ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC LỤC MỲ DUNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ỨNG DỤNG THỐNG KÊ TRONG THỰC TIỄN”,CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI SỐ LỚP 10 BAN CƠ BẢN
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LỤC MỲ DUNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ
“ỨNG DỤNG THỐNG KÊ TRONG THỰC TIỄN”,CHƯƠNG TRÌNH
ĐẠI SỐ LỚP 10 BAN CƠ BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
HÀ NỘI-2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
LỤC MỲ DUNG
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ
“ỨNG DỤNG THỐNG KÊ TRONG THỰC TIỄN”,
CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI SỐ LỚP 10 BAN CƠ BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM TOÁN
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN TOÁN)
Mã số: 8 14 01 11 Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Chí Thành
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc tôi xin trân trọng cảm
ơn Ban giám hiệu, khoa Phương pháp dạy học Toán, Phòng Quản lý khoa học, các Thầy, Cô giáo trường Đại học Giáo dục của Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tham gia giảng dạy và tư vấn giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu luận văn
Đặc biệt tôi xin được trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Chí Thành - người Thầy trực tiếp hướng dẫn - đã tận tình chỉ bảo, giúp tôi định hướng đề tài, phương pháp nghiên cứu khoa học cũng như tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trìnhnghiên cứu và hoàn thành luận văn này Tôi cũng xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ, giáo viên, học sinh một số trường THPT trên Quận Long Biên, học sinhTrung tâm GDNN-GDTX Quận Long Biên, cùng gia đình bạn bè và các đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ, đóng góp ý kiến, cung cấp tài liệu, số liệu và tạo điều kiện để tôi hoàn thành khóa học và luận văn này
Dù đã cố gắng rất nhiều, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong các Thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp giúp đỡ, đưa ra những chỉ dẫn quý báu cho tôi để luận văn được hoàn thiện
hơn
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Lục Mỵ Dung
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GDNN-GDTX Giáo dục nghề nghiệp giáo dục thường xuyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC HỢP TÁC TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ“ỨNG DỤNG THỐNG KÊ TRONG THỰC TIỄN”, CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI SỐ LỚP 10 BAN CƠ BẢN 7
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 7
1.1.1 Nghiên cứu về dạy học hợp tác 7
1.1.2 Nghiên cứu về dạy học nội dung thống kê trong THPT 8
1.2 Những khái niệm cơ bản về dạy học hợp tác 8
1.2.1 Một số quan điểm về dạy học hợp tác 8
1.2.2 Đặc trưng của dạy học hợp tác 9
1.3 Các hình thức của dạy học hợp tác 10
1.4 Tổ chức dạy học hợp tác 11
1.4.1 Quá trình dạy học hợp tác theo nhóm 11
1.4.2 Ưu điểm và hạn chế của dạy học hợp tác 11
1.4.3 Khi nào sử dụng hình thức dạy học hợp tác 13
1.4.4 Các cách thành lập nhóm 13
1.4.5 Các thành viên và nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm 14
1.4.6 Vai trò của giáo viên 14
1.4.7 Một số lưu ý khi tiến hành dạy học nhóm 15
1.5 Năng lực hợp tác 15
1.5.1 Quan niệm về năng lực hợp tác 15
1.5.2 Biểu hiện của năng lực hợp tác 16
1.6 Dạy học theo chủ đề với chủ trương đổi mới giáo dục hiện nay 17
1.6.1 Thế nào là dạy học theo chủ đề 17
Trang 61.6.2 Ưu thế của dạy học chủ đề so với dạy học theo cách tiếp cận truyền
thống hiện nay 17
1.6.3 Tại sao nên quan tâm đến dạy học theo chủ đề trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay 18
1.7 Kết luận chương 1 18
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 20
2.1 Chủ đề “Thống kê” trong bậc trung học phổ thông 20
2.1.1 Mục đích dạy học thống kê 20
2.1.2 Nội dung thống kê trong các bậc học 20
2.1.3 Một số thay đổi trong nội dung dạy học phần chương V - Thống kê, Đại số 10 22
