ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LÊ NGỌC TÖ TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC HIỆN THỰC VIỆT NAM NGỮ VĂN 11, CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN LUẬN V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ NGỌC TÖ
TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC HIỆN THỰC VIỆT NAM
(NGỮ VĂN 11, CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI – 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LÊ NGỌC TÖ
TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC HIỆN THỰC VIỆT NAM
(NGỮ VĂN 11, CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Dương Tuyết Hạnh
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, ngoài sự nỗ lực học hỏi, tìm tòi, nghiên cứu
của bản thân là sự tận tình giảng dạy, hướng dẫn của các thầy, cô giáo trường
Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia HàNội
Tác giả xin trân trọng cảm ơn Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc
gia Hà Nội, quý thầy cô tham gia giảng dạy lớp Cao học Lý luận và Phương
pháp dạy học bộ môn Ngữ văn khóa 2015 – 2017 đã giúp đỡ, động viên, tạo
mọi điều kiện cho tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
TS Dương Tuyết Hạnh, người đã đã tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ tác
giả hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các
em học sinh trường THPT Thanh Oai B – Hà Nội đã cộng tác và nhiệt tình giúp
đỡ trong quá trình điều tra, nghiên cứu, kiểm chứng kết quả nghiên cứu để hoàn
thành luận văn
Do điều kiện về thời gian và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế nên
luận văn này còn có những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý
chân thành của thầy cô và đồng nghiệp
Hà Nội, tháng 10 năm 2017
Học viên
Lê Ngọc Tú
Trang 4Đối chứng Đại học sư phạm Giáo viên
Giáo dục Học sinh
Kĩ năng sống KTDH
: :
Kĩ thuật dạy học Nhà xuất bản Phương pháp dạy học Sách giáo khoa
Trung học cơ sở Trung học phổ thông Thực nghiệm
Tổ chức Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên hợp quốc
Tổ chức Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc
Tổ chức Y tế thế giới
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Cấu trúc luận văn 9
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 10
1.1 Cơ sở lý luận 10
1.1.1 Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 10
1.1.2 Dạy học tích hợp 16
1.1.3 Cơ sở tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT 20
1.1.4 Cơ sở tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản) 28
1.2 Cơ sở thực tiễn 333
1.2.1 Thực trạng học kĩ năng sống của học sinh THPT 333
1.2.2 Thực trạng dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình cơ bản) 377
Trang 61.2.3 Nguyên nhân của thực trạng về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
THPT 399
Tiểu kết Chương 1 40
CHƯƠNG 2: BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC VĂN HỌC HIỆN THỰC VIỆT NAM(NGỮ VĂN 11, CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN) 41
2.1.Một số nguyên tắc xây dựng biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản) 411
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 411
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính giáo dục 422
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo về lượng 433
2.1.4 Nguyên tắc đảm bảo tính tương tác 433
2.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính phù hợp 444
2.2.Một số biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản) 444
2.2.1 Sử dụng phương pháp dạy học tích cực 444
2.2.2 Sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực 577
2.3 Các bước thực hiện một bài dạy tích hợp giáo dục KNS 611
Tiểu kết Chương 2 644
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 655
3.1 Mục đích thực nghiệm 655
3.2 Đối tượng thực nghiệm 655
3.3 Thời gian thực nghiệm 655
3.4 Nội dung thực nghiệm 666
3.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm 666
Trang 73.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm 933
Tiểu kết Chương 3 999
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 100
1.Kết luận 100
2 Khuyến nghị 101
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1023
PHỤ LỤC 1088
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Khảo sát về thực trạng học kĩ năng sống của học sinh THPT…35
Bảng 1.2 Đánh giá của giáo viên về mức độ KNS của học sinh THPT…… 36
Bảng 1.3 Mức độ thực hiện tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong
dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản)….38
Bảng 3.1 Mẫu thực nghiệm……….65
Bảng 3.2: Kết quả điều tra hứng thú học tập của học sinh giữa lớp thực nghiệm
và lớp đối chứng……….94 Bảng 3.3: Điều tra nhận thức của học sinh về các kĩ năng sống thu được…….95
Bảng 3.4 Tổng hợp kết quả bài kiểm tra của học sinh ở lớp thực nghiệm và đối
chứng trước tác động……… 96
Bảng 3.5 Tổng hợp kết quả bài kiểm tra của học sinh ở lớp thực nghiệm và đối
chứng sau tác động……… 97
Trang 9DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra HS trước thực nghiệm………… 96
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ kết quả bài kiểm tra HS sau thực nghiệm ……….98
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1.Một trong những mục tiêu quan trọng mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra trong
Chiến lược phát triển nền giáo dục trong thời gian tới là chú trọng thực hiện lồng ghép, tích hợp giáo dục đạo đức, giáo dục ngoài giờ lên lớp, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục giá trị sống và giáo dục kĩ năng sống trong các môn học và các
hoạt động giáo dục Như vậy, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong nhà trường
phổ thông đã và đang nhận được sự quan tâm của đội ngũ giáo viên cũng như các nhà quản lý giáo dục Đây là một nội dung quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giáo dục mà toàn ngành đang thực hiện nhằm đào tạo học sinh phát triển toàn diện để đáp ứng yêu cầu của xã hội Nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh được triển khai thông qua tích hợp và liên môn các môn học, nhất là các môn học
có tiềm năng như: GDCD, Sinh học, Ngữ văn, Địa lí… và đặc biệt là thông qua nội dung hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông còn được thể hiện qua các chương trình, dự án, các chuyên đề của Đoàn thanh niên: Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường và phòng chống biến đổi khí hậu, giáo dục phòng chống HIV/AIDS, giáo dục phòng chống ma tuý, giáo dục an toàn giao thông, giáo dục tư vấn sức khoẻ sinh sản vị thành niên Việc đi sâu nghiên cứu về dạy học tích hợp giáo dục KNS và ứng dụng thể nghiệm tính khả thi của nó trong thực tiễn dạy học của mỗi môn học, lớp học, bậc học sẽ góp phần hiện thực hóa và thực hiện thành công đề án đổi mới giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo hiện nay
