DANH MỤC CÁC HÌNH Trang Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công tác sinh viên của các trường đại học hiện nay 47 Hình 2.1: Đánh giá của sinh viên về một số nội dung giáo dục, tuyên
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NHO HUY
QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Hà Nội – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN NHO HUY
QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 62 14 01 14
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Võ Kỳ Anh
2 TS Trần Hữu Hoan
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì một công trình nào khác
Hà Nội, ngày 6 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Nho Huy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành, tác giả xin bảy tỏ lòng kính trọng và cảm ơn sâu sắc tới Lãnh đạo và các Thầy, Cô giáo của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện, tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu luận án này Đặc biệt, tác giả xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới PGS.TS NGND Nguyễn Võ Kỳ Anh và TS Trần Hữu Hoan đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Tác giả xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí Lãnh đạo và các đồng nghiệp tại
Vụ Giáo dục Chính trị và Công tác học sinh, sinh viên, Vụ Giáo dục Thể chất – Bộ Giáo dục và Đào tạo, các đại học, học viện, trường đại học và các chuyên gia giáo dục đã tạo điều kiện về thời gian, vật chất, tinh thần và đóng góp nhiều ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thu thập số liệu, thử nghiệm để hoàn thành luận án
Cuối cùng tác giả xin dành lời cảm ơn tới gia đình, những người thân và bạn
bè, đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ, khích lệ, động viên tác giả trong suốt quá trình tác giả công tác, học tập và nghiên cứu khoa học
Hà Nội, ngày 06 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận án
Nguyễn Nho Huy
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Bảng ký hiệu các chữ viết tắt trong luận án vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề công tác sinh viên và quản lý công tác sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 7
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài 7
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước 9
1.1.3 Nhận xét chung 12
1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài 13
1.2.1 Sinh viên 13
1.2.2 Công tác sinh viên 13
1.2.3 Quản lý 14
1.2.4 Quản lý giáo dục 15
1.2.5 Quản lý nhà trường 16
1.2.6 Quản lý công tác sinh viên 17
1.2.7 Đào tạo theo học chế tín chỉ 18
1.3 Công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ 19
1.3.1 Tầm quan trọng và nội dung của công tác sinh viên 19
1.3.2 Đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ 27
1.3.3 Những vấn đề đào tạo theo tín chỉ đặt ra đối với công tác sinh viên 34
1.4 Nội dung quản lý công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ 39
1.4.1 Quán triệt nhận thức về công tác sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ 39
1.4.2 Xây dựng kế hoạch công tác sinh viên 42
1.4.3 Tổ chức bộ máy và nhân sự thực hiện công tác sinh viên 45
1.4.4 Chỉ đạo thực hiện công tác sinh viên 49
1.4.5 Tổ chức kiểm tra và đánh giá công tác sinh viên 51
Trang 61.4.6 Các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện công tác sinh viên 52
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 54
1.5.1 Yếu tố bên ngoài nhà trường 54
1.5.2 Yếu tố bên trong nhà trường 56
1.6 Kinh nghiệm về công tác sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở một số nước 59
1.6.1 Quan điểm của UNESCO về công tác sinh viên 59
1.6.2 Công tác sinh viên ở Mỹ và các nước phát triển 59
1.6.3 Công tác sinh viên ở Trung Quốc 61
Tiểu kết Chương 1 63
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC SINH VIÊN VÀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 65
2.1 Khái quát về giáo dục đại học và thực tiễn triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam 65
2.1.1 Những thành tựu và hạn chế của giáo dục đại học Việt Nam liên quan đến công tác sinh viên 65
2.1.2 Thực tiễn triển khai đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đại học Việt Nam 66
2.2 Tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực trạng 67
2.2.1 Mục tiêu nghiên cứu, khảo sát 67
2.2.2 Nội dung nghiên cứu, khảo sát 68
2.2.3 Địa bàn và đối tượng khảo sát 68
2.2.4 Phương pháp nghiên cứu thực trạng 69
2.3 Thực trạng công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay 70
2.3.1 Công tác giáo dục, tuyên truyền 70
2.3.2 Công tác quản lý sinh viên 75
2.3.3 Công tác hỗ trợ và dịch vụ sinh viên 79
2.4 Thực trạng quản lý công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ 84
2.4.1 Quán triệt nhận thức về công tác sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ 84
2.4.2 Xây dựng kế hoạch thực hiện công tác sinh viên 87
2.4.3 Tổ chức bộ máy và nhân sự thực hiện công tác sinh viên 89
2.4.4 Chỉ đạo thực hiện công tác sinh viên 94
2.4.5 Kiểm tra, đánh giá công tác sinh viên 99
Trang 72.5.6 Các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện công tác sinh viên 102
2.5 Đánh giá chung 105
2.5.1 Ưu điểm 105
2.5.2 Hạn chế 106
2.5.3 Nguyên nhân của những hạn chế 107
2.5.4 Thuận lợi và thách thức 108
Tiểu kết chương 2 110
CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 112
3.1 Những định hướng và nguyên tắc xây dựng giải pháp 112
3.1.1 Định hướng xây dựng giải pháp 112
3.1.2 Nguyên tắc xây dựng giải pháp 114
3.2 Giải pháp quản lý công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ 117
3.2.1 Giải pháp 1: Tổ chức nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên và các cá nhân, tổ chức liên quan về công tác sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ 117
3.2.2 Giải pháp 2: Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp quản lý các hoạt động đối với sinh viên 120
3.2.3 Giải pháp 3: Phát triển đội ngũ cố vấn học tập 132
3.2.4 Giải pháp 4: Cải tiến bộ máy và nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác sinh viên 135
3.2.5 Giải pháp 5: Tăng cường các điều kiện đảm bảo thực hiện công tác sinh viên 141
3.2.6 Giải pháp 6: Cụ thể hóa các nội dung, tiêu chí để kiểm tra, đánh giá công tác sinh viên 147
3.2.7 Mối quan hệ vàviệc triển khai các giải pháp 153
3.3 Khảo nghiệm về tính cấp thiết, tính khả thi của các giải pháp và tổ chức thử nghiệm 156
3.3.1 Khảo nghiệm về tính cấp thiết, khả thi của các giải pháp 156
3.3.2 Tổ chức thử nghiệm 159
Tiểu kết Chương 3 167
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 169
1 Kết luận 169
2 Khuyến nghị 170
2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo 170
Trang 82.2 Đối với các bộ, ngành chức năng và các cơ quan quản lý nhà trường 171
2.3 Đối với Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Trung ương Hội SV Việt
Nam 171 2.4 Đối với chính quyền, đoàn thể ở địa phương có trường đại học trú đóng 171 2.5 Đối với các doanh nghiệp, đơn vị sử dụng lao động 172 2.6 Đối với các trường đại học 172
DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT, CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 173 TÀI LIỆU THAM KHẢO 174 PHỤ LỤC .183
Trang 9BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
1 Bộ GDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trang 10Bảng 2.3: Đánh giá của sinh viên về tính hiệu quả của các hoạt động giáo
dục, tuyên truyền của nhà trường
73
Bảng 2.4: Đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về công tác
quản lý hành chính tại các trường đại học hiện nay
Bảng 2.5 Đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về công tác
quản lý sinh viên ở ngoại trú
76
77
Bảng 2.6: Đánh giá của sinh viên về việc thực hiện các chế độ, chính sách
đối với sinh viên của nhà trường
Bảng 2.7 Đánh giá của sinh viên về công tác tư vấn học tập
Bảng 2.8 Đánh giá của sinh viên về công tác tư vấn hướng nghiệp, việc làm
80
81
82 Bảng 2.9: Đánh giá của sinh viên về chất lượng một số dịch vụ trong trường
học, ký túc xá
Bảng 2.10 Đánh giá của cán bộ, giảng viên và sinh viên về vị trí, vai trò của
công tác sinh viên
Bảng 2.11 Các hình thức nâng cao nhận thức cho cán bộ, giảng viên và sinh
Bảng 2.13: Các hình thức kiểm tra công tác sinh viên do lãnh đạo nhà trường
thực hiện trong năm học 2014-2015
99
Bảng 2.14: Trích phiếu tự đánh giá, xếp loại công tác HSSV của Bộ GDĐT 100
Trang 11Bảng 3.1: Đánh giá việc tổ chức “Tuần sinh hoạt công dân – SV” 149 Bảng 3.2: Phân cấp triển khai các giải pháp
Bảng 3.3 Tổng hợp kết quả khảo nghiệm về tính cấp thiết và tính khả thi
Trang 12DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công tác sinh viên của các trường
đại học hiện nay
47
Hình 2.1: Đánh giá của sinh viên về một số nội dung giáo dục, tuyên truyền
tại các trường đại học được khảo sát
72
Hình 2.2: Đánh giá của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến các hoạt động
kém hiệu quả
75
Hình 2.3: Đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên về quản lý
sinh viên ở ngoại trú của các trường được khảo sát
77
Hình 2.4: Đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên về tác động của quản lý
công tác sinh viên đến chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường
84
Hình 2.5: Tên gọi của Phòng (ban) chuyên trách công tác sinh viên 90
Hình 2.6: Đánh giá của cán bộ, giảng viên về sự lãnh đạo, chỉ đạo công tác
sinh viên của nhà trường
94
Hình 2.7: Đánh giá của cán bộ, giảng viên về việc quản lý thông tin công tác
sinh viên của nhà trường
105
Hình 3.1: Sơ đồ cải tiến hệ thống quản lý công tác sinh viên 138
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Công tác sinh viên gắn liền với sự ra đời và phát triển của mỗi trường đại học, bao gồm tổng thể các hoạt động về giáo dục, tuyên truyền, quản lý, hỗ trợ và dịch vụ nhằm giúp SV phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ; góp phần trực tiếp
