thống xã hội (Kinh tế (S3), Xã hội (S4), Quá trình sản xuất (S1), Quản lý, tiêu thụ sản phẩm (S2)), hệ thống
tự nhiên (Môi trường, năng lượng, nguyên liệu, tài nguyên (S5)) và hệ thống con người (an toàn lao động, sức khỏe, nhận thức, giáo dục, đào tạo, tập huấn nâng cao kỹ năng, tay nghề được tích hợp trong bộ tiêu chí thuộc các hợp phần) (Hình 2.1; Hình 2.2) Cách tiếp cận này được sử dụng nhằm trong xây dựng bộ tiêu chí, xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất các giải pháp duy trì, đảm bảo tính bền vững của nghề miến dong thôn Minh Hồng
2.1.4 Tiếp cận liên ngành
Làng nghề Minh Hồng tồn tại hoạt động sản xuất miến dong và các hoạt động kinh tế khác với các hộ sản xuất có mối liên quan mật thiết với nhau Bên cạnh hoạt động sản xuất, quản lý, kinh doanh, truyền thống văn hóa làng nghề, các vấn đề sinh thái, môi trường liên quan đến hoạt động trồng và xả thải trong quá trình sản xuất, chế biến miến dong cũng là các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nghề sản xuất miến dong Như vậy, khi đánh giá tính bền vững của làng nghề ở đây cần phải sử dụng các kiến thức của các lĩnh vực kinh tế, xã hội, môi trường Vì vậy khi nghiên cứu về làng nghề Minh Hồng cần tiếp cận theo hướng liên ngành để có cái nhìn toàn diện nhằm đề xuất các giải pháp hợp lý duy trì, đảm bảo tính bền vững của nghề truyền thống này
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp kế thừa, tổng hợp tài liệu
Các tài liệu, số liệu được kế thừa bao gồm điều kiện tự nhiên, KT-XH, hoạt động sản xuất, phát triển và các tài liệu, kết quả nghiên cứu đã có sẵn trước đó về tự nhiên, KT-XH và môi trường làng nghề miến dong Minh Hồng Các tài liệu, số liệu thu thập sẽ được thống kê, phân tích, sử dụng trong một số tiêu chí liên quan phục vụ đánh giá tính bền vững, các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất giải pháp đảm bảo, duy trì tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng
Trang 352.2.2 Phương pháp điều tra xã hội học
Khảo sát thực địa, phỏng vấn sâu và phỏng vấn bằng bảng hỏi được thực hiện vào tháng 2 và tháng 9 năm 2017 tại thôn Minh Hồng, xã Minh Quang, huyện Ba Vì (Hình 2.3) Các nội dung khảo sát tập trung vào điều tra, thu thập các thông tin hiện trạng sản xuất, hiện trạng môi trường của làng nghề, lấy mẫu và phân tích đánh giá chất lượng môi trường (đất, nước, không khí), thu thập các thông tin làm cơ sở đánh giá, phân tích, so sánh đề xuất tiêu chí đánh giá tính bền vững của làng nghề miến dong Minh Hồng Các câu hỏi trong phiếu phỏng vấn bằng bảng hỏi với hệ thống câu trả lời phù hợp với mọi đối tượng khảo sát với nội dung ngắn gọn, dễ hiểu (Phụ lục 1) Phiếu điều tra được xây dựng trên cơ sở là những đặc trưng về đặc điểm làng nghề, hoạt động sản xuất miến dong, các yếu tố ảnh hưởng cũng như tác động đến hoạt động sản xuất và các điều kiện điều kiện tự nhiên, KT-XH địa bàn nghiên cứu được nhận định qua quá trình khảo sát thực địa
