Như vậy bên cạnh việc đổi mới nội dung chương trình và kiểm tra đánh giá kết quả học, đổi mới phương pháp giảng dạy thì vấn đề nâng cao năng lực tự học của học sinh, sinh viên được các n
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Mã số: 8140111
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Nhã
HÀ NỘI – 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy cô giảng viênđã tạo điều kiện cũng như tận tình chỉ dẫn tác giả trong suốt quá trình học tập tại trường
Tiếp đếntác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cùng ban chủ nhiệm khoa Khoa học cơ bản và các anh chị em đồng nghiệp tại trường đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong thời gian học tại Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội và trong thời gian tác giả tiến hành thực nghiệm
Đặc biệttác giả xintrân trọng gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Nhã là người trực tiếp hướng dẫn tác giả trong quá trình làm luận văn Lòng nhiệt tình, sự tận tâm chỉ dẫn cùng những lời động viên hết sức quý báu của thầy là yếu tố góp phần đáng kể để tác giả hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tác giả xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ tác giả trong những lúc khó khăn
Tất cả sự động viên, giúp đỡ của nhà trường, quý thầy cô, gia đình và bạn bè là động lực giúp tác giảcó thể tiếp bước trên con đường nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 11 năm 2017
Tác giả
Vũ Văn Thế
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục bảng vi
Danh mục sơ đồ, đồ thị vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC 4
1.1.Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu 4
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài 4
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước 6
1.2 Quá trình Dạy học - Tự học 8
1.2.1.Dạy học 8
1.2.2.Hoạt động học và bản chất của hoạt động 10
1.2.3.Quá trình tự học 15
1.2.4.Vai trò của tự học trong hoạt động học 23
1.2.5 Các hình thức tự học 25
1.2.6 Vai trò của giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy tự học cho sinh viên 26
1.3.Năng lực tự học Vật lí của sinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 29
1.3.1 Khái niệm năng lực tự học 29
1.3.2 Đặc trưng về NLTH Vật lí của sinh viên Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 30
1.3.3 Những đặc điểm tâm lý cá nhân trong năng lực tự học Vật lí của sinh viên Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 32
1.4.Phát triển năng lực tự học Vật lí của sinh viên Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 34
Trang 6iv
1.4.1.Sử dụng hệ thống bài tập tự học trong dạy học theo hướng bồi dưỡng năng lực TH của SV 34 1.4.2 Sử dụng hệ thống phiếu học tập trong dạy học theo hướng bồi dưỡng NLTH của sinh viên 35 1.4.3 Sử dụng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học Vật lí theo hướng bồi dưỡng NLTH của sinh viên 35 1.5.Thực trạng tự học của sinh viên trong dạy môn Vật lí ở hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 36 1.5.1.Thực trạng hoạt động tự học của sinh viên ở hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 36 1.5.2 Thực trạng của việc bồi dưỡng NLTH cho sinh viên hệ Cao đẳng trong dạy học môn Vật lí ở Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 37 Kết luận chương 1 38
CHƯƠNG 2: PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN TRONG HỌC TẬP CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM”Ở CHƯƠNG TRÌNH VẬT LÍ ĐẠI CƯƠNG 39
2.1.Tổng quan về dạy học chương “Động lực học chất điểm” ở Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội 39 2.1.1 Vai trò, vị trí của chương “Động lực học chất điểm” 39 2.1.2 Nội dung kiến thức của chương “Động lực học chất điểm” 40 2.1.3 Một số khó khăn khi dạy học của chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương cho sinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp
Hà Nội 49 2.2.Thiết kế các tài liệu hỗ trợ dạy học chương “Động lực học chất điểm”, Vật líđại cương theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học 50 2.2.1 Nghiên cứu quá trình tổ chức dạy học theo hướng phát triển năng lực
tự học cho sinh viên 50
Trang 7v
2.2.2 Xây dựng hệ thống tài liệu hỗ trợ dạy học chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương theo hướng phát triển năng lực tự học cho sinh viên
50
2.3 Tổ chức dạy học chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương theo hướng phát triển năng lực tự học cho sinh viên 76
2.3.1 Đề xuất phương án sử dụng các tài liệu đã xây dựng trong dạy học chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương 76
2.3.2 Đề xuất một số phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy học chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương theo hướng phát triển NLTH của SV 76
2.3.3 Thiết kế một số tiến trình dạy học chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương theo hướng phát triển NLTH 77
Kết luận chương 2 87
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 88
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 88
3.2 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 88
3.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 89
3.3.1 Mức độ hoạt động tự lực của sinh viên trong giờ học về mặt định tính 89
3.3.2 Đánh giá định lượng kết quả của sinh viên 89
Kết luận chương 3 96
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
PHỤ LỤC 101
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Bảng thống kê số điểm các bài kiểm tra 90
Bảng 3.2 Bảng thống kê số sinh viên đạt điểm Xi trở xuống 91
Bảng 3.3 Bảng thống kê số % sinh viên đạt từ điểm Xi trở xuống 91
Bảng 3.4 Các thông số thống kê 91
Trang 9vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc hoạt động của A.N.Leonchiep 14
Sơđồ 2.1 Sơđồ tổng quát chương “Độnglực học chất điểm” 40
Sơđồ 2.2 Sơ đồ logic bài “các định luật Newton” 41
Sơđồ 2.3 Sơ đồ logic bàì “các định lí về động lượng” 42
Sơ đồ 2.4 Sơ đồ logic bài “ứng dụng phương trình cơ bản của cơ học” 44
Sơ đồ 2.5 Sơ đồ logic bài “mô men động lượng” 45
Sơ đồ 2.6 Sơ đồ logic bài “nguyên lý tương đối Galileo” 46
Sơ đồ 2.7 Sơ đồ logic bài “hệ quy chiếu không quán tính Lực quán tính”.48 Đồ thị 3.1 Phân phối tần suất lũy tích 92
Đồ thị 3.2 Phân phối tần suất 93
Trang 10có phần tự lập trong học vấn của mình– câu nói nổi tiếng của Walter Scott
đã khẳng định tầm quan trọng không thể thiếu của việc tự lập trong quá trình học tập Giảng viên không phải người “trút” kiến thức cho sinh viên mà phải
là người khơi gợi hứng thú học tập để từ đó người học ý thức tốt về nhu cầu học tập, nhằm xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn Tự học là một vấn đề rất được quan tâm Nó đã được đảng và nhà nước quán triệt và chỉ đạo sâu sắc từ nhiều năm qua
Tại điều 5, chương I, Luật Giáo dục đã ghi: “Phương pháp giáo dục
phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng năng lực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê và ý chí vươn lên”
Cũng nói về vấn đề tự học trong giáo dục, Nghị quyết trung ương Đảng kì họp thứ 8, Quốc hội khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo
dục Việt Nam đã nêu rõ:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và
học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực; chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kĩ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học cập nhật và đổi mới tri thức, kĩ năng phát triển năng lực”