để đạt được mục tiêu của giáo dục đại học là “đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [94] Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, CTSV đóng vai trò quan trọng trong việc phát huy tính tự chủ, sáng tạo của SV, định hướng và hỗ trợ SV xây dựng và hoàn thành tốt kế hoạch học tập và rèn luyện theo mục tiêu của chương trình đào tạo
Sau một số năm thí điểm, việc tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với giáo dục đại học ở Việt Nam được chính thức thực hiện theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành Quy chế đào tạo đại học, cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Hiện nay, hầu hết các trường đại học
đã thực hiện chuyển từ việc đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ dưới những mức độ và cách làm khác nhau Việc chuyển đổi hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ đã có những tác động rất lớn đến quản lý CTSV của các trường đại học do những đặc điểm khác biệt của nó trong tổ chức các hoạt động dạy và học Trong đào tạo theo học chế tín chỉ, tính tự chủ của SV được phát huy cao độ SV có thể tự xây dựng một tiến độ học tập riêng trong khung thời gian học tập cho phép; được quyền lựa chọn môn học và thời điểm để học một học phần nên các lớp học theo tín chỉ không được duy trì ổn định, có thể có nhiều SV thuộc các khoa, ngành học khác nhau, các khóa học khác nhau Mặt khác, đào tạo theo học chế tín chỉ cũng yêu cầu thời lượng để SV tự học, tự nghiên cứu, làm việc nhóm nhiều hơn so với đào tạo theo niên chế Do vậy, việc tổ chức hệ thống quản lý SV và tổ chức các hoạt động CTSV của các trường đại học cũng phải thay đổi phù hợp với đặc điểm,
kế hoạch học tập của SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ để đạt được hiệu quả cao nhất
Những năm gần đây, cùng với quá trình chuyển đổi hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ, các trường đại học ở Việt Nam đã có nhiều cố gắng cải tiến, đổi mới hệ thống quản lý và tổ chức các hoạt động CTSV nhằm đáp ứng yêu cầu đào tạo theo học chế tín chỉ Tuy nhiên, việc cải tiến, đổi mới CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ còn mang tính hình thức, hiệu quả
Trang 14chưa cao Quản lý CTSV ở các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay còn nhiều hạn chế, bất cập giữa tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ với việc tổ chức các hoạt động CTSV, thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường Báo cáo tổng kết công tác HSSV các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp giai đoạn 2012 – 2016 của Bộ GDĐT
đã chỉ ra một số mặt còn hạn chế như: “Nhận thức về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của CTSV ở một số trường đại học còn hạn chế dẫn đến ít được quan tâm, đầu tư các điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện tốt mặt công tác này Phạm vi xác định CTSV còn hạn hẹp trong lĩnh vực quản lý, chưa thật sự xác định được vai trò của nhà trường trong công tác hỗ trợ, phục vụ sinh viên CTSV còn bị động, lúng túng khi thực hiện đổi mới giáo dục đại học, đặc biệt là khi chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ,…Cơ chế quản lý CTSV còn thiếu đồng bộ, thống nhất trong các nhà trường, việc quản lý còn mang nặng tính hành chính, bắt buộc, chưa chú trọng phát huy tính chủ động, sáng tạo của SV và việc trang bị kiến thức, kỹ năng để SV tự phòng tránh các tiêu cực ngoài
xã hội…”[14, tr.9]
Nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới quản lý giáo dục đại học đồng thời khắc phục những hạn chế của CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay thì việc quản lý CTSV của các trường đại học phải được đổi mới mạnh mẽ về nội dung và phương pháp thực hiện Cần có những giải pháp quản lý đồng bộ, hiệu quả, thống nhất trong các nhà trường nhằm chuẩn hóa, tăng cường năng lực và hiệu quả của CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục
và đào tạo Việc đề xuất những giải pháp này cần xuất phát từ những luận cứ khoa học và thực tiễn CTSV ở các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ Tuy nhiên, hiện nay lại có rất ít công trình nghiên cứu khoa học về CTSV và quản lý CTSV ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ Một số công trình nghiên cứu, luận án tiến sỹ ở trong nước được thực hiện gần đây mới chỉ
đề cập đến một số nội dung của CTSV như: công tác giáo dục đạo đức, lối sống; công tác quản lý SV nội trú, ngoại trú,…nhưng chưa có nghiên cứu tổng thể và toàn diện về CTSV và quản lý CTSV ở các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ Vì vậy, việc nghiên cứu về quản lý CTSV của các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở Việt Nam hiện nay là vấn đề mang tính thời sự và cấp thiết
Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý công tác sinh viên ở
các trường đại học Việt Nam đào tạo theo học chế tín chỉ” làm luận án tiến sỹ
nhằm góp phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đại học nói chung,
Trang 15quản lý CTSV nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho SV các trường đại học hiện nay
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cở sở nghiên cứu lý luận về quản lý CTSV và đánh giá thực trạng CTSV, quản lý CTSV ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ, tác giả luận án đề xuất các giải pháp quản lý CTSV nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ, giúp SV phát triển toàn diện để đáp ứng các mục tiêu của giáo dục đại học
3 Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: CTSV ở các trường đại học trong đào tạo theo
học chế tín chỉ
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Quản lý CTSV ở các trường đại học Việt Nam
trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Xây dựng khung lý luận về quản lý CTSV ở các trường đại học Việt
Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ
4.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng về CTSV và quản lý CTSV của các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay
4.3 Đề xuất các giải pháp quản lý CTSV của các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ
4.4 Tổ chức khảo nghiệm về mức độ cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp và thử nghiệm một số nội dung trong giải pháp
5 Câu hỏi nghiên cứu
5.1 Công tác sinh viên có tầm quan trọng như thế nào đối với sự phát triển của SV và nhà trường Đào tạo theo học chế tín chỉ có đặc điểm như thế nào và đặt
ra những yêu cầu gì đối với CTSV và quản lý CTSV?
5.2 Công tác sinh viên và quản lý CTSV ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay đang được thực hiện như thế nào?
5.3 Quản lý CTSV ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ phải được thực hiện theo mục tiêu, nội dung, hình thức như thế nào để đạt hiệu quả?
6 Giả thuyết khoa học
Công tác sinh viên đóng vai trò quan trọng trong công tác giáo dục toàn diện đối với SV, góp phần nâng cao uy tín, danh tiếng của nhà trường Đào tạo theo học chế tín chỉ đã có tác động mạnh mẽ, đặt ra những yêu cầu đối với CTSV và quản lý
Trang 16CTSV ở trường đại học cần giải quyết Việc quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đại học hiện nay còn nhiều hạn chế cả về nội dung và phương thức quản lý, chưa đáp ứng được yêu cầu của đào tạo theo học chế tín chỉ
và thực tiễn công tác quản lý, giáo dục SV Nếu phân tích, làm rõ được những tác động, yêu cầu của đào tạo theo học chế tín chỉ đặt ra đối với CTSV và những ưu điểm, hạn chế của quản lý CTSV ở các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ; từ đó đề xuất được các giải pháp đổi mới quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ, phù hợp với tình hình thực tiễn và phát huy được tính tích cực của các chủ thể tham gia vào công tác này thì chất lượng và hiệu quả CTSV sẽ được nâng cao, góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện SV của nhà trường
7 Phạm vi nghiên cứu
7.1 Luận án tập trung nghiên cứu về quản lý CTSV ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ hệ chính quy với các chủ thể quản lý chủ yếu ở trong nhà trường bao gồm: lãnh đạo nhà trường, các phòng, ban phụ trách CTSV, tổ chức Đoàn, Hội, giảng viên, cố vấn học tập và SV
7.2 Việc nghiên cứu thực trạng được thực hiện dựa trên báo cáo về CTSV của các trường đại học gửi về Bộ GDĐT trong giai đoạn 2012 -2016 và kết quả điều tra, khảo sát đối với một số trường đại học đào tạo theo học chế tín chỉ, đại diện theo đặc điểm vùng miền, loại hình trường (công lập và ngoài công lập), cụ thể là: Trường Đại Xây dựng, Trường Đại học Thủy lợi, Trường Đại học Hải Phòng; Đại học Thái Nguyên, Đại học Huế; Trường Đại học Kiến trúc Đà Nẵng; Trường Đại học Bách khoa (ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh); Trường Đại học Kinh
tế TP Hồ Chí Minh; Trường Đại học Cần Thơ, Trường Đại học An Giang, Trường Đại học Lạc Hồng
7.3 Các giải pháp về quản lý CTSV mà tác giả đề xuất trong luận án được
áp dụng đối với các đại học, học viện, trường đại học đào tạo theo học chế tín chỉ
và các trường cao đẳng có cùng quy mô, hình thức đào tạo
8 Điểm mới của đề tài
8.1 Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận của quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ bao gồm tầm quan trọng, nội dung CTSV; đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ và những vấn đề cơ bản của đào tạo theo học chế tín chỉ đặt ra đối với CTSV; nội dung và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ ở các trường đại học Việt Nam hiện nay
Trang 178.2 Phát hiện đúng thực trạng CTSV và quản lý CTSV của các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế và những thuận lợi, thách thức trong quản lý CTSV hiện nay
8.3 Đề xuất và khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của 06 giải pháp quản
lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ, phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và tình hình thực tiễn của trường đại học ở Việt Nam hiện nay
9 Luận điểm khoa học để bảo vệ
9.1 Công tác sinh viên có vị trí, vai trò quan trọng trong tổng thể các hoạt động giáo dục và đào tạo của trường đại học, trực tiếp giáo dục, đào tạo SV phát triển toàn diện để góp phần đạt được mục tiêu của giáo dục đại học