1.2 Kĩ năng sống có vai trò quan trọng trong cuộc sống hàng ngày Giáo dục kĩ
năng sống góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân, thúc đẩy sự phát triển của xã hội, giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội và bảo vệ quyền con người.Tuy nhiên, giới trẻ hiện nay luôn phải đương đầu với nhiều vấn đề tâm lý xã hội phức
Trang 11tạp trong cuộc sống Nhiều học sinh thiếu những kĩ năng sống cần thiết dẫn đến những hành vi, những lối ứng xử sai lầm, lệch lạc, lối sống thụ động, máy móc, ích
kỉ, thực dụng với những hậu quả khác nhau Bởi vậy, hơn bao giờ hết mỗi giáo viên cần phải ý thức cao trong việc lồng ghép, tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong từng bài, từng môn học nhằm góp phần đưa giáo dục đạt được những mục tiêu cao cả
1.3 Trong các môn học ở nhà trường THPT, môn Ngữ văn có vai trò quan trọng
trong việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trong giờ văn, giáo viên không chỉ giúp HS khám phá vẻ đẹp tác phẩm văn chương mà còn hình thành cho học sinh nhân cách, lối sống, kĩ năng ứng xử trước những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống trong xã hội hiện đại.Tuy nhiên, thực tiễn dạy học hiện nay cho thấy việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua môn Ngữ văn còn nhiều hạn chế, chưa đạt được những mục tiêu giáo dục đề ra
Văn học hiện thực Việt Nam thuộc một trong những khuynh hướng nổi bật, quan trọng và tiêu biểu cho văn học hiện đại Việt Nam Văn học hiện thực thể hiện những vấn đề lớn lao của đời sống xã hội, số phận con người và cách con người sống và tồn tại trong xã hội.Trong quá trình giảng dạy môn Ngữ văn cho học sinh lớp 11, chúng tôi nhận thấy các tác phẩm, đoạn trích văn học hiện thực Việt Nam khi được tuyển chọn đưa vào Sách giáo khoa Ngữ văn lớp 11- THPT rất phù hợp với việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vì đã phản ánh những nội dung chính như sau:
- Phơi bày, phê phán thực trạng bất công, thối nát của xã hội thực dân đương thời, phản ánh tình cảnh khốn khổ của nhân dân
- Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam như tình yêu thương con người,tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước
- Đề cao phẩm giá và giữ vững niềm tin vào bản chất lương thiện của con người
Trang 12- Giáo dục tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, niềm cảm thông với những hoàn cảnh bất hạnh
Hơn nữa trong bối cảnh xã hội ngày nay, tình cảm gia đình, tình yêu thương con người, niềm cảm thông với hoàn cảnh bất hạnh của các em học sinh càng ngày càng mai một Chính vì vậy các văn bản văn học hiện thực đã mở ra những cơ hội thiết thực, những tiềm năng phong phú cho việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT
Đó chính là những lí do để chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình cơ bản)
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi xin đưa ra một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài như sau:
Thuật ngữ "Kĩ năng sống" đã xuất hiện trong một số chương trình giáo dục của UNICEF (Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc) từ những năm 90 của thế kỉ XX.Trước tiên là chương trình "Giáo dục những giá trị sống" với 12 giá trị cơ bản của giáo dục cho thế hệ trẻ Dự án do UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Giáo dục và Khoa học) tiến hành tại một số nước Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hướng nghiên cứu KNS nêu trên
Các tổ chức WHO(Tổ chức y tế thế giới), UNICEF, UNESCO đã cùng nhau xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên Từ đây, một số tài liệu
nghiên cứu về vấn đề giáo dục KNS cho thanh thiếu niên ra đời như: Tài liệu tập huấn về KNS của UNICEF (2004), Những hoạt động giá trị sống cho thiếu niên (8 đến 14 tuổi) của Diane Tiuman (NXB thành phố Hồ Chí Minh - 2000), Tài liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn, G.Bandzeladze (1985)…
Trang 13KNS được tích hợp vào một số môn học chính hoặc tất cả các môn học trong chương trình Tuy nhiên, chỉ có một số không đáng kể các nước đưa KNS thành một môn học riêng biệt Còn đa số các nước để tránh sự quá tải trong nhà trường, thường tích hợp KNS vào một phần nội dung môn học, chủ yếu là các môn xã hội như: Giáo dục sức khỏe, giáo dục giới tính, quyền con người, giáo dục môi trường….Một số nước đã sử dụng cách tiếp cận "Whole School Approach " trong đó hình thức xây dựng "Trường học thân thiện " nhằm thúc đẩy việc giáo dục KNS trong nhà trường
Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai giáo dục KNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú song chưa thật toàn diện và sâu sắc Hơn nữa cho đến nay, các biện pháp, kinh nghiệm hoặc hệ thống
tiêu chí đánh giá chất lượng KNS chưa được giới nghiên cứu quan tâm đúng mức
2.2 Các nghiên cứu trong nước
Qua khảo sát sơ bộ,chúngtôi xin đưa ra một số công trình nghiên cứu ở trong nước như sau:
Từ những năm 1995-1996, thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các nhà trường phổ thông Việt Nam thông qua dự án "Giáo dục KNS để bảo vệ sức khỏe
và phòng chống HIV/AIDS chothanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường" do UNICEF phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam thực hiện.Qua đó, nội dung của khái niệm KNS và giáo dục KNS ngày càng được mở rộng
Ở Việt Nam,tác giả Nguyễn Thanh Bình được coi là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng, đáng kể vào việc tạo ra những hướng nghiên cứu về KNS và giáo dục KNS, cách tiếp cận KNS, các con đường giáo dục KNS cho học sinh trong nhà trường.Có thể kể đến một số bài báo, đề tài khoa
học cấp bộ và tài liệu sau: Giáo dục kĩ năng sống cho người học (Nguyễn Thanh
Bình,Tạp chí Thông tin KHGD, số 100/2003, Hà Nội); Xây dựng và thực nghiệm
Trang 14một số chủ đề giáo dục kĩ năng sống cơ bản cho học sinh THPT (Nguyễn Thanh Bình, Đề tài KHCN cấp Bộ, mã số B 2007-17-57, HàNội); Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh phổ thông (Nguyễn Thanh Bình,Nxb Đại học Sưphạm – 2013)
Bên cạnh đó, một số chương trình nghiên cứu đã ra đời đáp ứng nhu cầu
thực tiễn về lí thuyết và phương pháp giáo dục KNS cho học sinh như Giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh THCS (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Hoàng Minh, NXB ĐHQG Hà Nội - 2010) Cuốn Cẩm nang giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT (NXB Giáo dục, 2010) của tác giả Bùi Ngọc
Diệp đã nêu những vấn đề chung về KNS và các KNS cần giáo dục cho học sinh THPT, hướng dẫn tổ chức những hoạt động, kèm theo một số câu chuyện giáo dục KNS cho học sinh Ngoài ra Phạm Công Khanh, Nguyễn Thị Kim Liên với giáo
trình Phương pháp giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống (NXB ĐHSP, 2012) lại xây
dựng các mô hình giáo dục giá trị sống, kĩ năng sống qua hoạt động sinh hoạt câu