Như vậy bên cạnh việc đổi mới nội dung chương trình và kiểm tra đánh giá kết quả học, đổi mới phương pháp giảng dạy thì vấn đề nâng cao năng lực tự học của học sinh, sinh viên được các nhà giáo dục và các nhà khoa học đặc biệt chú ý
Trong chương trình Vật lí đại cương , chương “Động lực học chất điểm” là nội dung trọng tâm, cơ bản Tuy nhiên, kiến thức phần này lại khó
Trang 112
và trừu tượng đối với sinh viên Khi dạy học chương “Động lực học chất điểm”, giảng viên gặp rất nhiều khó khăn trong việc hình thành các khái niệm, các định luật cho sinh viên Chính vì vậy, nghiên cứu dạy học chương
“Động lực học chất điểm” theo hướng bồi dưỡng NLTH sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Vật lí
Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu: Phát
triển năng lực tự học của sinh viên trong học tập chương “Động lực học chất điểm” ở chương trình Vật lí đại cương
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về tổ chức dạy học để thiết kế các tiến trình dạy học chương “Động lực họcchất điểm” Vật lí đại cương nhằm phát triển
năng lực tự học cho sinh viên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tự học Vật lí của sinh viên hệ Cao
đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu : Các tiến trình dạy học chương “Động lực học
chất điểm”, Vật lí đại cương
4 Giả thuyết khoa học
Nếu xây dựng được các tài liệu và tổ chức dạy học chương “Động lực họcchất điểm”, Vật lí đại cươngtheo hướng bồi dưỡng NLTH thì sẽ phát triển NLTH của sinh viên góp phần nâng cao chất lượng dạy học Vật lí
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tìm hiểu các tài liệu nhằm hệ
thống hoá cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học Vật lí theo hướng bồi
dưỡng NLTH
-Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng
bồi dưỡng năng lực tự học trong dạy học môn Vật lí cho sinh viên hiện nay
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức thực nghiệm sư phạm
để đánh giá tính hiệu quả và khả thi của các nội dung được đề xuất
Trang 123
- Phương pháp thống kê toán học: Phân tích, xử lý các số liệu thu được
qua thực nghiệm
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học Vật lí, vấn đề tự học và NLTH của sinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
- Nghiên cứu nội dung,mục tiêu chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn: Điều tra, đánh giá thực trạng TH và việc bồi dưỡng NLTH chosinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
- Thiết kế các tiến trình dạy học chương “Động lực họcchất điểm”, Vật lí đại cương theo hướng phát triển năng lực TH của SV
- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính cần thiết và khả thi của các tiến trình dạy học chương “Động lựchọc chất điểm” Vật lí đại cương đã đề xuất
7 Dự kiến đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc tổ chức dạy học môn Vật lí ở Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội theo hướng phát triển năng lực tự học cho sinh viên
- Thiết kế các tiến trình dạy học chương “Động lực học chất điểm”, Vật lí đại cương theo hướng phát triển năng lực tự học cho sinh viên
8 Cấu trúc luận văn
- Mở đầu
- Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học Vật lí theo hướng phát triển năng lực tự học
- Chương 2: Phát triển năng lực tự học của sinh viên trong học tập chương
“Động lực học chất điểm” ở chương trình Vật lí đại cương
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
- Kết luận và khuyến nghị
- Tài liệu tham khảo
- Phụ lục
Trang 134
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC VẬT LÍ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC
1.1 Tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài
Tự học được con người thực hiện từ rất sớm, ngay từ khi giáo dục còn chưa trở thành một ngành khoa học thực sự Ở thời kì đó người ta đã biết quan tâm đến việc làm sao cho người học chăm chỉ, tích cực ghi nhớ được những điều giáo huấn của thầy và thực hiện những điều ghi nhớ đó
Hình thức dạy học theo kiểu giáo viên là người hướng dẫn, tổ chức, giúp cho người học tự học, tích cực hoạt động để tự tìm ra tri thức đã được nghiên cứu rộng khắp thế giới từ lâu:Ở Mỹ từ những năm 1920 Helen Pankhutots đã nghiên cứu, đề xuất và triển khai kế hoạch Dalton tại trường Dalton là: Giáo viên có vai trò vạch ra những công việc cần làm và giao nhiệm vụ cho người học, còn người học tự quyết định kế hoạch thực hiện Toàn bộ hoạt động học tập của người học do họ tự thực hiện từ các phòng thí nghiệm, thực hành bộ môn và được kiểm soát bằng các phiếu học tập
Còn G.D.Sharmo và Shall.R.Ahmed đã nhận định: Hình thức hướng dẫn sinh viên tự học là một hình thức tổ chức học có hiệu quả.Cốt lỗi của hình thức này là quá trình điều khiển gián tiếp của giảng viên đối với quá trình tự học của sinh viên thông qua việc giao nhiệm vụ nhận thức đã được thiết kế thành dạng phù hợp, nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ học tập đã được xác định [13]
Trong các công trình nghiên cứucủa một số nhà giáo dục ở thế kỉ thứ XVII, họ đã rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của học sinh và nhấn mạnh phải khuyến khích người đọc giành lấy trí thức bằng con đường tự khám phá, tìm tòi và suy nghĩ trong quá trình học tập Trong đó, A Disterweg (1790 - 1866) cho rằng: Nghệ thuật sư phạm của
Trang 145
người thầy giáo không phải chỉ: “Dạy cho họ cách tìm ra chân lý” mà phải tăng cường tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu “Biến quá trình dạy học
thành quá trình tự học”.[14]
Theo T Makiggerchi đã nhấn mạnh: “ nhà giáo trước hết không phải
là người cung cấp thông tin mà là người hướng dẫn đắc lực cho sinh viên tự mình học tập tích cực ” Họ phải nhường quyền cung cấp tri thức cho sách
vở, tài liệu và cuộc sống, thay vào đó “Giáo viên phải là cố vấn”, là “Trọng
kể Trong đó phải nói đến sự xích lại gần nhau hơn giữa dạy học truyền thống
và các quan điểm dạy học hiện đại
Ở giai đoạn này khái niệm về người học cũng đã được thay đổi Nó
không còn bị cá thể hóa cực đoan như trước đây Theo J.Dewey: “Học sinh là
mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục” và nêu lên khẩu
hiệu “Nói, không phải là dạy học, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức
hoạt động của học sinh”[dẫn theo tài liệu “văn học nhà trường nhận diện tiếp
cận đổi mới” của Giáo sưPhan Trọng Luân] Tư tưởng “lấy học sinh làm
trung tâm” đã được cụ thể hóa thành nhiều phương pháp cụ thể như: “Phương pháp hợp tác” (cooperative methods), “phương pháp tích cực” (active
methods), “Phương pháp cá thể hóa”, “Phương pháp nêu vấn đề”, Trong tất cả các phương pháp trên thì “Phương pháp tích cực” đã được nghiên cứu
và triển khai rộng hơn cả Theo phương pháp này, giáo viên đóng vai trò gợi
sự chú ý kích thích, thúc đẩy học sinh tự hoạt động Vì thế, người học đóng vai trò trung tâm của quá trình dạy học, còn người dạy là chuyên gia của việc
Trang 156
học Ta có thể thấy tư tưởng “lấy học sinh là trung tâm” trong quá trình dạy
học nói riêng cũng như giáo dục nói chung, cần có sự phối hợp của nhiều
phương pháp, nhiều kĩ thuật, trong đó “phương pháp tích cực” là chủ đạo
mang tính nguyên tắc Đây chính là cơ sở để đưa ra những biện pháp bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh, sinh viên
Đồngtình với quan điểm trên, I.E.Kharlamov, nhà giáo dục Liên Xô đã
nói “ trong hệ thống công tác dạy học phải áp dụng rộng rãi những phương
pháp và thủ thuật hiệu nghiệm nhất để tổ chức việc học tập của học sinh, nhằm kích thích và phát triển của các em tính tích cực nhận thức” và “Học sinh sẽ thông hiểu và ghi nhớ những cái gì đã trải qua hoạt động nhận thức của bản thân bằng cách này hay cách khác”.[15]