9.2 Đào tạo theo học chế tín chỉ với những đặc điểm cơ bản là sự mềm dẻo, trao quyền chủ động tối đa cho SV trong học tập đã đặt ra những yêu cầu đối với CTSV cần phải đổi mới về nội dung và hình thức quản lý SV, tổ chức các hoạt động rèn luyện phù hợp với đào tạo theo học chế tín chỉ Đào tạo theo học chế tín chỉ và CTSV phải có sự gắn kết chặt chẽ, bổ sung cho nhau để thực hiện mục tiêu chung là giúp SV phát triển toàn diện
9.3 Quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ đóng vai trò then chốt trong việc nâng cao chất lượng, hiệu quả CTSV Việc đổi mới quản lý CTSV phải xuất phát từ mục tiêu, yêu cầu của đào tạo theo học chế tín chỉ, chuyển dần quá trình quản lý sang tự quản lý, phát huy được sự chủ động, tích cực, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của SV
10 Phương pháp nghiên cứu
10.1 Phương pháp luận nghiên cứu vấn đề
Đề tài được thực hiện trên quan điểm tiếp cận chức năng kết hợp với tiếp cận phức hợp, bao quát đầy đủ các thành tố cấu thành quản lý CTSV để đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo mục tiêu của CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ
10.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể
10.2.1 Nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các công trình khoa học của các tác giả ở trong và ngoài nước; các kết quả nghiên cứu về lãnh đạo và quản lý; kinh nghiệm của nước ngoài và tổng hợp, hồi cố các tài liệu, tư liệu có liên quan nhằm xây dựng hoặc chuẩn hóa các khái niệm, các thuật ngữ và khung lý luận của đề tài; thực hiện các phán đoán và suy luận, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tri thức đã có để làm rõ cơ sở lý luận về CTSV và
Trang 18quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ và đề xuất nội dung giải pháp quản lý CTSV
10.2.2 Nghiên cứu thực tiễn và tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các dữ liệu: nghiên cứu, phân tích báo cáo của các trường đại học về việc thực hiện CTSV theo từng năm học, từng giai đoạn gửi về Bộ GDĐT
- Phương pháp trò chuyện, phỏng vấn: Tiến hành khảo sát tại các trường thông qua việc trò chuyện, phỏng vấn các đồng nghiệp là lãnh đạo, cán bộ làm CTSV, cựu
SV và một số SV tiêu biểu, xuất sắc của các nhà trường
- Phương pháp điều tra xã hội học: Trên cơ sở xây dựng hệ thống những phiếu câu hỏi điều tra liên quan đến đề tài, với các loại đối tượng cần thiết như: nhà quản lý, cán bộ làm CTSV, giảng viên, cán bộ Đoàn, Hội và SV, tác giả luận án thu thập các số liệu minh chứng thực trạng hoạt động CTSV và quản lý CTSV của nhà trường Hình thức điều tra: phát phiếu trực tiếp hoặc qua email
- Phương pháp thử nghiệm giáo dục: Đưa các giải pháp đề xuất ứng dụng vào thực tiễn nhằm đánh giá hiệu quả giải pháp trong điều kiện thực tế
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia thông qua phiếu câu hỏi, hội thảo, tọa đàm về các nội dung chuyên sâu
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Trao đổi với các trường có bề dày truyền thống, đã áp dụng hiệu quả việc quản lý CTSV trong điều kiện đào tạo theo tín chỉ nhằm tổng kết kinh nghiệm để đề xuất các nội dung, giải pháp quản lý CTSV
10.3 Phương pháp xử lí số liệu nghiên cứu
Đề tài sử dụng một số thuật toán thống kê, các phần mềm tin học ứng dụng trong nghiên cứu giáo dục để xử lý các kết quả điều tra, phân tích kết quả nghiên cứu, đồng thời để đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp điều tra
11 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận án được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ
- Chương 2: Thực trạng công tác sinh viên và quản lý công tác sinh viên ở các trường đại học trong đào tạo theo học chế tín chỉ hiện nay
- Chương 3: Giải pháp quản lý công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC SINH VIÊN
Ở CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC VIỆT NAM TRONG ĐÀO TẠO
THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề công tác sinh viên và quản lý công tác sinh viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài
Lịch sử phát triển của nền giáo dục đại học trên thế giới, đã có một số nghiên cứu về CTSV và quản lý CTSV Từ năm 1872, Đại học Harward (Mỹ) đã thay thế chương trình đào tạo theo niên chế bằng chương trình đào tạo theo học chế tín chỉ, chính thức khai sinh ra một phương thức đào tạo mới, sau đó được áp dụng rộng rãi trong toàn nước Mỹ và đa số các nước trên toàn thế giới Do vậy, những nghiên cứu về CTSV và quản lý CTSV của thế giới luôn đặt trong bối cảnh đào tạo theo học chế tín chỉ
Từ kết quả của Hội nghị quốc tế về Giáo dục đại học (WCHE) được tổ chức vào tháng 10 năm 1998 tại Paris (Pháp) với chủ đề: Giáo dục đại học trong thế kỷ 21- tầm nhìn và hành động, UNESCO đã phối hợp với Hiệp hội các tổ chức dịch vụ
và CTSV chuyên nghiệp quốc tế (IASAS) biên soạn cuốn sách “Vai trò của CTSV
và dịch vụ SV trong giáo dục đại học” [126] nhằm làm cơ sở cho việc phát triển các chương trình CTSV trong giáo dục đại học Cuốn sách đặt ra những vấn đề cơ bản trong “Tuyên bố về giáo dục đại học thế giới” năm 1998 và làm rõ việc đáp ứng những nhu cầu của SV thông qua chương trình CTSV và dịch vụ đối với SV là việc làm hết sức cần thiết để phát triển nền giáo dục đại học Các tác giả đã đưa ra những nguyên tắc, giá trị và cơ sở lý luận để làm cơ sở cho việc phát triển các dịch
vụ SV Đây cũng là những vấn đề mà người làm CTSV trên thế giới rất quan tâm
và cũng là những vấn đề sẽ được huấn luyện cho SV Ngoài việc nhấn mạnh vai trò, đưa ra những nguyên tắc và giá trị cơ bản cho việc phát triển những chương trình CTSV hiệu quả, thiết thực, nhóm tác giả đã tập trung hướng dẫn cách xây dựng các dịch vụ và chương trình CTSV đảm bảo cho việc lấy SV là trung tâm của tất cả các hoạt động bằng cách khuyến khích SV tích cực học tập đồng thời chú trọng phát triển các kỹ năng cá nhân, kỹ năng xã hội, nâng cao tầm nhận thức và văn hóa SV Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã trình bày chi tiết về việc tổ chức và quản lý hiệu quả đa dạng các chương trình CTSV dựa trên lý thuyết về quản lý, kế toán, thống kê và quản trị nhân lực UNESCO quan niệm rằng, giáo dục đại học phải được quản lý đúng cách, trong đó bao gồm cả những dịch vụ đối với SV và
Trang 20CTSV Các tác giả đã chỉ ra tầm quan trọng của một chiến lược quản lý hiệu quả đối với CTSV, nêu bật vai trò của người đứng đầu trường đại học và người đứng đầu đơn vị phụ trách CTSV, đảm bảo trách nhiệm của người đứng đầu trong việc phối hợp các lực lượng để phát triển các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng học tập và sự thành công của SV trong bối cảnh mà CTSV đặt ra, đó là: 1/Các nhiệm vụ
và chính sách; các nguồn lực và ngân sách thích hợp; 2/Công tác kiểm tra, đánh giá thường xuyên và việc lập kế hoạch chiến lược; 3/Nguồn lực con người, bao gồm những cơ hội phát triển về chuyên môn cũng như công tác tuyển dụng, thu hút cán
bộ phù hợp với mục tiêu của mỗi nhà trường; 4/Cơ sở vật chất và công tác tập huấn cán bộ; 5/Công tác quản lý, tiếp thị về các chương trình, dịch vụ SV
Hiệp hội giáo dục đại học chuyên nghiệp ở Mỹ và tác giả James Rhatigantrong cuốn Sổ tay CTSV [128] đã trình bày rõ lịch sử ra đời, triết lý về CTSV, đồng thời xác định rõ nội dung, chức năng chính của CTSV ở nước Mỹ, bao gồm: 1/Các dịch vụ tư vấn học tập và nghiên cứu; 2/Các dịch vụ cựu SV và vấn đề gây quỹ tài trợ; 3/Công tác đời sống SV trong trường học (an ninh trật tự trường học, hoạt động của hội SV, hoạt động phục vụ cộng đồng,…); 4/Các dịch vụ đa dạng (hỗ trợ vé đi lại, dịch vụ cho SV đã trưởng thành, các dịch vụ hỗ trợ SV ngoại trú, hỗ trợ SV bị khuyết tật và dịch vụ liên quan đến tôn giáo, tín ngưỡng của SV; 5/Y tế và chăm sóc sức khỏe; 6/Ký túc xá, vấn đề nhà ở cho SV; 7/Dịch vụ ăn uống; 8/Công tác tuyển sinh, các dịch vụ định hướng và hỗ trợ tân SV; 9/Dịch vụ hỗ trợ tài chính;
10/Các dịch vụ thể thao, giải trí
Các tác giả Gwendolyn Dungy, Susan Komives, Dudley Woodard trong cuốn
Sổ tay nghề nghiệp về các dịch vụ SV [125] cũng đã dành một chương riêng trình bày về tổ chức và chức năng của CTSV trong trường đại học Ngoài việc trình bày những nguyên tắc, cơ sở lý luận để làm cơ sở cho sự phát triển các dịch vụ SV, CTSV, các tác giả đã hướng dẫn cách tập trung phát triển những dịch vụ SV thiết thực, đưa ra lộ trình xây dựng những chương trình công tác, dịch vụ SV nhằm nâng cao kết quả học tập và sự phát triển toàn diện của SV
Tác giả Bloland trong bài báo đăng trên tạp chí NASPA [115] đã mô tả chức năng, nhiệm vụ của người trưởng phòng công tác và dịch vụ SV của một trường đại học và sự cần thiết phải có một chương trình tập huấn chuyên nghiệp dành cho trưởng phòng và các cán bộ làm CTSV nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp, khả năng tiếp cận toàn diện đáp ứng nhu cầu của sinh viên từ lúc vào trường đến lúc ra trường
Trong cuốn sách Để thành công ở trường đại học [69], các tác giả Bob Smale
và Julie Fowlie đã mô tả nội dung nhằm giúp SV phát triển toàn diện các kỹ năng,
Trang 21trong đó bao gồm cả các kỹ năng cá nhân, kỹ năng học thuật, kỹ năng tìm kiếm việc làm trong cùng một khung kế hoạch phát triển cá nhân Đặc biệt, các tác giả đã đưa
ra những lời khuyên cho SV trong việc giải toả stress, quản lý thời gian và phát triển các kỹ năng giao tiếp Các kỹ năng học thuật tập trung vào các kỹ năng quan trọng phục vụ cho việc học tập hiệu quả, thực hiện các bài nghiên cứu, viết luận và thi cử
Kỹ năng tìm kiếm việc làm giúp SV nhận ra nghề nghiệp phù hợp với mình nhất và cách làm thế nào để trở thành một ứng viên nổi bật trong quá trình tuyển dụng
Các nghiên cứu về sự phát triển của CTSV và quản lý CTSV ở Mỹ và các nước Châu Âu còn được trình bày bởi các tác giả như: Cowley [114], Nancy Evans, Deanna Forney [124] Bloland, Paul, Stamatakos, Louis, Rogers, Russel [116]