lạc bộ của học sinh Cuốn sách Hướng dẫn và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh THPT của Trương Thị Hoa Bích Dung (NXB ĐHQG Hà Nội, 2013) đã tập trung
tìm hiểu KNS, mục tiêu của việc giáo dục KNS cho học sinh, phương pháp xây dựng bài giảng KNS
Trong chuyên ngành Ngữ văn có cuốn Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THCS (NXB Giáo dục Việt Nam - 2010) và Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở trường THPT (NXB Giáo dục Việt Nam - 2010) Hai
cuốn sách đã đề cập đến tầm quan trọng của việc giáo dục KNS cho học sinh, từ đó xây dựng những định hướng trong việc giáo dục KNS trong môn Ngữ văn và các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực có thể rèn KNS cho học sinh
Ngoài ra, có thể kể đến một số luận văn nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh như: Luận văn thạc sĩ ngành Quản lý giáo dục của tác giả
Nguyễn Hữu Đức (2010), Quản lý giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trường
Trang 15THPT Trần Hưng Đạo Nam Định trong giai đoạn hiện nay (Thông qua hoạt động
giáo dục ngoài giờ lên lớp), Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội Trong những năm gần đây, đã có một số luận văn chuyên ngành ngữ văn đã viết về đề tài này như: Lê Kim Anh (2011), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn,
Tích hợp rèn kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam ở trường trung học cơ sở, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội; Vũ Thị Bích Hằng (2015), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Tổ chức dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10 – tập 2) theo hướng tích hợp giáo dục kĩ năng sống, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Thị Ngọc Lam(2016), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn,Tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học truyện ngắn Việt Nam hiện đại ( Ngữ văn 9), Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Hà Giang (2016), Luận văn thạc sĩ sư phạm Ngữ văn, Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh lớp 12 trong dạy học văn nghị luận xã hội, Trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội,…
Các luận văn trên đây khá phong phú và đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lí thuyết và phương pháp giáo dục kĩ năng sống.Tuy nhiên, luận văn thạc sĩ của Lê Kim Anh và Nguyễn Hà Giang tập trung đề xuất các biện pháp để hình thành và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học thơ trữ tình hiện đại Việt Nam
và văn nghị luận xã hội Luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Bích Hằng cũng tích hợp giáo dục kĩ năng sống nhưng giới hạn trong phần làm văn lớp 10 tập 2 Luận văn thạc sĩ của Trần Thị Ngọc Lam tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại nhưng ở cấp THCS.Như vậy cho đến nay,chưa có luận văn nào bàn cụ thể về các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11- Chương trình Cơ bản) Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn nhất định, đó là đề xuất các biện pháp cụ thể tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản) nhằm đưa môn Ngữ văn
Trang 16gắn liền với cuộc sống và mang tính giáo dục cao hơn đồng thời phát huy và kế thừa kết quả nghiên cứu của những công trình trước
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất những biện pháp mang tính khả thi trong việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học văn học hiện thực phê phán Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản),nhằm hình thành và phát triển những kĩ năng sống cần thiết cho lứa tuổi học sinh trung học phổ thông và góp phần giáo dục nhân cách học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đáp
ứng yêu cầu xã hội
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống, tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông
Phân tích thực trạng tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông
Đề xuất các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học Ngữ văn ở cấp Trung học phổ thông và bước đầu thực nghiệm vào dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản)
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1.Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản)
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong việc tìm ra các biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản)
Trang 17Các nghiên cứu chủ yếu được triển khai tại trường THPT Thanh Oai B – Thanh Oai – Hà Nội
Luận văn tập trung nghiên cứu các kĩ năng sống cơ bản để tích hợp giáo dục cho học sinh trong văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản) như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng thể hiện sự cảm thông, kĩ năng tư duy phê phán…
5 Phương pháp nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận:
+ Nghiên cứu các đề tài, các văn bản, nghị quyết của Đảng và Nhà Nước về vấn đề kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THPT
+ Sưu tầm, đọc tài liệu, phân tích, khái quát, hệ thống hóa các tài liệu có liên quan nhằm xác lập cơ sở lí luận cho đề tài nghiên cứu
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp quan sát: Tiến hành dự giờ để quan sát việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động dạy học trên lớp của giáo viên
+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Dùng phiếu hỏi có hệ thống nhằm thu thập thông tin về thực trạng học kĩ năng sống của học sinh và điều tra hứng thú học tập của các em sau giờ học thực nghiệm
+ Phương pháp khảo sát về thực trạng dạy học tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong văn học hiện thực Việt Nam
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thống kê, so sánh, đối chiếu, xử lí số liệu…
Trang 186 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, mục lục, phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2 Biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản)
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 19CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở lý luận
1.1.1 Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
1.1.1.1 Khái niệm kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống
* Khái niệm kĩ năng sống
KNS được tiếp cận theo nhiều quan điểm khác nhau
Quan niệm rộng nhất là quan niệm do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) đưa ra, dựa trên cơ sở là 4 mục tiêu cơ bản của việc học: Học để biết – Học để làm – Học để là chính mình – Học để cùng chung sống Dựa vào đó, UNESCO định nghĩa “KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”[12,tr7] Quan niệm hẹp hơn là quan niệm do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra, dựa trên lý thuyết học tập xã hội của Bandura (1977), tức là nhấn mạnh sự học tập qua quá trình trải nghiệm của con người, qua sự tích lũy kinh nghiệm sống, cấu trúc kinh nghiệm và chủ động nắm lấy kinh nghiệm Theo đó, WHO định nghĩa