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước
Vấn đề tự học ở Việt Nam cũng được chú ý từ rất sớm Ngay từ thời kỳ phong kiến, khi giáo dục chưa phát triển nhưng đất nước vẫn có nhiều nhân tài kiệt xuất Các nhân tài đó, bên cạnh yếu tố được những ông đồ tài giỏi chỉ dạy, thì yếu tố quyết định sự thành công của họ vẫn là tự học của bản thân Cũng chính vì thế mà người xưa coi trọng và nêu cao tinh thần tự học thành
tài Nhưng nhìn chung, lối giáo dục còn rất hạn chế “người học tìm thấy sự
bắt chước, đúng mà không cần độc đáo, người học học thuộc lòng ”
Đến thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, mặc dù nền giáo dục Âu Mỹ đã rất phát triển nhưng nền giáo dục nước ta vẫn chậm đổi mới Tự học không phải
là vấn đề được quan tâm nghiên cứu, phổ biến, nhưng thực tế thì tự học lại xuất hiện trong rất nhiều tầng lớp xã hội với nhu cầu rất cao
Từ những năm 1985, khi nền giáo dục cách mạng ra đời thì vấn đề tự học thực sự mới được phát động và nghiên cứu nghiêm túc, rộng rãi Trong
đó Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về tinh thần tự học, cũng
như phương pháp dạy học Người từng nói: “còn sống thì còn phải học” và cho rằng: “về cách học phái lấy tự học làm cốt” Có thể nói tự học là một tư
tưởng lớn của Hồ Chí Minh về phương pháp học tập
Trang 167
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, tư tưởng về tự học đã được nhiều tác giả trình bày trực tiếp hay gián tiếp trong các công trình tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học bộ môn Một tác giả tiêu biểu là: Nguyễn Cảnh
Toàn (Nguyễn Cảnh Toàn (1999), luận bàn và kinh nghiệm về tự học).[9]
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn là một tấm gương sáng về tự học ở nước ta Từng là một giáo viên trung học (1947), chỉ bằng con đường tự học,
tự nghiên cứu mà ông đã trở thành một nhà toán học nổi tiếng Không chỉ nghiên cứu khoa học cơ bản, ông còn có rất nhiều công trình, bài viết về khoa học giáo dục, về vấn đề tự học
GS.TSKH Nguyễn Cảnh Toàn cho rằng: Tự học là tự mình động não,
sử dụng các năng lực trí tuệ, cùng các phẩm chất của mình, rồi cả hoạt động, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan, để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình.[10]
Các tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường trong cuốn “Quá trình dạy – tự học” đã khẳng định:
Năng lực tự học của trò dù còn đang phát triển vẫn là nội lực quyết định sự phát triển của bản thân người học Thầy là ngoại lực, là tác nhân, hướng dẫn, tổ chức, đạo diễn cho trò tự học Nói cách khác quá trình tự học,
tự nghiên cứu cá nhân hóa việc học của trò phải kết hợp với việc dạy của thầy
và quá trình hợp tác của bạn trong cộng đồng lớp học, tức là quá trình xã hội hóa việc học [11]
Bước vào thời kì đổi mới hiện nay, thì việc tự học nói chung, cũng như vấn đề tự học của học sinh, sinh viên nói riêng càng được quan tâm và nghiên cứu vì vai trò quan trọng của nó trong quá trình dạy và học theo hướng đổi mới với phương châm lấy người học là trung tâm
Tự học - tự đào tạo cũng là vấn đề được Nghị quyết Đại hội Đảng VIII
và Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) hết sức quan tâm và đề cập: “Tập
trung sức nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học sáng tạo của sinh viên bảo đảm điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho
Trang 17có triển vọng và tiến xa trong cuộc đời này
Nguyễn Kỳ (Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học) thì lại cho rằng: Tự học - tự đào tạo là con đường phát triển tối ưu Con đường phát triển tối ưu là con đường ba nhất:
- Chất lượng cao nhất;
- Quy mô lớn nhất;
- Hệ thống hợp lý nhất
Ở cuốn “Tự học - tự đào tạo - tư tưởng chiến lược của phát triển Giáo
dục Việt Nam”tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng: Chiếc gậy thần để làm cho giáo
dục Việt Nam tăng tốc từ “Ba thấp” đến “Ba nhất” là truyền thống tự học sáng tạo của dân tộc, là khoa học tự học
1.2 Quá trình Dạy học - Tự học
1.2.1 Dạy học
Nhiều tác giả từng cho rằng: “Dạy học là bao gồm toàn bộ các thao tác
có mục đích nhằm chuyển các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các giá trị về mặt văn hóa mà nhân loại đã đạt được hoặc cộng đồng đã đạt được vào bên trong một con người”
Trang 189
Quan niệm trên đã lí giải khá hoàn chỉnh cách mà nền giáo dục đang
cố gắng đào tạo ra những con người thích ứng với những nhu cầu hiện tại của
xã hội Tuy vậy quan niệm đó đã vôtình làm cho nền giáo dục luôn luôn đi sau sự phát triển của xã hội Bởi do nó chỉ có nhiệm vụ tái hiện lại các giá trị tinh thần xã hội đã được vật chất hóa bằng cách nào đó để trở lại thành giá trị tinh thần bên trong người học Mặt khác quan niệm trêncũng hạn chế nền giáo dục hướng đến một phương pháp giáo dục giúp mới, đó là giúp người học trở thành những con người sáng tạo, vượt xa những giá trị tinh thần hiện có của
xã hội Thời đại của chúng ta và xa hơn nữa, xã hội đang hướng đến một xã hội tri thức Một xã hội mà tri thức của con người đang được số hóa với một tốc độ chóng mặt, nó biến tri thức dễ dàng và nhanh chóng trở thành tài sản chung Tuy nhiên xã hội tri thức nó không chỉ có nhiệm vụ tích hợp các kiến thức màcon người đã đạt được trong các phương tiện lưu trữ với dung lượng cực lớn, trong các cơ sở dữ liệu khổng lồ mà nó còn có nhiệm vụ nhân các khối lượng kiến thức này thành các khối lượng kiến thức mới có chất lượng cao hơn nữa
Triết học Mác cho rằng “Lượng đổi thì chất đổi Lượng thay đổi một
cách tiệm tiến còn chất thì thay đổi một cách nhảy vọt” Phạm trù về mối
tương quan giữa lượng và chất này nó cũng hoàn toàn đúng trong các hoạt động giáo dục của con người Người ta đã ước tính được rằng khối lượng kiến thức trong vòng 20 năm trở lại đây của nhân loại đã tăng bằng tổng khối lượng kiến thức mà nhân loại đạt được trong toàn bộ lịch sử trước đó của nó
Sự phát triển về khối lượng kiến thức đó thì nhất thiết sẽ kéo theo sự thay đổi
về chất tri thức của con người Vậy sự thay đổi về chất đó là gì? Con người của thời đại hiện đại không riêng chỉ có nhiệm vụ học tập, nhớ các kiến thức sẵn có mà còn đòi hỏi con người phải có khả năng từ khối lượng tri thức đó sản sinh ra các giá trị vật chất và tinh thần mới nhằm phục vụ cuộc sốngvà nắm bắt tri thức mới Nếu trước đây việc tìm kiếm sở hữu tri thức là quan trọng hàng đầu trong cuộc đấu tranh sinh tồn, việc tích lũy kiến thức (nhớ) là
Trang 19Vậy có lẽsẽ hợp lí hơn khi cho rằng:“Dạy học là một quá trình bao
gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức, có định hướng và có mục đích giúp người học từng bước có năng lực tư duy, năng lực hành động để có thể chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được Từ đó có khả năng giải quyếtcác tình huống mà thực
tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”
Dạy học là con đường tối ưu nhất để tuổi trẻ có thể tiếp cận cũng như nắm bắt các kinh nghiệm xã hội được phản ánh trong các khái niệm khoa học
do con người tích luỹ được Học tập là công việc suốt đời Quá trình dạy học tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nhận thức của người học, họ vừa có thể lĩnh hội những tri thức khoa học đã được loài người tích lũy, vừa có thể hình thành các phương pháp nhận thức thế giới khách quan làm cơ sở cho những hoạt động sáng tạo sau này của họ
1.2.2 Hoạt động học và bản chất của hoạt động
* Khái niệm hoạt động học
Khi nói đến hoạt động học, trước tiên ta cần làm rõ khái niệm học và khái niệm hoạt động học