Ngoài những nghiên cứu về CTSV và quản lý CTSV ở Mỹ và các nước Châu Âu, các học giả ở Trung Quốc cũng rất quan tâm, nghiên cứu về CTSV Tác giả Tất Tiểu Bình, Trường Đại học Trung Sơn, Trung Quốc [13] đã có những luận giải và tổng kết toàn diện đối với CTSV và quản lý CTSV trên 6 phương diện, đó là: lý luận về CTSV; tổ chức CTSV; đội ngũ làm CTSV; nội dung CTSV; thông tin hóa CTSV và đánh giá CTSV Tác giả đã chứng minh CTSV là một môn khoa học, xóa bỏ quan niệm sai lầm của rất nhiều người hiện nay, đó là: CTSV là “nhìn là biết, học là hiểu, làm là biết”, bằng việc đưa ra những lý luận phát triển mới CTSV nhất định phải xuất phát từ sự phát triển của SV, xuất phát từ sự phát triển của nhà trường và của người làm CTSV Tác giả cũng đã trình bày quan niệm mới, phương pháp mới về CTSV từ góc độ triết học, khiến cho vị trí của CTSV được nâng lên và phát triển mạnh mẽ từ đơn giản đến phức tạp Đồng thời tác giả cũng rất chú trọng đến tính thao tác cụ thể trong quản lý CTSV như cơ cấu tổ chức, cán bộ làm CTSV, tin học hóa CTSV, đánh giá CTSV Các ví dụ thực tế được trình bày giúp cho việc triển khai thực tế CTSV ở các nhà trường được chuẩn hóa, bài bản, chuyên nghiệp
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
Quản lý CTSV ra đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của nền giáo dục đại học của Việt Nam Những định hướng lý luận, mang tính nền tảng để phát triển CTSV ở nước ta dựa trên quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh
và của Đảng về việc giáo dục thế hệ thanh niên, SV
Trong cuộc đời và sự nghiệp hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định tiềm năng, vai trò, vị trí quan trọng của thanh niên, SV
là chủ nhân tương lai của đất nước Bác rất quan tâm đến việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện của thanh niên, SV Trong bản Di chúc để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, Bác đã căn dặn về trách nhiệm của Đảng đối với thanh niên, SV là
Trang 22“Đảng cần phải chăm lo cho giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bác cũng đã nhiều lần nói chuyện trực tiếp với SV đang học tập trong nước, ở nước ngoài và SV các nước đến dự hội nghị chuyên đề SV quốc tế tại Việt Nam Trong những bài nói chuyện, những huấn thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh như: 1/Bài nói chuyện tại buổi lễ khai giảng trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19.1.1955 2/Bài nói chuyện tại Đại hội SV lần thứ hai, ngày 7.5.1958 3/Bài nói chuyện với cán bộ, SV Việt Nam tại Matxcơva, ngày 1.2.1959 4/Thư gửi cán bộ giáo dục, HSSV các trường, các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31.8.1960 5/Bài nói tại Hội nghị chuyên đề SV quốc tế tại Hà Nội, ngày 1.9.1961,…Bác luôn nhấn mạnh hai phẩm
chất hàng đầu của HSSV phải rèn luyện trong nhà trường là đức và tài Sau này Bác còn dùng khái niệm hồng và chuyên Đức và tài, hồng và chuyên phải đi đôi
với nhau, song hành tồn tại cùng nhau trong một con người Bác còn nhắc nhở nhiệm vụ đầu tiên của SV là học, học tốt và học giỏi, học để thành người hữu ích
xây dựng xã hội, kiến thiết đất nước Bác nói: “Nhiệm vụ chính của thanh niên là
học”, đồng thời Bác đặt vấn đề rõ ràng để giúp thầy giáo và SV nghiên cứu: “Phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?” [26]
Trong việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay, Đảng cũng đã tổng kết và đưa ra những định hướng, quan điểm chỉ đạo làm nền tảng cho việc đổi mới CTSV ở các trường đại học, đó là “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa của nhân loại, những giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ”[4]
Ở trong nước hiện nay đã có một số nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể của CTSV, góp phần bổ sung lý luận và thực tiễn nhằm thực hiện tốt CTSV trong các trường đại học, đặc biệt là quản lý SV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ Nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới quản lý giáo dục đại học nói chung và việc chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ, Bộ GDĐT tạo đã tổ chức một số hội thảo về việc thực hiện CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ Năm 2008, Ban Liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Quản lý SV trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” Tại các hội thảo này, một số nhà khoa học, nhà quản lý đã có tham luận nêu rõ đặc
Trang 23điểm, những thuận lợi, khó khăn trong quản lý SV khi chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ và đề xuất một số giải pháp khắc phục
Bàn về vị trí, vai trò và giải pháp đổi mới CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ, tác giả Lê Đức Ngọc, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra quan điểm
và giải pháp: 1/ CTSV phải được coi như là một mảng của công tác đào tạo của nhà trường: đào tạo năng lực học hỏi và đào tạo phẩm chất nhân văn cho người học 2/ CTSV phải được coi như một mảng của công tác tổ chức của nhà trường: quản lý người học [3, tr 26]
Tác giả Ngô Doãn Đãi, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nêu quan điểm và một
số biện pháp để quản lý việc học tập của SV trong đào tạo theo tín chỉ, cụ thể là không nên quản lý việc học tập của SV bằng các biện pháp kiểm tra hành chính hoặc công tác tư tưởng mà nên quản lý bằng học chế tín chỉ, quy chế học tập và những yêu cầu cụ thể của người thầy trong quá trình dạy và học thông qua bản đề cương môn học; tổ chức đánh giá thường xuyên đối với SV trong quá trình đào tạo
và thay đổi nội dung thi, kiểm tra [3, tr 1]
Tác giả Phùng Khắc Bình, chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ
“Nghiên cứu việc phân loại đạo đức HSSV– Thực trạng và Tiêu chí đánh giá” đã nghiên cứu cơ sở khoa học, nội dung, các bước tiến hành việc đánh giá đạo đức, kết quả rèn luyện của HSSVcác trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được thể chế hóa bằng văn bản pháp quy của Bộ GDĐT (Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy), được thực hiện có hiệu quả trong các nhà trường từ năm 2002 đến nay[12]
Tác giả Vũ Thị Thảo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam trong đề tài: Nghiên cứu thực trạng quản lý SV trong đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã xác định những nội dung chính của công tác quản lý SV trong đào tạo theo tín chỉ, tổ chức khảo sát thực trạng công tác quản lý SV sau khi chuyển từ đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ ở Trường Đại học Xây dựng Hà Nội từ đó rút ra các đặc điểm về tổ chức quản lý trong đào tạo theo học chế tín chỉ, việc tổ chức hệ thống cố vấn học tập và chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sinh viên: về bộ máy làm công tác quản lý SV; cố vấn học tập; hệ thống giáo trình, tài liệu học tập và ý thức tự giác trong học tập và tham gia công tác
xã hội của SV [98]
Các tác giả Đào Ngọc Cảnh và Huỳnh Văn Đà đã nghiên cứu bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao tính chủ động
Trang 24của SV Đề tài nghiên cứu đã nêu ra các giải pháp về việc tăng cường cung cấp thông tin cho SV, đổi mới quan điểm, cách tiếp cận trong công tác giảng dạy và quản lý SV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ từ đó thay đổi nhận thức cũng như phương pháp học tập của SV [31, tr.71].
Đề tài “Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh đã xây dựng cơ sở lý luận cho việc quản lý công tác giáo dục đạo đức cho SV ở các trường đại học sư phạm, tổ chức khảo sát thực trạng và đề xuất được
mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho SV và một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức cho SV các trường đại học sư phạm hiện nay [2]
Tại đề tài luận án tiến sĩ các tác giả Nguyễn Đình Đức [45], Kiều Thị Kiều Thanh [97], Bùi Thị Tuyết Mai [82] đã tập trung nghiên cứu về nội dung và biện pháp thực hiện một số nội dung cụ thể của CTSV như: công tác giáo dục lý tưởng cách mạng; giáo dục đạo đức, lối sống, đạo đức nghề nghiệp đối với SV ngành sư phạm hoặc một nhóm trường đại học ở địa phương
1.1.3 Nhận xét chung
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và ở Việt Nam
đã đề cập đến vấn đề CTSV, dịch vụ SV, quản lý CTSV với nhiều góc độ khác nhau Các nghiên cứu của UNESCO và một số học giả ở Mỹ, Châu Âu đều tập trung vào vấn đề hỗ trợ và dịch vụ đối với SV trên cơ sở tôn trọng, phát huy ý thức công dân, tính tự giác và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của SV; mô tả cụ thể quy trình, cách thức tiến hành các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ Các bài báo khoa học của một số tác giả ở trong nước về CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ đã tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của SV, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của SV trong các hoạt động học tập Một số luận án tiến sỹ, đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả trong nước mới chỉ tập trung vào một số nội dung trọng tâm của CTSV trong các trường đại học ở nước ta như: công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp; giáo dục lối sống văn hóa, quản lý SV ở nội trú, ngoại trú nói chung nhưng chưa có nghiên cứu sâu về các lĩnh vực này trong đào tạo theo học chế tín chỉ Các nghiên cứu về các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ SV trong trường đại học và quy trình tổ chức thực hiện CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ ít được các học giả trong nước đề cập đến Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm đối với công tác nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực CTSV hiện nay bởi lẽ, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ
Trang 25chính trị, xã hội là giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho SV thì CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ cần đặc biệt quan tâm đến các hoạt động hỗ trợ và dịch vụ