“KNS là những năng lực giao tiếp đáp ứng và những hành vi tích cực của cá nhân
có thể giải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”.[12,tr7]
Quỹ cứu trợ nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) quan niệm: “KNS là những kĩ năng tâm lý xã hội có liên quan đến tri thức, những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [12, tr7]
Ở Việt Nam, trong cuốn “Kĩ năng sống cho tuổi vị thành niên”, Nguyễn Thị Oanh cũng trình bày quan điểm: “KNS với tư cách là đối tượng của giáo dục KNS
Trang 20là năng lực tâm lý xã hội để đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày”[40]
Theo tiến sĩ tâm lý Huỳnh Văn Sơn, “KNS là những kĩ năng tinh thần hay những kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống” [3]
Ngoài ra, trong bài viết “Khái niệm kĩ năng sống nhìn từ góc độ tâm lý học”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn, ĐH Sư phạm Hà Nội đã xem xét khái niệm KNS
dưới góc độ tâm lý học, tác giả đã phân tích: cuộc sống của con người diễn ra bằng hoạt động sống, với sự đan xen của dòng “hoạt động có đối tượng” và “mối quan
hệ giao tiếp - ứng xử” giữa con người với con người, đó là hai mặt có mối quan hệ tác động lẫn nhau, tạo nên cuộc sống đích thực của mỗi con người Do đó, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đưa ra khái niệm về KNS như sau: “KNS là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống các kĩ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia và cuộc sống hàng ngày có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống”.[49]
Có thể thấy, mỗi định nghĩa về KNS được thể hiện dưới những góc nhìn khác nhau, song đều thống nhất trên nội dung cơ bản KNS là những kĩ năng thực hành mà con người cần để có được sự an toàn, cuộc sống khỏe mạnh với chất lượng cao; hướng vào việc giúp con người thay đổi nhận thức, thái độ và giá trị trong những hành động theo xu hướng tích cực và mang tính chất xây dựng Kĩ năng sống vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội Chẳng hạn: kĩ năng sống của mỗi cá nhân trong thời bao cấp khác với kĩ năng sống của các cá nhân trong cơ chế thị trường, trong giai đoạn hội nhập; kĩ năng sống của người sống ở miền núi khác với kĩ năng sống của người sống ở vùng biển, kĩ năng sống của người sống ở nông thôn khác với kĩ năng sống của người sống ở thành phố
Trang 21Với cách phân tích nêu trên, chúng tôi nhận thấy cần sử dụng khái niệm kĩ
năng sống phù hợp đối tượng nghiên cứu với nội hàm: “khả năng làm cho hành vi
và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày” UNESCO (2003)
* Khái niệm giáo dục kĩ năng sống
Theo Nguyễn Thị Mỹ Lộc "Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển tải những gì mình biết (nhận thức), những gì mình cảm nhận (thái độ) và những gì mình quan tâm (giá trị) thành những khả năng thực thụ giúp học sinh biết phải làm gì và làm như thế nào (hành vi) trong những tình huống khác nhau của cuộc sống" [ 33,tr108- 109]
Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày…
Từ khái niệm kĩ năng sống , chúng tôi thấy rằng: Giáo dục KNS là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể nhằm tổ chức, điều khiển để học sinh biết cách chuyển dịch kiến thức (cái học sinh biết) và thái độ, giá trị (cái học sinh nghĩ, cảm thấy, tin tưởng) thành hành động thực tế (làm gì và làm cách nào) một cách tích cực và mang tính chất xây dựng
1.1.1.2 Phân loại kĩ năng sống
Hiện nay, dựa trên những quan niệm khác nhau về kĩ năng sống, có những cách phân loại kĩ năng sống như sau:
- Theo UNESCO, WHO và UNICEP, kĩ năng sống gồm các kĩ năng cốt lõi sau:
Trang 22 Kĩ năng giải quyết vấn đề
Kĩ năng suy nghĩ /tư duy phê phán
Kĩ năng giao tiếp hiệu quả
Kĩ năng ra quyết định
Kĩ năng tư duy sáng tạo
Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân
Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị
Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc.[12,tr9]
Trong giáo dục ở Vương quốc Anh, KNS được chia thành 6 nhóm chính là
Hợp tác nhóm
Tự quản
Tham gia hiệu quả
Suy nghĩ / tư duy bình luận, phê phán
Suy nghĩ sáng tạo
Nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, kĩ năng sống thường được phân loại theo các mối quan hệ , bao gồm các nhóm sau:
+ Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình bao gồm các kĩ năng cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ,
tự trọng, tự tin…
+ Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các kĩ năng sống
cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày
tỏ sự cảm thông, hợp tác…
+ Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các kĩ năng cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề …[12, tr9,10]
Trang 23Trên thực tế, các kĩ năng sống thường không hoàn toàn tách rời nhau mà có liên quan chặt chẽ với nhau Ví dụ khi cần ra một quyết định phù hợp thì cần vận dụng tổng hợp các kĩ năng như nhận thức, kĩ năng tìm kiếm và kĩ năng xử lí thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng xác định giá trị… Hay để giao tiếp một cách có hiệu quả cần phối hợp với những kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng thương lượng, kĩ năng tư duy phê phán,kĩ năng cảm thông, chia sẻ, kĩ năng kiềm chế, đương đầu với cảm xúc…
1.1.1.3 Tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
Kĩ năng sống đóng vai trò vô cùng quan trọng nhất là trong xã hội hiện đại: góp phần thúc đẩy sự phát triển và nâng cao chất lượng cuộc sống cá nhân
Chất lượng cuộc sống của chúng ta phụ thuộc khá lớn vào việc xung quanh chúng ta có nhiều người thấu hiểu chúng ta hay không Để tồn tại và phát triển, với bất kỳ ai, việc có công việc làm để đảm bảo sự tồn tại của cuộc sống là vô cùng quan trọng Đồng thời với đó là yêu cầu học tập, bồi dưỡng, rèn luyện không ngừng để nâng cao chất lượng đời sống đó, để đời sống thực sự là “sống” chứ không là “tồn tại”
Dạy kĩ năng sống trong trường học sẽ giúp học sinh nâng cao khả năng thích nghi, ứng phó tốt hơn với những vấn đề cũng như những thách thức mà các em đặt
ra Có quan điểm cho rằng, kiến thức chỉ đảm bảo cho 50% của sự thành công, 50% còn lại phụ thuộc vào người đó có kĩ năng sống hay không Để diễn đạt vai trò của kĩ năng sống đối với cuộc sống của mỗi cá nhân người ta đã hình tượng hóa
kĩ năng sống như cây cầu đưa con người vượt qua dòng sông cuộc đời chứa đầy rủi
ro, thách thức để đến được bến bờ của thành công và hạnh phúc Người trưởng thành cũng vẫn cần học kĩ năng sống
Rất nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng dạy cho học sinh các kĩ năng sống sẽ giúp trẻ em giảm thiểu được nhiều vấn đề Tổ chức y tế thế giới tổng hợp những nghiên
Trang 24cứu đánh giá hiệu quả của các chương trình dạy kĩ năng sống cho thấy kĩ năng sống giúp:
- Giảm nguy cơ phát triển những hành vi chống đối, những hành vi bạo lực và hành vi phạm tội ở trẻ em
- Đẩy lùi tuổi sử dụng rượu, thuốc lá, các chất kích thích khác
- Giảm nguy cơ về sức khỏe sinh sản
- Giảm nguy cơ bị bắt nạt, bạn bè xa lánh
- Giúp các em kiểm soát cơn giận dữ tốt hơn
- Giúp các em phát triển khả năng điều chỉnh về mặt xã hội và giảm nguy cơ mắc các vấn đề cảm xúc
- Nâng cao kết quả học tập
- Nâng cao ý thức về môi trường và quan tâm hơn đến thế giới xung quanh
Kĩ năng sống làm giảm thiểu các tệ nạn xã hội và hành vi phạm pháp, giúp xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người trong xã hội, đồng thời góp phần thúc đẩy năng suất lao động xã hội do dựa trên tinh thần lao động có trách nhiệm, có kế hoạch, sáng tạo và hợp tác của cá nhân Những hành vi tích cực, mang tính chất xây dựng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống vốn là đặc tính của con người có kĩ năng sống, do vậy nếu mọi cá nhân trong xã hội đều có kĩ năng sống sẽ giúp xã hội phát triển một cách bền vững Ngược lại, việc thiếu kĩ năng sống của cá nhân là một nguyên nhân làm nảy sinh nhiều vấn đề trong xã hội như: nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc, bạo lực…Giáo dục kĩ năng sống còn giải quyết một cách tích cực nhu cầu và quyền con người, quyền công dân được ghi trong luật pháp Việt Nam và Quốc tế
Trang 251.1.2 Dạy học tích hợp
1.1.2.1 Khái niệm dạy học tích hợp
Từ điển Giáo dục học cho rằng: “Tích hợp là những hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”[18]
Khái niệm tích hợp được sử dụng trong nhiều lĩnh vực Trong lĩnh vực khoa học giáo dục (GD), khái niệm tích hợp xuất hiện từ thời kì khai sáng, dùng để chỉ một quan niệm GD toàn diện con người, chống lại hiện tượng làm cho con người phát triển thiếu hài hòa, cân đối
Trong dạy học ở bậc phổ thông, tích hợp được hiểu là sự tổ hợp theo một cách thức nào đấy một số nội dung cần thiết cho việc hình thành, phát triển năng lực người học thành một môn học mới; hoặc tạo môn học mới từ một số nội dung của các môn học khác; hay có thể lồng ghép thêm các nội dung cần thiết vào nội dung vốn có của môn học… ví dụ: lồng ghép nội dung GD dân số, GD môi trường,
GD an toàn giao thông trong các môn học Đạo đức, Tiếng Việt hay Tự nhiên và xã hội… xây dựng môn học tích hợp từ các môn học truyền thống
Nhà nghiên cứu Phạm Văn Lập quan niệm “dạy học tích hợp có nghĩa là những kiến thức, kĩ năng học được ở môn học này, phần này của môn học được sử dụng như những công cụ để nghiên cứu học tập trong môn học khác, trong nhiều phần khác của cùng môn học” [29]
Như vậy, tích hợp không phải là phép cộng đơn thuần các kiến thức cùng dạy trong một bài mà là sự tổng hòa của các kiến thức khác nhau thành một đơn vị kiến thức duy nhất hướng tới giải quyết một vấn đề thực tiễn
Từ các quan niệm trên, có thể thấy dạy học tích hợp chính là quá trình dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn sao cho học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng đã có thuộc các lĩnh vực để giải quyết được nhiệm vụ học
tập và qua đó mà hình thành kiến thức, kĩ năng mới
Trang 261.1.2.2 Các cách tích hợp
Từ đầu thế kỉ XXI, các nhà lí thuyết đã thảo luận và thống nhất đưa ra ba loại hoạt động tích hợp cơ bản: tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn
Tiếp cận tích hợp đa môn tập trung trước hết vào các môn học Các môn liên quan với nhau có chung một nhận định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhưng mỗi môn lại có chương trình riêng.Tích hợp đa môn được thực hiện theo cách tổ chức các chuẩn kiến thức từ các môn học, xoay quanh một chủ đề, đề tài, dự án tạo điều kiện cho người học vận dụng tổng hợp các kiến thức của các môn học có liên quan
Theo cách tiếp cận tích hợp liên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các nội dung học tập chung: các chủ đề, các khái niệm và kĩ năng liên ngành, liên môn.Tích hợp liên môn còn được hiểu như là phương án, trong đó nhiều môn học liên quan được kết lại thành một môn học mới với hệ thống những chủ đề nhất định, xuyên suốt qua nhiều cấp lớp Ví dụ: Địa lí, Lịch sử, Sinh học,
Xã hội, Giáo dục công dân, Hóa học, Vật lí được tích hợp thành môn “nghiên cứu
xã hội và môi trường”
Trong cách tiếp cận tích hợp xuyên môn, giáo viên tổ chức chương trình học tập xoay quanh các vấn đề và quan tâm của người học.Học sinh phát triển kĩ năng sống khi áp dụng kĩ năng môn học và liên môn vào hoàn cảnh thực tế
Bên cạnh đó, các nhà giáo dục học phân chia tích hợp ra thành tích hợp dọc (Vertical Integration) và tích hợp ngang (horizontal integration) Tích hợp dọc là
“Tích hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau”, còn tích hợp ngang là “Tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề” [18, tr 384-385]
Trang 27Để việc tích hợp có hiệu quả cao, theo Trần Trung Ninh, nên có sự phối hợp đồng bộ giữa chương trình các môn học và vận dụng linh hoạt các phương pháp tích hợp với mỗi lĩnh vực kiến thức cần đạt được Bên cạnh đó, tăng cường các giờ học thực hành, hoạt động ngoại khóa theo chủ đề, giảm giờ dạy lí thuyết của giáo viên, tăng thời lượng học tập của học sinh Xây dựng hệ thống bài tập mở, bài tập gắn với thực tiễn, bài tập có nội dung vận dụng kiến thức liên môn từ đó bồi dưỡng năng lực khoa học và kĩ năng sống cho học sinh, tạo hứng thú và động lực cho việc học
Đinh Quang Báo – trưởng ban thường trực chỉ đạo đề án đổi mới chương trình và SGK giáo dục phổ thông sau 2015 cũng cho rằng phần nội dung môn học trong mô hình cấu trúc SGK không nên trình bày đơn vị bài học theo tiết học, mà nên theo chủ đề nội dung ứng với các tình huống thích hợp Đồng thời, cố gắng để các chủ đề này được sắp xếp làm sao không phá vỡ quá nhiều logic nội tại của nội dung khoa học mỗi môn học, phân môn trong sách giáo khoa
1.1.2.3 Ý nghĩa của dạy học tích hợp
Khẳng định tích hợp là yêu cầu chung của quá trình dạy học, nguyên thứ trưởng Nguyễn Vinh Hiển cho biết: “Giáo dục tích hợp được quán triệt khi thiết kế
và thực hiện các yếu tố cấu thành quá trình với các mức độ khác nhau dựa trên logic phát triển năng lực ở học sinh Tích hợp kết hợp với phân hóa sâu dần để có một chương trình giảm số môn học bắt buộc, tăng các môn học, chủ đề tự chọn, nhưng học sinh lại có được nguồn tri thức rộng, gắn với thực tiễn và được rèn luyện kĩ năng, chuẩn bị tâm thế hướng nghiệp, hướng nghề, hướng đến phát triển trình độ cao”.[4]
Tích hợp trong dạy học là một bước tiến quan trọng trong khoa học giáo dục,
từ hướng tiếp cận nội dung chuyển sang hướng tiếp cận năng lực người học
Trang 28Đối với học sinh
Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa, đặt quá trình học tập vào hoàn cảnh để học sinh nhận thấy ý nghĩa của kiến thức, kĩ năng, năng lực cần lĩnh hội, tạo điều kiện cho việc học theo hướng mở gắn với thực tiễn