Trong cuộc sống đời thường con người luôn có quá trình học tập, tích lũy những kinh nghiệm sống,trên cơ sở đó tạo nên những tri thức tiền khoa học, làm cơ sở tiếp để tiếp thu những khái niệm khoa học ở nhà trường.Đó được coi là việc học, là cách học theo phương pháp của cuộc sống thường ngày Trên thực tế, chỉ có phương thức nhà trường mới có khả năng tổ chức
để các cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt đó là hoạt động học, qua đó hình thành ở cá nhân những tri thức khoa học, năng lực mới phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn Trong tâm lý học sư phạm thì hoạt động học là khái niệm được
Trang 20Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi học sinh Vì vậy nó có vai trò quyết định nên việc tạo dựng và phát triển tâm lý học của người học ở lứa tuổi này
Còn học là quá trình chủ động, tích cực, tự lực chiếm lĩnh kiến thức, thông qua sự hướng dẫn sư phạm của giáo viên
Học là quá trình tương tác, trao đổi giữa cá thể với môi trường, kết quả
là dẫn đến sự thay đổi về nhận thức cũng như thái độ hay hành vi của cá thể
Tâm lí học liên tưởng cho rằng: Hoạt động học là sự hình thành các
liên tưởng, phát triển trí nhớ của người học, thông qua quá trình học tập
Tâm lí học hành vi thìlại định nghĩa hoạt động học là quá trình hình
thành các hành vi mới, hay tạo nên những thay đổi trong hành động để đáp ứng lại những ảnh hưởng do bên ngoài tác động Với quan điểm về hoạt động học như này, thì việc học sẽ ở trạng thái bị động và chất lượng của hoạt động học phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả của sự tác động từ giáo viên
Hoạt động học được xác định là quá trình người học hình thành, xây dựng tri thức: Người học chủ động xây dựng những cấu trúc trí tuệ riêng cho mình về những tài liệu tham khảo, lựa chọn những thông tin phù hợp, giải nghĩa thông tin dựa vào vốn kiến thức đã có và nhu cầu hiện tại của bản thân,
Trang 2112
bổ sung thêm những thông tin mới, cần thiết để từ đó tìm ra ý nghĩa của tài liệu mới Lý thuyết kiến tạo chú ý đến các đặc điểm tâm lý bên trong của người học và việc thể hiện các đặc điểm đó, những yếu tố đó được xem là quan trọng hơn là những yếu tố tác động từ môi trường bên ngoài
Lý thuyết thông tin thì cho rằng loài người thường xuyên phải xử lý thông tin Vì vậy hoạt động học được xem là quá trình xử lý thông tin Người học có vai trò là người tiếp nhận và xử lý thông tin Từ đó, giáo trình, tài liệu học tập và các nguồn cung cấp thông tin khác đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình học tập
Tâm lí xã hội – văn hóalại nhấn mạnh vai trò của các hoạt động xã hội
và văn hóa đối với việc học Đầu tiên,Tâm lí xã hội – văn hóa cho rằng: Hoạt động học thực chất là quá trình sinh viên tham gia vào các hoạt động xã hội – văn hóa mà giáo viên là người tổ chức Hoạt động học là quá trình sinh viên
tự khám phá môi trường Giáo viên và sinh viên cùng nhau hoạt động và tác động qua lại lẫn nhau để từ đókiến tạo tri thức mới cho sinh viên
Như vậy, có thể xem hoạt động học chính là quá trình mà sinh viên tự chiếm lĩnh những phương thức hoạt động đã tồn tại trong một nền văn hóa nhất định nào đó, thông qua việc tham gia vào các hoạt động xã hội – văn hóa
mà giáo viên là người tổ chức
Có tác giả đã phân biệt việc học trong cuộc sống hàng ngày và hoạt động học diễn ra trong nhà trường Hoạt động học được xem là một hoạt động đặc biệt, chú trọng đến sự thay đổi của chính bản thân mỗi người học Hoạt động học được diễn ra một cách chủ định, có mục đích và không phải là yếu
tố bổ sung cho bất kỳ một hoạt động chủ đạo nào khác Hoạt động học có chủ định là hoạt động có các đặc điểm cơ bản sau đây: Một là, có đối tượng là tri thức tương ứng, nhằm mục đích phát triển trí tuệ và năng lực người học Từ đólàm thay đổi bản thân người học Hai là, có tính chất tái tạo để tiếp thu cả phương pháp chiếm lĩnh tri thức và được điều khiển một cách có ý thức
Ngoài ra, họ còn phân biệt việc học có tính chất kinh nghiệm (empirical
Trang 2213
learning) với việc học có tính chất lý thuyết (theoretical learning) Việc học
có tính chất kinh nghiệm dựa trên quá trình so sánh một số đối tượng khác nhau để từ đó tìm ra các đặc điểm chung có thể quan sát được Từ đó hình thành khái niệm chung về nhóm đối tượng Ta thấy, khái niệm được hình thành thông qua con đường đi từ cụ thể đến cái khái quát Đây là hình thức học mang tính chất cơ bản, đặc trưng của người học trước khi đến trường và cũng được sử dụng trong hệ thống giáo dục truyền thống Hình thức này vẫn đạt hiệu quả cao, nếu người học thấy việc học hấp dẫn và thật sự muốn học Tuy vậy điểm yếu nhất của hình thức học này là người học có thể hình thành những khái niệm sai lệch
Hình thức học lý thuyết dựa trên việc cung cấp cho người học phương pháp chung, hoàn thiện để từ đó người học giải quyết một nhóm những vấn đề nhất định Phương pháp này hướng người học đến những đặc điểm chủ yếu của mỗi nhóm Người học từ từ chiếm lĩnh và nội tâm hóa việc sử dụng phương pháp đó thông qua các hoạt động được tổ chức một cách chuyên biệt Đây là một quá trình đi từ khái quát đến cụ thể Nó giúp người học hình thành những khái niệm khoa học Các nhà khoa học Nga đã chứng minh: Hình thức học này đòi hỏi luyện tập ít và không phải nhớ một cách máy móc, dập khuôn nên thường hấp dẫn người học, ít bị lỗi Ngoài ra, hình thức học này đưa người học đến sự chiếm lĩnh hoàn toàn, mức độ lưu giữ cao
* Vận dụng lý thuyết hoạt động trong dạy học
Theo quan điểm của tâm lí học tư duy thì sự học là một sự thay đổivề chất của cấu trúc hành động Tùy thuộc vào cấu trúc của hành động học cụ thể, mà cùng một biểu hiện hành vi bên ngoài giống nhau nhưng chất lượng hiệu quả của sự học là khác nhau
Như vậy, sự học phải có quá trình hình thành và phát triển ở các dạng hành động xác định cụ thể Nó còn là sự thích ứng của chủ thể
Hoạt động của chủ thể tương ứng với động cơ thúc đẩy hoạt động đó Động cơ là cái khách quan hàm chứa nhu cầu Cái khách quan ấy làm cho
Trang 2314
hoạt động có đối tượng và có mục đích nhất định Khi đó hoạt động của con người là hoạt động của chủ thể, có ý thức, nó bao gồm một hệ thống các hành động tương ứng với các điều kiện và phương tiện hành động
Cấu trúc của lý thuyết hoạt động được xây dựng theo sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.1 Cấu trúc hoạt động của A.N.Leonchiep[5]
Từ những phân tích lý thuyết hoạt động và vận dụng nó vào trong dạy học như đã nêu ở trên thì ta cần hiểu:
Học là hành động của chủ thể để thích ứng với tình huống, qua đó chủ thể tự chiếm lĩnh tri thức, hình thành và phát triển nhân cách cá nhân Mỗi tri thức mới học được của người học là sản phẩm hoạt động xây dựng tri thức mới
Phương tiện không thể thiếu để giáo viên định hướng hành động nhận thức cho sinh viên đó là câu hỏi
* Định hướng hành động trong dạy học Vật lí
Nghiên cứu sự định hướng hành động nhận thức của sinh viên trong dạy học,ta có ba mức độ định hướng có thể áp dụng được trong quá trình dạy học, cụ thể:
- Hướng dẫn tái tạo là định hướng trong đó giáo viên là người hướng
để sinh viên huy động, áp dụng những kiến thức, cách thức hoạt động mà sinh
Hành động Mục đích
Trang 2415
viên đã nắm được hoặc đã được giáo viên chỉ ra một cách tường minh, từ đó sinh viên có thể thực hiện được những nhiệm vụ họ đảm nhận
- Định hướng tìm tòi Đó là định hướng trong đó giáo viên không chỉ ra
cho sinh viên một cách tường minh các kiến thứccũng như cách thức hoạt động mà sinh viên cần áp dụng Giáo viên chỉ đưa ra cho sinh viên những gợi