SV, là yếu tố cơ bản để thúc đẩy năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành nghề nghiệp của SV sau khi tốt nghiệp và hỗ trợ tích cực cho việc quản lý SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ Mặt khác, hiện nay ở trong nước hầu như chưa có một công trình nghiên cứu lý luận mang tính tổng thể, toàn diện về CTSV và quản lý CTSV nói chung, đặc biệt là quản lý CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ để làm
cơ sở cho việc nghiên cứu, triển khai toàn diện các lĩnh vực của CTSV trong các trường đại học Do vậy, những vấn đề quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ chưa được nghiên cứu sẽ là đối tượng nghiên cứu của tác giả trong luận án này Đây cũng là ý nghĩa khoa học của đề tài xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn
1.2 Khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Sinh viên
Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc chữ La-tinh là “Student” có nghĩa là người học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Như vậy, SV chính là người học theo phương pháp nghiên cứu, tìm tòi, khám phá Theo nghĩa tiếng Hán,
từ “sinh” dùng để chỉ người đi học, từ “viên” dùng để chỉ người làm việc ở một cơ quan, tổ chức Khi ghép hai từ này thành “sinh viên” có hàm ý chỉ người học ở
trình độ cao, là nguồn nhân lực tương lai của các cơ quan, tổ chức Do vậy, ở nhiều
nước trên thế giới, thuật ngữ “sinh viên” dùng để chỉ chung cho những người học trình độ cao đẳng, đại học, cao học, nghiên cứu sinh
Ở Việt Nam, thuật ngữ “sinh viên” dùng để chỉ những người học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học [95] Trong luận án này, tác
giả sử dụng khái niệm Sinh viên là người đang học chương trình đào tạo trình độ
đại học hệ chính quy của các cơ sở giáo dục đại học
1.2.2 Công tác sinh viên
Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt, cụm từ “công tác” dùng để chỉ công việc của Nhà nước hoặc một đoàn thể [74, tr.59] Vì vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì CTSV chính là các công việc của nhà nước, nhà trường và các cơ quan, đoàn thể đối với
SV Tuy nhiên, theo cách hiểu thông thường đang được sử dụng rộng rãi trong các
cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và các trường đại học hiện nay, CTSV trong trường đại học là tất cả những hoạt động đối với SV nhưng không bao gồm các công việc liên quan đến việc đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho SV trong giờ học chính khóa CTSV có thể coi là “phần bù” của việc đào tạo kiến thức, kỹ
Trang 26năng nghề nghiệp cho SV trong giờ học chính khóa trong tổng thể các hoạt động giáo dục, đào tạo của nhà trường đối với SV
UNESCO mô tả CTSV là việc nhà trường cung cấp các chương trình và dịch vụ toàn diện ngoài giờ lên lớp cho SV CTSV phải được thực hiện một cách hiệu quả để tạo điều kiện thuận lợi cho các SV tập trung nhiều hơn vào việc học tập cũng như việc phát triển bản thân cả về nhận thức lẫn tư tưởng, tình cảm [126, tr.18]
Quy chế CTSV đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy của Bộ GDĐT nêu khái niệm “CTSV là một trong những công tác trọng tâm của cơ sở giáo dục đại học, bao gồm tổng thể các hoạt động giáo dục, tuyên truyền, quản lý; hỗ trợ
và dịch vụ đối với SV nhằm đảm bảo các mục tiêu của giáo dục đại học” [17, tr 1]
Như vậy, có thể định nghĩa:“Công tác sinh viên là những hoạt động nằm
trong tổng thể công tác giáo dục và đào tạo của trường đại học, bao gồm các nội dung về giáo dục, tuyên truyền, quản lý, hỗ trợ và dịch vụ đối với SV nhằm giúp
SV phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ và đáp ứng mục tiêu của giáo dục đại học” CTSV trong luận án này không bao gồm các hoạt động liên quan đến việc
đào tạo kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cho SV theo chương trình đào tạo thông qua các môn học chính khóa (thường được gọi là hoạt động đào tạo)
Bảng 1.1 Đối sánh hoạt động đào tạo và công tác sinh viên
Mục tiêu Truyền thụ kiến thức, kỹ
năng nghề nghiệp cho sinh viên
Hình thành và phát triển nhân cách, thể lực, thẩm mỹ, kỹ năng,
Các chủ thể
tham gia
Chủ yếu là thầy và trò, nhà trường là chính
Có sự tham gia của nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nhà trường
1.2.3 Quản lý
Có nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động quản lý Theo những khái niệm kinh điển nhất, “hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận
Trang 27hành và đạt được mục đích của tổ chức” [ 32, tr 9] “Quản lý là một dạng lao động đặc biệt nhằm gây ảnh hưởng, điều khiển, phối hợp lao động của người khác hoặc của nhiều người khác trong cùng một tổ chức hoặc cùng một công việc nhằm thay đổi hành vi và ý thức của họ, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ để đạt mục tiêu của tổ chức hoặc lợi ích của công việc cùng sự thỏa mãn của người tham gia [6, tr 6-9]
Trong luận án này, ngoài việc vận dụng những khái niệm về quản lý nêu trên, tác giả luận án tiếp cận khái niệm quản lý theo các chức năng chủ yếu của nó,
đó là: Kế hoạch hóa, Tổ chức, Lãnh đạo (chỉ đạo) và Kiểm tra, đánh giá Do vậy,
chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm: Quản lý là một quá trình để đạt đến mục
tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra [ 78, tr 6 ]
Trong các chức năng chủ yếu của quản lý nêu trên, kế hoạch hóa là hoạt
động đầu tiên của người quản lý, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch
Tiếp đó là chức năng tổ chức (nhân sự, bộ máy) Thực hiện chức năng này, người
quản lý phải hình thành được bộ máy/cơ cấu các bộ phận (tùy theo tính chất công việc có thể phân công, phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng, nhiệm vụ
từng bộ phận và mối quan hệ giữa chúng Lãnh đạo (chỉ đạo, tổ chức thực hiện) là
nhiệm vụ tiếp theo của người quản lý, đòi hỏi người quản lý phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật quản lý Cuối cùng, người quản lý phải thực
hiện chức năng kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra Tuy nhiên, khi thực hiện các chức năng quản lý đều cần đến yếu tố thông tin Thông tin
đầy đủ, khách quan, kịp thời, cập nhật, chính xác là căn cứ để hoạch định kế hoạch, cũng như việc tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra Các chức năng này lập thành một chu trình quản lý Chủ thể quản lý khi triển khai các hoạt động quản lý đều thực hiện chu trình này
1.2.4 Quản lý giáo dục
Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc nêu khái niệm “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế
hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội [78, tr.10]
Có thể nói rằng, quản lý giáo dục chính là một quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý giáo dục (chủ thể) trong việc vận hành những nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa học quản lý vào lĩnh vực giáo dục nhằm đạt
Trang 28được những mục tiêu giáo dục đề ra Thực chất đó là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình dạy học - giáo dục theo mục tiêu đào tạo Chủ thể của quản lý giáo dục là trung tâm thực hiện các tác động có mục đích của giáo dục, ra quyết định, điều hành và kiểm tra các hoạt động của hệ thống giáo dục theo mục tiêu đề ra Đối tượng của quản lý giáo dục bao gồm nguồn nhân lực của giáo dục, cơ sở vật chất - kỹ thuật của giáo dục và các hoạt động có liên quan đến việc thực hiện chức năng của giáo dục Đó chính là những đối tượng chịu sự tác động của cán bộ quản lý (chủ thể) để thực hiện và biến đổi phù hợp với ý chí của chủ thể quản lý đã đề ra
Như vậy, quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ nhà giáo và người học là đối tượng quản lý quan trọng nhất nhưng đồng thời là chủ thể trực tiếp quản lý quá trình giáo dục
1.2.5 Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một bộ phận trong quản lý giáo dục Nhà trường chính
là nơi tiến hành quá trình giáo dục, có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho một nhóm dân cư nhất định, thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: thế hệ đi sau phải lĩnh hội được tất cả những kinh nghiệm xã hội mà các thế hệ đi trước đã tích luỹ và truyền lại, đồng thời phải làm phong phú thêm những kinh nghiệm đó
Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt động dạy
và học, tức là làm sao để đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến đến mục tiêu của giáo dục” [47]
Quản lý nhà trường khác với quản lý xã hội khác, nó được quy định với bản chất lao động sư phạm của nhà giáo, bản chất của quá trình dạy học, đào tạo và quá trình giáo dục người học, trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là chủ thể sáng tạo chủ động vừa là đối tượng quản lý Sản phẩm của các hoạt động giáo dục trong nhà trường là nhân cách người học được hình thành trong quá trình học tập,
tu dưỡng và rèn luyện, phát triển theo yêu cầu phát triển của xã hội
Tóm lại, quản lý nhà trường là quản lý giáo dục được thực hiện trong phạm
vi xác định của một đơn vị giáo dục nhà trường, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội Bản chất của quản lý nhà trường là quản
lý hoạt động dạy, học và quản lý các hoạt động giáo dục khác thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời có những nét riêng mang tính đặc thù của giáo dục
Trang 291.2.6 Quản lý công tác sinh viên
Quản lý CTSV chính là một bộ phận của quản lý nhà trường (trường đại học)
mà mục tiêu hướng tới là giúp SV phát triển toàn diện Từ đặc điểm, nội dung, cách
thức tiến hành CTSV trong các trường đại học hiện nay có thể định nghĩa: Quản lý
CTSV là quá trình chủ thể quản lý thực hiện các chức năng quản lý để quản lý về mục tiêu, nội dung, phương pháp, các điều kiện đảm bảo thực hiện CTSV nhằm giúp SV phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ”
Từ thực tiễn quản lý CTSV ở nước ta hiện nay, có thể chia chủ thể quản lý CTSV ở các trường đại học thành 02 loại:
- Chủ thể quản lý CTSV ở bên trên và bên ngoài nhà trường nhằm định hướng
và tạo điều kiện cho CTSV của các trường đại học hoạt động và phát triển Các chủ thể bên trên và bên ngoài nhà trường bao gồm: Bộ GDĐT, các bộ, ngành, cơ quan quản lý nhà trường, UBND các cấp nơi trường trú đóng và sự hợp tác, giám sát xã hội của các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan đơn vị sử dụng lao động và nhân dân, gia đình SV,