Khắc phục, hạn chế cách học khép kín, tách biệt, giúp học sinh có năng lực huy động kiến thức tổng hợp để giải quyết các tình huống thực tiễn
Tránh trùng lặp kiến thức, giúp học sinh lĩnh hội nhiều kiến thức mới chỉ qua tích hợp mới có được
Dạy học tích hợp khuyến khích người học một cách toàn diện hơn, nội dung bài học chủ động hơn
Giúp đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh Tạo các tình huống học tập để học sinh vận dụng kiến thức một cách sáng tạo, tự lực, tạo điều kiện giáo dục phẩm chất nhân văn nơi người học
Ngoài lợi ích từ việc làm cho người học hiểu đúng bản chất của sự vật hiện tượng trong chỉnh thể của nó, dạy học tích hợp còn là một cách thức hữu hiệu trong việc tích hợp được nhiều kiến thức mà lại không có quá nhiều đầu môn học, tránh trùng lặp kiến thức phù hợp với xu thế tinh lọc kiến thức trong giáo dục phổ thông hiện đại Một số kiến thức gần nhau, liên quan với nhau sẽ được tích hợp vào cùng một môn học
Sự tích hợp này sẽ làm rõ được sự gắn kết giữa các kiến thức ấy, Nói cách khác, dạy học tích hợp giúp giảm được kiến thức không thực sự phù hợp với mục đích giáo dục, để có điều kiện tăng kiến thức phù hợp Tức là dạy học tích hợp góp phầp đắc lực vào giáo dục toàn diện Hơn nữa, khi mỗi sự vật, hiện tượng được nhìn nhận trong mối quan hệ hữu cơ với các sự vật, hiện tượng khác thì sẽ khơi
dậy được cảm hứng tìm tòi, khám phá của người học
Trang 29Đối với giáo viên
Mặc dù, đối với giáo viên thì ban đầu có thể có chút khó khăn do việc phải tìm hiểu sâu hơn những kiến thức thuộc các môn học khác tuy nhiên khó khăn này chỉ là bước đầu và có thể khắc phục dễ dàng
Trong quá trình dạy học môn học của mình, giáo viên vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác và vì vậy đã có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó.Hơn nữa, việc dạy học tích hợp giúp giáo viên các bộ môn liên quan có điều kiện phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học
1.1.3 Cơ sở tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học Ngữ văn
ở trường THPT
1.1.3.1 Cơ sở tâm lí, nhận thức của HS THPT
Học sinh THPT có độ tuổi từ 16 –18 Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt, xảy
ra đồng thời một loạt những thay đổi về thể chất, tâm lí và các mối quan hệ xã hội
Sự phát triển của các em được phản ánh bằng các tên gọi khác nhau: thời kì quá
độ, tuổi khó khăn, tuổi khủng hoảng, tuổi bất trị…
Điều kiện sống và hoạt động
Trong gia đình,các em thấy được quyền hạn và trách nhiệm của bản thân đối với gia đình Các em bắt đầu quan tâm chú ý đến nề nếp, lối sống sinh hoạt và điều kiện kinh tế chính trị của gia đình
Ở nhà trường, học tập vẫn là hoạt động chủ đạo nhưng tính chất và mức độ thì phức tạp và cao hơn hẳn so với tuổi thiếu niên Điều này đòi hỏi các em phải tự giác, tích cực độc lập hơn,phải biết cách vận dụng tri thức một cách sáng tạo Việc
Trang 30gia nhập Đoàn TNCS HCM trong nhà trường đòi hỏi các em phải tích cực độc lập, sáng tạo, phải có tính nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm, biết phê bình và tự phê bình Mặt khác,ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em
đã được xác định thể hiện rõ ràng hơn Nhà trường cần có những hình thức tổ chức đặc biệt đối với hoạt động của học sinh THPT nhất là học sinh cuối cấp để tạo ra
sự thay đổi căn bản về hoạt động tư duy, về tính chất lao động trí óc của các em
Xã hội đã công nhận cho lứa tuổi học sinh THPT quyền công dân, quyền tham gia mọi hoạt động bình đẳng như người lớn Tất cả các em đã có suy nghĩ về việc chọn nghề Khi tham gia vào hoạt động xã hội các em được tiếp xúc với nhiều tầng lớp xã hội khác nhau, quan hệ xã hội được mở rộng, các em có dịp hòa nhập vào cuộc sống đa dạng phức tạp của xã hội giúp các em tích lũy vốn kinh nghiệm sống để chuẩn bị cho cuộc sống tự lập sau này
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ
Ở lứa tuổi này, hoạt động tư duy cũng có những biến đổi cơ bản, tư duy sáng tạo, tư duy trừu tượng phát triển mạnh mẽ đặc biệt là tư duy phê phán Trước một vấn đề các em thường đặt những câu hỏi nghi vấn hay dùng lối phản bác đề để nhận thức chân lý một cách sâu sắc hơn.Đặc biệt các em cũng thích những vấn đề có tính triết lí vì thế các em rất thích nghe và thích ghi chép những câu triết lý
Chính vì đặc điểm phát triển về trí tuệ nên việc phát triển khả năng nhận thức của học sinh trong dạy học là một trong những nhiệm vụ quan trọng của người giáo viên
Sự phát triển của tự ý thức
Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú ý đến mình…
Trang 31Nhìn chung thanh niên mới lớn có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn nên các em vẫn cần sự giúp đỡ của người lớn Một mặt, người lớn phải lắng nghe ý kiến của các em, mặt khác phải giúp các
em hình thành được biểu tượng khách quan về nhân cách của mình nhằm giúp cho
sự tự đánh giá của các em được đúng đắn hơn, tránh những lệch lạc, phiến diện trong tự đánh giá Cần tổ chức hoạt động của tập thể cho các em có sự giúp đỡ, kiểm tra lẫn nhau để hoàn thiện nhân cách của bản thân
Hoạt động giao tiếp
Nhu cầu giao tiếp của các em với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh Trong tập thể, các em thấy được vị trí, trách nhiệm của mình và các em cũng cảm thấy mình cần cho tập thể Khi giao tiếp trong nhóm bạn sẽ xảy ra hiện tượng phân cực – có những người được nhiều người yêu mến và có những người ít được bạn bè yêu mến Điều đó làm cho các em phải suy nghĩ về nhân cách của mình và tìm cách điều chỉnh bản thân
Tình bạn thân thiết, chân thành sẽ cho phép các em đối chiếu được những thể nghiệm, ước mơ, lí tưởng, cho phép các em học được cách nhận xét, đánh giá
về mình.Nhưng tình bạn ở các em còn mang màu sắc xúc cảm nhiều nên thường có biểu hiện lí tưởng hóa tình bạn.Có nghĩa là các em thường đòi hỏi ở bạn mình phải
có những cái mình muốn chứ không chú ý đến khả năng thực tế của bạn
Tình yêu của lứa tuổi này còn được gọi là “tình yêu bạn bè”, bởi vì các em thường che giấu tình cảm của mình trong tình bạn nên đôi khi cũng không phân biệt được đó là tình bạn hay tình yêu Do vậy mà các em không nên đặt vấn đề yêu đương quá sớm vì nó sẽ ảnh hưởng đến việc học tập Tình yêu của nam nữ thanh niên tạo ra nhiều cảm xúc: căng thẳng vì thiếu kinh nghiệm, vì sợ bị từ chối, vì vui sướng khi được đáp lại bằng sự yêu thương Giáo viên cần thấy rằng đây là bắt đầu một giai đoạn bình thường và tất yếu trong sự phát triển của con người Tình yêu ở lứa tuổi thanh niên về cơ bản là tình cảm lành mạnh, trong sáng nhưng cũng là một
Trang 32vấn đề rất phức tạp, nó đòi hỏi sự khéo léo tế nhị của giáo viên Một mặt giáo viên phải làm cho các em có thái độ đúng đắn trong quan hệ tình cảm với bạn khác giới, phải làm cho các em biết kìm chế những cảm xúc của bản thân; mặt khác, phải nghiên cứu từng trường hợp cụ thể để đưa ra cách giải quyết thích hợp Bất luận trong trường hợp nào cũng đều không được can thiệp một cách thô bạo, không chế nhạo, phỉbáng, ngăn cấm độc đoán, bất bình mà phải có một thái độ trân trọng và