2.1.4 Các dạng bài tập trong nội dung thống kê Đại số 10 22
2.1.5 Phân phối chương trình nội dung thống kê sau khi giảm tải 23
2.2 Đối tượng học sinh ở Trung tâm GDTX 23
2.3 Một phần thực trạng việc dạy học thống kê 25
2.3.1 Thực trạng việc dạy học thống kê trong các trường THPT nói chung 25 2.3.2 Thực trạng việc dạy thống kê trong một số trường THPT trên địa bàn Quận Long Biên 26
2.4 Thực trạng của việc dạy học theo phương pháp hợp tác 28
2.4.1 Thực trạng việc triển khai dạy học hợp tác của giáo viên 28
2.4.2 Thực trạng việc học hợp tác của học sinh 28
2.4.3 Thực trạng việc dạy học hợp tác chủ đề thống kê 28
2.5 Kết luận chương 2 29
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ ỨNG DỤNG THỐNG KÊ TRONG THỰC TIỄN” 30
3.1 Nguyên tắc chung về các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác 30
Trang 73.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động nhóm tạo môi trường tương tác
cho học sinh 30
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng nội dung dạy học gắn liền với thực tiễn 33
3.2.3 Biện pháp 3: Sử dụng các phương tiện dạy học hỗ trợ, xây dựng môi trường hợp tác 37
3.2.4 Biện pháp 4: Xây dựng nội dung kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh theo hướng phát triển năng lực học tập hợp tác 40
3.3 Giáo án minh họa dạy học theo hướng phát triển năng lực hợp tác cho học sinh 43
3.4 Kết luận chương 3 48
CHƯƠNG 4: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 49
4.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 49
4.2 Nội dung của thực nghiệm sư phạm 49
4.3 Đối tượng thực nghiệm 49
4.4 Tổ chức thực nghiệm 49
4.5 Giáo án thực nghiệm 49
4.6 Đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 70
4.6.1 Đánh giá các hoạt động của học sinh trong lớp 70
4.6.2 Đánh giá định tính 73
4.6.3 Đánh giá kết quả thực nghiệm qua phiếu lấy ý kiến của HS, qua phỏng vấn GV và HS 77
4.7 Kết luận chương 4 78
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Khuyến nghị 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Bảng phát thải khí CO2 của Nhật Bản và Việt Nam 61Bảng 4.2 Bảng đánh giá biểu hiện các hoạt động HTHT của HS Nguyễn Thu Nga lớp 10B1 74Bảng 4.3 Bảng đánh giá biểu hiện các hoạt động HTHT của HS Mai Trung Hiếu lớp 10B2 75Bảng 4.4 Bảng tổng hợp phiếu lấy ý kiến của 61 HS 77Bảng 4.5 Bảng tỉ lệ % tổng hợp phiếu lấy ý kiến của 61 HS 77
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Học sinh tự vẽ biểu đồ quạt ghép lớp bằng Excel và đưa ra nhận xét
37
Hình 3.2 Học sinh tự vẽ biểu đồ cột bằng Excel và thuyết trình 38
Hình 3.3 Học sinh đưa ra số liệu chiều cao cả lớp sau khi nhập vào bằng Excel và tính toán chiều cao trung bình trên Excel 38
Hình 4.1 Biểu đồ hình quạt thể hiện tần suất về phương tiện đi học của học sinh lớp 10B1 59
Hình 4.2 Biểu đồ tần suất xuất khẩu hạt điều Việt Nam năm 2017 60
Hình 4.3 Hiện thị khí thải CO2 của Nhật Bản so với Việt Nam 62
Hình 4.4 Biểu đồ cơ cấu sản phẩm xuất khẩu chủ yếu năm 2008 63
Hình 4.5 Biểu đồ xuất khẩu của Việt Nam 2005-2009 63
Hình 4.6 Học sinh cùng nhau lập bảng phân bố tần số, tần suất 70
Hình 4.7 Học sinh cùng tính toán, kiểm tra kết quả 71
Hình 4.8 Học sinh đo chiều cao và cân nặng 71
Hình 4.9 Học sinh cùng treo các sản phẩm 72
Hình 4.10 Sản phẩm của học sinh- Bảng phân bố tần số, tần suất ghép lớp về chiều cao và cân nặng 72
Hình 4.11 Học sinh trình bày sản phẩm 73
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lýdochọnđềtài
Thế kỷ XXI -Thế kỷ của CNTT và xu hướng toàn cầu hóa và trong bối cảnh đó đất nước ta đang bước vào giai đoạn đổi mới, đứng trước những cơ hội và thách thức lớn Vì vậy chủ trương của Đảng và Nhà nước đặt ra những yêu cầu mới về nhận thức, quan điểm, mục tiêu, cơ chế phát triển giáo dục; về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục; đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục của đất nước Trong nghị quyết 29 NQ/TW [1 Tr 3] đặt ra yêu cầu:
“Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.”