- Chủ thể quản lý CTSV ở bên trong nhà trường nhằm tổ chức thực hiện các các chủ trương, chính sách về CTSV thành các kế hoạch hoạt động, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra để đưa CTSV của nhà trường đạt tới những mục tiêu đã đề ra Chủ thể quản lý bên trong nhà trường được xác định bao gồm toàn bộ các thành viên của nhà trường, từ lãnh đạo nhà trường, các phòng ban chức năng, cán bộ, giảng viên, cố vấn học tập, tổ chức Đảng, Đoàn, Hội và chính SV Đối tượng tác động chính của quản lý CTSV bên trong nhà trường chính là SV Trong việc thực hiện quá trình quản lý CTSV, mọi thành viên của nhà trường đều có thể tham gia vào một hay nhiều hoạt động quản lý, từ việc xây dựng kế hoạch CTSV, tổ chức CTSV, lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá CTSV Quá trình quản lý CTSV nhằm tạo ra sự thống nhất về nhận thức và hành động, thay đổi hành vi và ý thức của mỗi thành viên trong nhà trường, định hướng và tăng hiệu quả lao động của họ để đạt mục tiêu của CTSV
là giúp SV phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ
Như vậy, quản lý CTSV là một quá trình tổ chức rất phức tạp của chủ thể quản lý nhằm tạo ra sự thống nhất, sự đồng thuận của các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động, tổ chức, lãnh đạo, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá CTSV nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của CTSV, đưa CTSV của nhà trường đạt được những mục tiêu đề ra; phát huy tối đa những yếu tố thuận lợi (về quan điểm, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước, điều kiện kinh tế - xã hội, lịch sử, văn hóa truyền thống của nhà trường,…)
Trang 30đồng thời hạn chế tối đa các ảnh hưởng tiêu cực ngoài xã hội đến sự phát triển toàn diện của SV Trong luận án này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý CTSV đối với các chủ thể quản lý ở bên trong nhà trường Đối với những chủ thể quản lý ở bên trên và bên ngoài nhà trường, luận án đưa ra những khuyến nghị đối với từng chủ thể nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho CTSV ở các trường đại học hoạt động và phát triển
1.2.7 Đào tạo theo học chế tín chỉ
1.2.7.1 Tín chỉ
Khái niệm tín chỉ (Credit) được sử dụng để chỉ một đơn vị chuẩn dùng để đo kết quả học tập và sự tiến bộ của SV Tín chỉ là đại lượng đo khối lượng lao động học tập trung bình của người học, tức là toàn bộ thời gian mà một người học bình thường phải sử dụng để học một môn học Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng kiến thức và kỹ năng theo yêu cầu của môn học mà SV cần phải tích lũy được trong một khoảng thời gian nhất định Tuy nhiên, về mặt định lượng, khái niệm này có nhiều cách định nghĩa khác nhau
Trong luận án này, chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm tín chỉ được định
nghĩa bởi tác giả James Quann, Đại học Quốc gia Washington (Mỹ):“Tín chỉ học
tập là một đại lượng đo toàn bộ phần thời gian bắt buộc của một SV bình thường
để học một môn học cụ thể, gồm 3 thành tố: 1/Thời gian trên lớp; 2/Thời gian học tập ở phòng thí nghiệm, studio, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định trong thời khóa biểu; 3/ Thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn
đề hoặc chuẩn bị bài Đối với môn học lý thuyết, 1 tín chỉ cần có 1 giờ tiếp xúc trực tiếp trên lớp với 2 giờ chuẩn bị bài ở nhà trong một tuần và được kéo dài trong 15 tuần học kỳ 2 quý hoặc 10 tuần học kỳ 1 quý Đối với các môn học ở sudio, phòng thí nghiệm, ít nhất 2 giờ tiếp xúc trong tuần với 1 giờ chuẩn bị ở nhà; đối với việc
tự học, tự nghiên cứu, ít nhất cần 3 giờ làm việc hàng tuần cho 1 giờ tín chỉ” [dẫn
Trang 31Học chế tín chỉ giúp cá thể hóa việc học tập trong một nền giáo dục đại học cho
số đông Triết lý làm nền tảng cho học chế tín chỉ là “giáo dục hướng về người học” và
“giáo dục đại học đại chúng” Quan điểm nền tảng của học chế tín chỉ là sự tích lũy kiến thức, góp nhặt dần dần kiến thức, tích lũy đến đâu thì được ghi nhận đến đấy, trong đó chú trọng việc đánh giá kết quả học tập thường xuyên của người học
1.2.7.3 Đào tạo theo học chế tín chỉ
Đào tạo theo học chế tín chỉ là phương thức đào tạo cho phép SV đạt được văn bằng hoặc chứng chỉ sau khi đã tích lũy đủ số học phần (được đo bằng số tín chỉ) theo chương trình đào tạo đối với từng loại văn bằng, chứng chỉ Đây cũng chính là sự khác biệt căn bản giữa đào tạo theo học chế tín chỉ với các loại hình đào tạo không theo học chế tín chỉ (theo niên chế, theo học phần), SV chỉ cần có chứng nhận đã hoàn thành đủ số tín chỉ theo yêu cầu của chương trình đào tạo là có thể được cấp bằng tốt nghiệp, không bắt buộc học theo khóa học, học gì trước, học gì sau Trong khi đó, đào tạo không theo học chế tín chỉ yêu cầu người học phải học xong tất cả các học phần đã quy định trong một khóa học và các học phần được sắp xếp, bố trí trước sau, bắt buộc người học phải tuân thủ Đào tạo theo học chế tín chỉ chuyển quyền quyết định mục đích đào tạo cũng như lựa chọn các học phần, xây dựng kế hoạch học tập cho SV trong điều kiện quy định công khai số lượng và cấu trúc môn học
1.3 Công tác sinh viên ở các trường đại học Việt Nam trong đào tạo theo học chế tín chỉ
1.3.1 Tầm quan trọng và nội dung của công tác sinh viên
1.3.1.1 Vị trí, vai trò của công tác sinh viên
1/ Công tác sinh viên là bộ phận hữu cơ trong tổng thể hoạt động giáo dục và
đào tạo của trường đại học: Sinh viên vừa là đối tượng, vừa là chủ thể và là mục
tiêu của giáo dục - đào tạo Một trường đại học không có SV thì không cần đến giảng viên và cán bộ, nhân viên Có thể coi SV chính là phần “gốc” để trường đại học tập trung xây dựng và tổ chức đào tạo Chất lượng đào tạo của nhà trường là sự phản ánh
rõ nét nhất về uy tín và đóng góp của nhà trường đối với sự phát triển của đất nước Chính vì vậy, nhà trường phải quan tâm, tạo mọi điều kiện để SV được phát triển toàn diện Ngoài việc quản lý, tổ chức các hoạt động hỗ trợ và dịch vụ SV, CTSV còn trực tiếp giáo dục về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kỹ năng sống, định hướng nghề nghiệp, việc làm, giáo dục thẩm mỹ, thể chất cho SV Thông qua việc tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, tình nguyện, truyền thông chăm sóc sức khỏe SV, CTSV tạo môi trường lành mạnh để SV học tập và rèn luyện, thực hiện
Trang 32tốt quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đối với nhà trường và xã hội theo quy
định của pháp luật Do vậy, CTSV là hoạt động trọng tâm trong tổng thể các hoạt
động giáo dục và đào tạo của trường đại học CTSV nhất thiết phải được triển khai một cách hệ thống, đồng bộ cùng với các hoạt động trọng tâm của nhà trường và phải có những đóng góp thiết thực, cụ thể cho việc đào tạo nhân tài, nghiên cứu
khoa học và phục vụ xã hội của nhà trường
2/ Công tác sinh viên đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của người học:
Luật Giáo dục năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Luật Giáo dục đại học năm 2012 đã quy định rõ quyền, nghĩa vụ của SV CTSV trong trường đại học trực tiếp đảm bảo thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ của SV, thể hiện ở các nội dung sau:
- Thông qua các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, văn nghệ, thể thao ngoại khóa, rèn luyện kỹ năng, chăm sóc sức khỏe đối với SV và việc ban hành, tổ chức thực hiện các quy chế, quy định, CTSV giúp SV nhận thức và thực hiện đầy đủ quyền của người học trong trường đại học Người học được tôn trọng, đối xử bình đẳng, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tôn giáo, nguồn gốc xuất thân; được tạo điều kiện, giúp đỡ, tư vấn trong học tập, rèn luyện, nghiên cứu khoa học và công nghệ; được tham gia các hoạt động thể thao, văn hóa, văn nghệ, giải trí lành mạnh trong và ngoài nhà trường; được cung cấp đầy đủ thông tin về việc học tập và rèn luyện của mình; được tham gia đóng góp ý kiến, tham gia quản lý và giám sát, đánh giá các hoạt động giáo dục của nhà trường; được tham gia các đoàn thể, tổ chức xã hội trong nhà trường,…
- CTSV định hướng, dẫn dắt, tổ chức để SV thực hiện tốt các nghĩa vụ của công dân và nghĩa vụ của người học trong trường đại học Ngoài nghĩa vụ học tập, rèn luyện theo chương trình, kế hoạch giáo dục của nhà trường, CTSV còn tổ chức cho SV tham gia lao động, các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng; tham gia bảo
vệ an ninh, trật tự trường học, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội; phòng chống tiêu cực, gian lận trong học tập, thi cử,…
3/Công tác sinh viên tạo sự ổn định để phát triển nhà trường, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Nhà trường không thể tổ chức tốt hoạt
động dạy và học trong tình trạng an ninh, trật tự trường học không đảm bảo, tư tưởng của SV bất ổn, không đồng thuận với các chủ trương, chính sách của nhà trường Vì vậy, nhà trường cần phải thực hiện tốt công tác tổ chức, quản lý SV, thường xuyên nắm bắt, định hướng về tư tưởng và giải quyết các nguyện vọng chính đáng của sinh viên, không để các vấn đề bất ổn trong SV phát sinh, lan rộng, kéo dài Đồng thời phải chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng ở địa
Trang 33phương trong công tác đảm bảo an ninh, trật tự, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội nhằm tạo môi trường giáo dục lành mạnh, trật tự, an toàn, tạo sự ổn định để
thực thi các chính sách phát triển nhà trường
Mặt khác, SV là lực lượng rất nhạy cảm với các vấn đề của xã hội, đôi khi cực đoan nếu không được định hướng tốt Trong bối cảnh của đất nước ta hiện nay,