ý để sinh viên có thể tự tìm tòi, huy động hoặc xây dựng những kiến thức và cách thức hoạt động thích hợp để từ đó giải quyết các nhiệm vụ mà họ đảm nhận, có nghĩa ở đây đòi hỏi sinh viên phải tự xác nhận hành động thích hợp trong tình huống không phải đã quen thuộc đối với mình
- Định hướng khái quát hóa chương trình Đây là kiểu định hướng
trong đó giáo viên nêu gợi ý cho sinh viên tương tự kiểu định hướng tìm tòi nhưng vạch ra cho sinh viên đường lối khái quát của việc tìm tòi để giải quyết vấn đề Sự định hướng được chương trình hóa theo các bước dự định hợp lí và
cụ thể Sự định hướng ban đầu đòi hỏi sinh viên tự lực tìm tòi giải quyết vấn
đề đã đặt ra.Nếu sinh viên không đáp ứng được thì có sự trợ giúp tiếp theo của giáo viên.Nếu sinh viên vẫn không đáp ứng được thì sự hướng dẫn của giáo viên chuyển sang kiểu định hướng tái tạo
Trên cơ sở dựa vào ba kiểu định hướng nêu trên, giáo viên cần chuẩn bị
kĩ hệ thống câu hỏi định hướng đặt ra cho sinh viên, đó là điều kiện tốt nhất
để tổ chức hoạt động tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên
1.2.3 Quá trình tự học
* Một số quan điểm về tự học
Chữ “tự” trong “tự học” có nghĩa là mỗi người học phải chủ động kiếm
tìm kiến thức bằng cách đọc sách, tham khảo tài liệu, suy ngẫm, khám phá và phát hiện Để từ đó biến kiến thức tiếp thu được từ sách vở, cuộc sống thành kiến thức của mình
Quá trình tự học thực chất là quá trình tự rèn luyện tri thức cho bản thân, cho nên có bao nhiêu hoạt động học tập thì cũng sẽ có bấy nhiêu cách tự học
Trang 2516
Từ xa xưa, nhân dân ta đã coi trọng vị trí của người thầy trong xã hội
Nó thể hiện qua các câu ca dao, tục ngữ như: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư, hay muốn sang thì bắc cầu Kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy…
Trong nhà trường, vai trò của người thầy vô cùng quan trọng Thầy dạy cho trò những kiến thức cần thiết thông qua bài giảng Thầy là người dẫn đường chỉ lối, mở rộng, nâng cao tri thức cho học sinh Đồng thời với việc dạy chữ, dạy nghĩa, thì thầy còn dạy bảo những điều hay lẽ phải, quan tâm giáo dục đạo đức cho học sinh, giúp học sinh sống theo đạo lí làm người
Nhưng không phải vì thế mà thầy có thể thay thế tất cả Thầy hết lòng giảng dạy, thì trò cũng phải hết sức nỗ lực trong học tập thì mới mong đạt được kết quả cao
Tự học khi nghe thầy giảng bài thể hiện qua việc thực hiện đồng bộ bốn thao tác: Tai nghe, mắt nhìn, óc suy nghĩ và tay ghi bài
Khi học phải chăm chú nghe lời thầy giảng Người xưa đã phân loại ba cách nghe: Một là nghe bằng tai, hai là nghe bằng óc và ba là nghe bằng tim Trong đó nghe bằng tai là cách nghe dửng dưng, không cần hiểu, không cần nhớ Còn nghe bằng óc là vừa nghe vừa suy nghĩ và có nhận xét đúng sai trong lời giảng Còn cách nghe bằng tim là cách mà trò nghe một cách say mê
để cảm nhận được cái hay, cái đẹp của nội dung, nghệ thuật của tác phẩm văn học hay vẻ đẹp của một bài lí khó
Đặc biệt khi nghe giảng, học sinh phải chăm chú nhìn lên bảng xem thầy viết những gì, quan sát xem động tác, cử chỉ của thầy ra sao
Một thao tác vôcùng quan trọng khác là ghi chép lời giảng của thầy
Người xưa đã có câu: “Một lần ghi bằng năm lần nghe” Nhưng ghi chép như
thế nào thì lại là một nghệ thuật, không phải thầy nói gì cũng ghi hết Mà phải biết chắt lọc, cô đọng những ý chính, những điều mà thầy nhấn mạnh trong bài giảng…
Tự học theo sách giáo khoa cũng quan trọng không kém Ví dụ: Về môn Vật lí, tự học có nghĩa là suy nghĩ, tìm tòi cách giải các bài tập của phần
Trang 26mẹ, thầy cô, bạn bè… chỉ dẫn cách thức hoặc hướng giải quyết
Tự học theo sách tham khảo là việc tìm hiểu thêm những kiến thức mới có liên quan đến bài học, môn học hoặc những phương pháp tiếp cận bài Toán, bài Vật lí hay của những sách tham khảo Tuyệt đối không được chép những bài giải đã có sẵn để đối phó
Tự học còn là rèn luyện cho mình kĩ năng học thuộc lòng những phần ghi nhớ, những kiến thức cơ bản và các dạng bài tập…có trong sách giáo khoa
Tự học trong phòng thí nghiệm là tự mình chuẩn bị kiến thức và những dụng cụ liên quan để tiến hành thí nghiệm, từ đó rút ra những kết luận, những bài học
Tự học trong cuộc sống là sự quan sátnhững điều xảy ra hàng ngày xung quanh ta và thông qua các buổi sinh hoạt cũng như tham quan và các công tác xã hội khác để nâng cao vốn sống
Tự học còn là quá trình rèn luyện nghị lực cũng như ý chí phấn đấu vươn lên để đem lại cho bản thân khả năng hiểu biết, phân tích, cảm thụ và sáng tạo
Trong tập bài giảng chuyên đề dạy tự học cho SV trong các nhà trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học GS – TSKH Thái
Duy Tuyên cho rằng: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ
năng, kĩ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…)cùng các phẩm chất động cơ, tình cảm để chiếm lĩnh tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm lịch sử, xã hội của nhân loại, biến nó thành sở hữu của chính bản thân người học”
Trang 2718
Còn tác giả Nguyễn Kỳ ở Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/ 1998
cũng viết: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự mình tìm ra tri thức
kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học”
Trong cuốn “Học tập hợp lí” R.Retke chủ biên, coi “Tự học là việc
hoàn thành các nhiệm vụ khác không nằm trong các lần tổ chức giảng dạy”
Theo Giáo sư Đặng Vũ Hoạt và Phó giáo sư Hà Thị Đức trong cuốn
“Lý luận dạy học đại học” thì: Tự học là một hình thức tổ chức dạy học cơ
bản ở đại học Đó là một hình thức nhận thức của cá nhân, nhằm nắm vững
hệ thống tri thức và kỹ năng do chính người học tự tiến hành ở trên lớp hoặc ở ngoài lớp, theo hoặc không theo chương trình và sách giáo khoa đã
được qui định.[7]
Từ những quan điểm về tự học nêu trên, tác giảđi đến định nghĩa về tự
học như sau: Tự học là quá trình người họcchủ động,tự giác, tích cực,
độc lập tự chiếm lĩnh tri thức ở những lĩnh vực nào đó trong cuộc sống bằng hành động cụ thể của mình đểđạt được mục đích nhất định nào đó
* Quá trình tự học
Bàn về hoạt động tự học cũng như phương pháp tổ chức cho SV tự học ra sao để đạt hiệu quả tốt, quả là một vấn đề không hề đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, tìm hiểu các vấn đề liên quan như: Động cơ, thói quen học tập của SV thì GV rất cần đến quá trình nghiên cứu để tìm ra nội dung cơ bản, những phương cách tối ưu để rèn luyện phương pháp tự học cho SV Đặc biệt là GV còn cần phải xem những phương pháp đó ngoài sự thích ứng chung cho mọi SV còn có đáp ứng được cho từng nhóm đối tượng SV trong những giai đoạn, điều kiện và hoàn cảnh khác nhau trong suốt quá trình đào tạo hay không
Trang 2819
Để đáp ứng được các yêu cầu nêu trên, ta cần xác định rõ những yêu cầu cơ bản của hoạt động tự học như: Nội dung của hoạt động tự học gồm những vấn đề nào, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo qui trình nào, điều kiện
để ápdụng nó có hiệu quả ra sao…để từ đó ta có kế hoạch xây dựng những biện pháp dạy tự học cho phù hợp
Đối với mọi lĩnh vực khoa học, việc dạy tự học đều có những điểm chung, thống nhất về cách thức cũng như phương pháp tổ chức theo các cách sau:
* Xây dựng động cơ học tập
GV cần khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó SVý thức tốt về nhu cầu học tập của mình Tiếp đến người học phải tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn Bởi vì, thành công không bao giờ đến đối với một quá trình ngẫu hứng tùy tiện thiếu tính toán, kể cả trong học tập lẫn nghiên cứu Nhu cầu xã hội hiện tại đòi hỏi mỗi người cần có những tố chất cần thiết để đáp ứng công việc chứ không phải là những điểm số đẹp