Hình 2.3 Phỏng vấn hộ gia đình tại thôn Minh Hồng
Mẫu được chọn đáp ứng yêu cầu phân bố đều trên địa bàn, tôn trọng tính chính xác và đại diện của mẫu được chọn (đa dạng về sinh kế, hộ khá giàu, nghèo và trung bình) Số phiếu phỏng vấn bằng bảng hỏi được tính toán dựa vào công thức sau (Franklin, 2003):
(1)
Trong đó: n: cỡ mẫu, N: số hộ làm nghề, z: giá trị tương ứng với độ tin cậy lựa
Trang 36chọn (ví dụ độ tin cậy 90% thì giá trị z là 1,65), p: độ tin cậy, e: giới hạn sai số cho
phép
Như vậy, để đảm bảo độ tin cậy 90% và giới hạn sai số 12% thì số lượng mẫu phiếu cần lấy là 41 phiếu Tổng số mẫu điều tra thực tế tại khu vực nghiên cứu là 41 thuộc 4 xóm của thôn Minh Hồng (Bảng 2.1)
Bảng 2.1 Tổng hợp số lượng mẫu điều tra
2.2.3 Phương pháp đánh giá tính bền vững nghề miến dong thôn Minh Hồng
Như đã phân tích trong mục 1.3, bộ tiêu chí do Patricia và nnk (2011) đề xuất
đã đề cập đến các yếu tố kinh tế, xã hội, môi trường và phản ánh được quá trình sản xuất cũng như phương thức sản xuất Đây là yếu tố quan trọng khi nghiên cứu tính bền vững của nghề Tuy nhiên, bộ tiêu chí này lại chưa đề cập đến các tiêu chí thể hiện xu thế phát triển và các yếu tố tác động đến tính bền vững của nghề Do đó, một số tiêu chí liên quan do Satitaweeroek (2008) đề xuất được bổ sung thêm Bên cạnh đó, các chỉ tiêu đánh giá cụ thể được điều chỉnh, đề xuất cho phù hợp với thực tế sản xuất miến dong tại địa phương và mức độ, khả năng tiếp cận, thu thập thông tin, dữ liệu để đánh giá Trên cơ sở đó, tính bền vững của nghề miến dong thôn Minh Hồng được đánh giá sử dụng 40 tiêu chí thuộc 5 hợp phần: quá trình sản xuất (S1), quản lý, tiêu thụ sản phẩm (S2), kinh tế (S3), xã hội (S4), môi trường (S5) (Bảng 2.2)
Bảng 2.2 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề miến dong Minh Hồng
Trang 37nguyên liệu*
Hộ gia đình có hợp đồng với nơi cung cấp nguyên liệu S2-3 Tỷ lệ miến dong bán
được*
Tỷ lệ miến dong bán được (%)
S2-4 Hỗ trợ của chính quyền
trong tiêu thụ sản phẩm*
Hộ gia đình nhận được sự hỗ trợ của chính quyền địa phương
S2-5 Khả năng vay vốn* Hộ gia đình được hỗ trợ vay
vốn
6 Khách
hàng*
S2-6 Thị trường tiêu thụ* Sản phẩm miến dong được tiêu
thụ trên các địa phương S2-7 Hợp đồng với nơi tiêu
thụ
Hộ gia đình có hợp đồng với nơi tiêu thụ miến dong
7 Cung ứng
sản phẩm*
S2-8 Sản lượng miến dong* Sản lượng bột dong
(tấn/năm/hộ gia đình) Sản lượng miến (tấn/năm/hộ gia đình)
S2-9 Mức độ thay đổi sản
lượng miến dong*
Mức độ thay đổi sản lượng miến dong
S2-10 Thời gian cung cấp đủ
nguyên liệu sản xuất*
Thời gian cung cấp đủ nguyên liệu sản xuất (tháng/năm)
Mức độ thay đổi thu nhập
Xã hội 10 Tính S4-1 Nhận thức về trách Hộ gia đình đóng phí bảo vệ
Trang 38Đánh giá của hộ gia đình về ảnh hưởng đến môi trường của hoạt động sản xuất miến dong
S4-5 Mối quan hệ giữa hộ