để không ngừng phát triển về kinh tế - xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa thì điều kiện tiên quyết là phải giữ được sự ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội, mà then chốt là sự ổn định trong tầng lớp thanh niên, SV Từ bài học của cuộc “cách mạng màu” diễn ra tại các nước Đông Âu trước kia và cuộc khủng hoảng chính trị diễn ra tại các nước khu vực Trung Đông và Bắc Phi thời gian gần đây, nhất là hiện nay việc phá hoại tư tưởng và tập hợp lực lượng đã trở lên dễ dàng hơn rất nhiều với công cụ internet và công nghệ viễn thông, chúng ta càng không thể chủ quan, không quan tâm đến việc nắm bắt, định hướng về tư tưởng chính trị cho đội ngũ thanh niên, SV Để làm được điều đó thì công tác giáo dục tư tưởng, chính trị và quản lý SV trong các nhà trường phải được coi trọng hàng đầu và phải được thực hiện thường xuyên, hiệu quả Làm tốt CTSV trong các nhà trường là góp phần quan trọng cho sự ổn định và phát triển của đất nước
4/Công tác sinh viên là cầu nối giữa sinh viên với nhà trường; giữa nhà trường, sinh viên với gia đình, đoàn thể, cộng đồng xã hội, cơ quan đơn vị sử dụng lao động: Công tác sinh viên đảm bảo thực thi các chính sách của Nhà nước, nhà
trường đối với SV, điều chỉnh tổng hợp các quan hệ giữa nhà trường, giảng viên và
SV trong cùng quỹ đạo phát triển chung CTSV phải giúp SV nắm vững và thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Nhà nước, nội quy, quy định của nhà trường Các chính sách, quy định của nhà trường đối với SV sẽ không được thực thi hiệu quả nếu không có sự tuyên truyền, giải thích để SV hiểu, tin tưởng và tự giác chấp hành Mặt khác, CTSV cũng tạo môi trường, khích lệ để SV tham gia quản lý nhà trường, đóng góp vào chiến lược, kế hoạch phát triển chung của nhà trường, vào nội dung chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy của giảng viên; biến quá trình quản lý SV thành quá trình tự quản lý
Bên cạnh đó, CTSV còn góp phần thực hiện nguyên lý giáo dục của nhà trường kết hợp với giáo dục của gia đình và xã hội Mặt khác, thông qua việc tổ chức các hoạt động thực tiễn, tình nguyện, tư vấn, định hướng về nghề nghiệp, việc làm và quan hệ với cơ quan, đơn vị sử dụng lao động, CTSV sẽ giúp SV nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của bản thân với cộng đồng, giúp cho việc đào tạo
Trang 34của nhà trường sát với yêu cầu của thực tiễn, đạt được mục đích phục vụ xã hội của nhà trường
1.3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công tác sinh viên
1/ Chức năng: Chức năng cơ bản của CTSV là giáo dục, rèn luyện SV phát
triển toàn diện theo đúng các mục tiêu của giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa
Việc giáo dục, rèn luyện SV phát triển toàn diện được đánh giá dựa trên một
số tiêu chí cơ bản sau đây:
- Về phẩm chất chính trị: SV cần phải có bản lĩnh chính trị, yêu nước, tin tưởng và làm theo chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng; tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội, nhận thức đúng đắn và phê phán âm mưu, thủ đoạn chính trị của các thế lực thù địch chống phá Đảng và Nhà nước ta
- Về đạo đức, lối sống, thẩm mỹ: SV cần có ý thức tôn trọng, làm theo pháp luật
và các chuẩn mực đạo đức trong các quan hệ xã hội; có nhận thức và hành vi phù hợp với nếp sống văn minh, tiến bộ và các giá trị đạo đức của dân tộc Có đạo đức nghề nghiệp, ý thức trách nhiệm của cá nhân đối với xã hội; biết cảm nhận và yêu cái đẹp, biết phê phán những biểu hiện của lối sống thực dụng, ích kỷ, không phù hợp với các giá trị văn hoá truyền thống dân tộc Việt Nam
- Về trí lực: SV phải có ham muốn khám phá tri thức, vận dụng và mở rộng những kiến thức được học; có năng lực sáng tạo, tìm tòi, nghiên cứu, khắc phục những khó khăn trong học tập để dần đạt đến trình độ cao của khoa học
- Về nghề nghiệp: SV phải có sự chuẩn bị tốt cho sự phát triển của nghề nghiệp trong tương lai Cần có sự tìm hiểu, nghiên cứu về nghề nghiệp được học; đánh giá về năng lực, sở trường, sở đoản của bản thân để có sự rèn luyện về tác phong công nghiệp, các kỹ năng cần có nhằm đáp ứng và phát huy năng lực nghề nghiệp sau khi ra trường
- Về thể lực: SV cần tích cực vận động, luyện tập thể dục, thể thao để có thân thể khoẻ mạnh; có thói quen ăn uống, sinh hoạt điều độ, đảm bảo dinh dưỡng, không lạm dụng rượu, bia, sử dụng chất gây nghiện; có kiến thức và kỹ năng phòng chống bệnh tật, tai nạn thương tích
- Về tinh thần, tình cảm: SV cần có đời sống tinh thần phong phú, hình thành quan niệm về thế giới, quan niệm về giá trị và mục đích sống để điều chỉnh hoạt động của bản thân Có thái độ lạc quan, tin tưởng vào những giá trị tốt đẹp của cuộc sống, có tinh thần đoàn kết, tin tưởng, thương yêu và tôn trọng con người
Trang 352/ Nhiệm vụ: Tùy theo đặc thù về truyền thống, lịch sử, văn hóa, tôn chỉ,
mục đích, tình hình SV, CTSV của mỗi nhà trường có những nhiệm vụ cụ thể khác
nhau, nhưng đều hướng đến những nhiệm vụ chung sau đây:
- Đối với xã hội: CTSV giúp SV hiểu về truyền thống lịch sử, phát huy tinh
thần tự tôn dân tộc, bảo vệ độc lập, chủ quyền quốc gia, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng; học tập và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; tự giác chấp hành và bảo vệ hiến pháp và pháp luật, thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của công dân - SV theo quy định của pháp luật; có lối sống lành mạnh, văn minh, ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng và phát triển xã hội Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh; tổ chức cho SV thể hiện trách nhiệm của bản thân trong các hoạt động vì cộng đồng
- Đối với nhà trường: CTSV có nhiệm vụ: Giúp SV nắm vững và thực hiện
tốt tôn chỉ, mục đích, nội quy, quy định của nhà trường nhằm ổn định và phát triển nhà trường Khích lệ, tăng cường tính tự giác, chủ động, sáng tạo của SV tham gia quản lý nhà trường và các hoạt động có liên quan Xây dựng và tổ chức thực hiện các quy tắc ứng xử văn hóa trong trường học đối với SV; cụ thể hóa tư tưởng chỉ đạo, các quan niệm giá trị của nhà trường Xây dựng, điều phối và giữ vững mối quan hệ giữa nhà trường, cán bộ, giảng viên với SV trong các hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học và rèn luyện; giữa phòng, ban làm CTSV với các phòng, ban khác của nhà trường có liên quan đến sinh viên; giữa nhà trường, SV với các cơ quan, đơn vị sử dụng lao động; giữa nhà trường với chính quyền và các tổ chức đoàn thể ở địa phương Theo dõi, đánh giá, tổng hợp, phân tích tình hình về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, học tập, rèn luyện của SV nhằm giúp nhà trường điều chỉnh, nâng cao năng lực quản lý, cải thiện chất lượng phục vụ đối với SV Quản lý hiệu quả nguồn nhân lực và tài lực có liên quan đến SV Thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo an ninh, trật tự trường học, xử lý các vụ việc liên quan đến SV
- Đối với sinh viên: Ngoài nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục, quản lý, CTSV của
mỗi nhà trường đều hướng đến nhiệm vụ trọng tâm là hỗ trợ, phục vụ sự phát triển của
SV CTSV giúp đỡ, tư vấn để SV làm quen với môi trường, phương pháp học đại học, phương pháp nghiên cứu khoa học, xây dựng mục tiêu để hoàn thành tốt nhiệm vụ học tập và định hướng cho sự phát triển nghề nghiệp, việc làm sau khi tốt nghiệp; giúp SV thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình học tập tại trường; phối
Trang 36hợp tổ chức thực hiện tốt các dịch vụ công liên quan đến SV như: công tác hành chính, thư viện, ký túc xá, nhà ăn, hoạt động văn hóa, thể thao, vui chơi, giải trí,…
1.3.1.3 Nội dung công tác sinh viên
Từ chức năng và nhiệm vụ của CTSV nêu trên, tác giả luận án đã đề xuất thiết kế nội dung CTSV như một thể thống nhất giữa các lĩnh vực: giáo dục, tuyên truyền, quản lý, hỗ trợ và dịch vụ SV (Đề xuất này đã được Bộ GDĐT đưa vào nội dung Thông tư số 10/2015/TT-BGDĐT ngày 20/4/2015 của Bộ GDĐT ban hành Quy chế CTSV đối với chương trình đào tạo đại học hệ chính quy [17]), cụ thể:
1/ Công tác giáo dục, tuyên truyền bao gồm những nội dung:
- Giáo dục, tuyên truyền về tư tưởng chính trị: Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng Sử dụng hệ thống tư tưởng xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản để định hướng, giác ngộ, giúp SV nâng cao nhận thức về thế giới và cải tạo thế giới; nắm vững và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, có bản lĩnh chính trị, yêu tổ quốc xã hội chủ nghĩa, cảnh giác và biết phê phán những luận điểm xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước
- Giáo dục đạo đức, lối sống: Giáo dục cho SV những giá trị, truyền thống
đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, những chuẩn mực đạo đức chung của xã hội
và giáo dục đạo đức nghề nghiệp, biết phê phán những hành vi không phù hợp với chuẩn mực đạo đức Định hướng, giáo dục lối sống, hành vi lành mạnh, văn minh, tiến bộ phù hợp với bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam; giáo dục ý thức trách nhiệm của cá nhân SV đối với xã hội
- Giáo dục, tuyên truyền phổ biến pháp luật: Nâng cao nhận thức và ý thức
tuân thủ pháp luật nhằm thay đổi hành vi, thói quen sống và làm việc theo pháp luật Nội dung giáo dục pháp luật đối với SV tập trung vào các quy chế, quy định
về học tập và rèn luyện; pháp luật về phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội; đảm bảo trật tự an toàn giao thông,
- Giáo dục kỹ năng: Kỹ năng sống, kỹ năng mềm để hỗ trợ nghề nghiệp, việc
làm (làm việc nhóm, thuyết trình, đàm phán, ngoại ngữ, tin học, )
- Giáo dục thể chất: Bao gồm sức khỏe thể lực và sức khỏe tinh thần Giáo
dục, hướng dẫn phương pháp luyện tập thể dục, thể thao và tổ chức các hoạt động thể thao trong nhà trường; giáo dục kiến thức về ăn uống đảm bảo dinh dưỡng, vệ sinh an toàn thực phẩm, sinh hoạt điều độ, không lạm dụng rượu, bia, sử dụng chất gây nghiện; kiến thức và kỹ năng chăm sóc sức khỏe, phòng chống dịch, bệnh, tai nạn thương tích; kỹ năng đối phó với các tình huống phức tạp trong cuộc sống
Trang 37- Giáo dục thẩm mỹ: Giáo dục kiến thức, kỹ năng để SV biết yêu và cảm thụ
cái đẹp trong tự nhiên, cuộc sống xã hội và trong nghệ thuật thông qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao, hoạt động phong trào SV tình nguyện Hình thành năng lực phán đoán và đánh giá thẩm mỹ; hình thành thị hiếu, lý tưởng thẩm