Những bằng cấp, những chứng chỉ, chỉ như là những vật trang sức để bạn vào đời Khi có động cơ học tập tốt người ta sẽ luôn tự giác say mê, học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận
Trong rất nhiều động cơ học tập của SV, ta có thể tách thành hai nhóm cơ bản sau:
- Các động cơ hứng thú nhận thức
- Các động cơ trách nhiệm trong học tập
Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức được hình thành một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, chứa nhiều những yếu tố nghịch lí, gây sự tò mò cho người học Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên hơn nếu GV biết tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực
từ người học
Trang 2920
Còn động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì đòi hỏingười học phải có tư duy và ý thức cao hơn Giống như nghĩa vụ đối với Tổ quốc, trách nhiệm đối với gia đình, thầy cô hay uy tín danh dự trước bạn bè…Từ đó các em mới có
ý thức, trách nhiệm trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập
Cả hai động cơ nói trên không thể là một quá trình tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác, thầm lặng từ bên trong Do đó GV phải tùy vào đặc điểm của từng môn học, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi của từng đối tượng để từ đó tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi người học
Mà đặc biệt hơn cả là GV cần tạo mọi điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của chính mình
Đối với đa số những bạn trẻ, việc tạm gác những thú vui, những trò giải trí hấp dẫn để toàn tâm toàn sức cho việc học là một việc không hề đơn giản
Nó đòi hỏi phải có một sự quyết tâm rất cao để chiến thắng chính bản thân mình Đối với người trưởng thành, khi mục đích cuộc đời đã rõ, ý thức trách nhiệm đối với công việc đã được xác định và sự học đã trở thành niềm vui thì việc xác định động cơ thái độ học tập nói chung không khó khăn như thế hệ trẻ
* Xây dựng kế hoạch học tập
Bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và
kế hoạch học tập phải được xây dựng một cáchrõ ràng,cụ thể Trong đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hạn, hay cụ thể hơn là từng môn, từng phần phải được xây dựng rõ ràng, nhất quán để phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình
Vấn đề kế tiếp là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Nếu không thì việc học chắc chắn sẽ đạthiệu quả không cao
Trang 3021
Cuối cùng phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí, logic cảvề nội dung lẫn thời gian Đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm, đúng kế hoạch từng hạng mục theo thứ tự mà ta đã vạch ra
* Tự mình nắm vững nội dung tri thức
Đây là giai đoạn được xem là quyết định đến sự thành công hay không của người học Khối lượng kiến thức cùng các kĩ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không… tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó gồm các hoạt động:
- Tiếp cận thông tin: Là chọn lọc cũng như chủ động tiếp nhận thông tin
từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động được xác định trước Trong hoạt động này rất cần sự tỉnh táo để có thể chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt
Xã hội hiện đại khiến phần lớn SV rời xa sách vở và chỉ quan tâm đến các phương tiện nghe nhìn khác Bởi vì nó thỏa mãn trí tò mò, giúp cho tai nghe mắt thấy tức thời Đó là chưa kể đến sự nhiễu loạn thông tin mà nếu không vững vàng thì rất dễ sa vào những cạm bẫy thiếu lành mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển nhân cách, tâm hồn của giới trẻ Trong khi
từ cổ chí kim, muốn làm chủ tri thức thìcon đường tốt nhất không gì khác là đọc sách Đọc sách là phương pháp tự học rẻ tiền mà đem lại hiệu quả nhất
Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể thiếu trong yêu cầu tự học Song song việc tiếp nhận tri thức thì còn phải biết gợi
mở, thắc mắc hay đề xuất những vấn đề cần lưu ý sau khi đọc, hoặc chí ít là học cách viết, lối diễn đạt từ những cuốn sách hay Đó là cách đọc sáng tạo Khác với sự giải trí đơn giản hay cảm nhận thông thường
- Xử lí thông tin: Trong quá trình tự học việc xử lí thông tin không bao
giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự chọn lọc, gia công thì mới có thể sử dụng được Quá trình này được tiến hành thông qua việc cụ thể như: Phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh…
Trang 3122
- Vận dụng tri thức, thông tin: Việc vận dụng các thông tin tri thức
khoa học để giải quyết các vấn đề liên quan, SV thường gặp rất nhiều khó khăn Có khitìm được một khối lượng lớn tư liệu nhưng việc tập hợp phân loại nội dung để kiến giải một vấn đề lại không thể thực hiện được Ở trường hợp này SV cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn nhất định Sau đó chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề đó nhằm phát hiện ra cái mới
có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu
- Trao đổi, phổ biến thông tin: Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ
thông tin tri thức thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa học, thảo luận, thuyết trình,… là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức.Hoạt động này tạo điều kiện để người học hình thành và phát triển
kĩ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) Giúp người học tự tin, chủ động trong giao tiếp, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt hơn
* Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Để đánh giá kết quả học tập ta có nhiều hình thức: Dùng các thang
đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân người học tự đánh giá, nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, người học tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu… Tất cả những đánh giá trên đều mang ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Để từ đó người học tự đối thoại và thẩm định mình, biết được cái gì làm được, cái gì chưa làm được
để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy.Qua đó ta có thể nói vấn đề tự học rõ ràng không hề đơn giản Muốn hoạt động học tập đạt hiệu quả thì nhất thiết SV phải chủ động, tự giác học tập bất cứ lúc nào có thể, bằng chính khả năng của mình
Ngoài ra vai trò của người thầy cũng rất quan trọng, với tư cách là ngoại lực trong việc trang bị cho SV một hệ thống tri thức cũng như kĩ năng, thái độ cùng với phương pháp tự học cụ thể, khoa học Để từ đó hoạt động tự học tự đào tạo của SV được đi vào chiều sâu thực chất
Trang 3223
1.2.4 Vai trò của tự học trong hoạt động học
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học ở đại học nói riêng, giáo viên luôn nắm một vai trò quan trọng, không thể thiếu, đó là sự tổ chức, hướng dẫn, điều khiển, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên Nhưng thực
tế lại cho thấy rằng, dù giáo viên có kiến thức uyên thâm hay phương pháp giảng dạy hay đến mấy nhưng học sinh không chịu đầu tư thời gian, công sức, không có sự lao động của cá nhân, không có niềm khao khát chinh phục tri thức, thiếu sự say mê học tập hay không có kế hoạch và phương pháp học tập hợp lý, không tự giác tích cực trong học tập thì kết quả học tập sẽ không bao giờ cao
Qua đó, chúng ta có thể khẳng định với nhau rằng,vai trò của hoạt động
tự học luôn luôn chiếm một vị trírất quan trọng trong quá trình học tập của người học Yếu tố để quyết định chất lượng và hiệu quả của hoạt động học tập, không gì khác chính là tự học
Nguyên Tổng bí thư Đỗ Mười, trong Hội thảo khoa học nghiên cứu