sản xuất và hộ không sản xuất**
Đánh giá của hộ gia đình về mối quan hệ giữa hộ sản xuất
và hộ không sản xuất S4-6 Mối quan hệ giữa cộng
đồng với chính quyền địa phương**
Đánh giá của hộ gia đình về mối quan hệ giữa cộng đồng với chính quyền địa phương S4-7 Ảnh hưởng của sản
xuất đến truyền thống làng nghề**
Đánh giá của hộ gia đình về ảnh hưởng của sản xuất đến truyền thống làng nghề
xuất *
Mức độ hiệu quả/tiết kiệm của nguồn nước sử dụng trong sản xuất
S5-4 Mức độ thường xuyên
cấp nước
Mức độ thường xuyên cấp nước
S5-5 Tính sẵn có của nguồn
nước cấp
Tính sẵn có của nguồn nước cấp
Trang 39môi trường* thay đổi chất lượng môi trường
đất Đánh giá của hộ gia đình về sự thay đổi chất lượng môi trường nước mặt
Đánh giá của hộ gia đình về sự thay đổi chất lượng môi trường nước sinh hoạt
Đánh giá của hộ gia đình về sự thay đổi chất lượng môi trường nước sản xuất
S5-8 Thực thi các giải pháp
giảm thiểu ô nhiễm*
Số biện pháp xử lý chất thải rắn do sản xuất
S5-12 Đào tạo/tập huấn về sơ
cứu, an toàn lao động*
Người lao động tham gia đào tạo/tập huấn về sơ cứu, an toàn lao động
S5-13 Đào tạo/tập huấn về vệ
sinh công nghiệp*
Người lao động tham gia đào tạo/tập huấn vệ sinh công nghiệp
S5-14 Đào tạo/tập huấn xử lý
chất thải độc hại*
Người lao động tham gia đào tạo/tập huấn về xử lý chất thải độc hại
S5-15 Hỗ trợ đào tạo nghề từ
chính quyền
Hộ gia đình nhận được sự hỗ trợ đào tạo nghề từ chính quyền địa phương
Ghi chú: *: Nhóm thiêu chí, tiêu chí do Patricia và nnk (2011) đề xuất; **: Nhóm tiêu chí, tiêu chí do Satitaweeroek (2008) đề xuất; Các tiêu chí, chỉ tiêu khác do học viên đề xuất
Trang 40Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề miến dong thôn Minh Hồng được tính toán dựa trên các kết quả điều tra, phỏng vấn hộ gia đình và số liệu thu thập tại địa phương Do các tiêu chí này bao gồm cả tiêu chí định tính và định lượng, có các đơn vị khác nhau nên để đánh giá định lượng tính bền vững của nghề miến dong thôn Minh Hồng thì các số liệu này cần được xử lý và chuyển hóa về khoảng giá trị 0 đến 1, trong
đó giá trị 0 thể hiện mức kém bền vững và giá trị 1 thể hiện mức rất bền vững Các tiêu chí được tính toán theo ba phương pháp: (1) chuẩn hóa theo min – max đối với các tiêu chí có giá trị định lượng (phương trình 2 và 3) (Han và nnk, 2012; UNDP, 2006), (2) quy đổi theo thang điểm từ 0-1 đối với các tiêu chí có giá trị bán định lượng, (3) tính theo tỷ lệ đối với các tiêu chí định tính (câu hỏi có/không) (Nhuan và nnk, 2015) Đối với tiêu chí có tương quan thuận với tính bền vững thì áp dụng phương trình (2):
Tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng và theo các hợp phần được tính theo phương pháp trung bình cộng của các tiêu chí (Bảng 2.2)
Tính bền vững của nghề sản xuất miến dong thôn Minh Hồng được đánh giá như sau (Bảng 2.3):
Bảng 2.3 Tiêu chí đánh giá tính bền vững của nghề miến dong Minh Hồng