Như vậy, việc đòi hỏi phải đổi mới giáo dục mà đi đầu phải là việc đổi mới về PPDH, để sao cho quá trình giáo dục phải hướng tới phát triển năng lực cho HS, làm sao để HS đáp ứng được xu thế phát triển giáo dục của thế giới đó là học để biết, học để làm, học để chung sống và học để làm người Với các phương pháp giáo dục trước đây của nước ta thường chỉ chú trọng vào việc “Học để biết” mà xem nhẹ đi việc “Học để làm và học để cùng chung sống” dẫn tới kĩ năng và các năng lực khác để áp dụng trong công việc chưa đem lại hiệu quả cao, cùng với các kĩ năng sống chưa hoàn chỉnh… Với xu thế hội nhập ngày nay, một trong những năng lực cần thiết nhất của con người đó là NLHT, nó được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người Chính vì vậy, phát triển NLHT từ trong trường học đã trở thành xu thế giáo dục trên thế giới
Trang 11
Trong Tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM, số 25 năm 2011 của Trịnh Văn
Biểu về “Dạy học hợp tác - một xu hướng mới của giáo dục thế kỷ XXI” [6
Tr 88], đã nêu:
“Dạy học hợp tác là một trong những xu hướng mới có nhiều ưu điểm và hiệu quả cao của giáo dục thế kỷ XXI Có thể coi dạy học hợp tác là những phương pháp dạy học mang tính tập thể, trong đó sự hỗ trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các cá nhân và kết quả là người học tiếp thu được kiến thức thông qua hoạt động tương tác lẫn nhau giữa người học với người học, giữa người học
và người dạy, giữa người học và môi trường”
Hiện nay, cùng với việc đổi mới PPDH thì đổi mới chương trình DH cũng được chú trọng và nghiên cứu kỹ càng Trong đó DH theo chủ đề được chương trình DH đưa vào nhằm mở rộng nội dung kiến thức, đồng thời nhằm nghiên cứu phương pháp đổi mới theo từng dạng chủ đề
Như chúng ta đã biết, Thống kê là một môn khoa học được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực hoạt động của kinh tế - xã hội
Trong bài “Tôn vinh những giá trị của Thống kê”của Nguyễn Anh Tuấn
[28 Tr 1] có viết:
“Nghị quyết 64/267 ngày 3/7/2010 của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã khẳng định tầm quan trọng và giá trị cơ bản của Thống kê là cung cấp kịp thời, đầy đủ các chỉ tiêu và số liệu thống kê đáng tin cậy phản ánh sự tiến bộ
xã hội phục vụ cho việc hoạch định các chính sách pháp triển bền vững ở mọi quốc gia
Thống kê ngày càng có vai trò quan trọng đối với toàn xã hội không chỉ phạm vi quốc gia, mà cả trong phạm vi toàn cầu Số liệu thống kê, từ xây dựng kế hoạch và hoạch định chính sách quốc gia đến những cuộc hội thảo, các công trình nghiên cứu, giảng dạy, các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp…”
Trang 12Thống kê là ngành khoa học nghiên cứu các phương pháp thu thập, phân tích và xử lí các số liệu nhằm phát hiện các quy luật thống kê trong tự nhiên
và xã hội
Như vậy, thống kê đóng vai trò rất quan trọng trong việc hoạch định các chiến lược của đời sống, kinh tế xã hội, không chỉ trong những công việc của các cơ quan nhà nước, mà cả trong đời sống hàng ngày Vì vậy, việc cung cấp những kiến thức về thống kê cho HS ngay từ trường phổ thông là điều hết sức cần thiết.Cùng với những ý nghĩa to lớn của thống kê, nên thống kê đã được đưa vào chương trình toán bắt đầu từ bậc tiểu học Song các khái niệm và phương pháp cơ bản của thống kê thì được nêu kĩ hơn trong chương trình Toán bậc THPT, cụ thể là trong chương V của SGK Đại số 10 Ban cơ bản Khi học phần này các em được tìm hiểu về các khái niệm của thống kê, các nội dung ứng dụng của thống kê gắn với thực tiễn cuộc sống Song, các hoạt động để HS có thể trải nghiệm, tham gia vào hoạt động thống kê chưa nhiều, hay đơn giản để hiểu thống kê có tác dụng gì, liên quan gì tới cuộc sống xung quanh thì trong chương trình học cũng chưa được đề cập rõ ràng