phát triển tự học, tự đào tạo, đã phát biểu: “Tự học, tự đào tạo là con đường
phát triển suốt cuộc đời của mỗi người, trong điều kiện kinh tế – xã hội nước
ta hiện nay và cả mai sau, đó cũng là truyền thống quý báu của người Việt Nam và dân tộc Việt Nam Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục.” (Trích thư gửi Hội thảo khoa học
nghiên cứu phát triển tự học, tự đào tạo ngày 6/1/1998), khi bàn về vấn đề tự học
Ở đại học, đòi hỏi sinh viên phải tiếp thu một lượng kiến thức lớn và khó,vì thế quá trình tự học của sinh viên là vô cùng quan trọng Cũng chính thông qua hoạt động tự học này sẽ giúprất nhiều cho sinh viên trong quá trình học tập để lĩnh hội tri thức
- Thứ nhất, tự học giúp sinh viên nắm vững kiến thức, kỹ năng kỹ xảo
về nghề nghiệp trong tương lai Thông qua quá trình tự học sẽ giúp sinh viên
Trang 3324
từng bước, từng bước biến vốn kinh nghiệm của nhân loại thành vốn tri thứccủa riêng bản thân mình Hoạt động tự học còn tạo điều kiện giúp cho sinh viên hiểu sâu tri thức, mở rộng kiến thức, củng cố ghi nhớ vững chắc tri thức để vận dụng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ học tập liên quan
- Thứ hai, tự học không chỉ giúp sinh viên nâng cao chất lượng và
hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn giúp SV có được hứng thú, thói quen và phương pháp tự học thường xuyên để từ đó làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình Giúp họ tránh được sự tụt hậu trước sự biến đổi như vũ bão của khoa học và công nghệ thời đại ngày nay
- Thứ ba, tự học thường xuyên, tích cực không những giúp sinh viên
mở rộng, đào sâu kiến thức mà còn giúp sinh viên phát triển được những phẩm chất trí tuệ và rèn luyện nhân cách của chính mình Từ đó giúp họ
có niềm đam mê, sự hứng thú trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Thứ tư, trong quá trình học tập ở trường đại học, nếu bồi dưỡng
được ý chí và năng lực tự học cần thiết thì sẽ khơi dậy được ở sinh viên tiềm năng to lớn vốn có của họ, tạo nên động lực nội sinh để có thể vươn lên trong quá trình học tập dù có khó khăn hay vất vả như thế nào Khả năng tự học chính là nhân tố nội lực quyết định chất lượng đào tạo
Nói vậy không có nghĩa là vai trò của giáo viên và tập thể sinh viên trong nhà trường bị hạ thấp Họ có vai trò to lớn trong việc động viên, khuyến khích và hướng dẫn sinh viên tự học một cách đúng hướng để có thể đạt hiệu quả
Ngày nay vai trò của giáo dục càng quan trọng, nó thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của xã hội Giáo dục có nhiệm vụ đào tạo ra thế hệ trẻ năng động, sáng tạo, có tri thức, có năng lực và có khả năng thích ứng với đời sống xã hội, làm xã hộiphát triển
Muốn vậy thế hệ trẻ phải tự học, tự nâng cao, tự hoàn thiện chính bản thân mình ngay từ rất sớm
Trang 3425
1.2.5 Các hình thức tự học của sinh viên
Hoạt động tự học diễn ra dưới nhiều hình thức và mức độ khác nhau:
+ Hình thức 1: SV tự mày mò theo sở thích và hứng thú độc lập của
mình mà không có sách vở hay sự hướng dẫn của GV
Hình thức này đượccác nhà khoa học gọi là tự nghiên cứu Kết quả của nghiên cứu đi đến sự sáng tạo và phát minh ra các tri thức khoa học mới, nó thể hiện đỉnh cao của hoạt động tự học Hình thức tự học này phải được dựa trên một niềm khát khao, say mê khám phá tri thức và cũng phải có một vốn tri thức vừa rộng, vừa sâu Ở trình độ tự học này người học không thầy, không sách mà chỉ cọ sát với thực tiễn vẫn có thể tổ chức hoạt động của mình một cách có hiệu quả
+ Hình thức 2: Tự học có sách nhưng bên cạnh không có giáo viên
Ở hình thức này có thể diễn ra ở hai mức:
Thứ nhất, tự học theo sách mà không có sự hướng dẫn của giáo
viên:Trường hợp này bản thân người học tự học để hiểu, để thấm các kiến thức trong sách qua đó sẽ phát triển về tư duy
Thứ hai, tự học theo sách nhưng có giáo viên hướng dẫn từ xa:Mặc dù
giáo viên ở xa nhưng vẫn có thể trao đổi thông tin giữa thầy và trò bằng các phương tiện trao đổi thông tin để giúp người học phản ánh hay giải quyết các thắc mắc
+ Hình thức 3: Tự học có sách, có giáo viên trực tiếp hướng dẫn một số
tiết trong ngày, sau đó sinh viên về nhà tự học dưới sự chỉ dẫn gián tiếp của giáo viên
Trong quá trình học tập trên lớp, thầy có vai trò là nhân tố hỗ trợ, là chất xúc, tạo điều kiện để trò thúc đẩy quá trình tự chiếm lĩnh tri thức Trò có vai trò là chủ thể của quá trình nhận thức: tự giác, tích cực, say mê tham gia vào quá trình học tập Mối quan hệ giữa thầy và trò ở đây chính là mối quan
hệ giữa nội lực và ngoại lực, ngoại lực dù có quan trọng đến mấy thì cũng chỉ
là chất xúc tác để thúc đẩy nội lực phát triển
Trang 3526
Với quá trình tự học ở nhà, mặc dù SV không gặp trực tiếp giáo viên, nhưng dưới sự hướng dẫn gián tiếp của giáo viên, người học phải phát huy tính tích cực, sự tự giác và chủ động tự sắp xếp kế hoạch để huy động mọi trí tuệ, kỹ năng của bản thân để hoàn thành tốt những yêu cầu được giao Tự học của SV theo hình thức này liên quan chặt chẽ với yêu cầu của giáo viên, được giáo viên định hướng về nội dung, cũng như vạch ra phương pháp cụ thể để người học thực hiện Như vậy ở hình thức thứ ba này ta có thể nói, quá trình
tự học của sinh viên liên quan trực tiếp với quá trình dạy học, chịu sự tác động của nhiều yếu tố, trong đó không thể thiếu yếu tố tổ chức và quản lý quá trình dạy học của giáo viên và quá trình tự học của sinh viên
1.2.6 Vai trò của giáo viên và sinh viên trong quá trình dạy tự học cho sinh viên
Trong vấn đề của giáo dục nói chung và việc học nói riêng thì tự học có vai trò hết sức quan trọng Tự học giúp người học có thể hiểu sâu, mở rộng và củng cố tri thức Đồng thời, nó cũng giúp người học hình thành tính tích cực,
sự độc lập, tự giác trong học tập cũng như nghiên cứu khoa học
Do đặc thù học tập ở đại học khác cơ bản so với học tập ở phổ thông, ở đại học không có sự kiểm tra, giám sát hàng ngày của giáo viên nên việc học tập của SV phần lớn là tự học Hoạt động đó được diễn ra liên tục, trong một
phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức Có thể coi: Bản chất công việc
tự học của SV đại học là quá trình nhận thức một cách tự giác, tích cực, tự lực và chủ động
Trước kia, trong phương thức đào tạo theo hình thức niên chế, sinh viên tuân thủ theo một chương trình do nhà trường định sẵn Còn với phương thức đào tạo theo tín chỉ như hiện nay, kế hoạch học tập phụ thuộc vào chính bản thân sinh viên Khi đó đòi hỏi sinh viên phải có ý thức xây dựng kế hoạch tự học, tự nghiên cứu sao cho quá trình học tập của mình đạt hiệu quả tốt nhất
Mặt khác, hình thức tổ chức dạy học theo phương thức tín chỉ qui định hoạt động tự học của sinh viên là một thành phần bắt buộc trong thời khóa
Trang 3627
biểu và là một nội dung quan trọng của đánh giá kết quả học tập Hoạt động
dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành và tự
học Ba hình thức tổ chức dạy học tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học
Tùy thuộc tính chất đặc thù riêng của từng môn học mà có các hình thức tổ chức dạy - học khác nhau Có những môn học chỉ có một kiểu giờ tín chỉ,cũng có những môn học có hai hoặc cả ba kiểu giờ tín chỉ
Trong hình thức đào tạo theo niên thìhoạt động tự học của SV chỉ mang tính chất tự nguyện, còn với phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ thì tự học là một thành phần hợp pháp và bắt buộc phải có trong hoạt động học tập của SV Để có thể học được 1 giờ lý thuyết hay 2 giờ thực hành, thực tập ở trên lớp thì đòi hỏi sinh viên phải có 3 giờ chuẩn bị trước ở nhà Đó chính là một trong những yêu cầu bắt buộc trong cơ cấu giờ học của SV