mỹ đúng đắn; hình thành năng lực sáng tạo nghệ thuật, lòng ham muốn và khả năng mang cái đẹp vào đời sống học tập, lao động và ứng xử Có thái độ phê phán cái xấu, phản thẩm mỹ trong tâm hồn, trong hành vi ứng xử, trong hình dáng, trang phục, trong nghệ thuật,
2/ Quản lý sinh viên bao gồm những nội dung:
- Công tác hành chính: Tổ chức tiếp nhận thí sinh trúng tuyển, sắp xếp, bố
trí SV vào các lớp; làm thẻ SV, tổ chức phát bằng tốt nghiệp; theo dõi, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch, nền nếp học tập của SV; thống kê, tổng hợp dữ liệu và quản lý, lưu trữ hồ sơ liên quan đến SV; giải quyết các công việc hành chính có liên quan đến SV
- Công tác thi đua - khen thưởng: Theo dõi, đánh giá ý thức học tập và rèn
luyện của SV; phân loại, xếp loại rèn luyện SV cuối mỗi học kỳ, năm học, khóa học; ban hành, tuyên truyền, giải thích các quy định, chế độ khen thưởng khuyến khích và phát động, tổ chức phong trào thi đua; Tổ chức đánh giá, bình bầu và khen thưởng cho tập thể, cá nhân SV đạt thành tích cao trong học tập và rèn luyện; tổ chức cho
SV nghiên cứu khoa học, thi Olympic các môn học, thi sáng tạo tài năng trẻ và các hoạt động khuyến khích học tập khác
- Công tác kỷ luật: Căn cứ vào các quy định của pháp luật, quy chế của Bộ
GDĐT và thực tiễn, nhà trường ban hành các nội quy, quy định về học tập và rèn luyện mang tính chất bắt buộc mọi SV đều phải tuân thủ SV vi phạm pháp luật, nội quy, quy định của nhà trường tùy theo mức độ sẽ bị xem xét, kỷ luật từ mức độ khiển trách, cảnh cáo đến đình chỉ học tập có thời hạn hoặc cao nhất là buộc thôi học Công tác quản lý kỷ luật đối với SV chú trọng việc tuyên truyền, giải thích, vận động để SV tự giác chấp hành; xử lý kỷ luật đảm bảo tính nghiêm minh, răn đe, tạo điều kiện để SV sửa chữa khuyết điểm Việc kỷ luật SV phải theo quy trình, trình tự nhất định và phải thông qua biểu quyết theo số đông của Hội đồng kỷ luật của nhà trường
- Công tác sinh viên nội trú: Căn cứ điều kiện cơ sở vật chất cụ thể của nhà
trường, xét thứ tự ưu tiên SV được ở trong ký túc xá, nhà trường tổ chức ký hợp đồng và sắp xếp chỗ ở nội trú cho SV Thực hiện các biện pháp quản lý và hỗ trợ
SV ở nội trú bao gồm: Làm thủ tục đăng ký tạm trú cho SV theo quy định; lập sơ
Trang 38đồ, sổ theo dõi SV ở nội trú; tổ chức các hoạt động tự quản của SV, xây dựng tiêu chí, tổ chức thi đua giữa các phòng, các khu nhà nội trú về an ninh trật tự, an toàn,
vệ sinh môi trường; ban hành nội quy, quy định khu nội trú, tổ chức tuyên truyền, hướng dẫn SV và tổ chức kiểm tra, giám sát thực hiện; tổ chức bảo vệ bảo đảm an ninh, trật tự, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội trong khu nội trú; thực hiện các biện pháp phòng chống cháy nổ, tai nạn thương tích, dịch bệnh trong khu nội trú; tổ chức các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ trong khu nội trú như: phòng tự học, vui chơi, giải trí, luyện tập thể thao, dịch vụ trông giữ xe, nhà ăn, căng –tin, các hoạt động tư vấn và chăm sóc sức khỏe SV ở nội trú
- Công tác sinh viên ngoại trú: Hướng dẫn, tư vấn cho SV tìm chỗ ở ngoại trú
phù hợp, an toàn và thủ tục đăng ký tạm trú với chính quyền địa phương; lập sổ theo dõi, cập nhật thông tin nơi cư trú của SV ở ngoại trú; định kỳ phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức kiểm tra việc ăn ở, học tập và chấp hành quy định của địa phương đối với SV ở ngoại trú; đưa việc thực hiện các nghĩa vụ của SV ở ngoại trú là một trong các tiêu chí để đánh giá kết quả rèn luyện của SV
- Đảm bảo an ninh, trật tự trường học: Ban hành các nội quy, quy định, xây
dựng kế hoạch, tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản chỉ đạo, văn bản quy phạm pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác bảo đảm an ninh, trật tự
an toàn xã hội, phòng chống tội phạm, tệ nạn xã hội trong sinh viên Xây dựng môi trường giáo dục của nhà trường lành mạnh, an toàn đảm bảo cho các hoạt động học tập, rèn luyện của sinh viên Theo dõi, nắm bắt diễn biến tư tưởng, hành vi của SV
để có sự định hướng, giáo dục; phối hợp ngăn chặn việc kích động, lôi kéo SV tham gia các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, tham gia các tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật; phối hợp xử lý các vụ việc về an ninh, trật tự trường học và các vụ việc liên quan đến SV ở trong và ngoài nhà trường
3/ Hỗ trợ và dịch vụ sinh viên: CTSV tổ chức các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ đối
với SV trong suốt quá trình học tập, rèn luyện tại trường bao gồm:
- Thực hiện các chế độ, chính sách đối với sinh viên: hướng dẫn, theo dõi, tổng
hợp và giải quyết các chế độ, chính sách đối với SV theo quy định của pháp luật, bao gồm các chính sách về miễn, giảm học phí; học bổng và trợ cấp xã hội; tín dụng đào tạo; chế độ cử tuyển,…
- Tư vấn học tập: hỗ trợ SV xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với mục tiêu
và năng lực; cung cấp thông tin về chương trình đào tạo, hướng dẫn SV tiếp cận các nguồn lực nhằm nâng cao khả năng, học tập hiệu quả
Trang 39- Tư vấn hướng nghiệp, giới thiệu việc làm: Giới thiệu về nội dung, đặc
điểm, chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến ngành, nghề được đào tạo;
tổ chức câu lạc bộ hướng nghiệp, hoạt động ngoại khóa, giao lưu với các đơn vị sử dụng lao động; giúp người học bổ sung những kiến thức và các kỹ năng cần thiết để hòa nhập với môi trường làm việc sau khi tốt nghiệp Thiết lập hệ thống thông tin việc làm, thông tin hai chiều giữa nhà trường và đơn vị sử dụng lao động để tư vấn, giới thiệu việc làm cho sinh viên; tư vấn cho SV chuẩn bị tốt nghiệp các kỹ năng tìm việc làm hiệu quả; tổ chức các cuộc giao lưu, hội thảo, hội chợ việc làm; cung cấp các dịch vụ làm việc bán thời gian cho sinh viên Đánh giá, khảo sát thống kê
về việc làm của người học sau khi tốt nghiệp; xây dựng cơ sở dữ liệu về SV đã tốt nghiệp để cung cấp cho tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng lao động
- Tư vấn tâm lý, chăm sóc sức khỏe: Hỗ trợ SV khi gặp phải các vấn đề về
tâm lý - xã hội; phối hợp tổ chức các dịch vụ tư vấn, chăm sóc sức khỏe để có sự hỗ trợ, can thiệp cần thiết khi SV gặp phải các vấn để bất ổn về thể chất và tinh thần
Tổ chức khám sức khỏe đầu vào và định kỳ cho sinh viên; tư vấn, tổ chức cho SV tham gia bảo hiểm y tế (bắt buộc và tự nguyện); sơ, cấp cứu, khám chữa bệnh ban đầu cho sinh viên
- Hỗ trợ tài chính: Tìm kiếm, phối hợp với các tổ chức, cá nhân hảo tâm xây
dựng, quản lý các quỹ học bổng; tổ chức trao học bổng tài trợ cho SV xuất sắc, SV
có hoàn cảnh gia đình khó khăn, SV khuyết tật
- Tổ chức, quản lý các dịch vụ về học tập, rèn luyện, sinh hoạt: Tổ chức dịch vụ
sự nghiệp cho SV như: internet, điện thoại, nhà ăn, căng - tin, trông giữ xe, sân chơi, bãi tập, dịch vụ văn hóa, thể thao,
1.3.2 Đặc điểm của đào tạo theo học chế tín chỉ
1.3.2.1 Tổ chức đào tạo
Đào tạo theo học chế tín chỉ được truyền bá nhanh chóng và áp dụng rộng rãi trên thế giới và ở Việt Nam nhờ có nhiều ưu điểm, đặc biệt là việc hướng về SV, lấy
SV là trung tâm của quá trình đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc học tập
và phát triển nghề nghiệp của SV Việc tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ có rất nhiều đặc điểm khác biệt với những phương thức đào tạo khác Trong luận án này, tác giả chỉ trình bày một số nội dung cơ bản trong tổ chức đào tạo theo học chế tín chỉ có liên quan trực tiếp đến đề tài và tác động trực tiếp đến việc học tập và rèn luyện của
SV, cụ thể là:
1/Chương trình đào tạo được thiết kế theo hướng tích lũy tín chỉ: Chương
trình đào tạo theo học chế tín chỉ được cấu trúc từ các học phần thuộc hai khối kiến
Trang 40thức:1/Khối kiến thức đại cương bao gồm các học phần bắt buộc và tự chọn được thiết kế chung cho ngành hoặc nhóm ngành đào tạo 2/Khối kiến thức chuyên ngành bao gồm các học phần bắt buộc và tự chọn thuộc các khối kiến thức cơ sở ngành, kiến thức ngành hoặc chuyên ngành, kiến thức bổ trợ (kỹ năng), thực hành chuyên môn Các học phần bắt buộc chiếm khoảng 80% và học phần tự chọn chiếm khoảng 20% chương trình đào tạo Học phần được cấu trúc chặt chẽ với khối lượng kiến thức tương đối trọn vẹn, được giảng dạy, phân bố đều trong mỗi học kỳ và được đánh giá độc lập so với những học phần khác nên rất thuận tiện cho SV tích lũy trong quá trình học tập Quá trình học tập của SV chính là sự tích lũy kiến thức theo học phần (mỗi học phần thường có 2 - 4 tín chỉ) Khi SV hoàn thành học phần
và đạt kết quả học tập theo yêu cầu sẽ được cấp chứng nhận hoàn thành các tín chỉ cho khối lượng kiến thức đó Trong cùng một trình độ học, các tín chỉ có giá trị như nhau, do đó tạo điều kiện thuận lợi cho SV có thể chuyển ngành học hoặc cùng một lúc học hai chương trình đào tạo
2/Tổ chức hoạt động dạy và học: Hoạt động dạy và học trong đào tạo theo
học chế tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự học của
SV Ba hình thức dạy và học này tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học, cụ thể là: Một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) giảng viên dạy lý thuyết và 2 tiết SV tự học, tự nghiên cứu có hướng dẫn của giảng viên Một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết giảng viên hướng dẫn SV thực hành, thực tập trên lớp và 1 tiết cho SV chuẩn bị cho bài tập, bài thực hành đó Một giờ tín chỉ tự học bao gồm ba tiết SV tự học, tự nghiên cứu,
tự thực hành theo sự hướng dẫn của giảng viên và sự tìm tòi, nghiên cứu của bản thân Giờ tín chỉ này được thực hiện ở nhà, thư viện, phòng thí nghiệm, Giờ lý thuyết và giờ thực hành được bố trí vào thời khóa biểu của nhà trường SV cần 3 giờ chuẩn bị cho giờ lý thuyết và giờ thực hành và 3 giờ tự nghiên cứu các vấn đề liên quan đến môn học mà giảng viên yêu cầu
Bảng 1.2 Hình thức tổ chức thực hiện một giờ tín chỉ Giờ tín chỉ Lý thuyết Thực hành
(thí nghiệm, xemina)
Tự học (tự nghiên cứu)
Tổng