tế nhị, đồng thời cũng không được thờ ơ, lãnh đạm tránh những phản ứng tiêu cực
Mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở cấp THPT
Mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở cấp THPT đã được xác định:
Thứ nhất, môn Ngữ văn ở cấp THPT góp phần trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông cơ bản, hiện đại, hệ thống về Văn học và tiếng Việt, bao gồm: kiến thức về những tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại của Văn học Việt Nam và một số tác phẩm đoạn trích của Văn học nước ngoài Những hiểu biết về lịch sử Văn học và một số kiến thức lí luận Văn học cần thiết.Những kiến thức khái quát
về giao tiếp, lịch sử tiếng Việt và các phong cách ngôn ngữ.Những kiến thức về
Trang 33các kiểu văn bản, đặc biệt là văn bản nghị luận (đặc điểm, cách tiếp nhận và học tập)
Thứ hai, môn Ngữ văn sẽ hình thành và phát triển các năng lực Ngữ văn, bao gồm: năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở bốn kĩ năng cơ bản (nghe, nói, đọc, viết), năng lực tiếp nhận văn học, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học
và năng lực thực hành ứng dụng
Thứ ba, môn Ngữ văn còn bồi dưỡng cho học sinh tình yêu Tiếng Việt, Văn học, Văn hóa, tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lý tưởng xã hội chủ nghĩa; tinh thần dân chủ, nhân văn; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại.[12,tr39]
Như vậy, mục tiêu và nội dung môn Ngữ văn đã chứa đựng những yếu tố của giáo dục kĩ năng sống, phù hợp với các nội dung cơ bản của việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống vào môn học Ngữ văn là điều có thể thực hiện, phù hợp và cần thiết với xu thế dạy học Ngữ văn hiện nay
Từ mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn ở cấp THPT, chúng ta có thể xác định mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở cấpTHPT như sau:
Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn THPT
- Về kiến thức:
+ Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, yêu gia đình, quê hương, đất nước, sống nhân ái, khoan dung, có trách nhiệm vớibản thân, cộng đồng, đất nước và môi trường tự nhiên
+ Nhận thức được sự cần thiết của các kĩ năng giúp cho bản thân sống tự tin lành mạnh
+ Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các kĩ năng sống
- Về kĩ năng:
Trang 34+ Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày
+ Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống
+ Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống
- Về thái độ:
Hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các kĩ năng sống mà bản thân được giáo dục đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các kĩ năng sống đó [12,tr41]
1.1.3.3 Một số kĩ năng sống cơ bản tích hợp trong dạy học Ngữ văn ở trường THPT
Dựa trên cơ sở tâm lí, nhận thức của học sinh THPT, mục tiêu giáo dục của môn Ngữ văn và mục tiêu giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn ở cấp THPT, chúng tôi xác định một số kĩ năng sống cơ bản cần tích hợp giáo dục cho học sinh trong môn Ngữ văn như sau:
* Kĩ năng giải quyết vấn đề
- Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc khó khăn gặp phải
- Để phát triển kĩ năng giải quyết vấn đề, chúng ta cần phải nắm được những
kĩ năng sống quan trọng như kĩ năng ra quyết định, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ và kĩ năng kiên định
- Kĩ năng giải quyết vấn đề giúp con người tự tin và thành công trong cuộc sống
* Kĩ năng tự nhận thức
- Kĩ năng tự nhận thức là khả năng con người hiểu về chính bản thân mình;
Trang 35biết nhìn nhận, đánh giá đúng về tình cảm, sở thích, thói quen, điểm mạnh, điểm yếu,… của bản thân mình
- Tự nhận thức là một KNS rất cơ bản để con người giao tiếp, ứng xử phù hợp
và hiệu quả cũng như có thể cảm thông được với người khác Ngoài ra, có hiểu đúng về mình, con người mới có thể có những quyết định, những sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với khả năng của bản thân, với điều kiện thực tế và yêu cầu của xã hội Ngược lại, đánh giá không đúng về bản thân có thể dẫn con người đến những hạn chế, sai lầm, thất bại trong cuộc sống [12,tr15]
* Kĩ năng xác định giá trị
- Giá trị là những gì con người cho là có ý nghĩa quan trọng đối với bản thân mình; có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống của bản thân trong cuộc sống Giá trị có thể là giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần thuộc các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức, kinh tế,…
- Giá trị không phải là bất biến mà có thể thay đổi theo thời gian, theo các giai đoạn trưởng thành của con người Giá trị phụ thuộc vào giáo dục, văn hóa, môi trường sống, học tập và làm việc của mỗi cá nhân
- Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình Kĩ năng xác định giá trị có ảnh hưởng lớn đến quá trình ra quyết định và giải quyết vấn đề của mỗi người.[12,tr16]
* Kĩ năng tƣ duy sáng tạo
- Tư duy sáng tạo là khả năng đưa ra các giải pháp độc đáo và hiệu quả Nhà tâm lí học Edward de Bono cho rằng “Tư duy sáng tạo không phải là một tài năng,
đó là một kĩ năng có thể học được”
-Trong quá trình tư duy cần chấp nhận sự tồn tại song song của nhiều ý tưởng
để mở ra các khả năng và loại bỏ các giả định sai về vấn đề cần thảo luận Tuy nhiên, chỉ nên tổng hợp lại các ý tưởng ở cuối quá trình tư duy Vì thế, sự tư duy rất cần thiết trong hầu hết những vấn đề quan trọng
Trang 36- Kĩ năng tư duy sáng tạo giúp con người tư duy năng động, biết cách phán đoán và có thể ứng phó linh hoạt trong mọi hoàn cảnh Tư duy càng linh hoạt và
hiệu quả thì con người càng thành công trong cuộc sống.[12,tr22]
*Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
- Thể hiện sự cảm thông là khả năng đặt mình vào hoàn cảnh của người khác
để có thể hiểu rõ cảm xúc và tình cảm, đồng thời cảm thông với hoàn cảnh hoặc nhu cầu của họ
- Kĩ năng này có ý nghĩa quan trọng trong việc tăng cường hiệu quả giao tiếp và ứng xử với người khác; cải thiện các mối quan hệ giao tiếp Kĩ năng thể hiện sự cảm thông nhằm khuyến khích thái độ quan tâm và giúp đỡ mọi người
[12,tr19]
*Kĩ năng tƣ duy phê phán
Kĩ năng tư duy phê phán là khả năng phân tích một cách khách quan và toàn diện các vấn đề, sự vật, hiện tượng…xảy ra Để phân tích một cách có phê phán, con người cần:
- Sắp xếp các thông tin thu thập được theo từng nội dung và một cách hệ thống
- Thu thập thông tin về vấn đề, sự vật, hiện tượng…đó từ nhiều nguồn khác nhau
- Phân tích, so sánh, đối chiếu, lí giải các thông tin thu thập được, đặc biệt
là các thông tin trái chiều
- Xác định bản chất vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng…là gì?