Tiếp đến, nội dung một bài giảng trong hệ thống tín chỉcũng gồm 3 thành phần chính:
- Một là: Phần nội dung bắt buộc (A1) được giảng trực tiếp trên lớp
- Hai là: Phần nội dung nên biết (A2) có thể không được giảng trên lớp
mà giáo viên có nhiệm vụ hướng dẫn SV tự học, tự nghiên cứu ở ngoài lớp
- Ba là: Phần nội dung có thể biết (A3), nội dung này dành riêng cho việc tự học, chuẩn bị bài, làm bài tập, làm thí nghiệm, seminarhay thảo luận nhóm,… và các hoạt động liên quan đến môn học
Như vậy, kiến thức của mỗi môn học được tích lũy qua tìm tòi của người học dưới sự chỉ bảo, hướng dẫn vàgiúp đỡ của giáo viên Nếu sinh viên không tự học thì họ chỉ lĩnh hội được 1/3 khối lượng kiến thức của môn học
và như thế có nghĩa họ đã không hoàn thành được yêu cầu của môn học
Ngoài ra, một điểm rất quan trọng, khác biệt giữa học chế niên chế và học chế tín chỉ đó là hoạt động tự học ở học chế tín chỉ được kiểm tra, đánh giá thường xuyên, nghiêm túc thông qua các bài kiểm tra, bài tập…trong suốt
quá trình học
Trang 3728
Qua đó ta thấy, trong phương thức đào tạo theo hình thức tín chỉ, hoạt
động tự học của SV trở thành hoạt động bắt buộc với các chế tài cụ thể
* Vai trò của giảng viên trong quá trình tự học của sinh viên
Giảng viên có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng và kích thích
ý thức tự học cho SV Ngoài những giờ học ở trên lớp, thì ngay đối với những giờ tự học, tự nghiên cứu của SV, giảng viên cũng rất cần phải quan tâm, theo dõi để từ đó có những tư vấn kịp thời khi SV gặp vướng mắc
Một số nhiệm vụ của giảng viên đối với hoạt động tự học của sinh viên:
-Giúp sinh viên nắm được đề cương môn học: Khi bắt đầu một môn học,
giảng viên cần phải giới thiệu và cung cấp cho sinh viên đề cương chi tiết môn học Để từ đó SV chủ động trong việc học, việc tìm hiểu thêm tài liệu tham khảo liên quan cũng như xây dựng kế hoạch hoạt động học tập cụ thể, chi tiết
-Xác định rõ nội dung tự học và phương cách thực hiện nội dung đó:
Trong hình thức tín chỉ, nội dung A2, A3 như đã nêu ở trên là những nội dung
mà SV phải tự học Khi đó GVcần thiết kế các nhiệm vụ cụ thể để SV có thể tự chiếm lĩnh kiến thức, đáp ứng mục tiêu và yêu cầu của môn học Mặt khác giảng viên cũng cần giới thiệu đầy đủ các tài liệu bắt buộc, cũng như tài liệu tham khảo và cách thu thập, tra cứu, xử lý thông tin trong tài liệu với những hướng dẫn chi tiết, đầy đủ, cụ thể cho SV
-Kiểm tra - đánh giá hoạt động tự học của sinh viên: Với phương thức
đào tạo theo học chế tín chỉ và hoạt động tự học đã trở thành bắt buộc, không thể thiếu trong cơ cấu môn học thì cần phải có các hình thức kiểm tra - đánh giá hoạt động này một cách chi tiết Nếu giảng viên chỉ giao nhiệm vụ mà không tổ chức kiểm tra, đánh giá thì hoạt động học tập này chỉ mang tính hình thức, đối phó, không đem lại kết quả như mong muốn
Vì vậy giảng viên phải thường xuyên đánh giá sinh viên trong suốt quá trình của môn học thông qua các hình thức như bài tập cá nhân; bài tập nhóm; bài tập lớn Qua đó hình thành cho sinh viên ý thức tự học và làm việc nghiêm túc để được đạt kết quả cao trong học tập
Trang 3829
* Vai trò của sinh viên đối với hoạt động tự học
Muốn tự học đạt kết quả cao thì ngoài sự hướng dẫn, chỉ dạy của giảng viên, cũng như công tác quản lý, giáo dục của nhà trường thì một yếu tố không thể thiếu đó là: sự nỗ lực của chính bản thân sinh viên Khi chuyển sang phương thức đào tạo mới, đòi hỏi sinh viên phải thay đổi nhận thức, để
từ đó có những phương pháp học tập phù hợp nhằm thích ứng với những yêu
cầu học hiện nay
Một số nhiệm vụ của sinh viên trong với hoạt động tự học:
- Chuẩn bị tốt về động cơ, về thái độ học tập, cũng như tinh thần trách nhiệm, tự lực để “tự chủ, tự chịu trách nhiệm” trong học tập một cách chủ động và có hiệu quả
- Nắm chắc các mục tiêu, các yêu cầu của môn học Cụ thể hơn là mục tiêu, yêu cầu của từng bài học Từ đó có cơ sở để xây dựng kế hoạch tự học phù hợp và phải nghiêm túc thực hiện kế hoạch đó
- Phải hoàn thành các nhiệm vụ tự học, tự nghiên cứu được giao trước giờ lên lớp
- Trong quá trình tự học, sinh viên cần tích cực suy nghĩ, chủ động và mạnh dạn đưa ra ý kiến, cũng như các nhận xét hay thắc mắc của mình chứ không nên quá phụ thuộc vào tài liệu cũng như bài giảng của thầy
1.3 Năng lực tự học Vật lí của sinh viên hệ Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
1.3.1 Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng hoàn thành hiệu quả các nhiệm vụ học tập một cách độc lập và biểu hiện thông qua các kĩ năng tự học
Ở đây có thể hiểu kĩ năng chính là mặt kĩ thuật của năng lực và kĩ năng
tự học là phương thức hành động trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có để thực hiện các mục tiêu học tập đặt ra
Ta có thể coi năng lực tự học giống như cách học,vậy trước tiên ta cần hiểu cách học ở đây là gì?
Trang 39có tính độc lập cao và mang đậm nét sắc thái cá nhân
Như vậy tự học là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của cá nhân người học
Khi nói đến học thì đương nhiên là phải tự học, không thể có ai học thay được Song nó có hai cách cơ bản:
- Một là, cách học có phần bị động, từ ngoài áp vào như kiểu hình
thành phản xạ cổ điển của Paplop
- Hai là, cách học chủ động: Nghĩa là tự bản thân người học tạo nên
phản xạ có điều kiện, giống như hình thành phản xạ tác động
Nói về cách tự học thì mỗi người mỗi vẻ, tùy theo tư chất và hoàn cảnh cũng điều kiện sốngmà mỗi người có cách học riêng
Qua đó chúng ta càng thấy rõ khả năng tự học là tiềm ẩn trong mỗi con người
Vì vậy chúng ta có thể hiểu năng lực tự học là: Nội lực phát triển bản
thân của người học Bên trong bất kỳ con người nào cũng đều tiềm ẩn một tiềm lực, một tài nguyên vô cùng quý giá: Đó là năng lực tự tìm tòi, tự nghiên cứu, tự giải quyết các vấn đề thực tiễn và tự đổi mới sáng tạo trong công việc hàng ngày của chính mình
1.3.2 Đặc trưng về NLTH Vật lí của sinh viên Cao đẳng Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội
Trong giai đoạn nước ta hiện nay, mục tiêu đào tạo của các trường đại học: Đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ khoa học, có trình độ, có lý tưởng cách mạng, có quyết tâm vươn tới những đỉnh cao của văn hoá, khoa
Trang 40Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội cũng không nằm ngoài quy luật Trường đã và đang đào tạo theo hình thức tín chỉ, do đó công việc tự học của sinh viên trở nên vô cùng quan trọng và rất nặng nề Nó trở thành một bộ phận cấu thành của giáo dục đại học, không thể thiếu Đặc biết đối với môn Vật lí Do phương pháp học tập ở trường đại học khác cơ bản so với phương pháp học ở phổ thông, ở đây không có sự kiểm tra hàng ngày của giáo viên nên việc học tập của sinh viên phần lớn là tự học Sinh viên
tự đề ra kế hoạch và tự thực hiện kế hoạch Các bài kiểm tra chính là kết quả học tập và nghiên cứu của sinh viên
Trong các bài kiểm tra Vật lí thường kì thì có đến gần 50% kiến thức
là do SV tự học
Vấn đề tự học Vật lí của sinh viên còn cóđặc điểm; đó là hoạt động
tự học diễn ra liên tục, trong một phạm vi lớn nhằm lĩnh hội rất nhiều tri thức Nếu khi còn là học sinh phổ thông, các bạnđược cô giáo chỉ dẫn và ra những bài tập nhất định, cụ thể về nhà để hoàn thành, thìở đây phải các bạn phải tự tìm tòi, chọn lọc tài liệu sao cho phù hợp với môn học và phải tỏ ra thật sự cố gắng trong công tác tự học mới mong có kết quả tốt
Việc tự học Vật lí của sinh viên Đại học Công nghiệp Hà Nội nói chung, của hệ Cao đẳng nói riênglà sự nỗ lực và tự giác cao ở bản thân mỗi