- Nhận định về những mặt tích cực, hạn chế của vấn đề, tình huống, sự vật, hiện tượng,… xem xét một cách thấu đáo, sâu sắc và có hệ thống
Kĩ năng tư duy phê phán rất cần thiết để con người có thể đưa ra được những quyết định, những tình huống phù hợp Nhất là trong xã hội hiện đại ngày nay, khi mà con người luôn phải đối mặt với nhiều vấn đề gay cấn của cuộc sống,
Trang 37luôn phải xử lý nhiều nguồn thông tin đa dạng, phức tạp…thì kĩ năng tư duy phê phán càng trở lên quan trọng đối với mỗi cá nhân.[12,tr21]
Bên cạnh những kĩ năng nói trên, các kĩ năng khác như: kĩ năng kiểm soát cảm xúc, kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, kĩ năng kiên định, kĩ năng ra quyết định… cũng có ý nghĩa rất quan trọng
1.1.4 Cơ sở tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản)
1.1.4.1 Khái quát văn học hiện thực Việt Nam
Văn học hiện thực có một vị trí quan trọng trong nền văn xuôi Việt Nam và
có ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình hiện đại hóa văn học, nhiều cây bút trưởng thành từ trào lưu này, đóng góp cho nền văn học của chúng ta nhiều tác phẩm xuất sắc Các nhà văn hiện thực hướng đến phê phán tính chất thoát li của văn học lãng mạn và giữ vững quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh”: Từ đó, những cây bút hiện thực luôn có cái nhìn trực diện để phản ánh chân thực, khám phá sâu sắc bản chất hiện thực đời sống, phê phán những bất công, những tồn tại xã hội chà đạp lên con người Với nền tảng là chủ nghĩa nhân đạo, văn học hiện thực hướng đến những tầng lớp cùng khổ, không chỉ tố cáo những áp bức, bóc lột mà còn thể hiện được một khát vọng sống của cá nhân, đề cao phẩm giá và giữ vững niềm tin vào bản chất lương thiện của con người
Trong khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX, Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn là những người đầu tiên viết văn có cảm hứng hiện thực Từ sau 1930, văn học hiện thực phê phán đã phát triển mạnh và đạt được những thành tựu lớn trong vòng 15 năm từ 1930-1945 qua ba chặng đường:
Từ 1930 đến 1935: Đây là giai đoạn đầu phát triển của văn học hiện thực cùng với văn học lãng mạn khi ấy đang chiếm ưu thế Vì thế, phạm vi ảnh hưởng
và tầm bao quát hiện thực của văn học hiện thực còn tương đối hạn hẹp Tác phẩm chưa chỉ ra được những mâu thuẫn cơ bản, chưa đặt ra được những vấn đề lớn
Trang 38mang tầm khái quát và chưa có nhiều tác phẩm gây được sự chú ý cao Thế giới nhân vật hướng đến tầng lớp thị dân nghèo và nhà văn mới chỉ nhìn thấy con người
họ trong sự hèn kém, yếu đuối, dễ bị lưu manh hóa Tính chiến đấu của văn học
giai đoạn này theo đó cũng chưa cao Một số tác phẩm tiêu biểu: truyện ngắn Kép
Tư Bền (Nguyễn Công Hoan); phóng sự Tôi kéo xe (Tam Lang); kịch Không một tiếng vang, phóng sựCạm bẫy người, Kĩ nghệ lấy Tây (Vũ Trọng Phụng)
Từ 1936 đến 1939: Thời kì Mặt trận dân chủ đấu tranh công khai đã tạo điều kiện cho văn học hiện thực phát triển hơn hẳn so với giai đoạn trước về đề tài, thể loại và nội dung phản ánh hiện thực, đã có nhiều tác phẩm có tầm bao quát hiện thực rộng lớn Tuy còn một số hạn chế, nhưng đây là chặng đường chủ nghĩa hiện thực đạt tới đỉnh cao, các nhà văn đã xây dựng được nhiều tác phẩm có tiếng nói trực tiếp, thời sự và có tính chiến đấu, trong đó đã xuất hiện nhiều điển hình
văn học: Nghị Hách (Giông tố), Xuân tóc đỏ (Số đỏ) của Vũ Trọng Phụng; chị Dậu, Nghị Quế trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố; anh Pha, Nghị Lại trong Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan
Từ 1940 đến 1945: Đây là giai đoạn văn học hiện thực phát triển theo chiều hướng đi xuống bởi hoàn cảnh xã hội, chính trị tác động Chế độ kiểm duyệt gắt gao đã làm cho nhiều nhà văn hiện thực hoang mang, tư tưởng bị dao động dần suy thoái và bế tắc Các nhà văn thiên về “hướng nội và giàu chất tự truyện” Thời kì này chỉ duy nhất các tác phẩm của Nam Cao là có được tầm hiện thực và tính chiến đấu mãnh liệt nhất
Văn học hiện thực là một trào lưu văn học tiến bộ, giàu tính thời sự và đề cập được đến nhiều vấn đề trong xã hội đương thời Có thể nói với chặng đường phát triển 15 năm, chủ nghĩa hiện thực trong văn học Việt Nam xứng đáng trở thành
“một trong những trào lưu văn học bề thế nhất với những thành tựu to lớn về tư tưởng và nghệ thuật sẽ còn ảnh hưởng tích cực và lâu dài đối với sự phát triển của nền văn học dân tộc” [43, tr 7]
Trang 391.1.4.2 Văn học hiện thực Việt Nam trong Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản
Văn bản Văn học Văn học hiện thực Việt Nam trong Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản gồm 4 văn bản (kể cả văn bản đọc thêm):
-Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ- Vũ Trọng Phụng)
- Chí Phèo (Nam Cao)
- Đọc thêm Cha con nghĩa nặng (Hồ Biểu Chánh)
- Đọc thêm Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan)
Phần văn học hiện thực được giảng dạy chính thức trong chương trình Ngữ
văn lớp 11 ban cơ bản bao gồm hai văn bản Hạnh phúc của một tang gia (Trích
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) và Chí Phèo (Nam Cao) – là hai tác phẩm được giữ
nguyên như trong chương trình cũ Theo phân phối chương trình Ngữ Văn hiện hành, hai bài học này được dạy trong 05 tiết (2 tiết/bài về nội dung tác phẩm, 01 tiết về tác giả Nam Cao)
Như vậy, các văn bản văn học hiện thực Việt Nam được đưa vào chương trình Ngữ văn 11 đều là những tác phẩm có giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc, bao gồm những nội dung chính như sau:
- Phơi bày, phê phán thực trạng bất công, thối nát của xã hội thực dân đương thời, phản ánh tình cảnh khốn khổ của nhân dân
- Ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam như tình yêu thương con người,tình cảm gia đình, tình yêu quê hương, đất nước
- Đề cao phẩm giá và giữ vững niềm tin vào bản chất lương thiện của con người
- Giáo dục tình yêu thương con người, tình cảm gia đình, sự cảm thông với tình cảnh khốn khổ của người lao động
Trang 401.1.4.3 Một số kĩ năng sống tích hợp cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản)
Với nội dung cơ bản như trên, các văn bản văn học hiện thực trong chương trình THPT đều rất thuận lợi cho việc tích hợp giáo dục KNS Nhất là trong xã hội hiện nay một số giá trị đạo đức của con người đang dần mai một đi Một số bạn trẻ hiện nay niềm tin vào bản chất lương thiện của con người và sự cảm thông với những người rơi vào hoàn cảnh bất hạnh càng ngày càng mất đi
Để tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trong dạy học văn học hiện thực Việt Nam (Ngữ văn 11, Chương trình Cơ bản) được hiệu quả, GV cần bám sát các nội dung cơ bản trên và mục tiêu của bài học, từ đó xác định các kĩ năng sống phù hợp có thể tích hợp giáo dục cho học sinh
Về tác phẩm Chí Phèo – Nam Cao
Mục tiêu bài học:
Kiến thức: Giúp HS hiểu được:
- Những khám phá mới mẻ của Nam Cao trong việc khắc họa số phận bi thảm của người nông dân bị áp bức, bóc lột tàn tệ trước CM, qua đó thấy được sức mạnh tố cáo độc đáo của tác phẩm
- Tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao thể hiện trong việc đi sâu khám phá và khẳng định bản chất lương thiện, đẹp đẽ của người nông dân khi họ bị xã hội vùi dập đến mất cả nhân hình và nhân tính
- Những giá trị đặc sắc về nghệ thuật của tác phẩm có tầm vóc kiệt tác này
Kĩ năng: Rèn kĩ năng đọc hiểu và phân tích nhân vật trong tác phẩm
tự sự
Thái độ sống tích cực, luôn bao dung và cảm thông