Trong hệ THPT còn cóđối tượng HS GDTX có đầu vào về năng lực cũng như ý thức học tập còn hạn chế Nên các hoạt động học tích cực như học khám phá, hay phát triển năng lực tư duy chưa thu hút được các em trong các giờ học nhất là các môn tự nhiên Đặc biệt là môn Toán các em luôn cảm thấy gặp khó khăn trong vấn đề tư duy, nên thường không chú ý trong giờ Vì vậy, tôi muốn hướng các em tới việc tìm hiểu toán học gắn liền với thực tiễn; cùng với hoạt động hợp tác để kích thích sự hiểu biết, sự ham học hỏi trong các em
và giúp các em có một môi trường học tập hòa đồng, tích cực
Xuất phát từ những lí do trên mà tôi đã chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là:
Phát triển năng lực hợp tác trong dạy học chủ đề “Ứng dụng thống
kê trong thực tiễn”, chương trình Đại sốlớp 10 ban cơ bản
Trang 132 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về DHphát
triểnNLHT cho HS lớp 10 thông qua dạy học chủ đề “Ứng dụng thống kê trong thực tiễn” Đồng thời thiết kế một số giáo án DH đối với chủ đề “Ứng dụng thống kê trong thực tiễn”có hướng dẫn nhằm phát huy tính tích cực,
chủ động nhằm nâng cao NLHT của HS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về dạy học theo hướng phát triển NLHT cho
HS THPT
-Khảo sát, đánh giá thực trạng việc DH phát triển NLHT trongcác môn học, đặc biệt là môn Toán đối với hệ GDTX
- Khảo sát và đánh giá NLHT của các em trong học tập các môn học
- Thiết kế một số giáo án DH phần “Ứng dụng thống kê trong thực tiễn” kết hợp với các phương pháp học tập tích cực nhằm phát triển NLHT của HS Đồng thời giúp HS biết vận dụng kiến thức của học phần vào thực tiễn cuộc sống, giúp HS phát hiện và giải thích những vấn đề liên quan tới thực tiễn
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của đề tài
4 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình DH nhằm phát triển NLHT
- Chương trình SGK Đại số 10 ban cơ bản
4.2 Đối tượng nghiên cứu
- DHHT đối với chủ đề “Ứng dụng thống kê trong thực tiễn”
- HS lớp 10 Trung tâm GDNN- GDTXQuận Long Biên, Hà Nội
5 Vấn đề nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung sau:
- Các biện pháp DH nhằm phát triển NLHT cho HS
Trang 14- Nghiên cứu và thiết kế các bài giảng, kết hợp với các PPDH vào chủ đề
“Ứng dụng thống kê trong thực tiễn” nhằm phát triển NLHT cho HS lớp 10, đồng thời gắn DH lý thuyết với thực tiễn, học đi đôi với hành, nhằm đổi mới
và nâng cao chất lượng giáo dục
6 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng các biện phápDHHT có hướng dẫn trong chủ đề “Ứng dụng thống kê trong thực tiễn”trong chương trình Đại số 10 ban cơ bản được
đề xuất trong luận văn thì sẽ phát huy được tính tích cực, chủ động, nhất là tính hợp tác của HS, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học ở trường phổ thông
7 Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu chủ đề “Ứng dụng thống kê trong thực tiễn” chương Thống kê - Đại số 10 ban cơ bản
V Các biện pháp DH nhằm phát triển NLHT của HS
- Đề tài khảo sát và thực nghiệm với đối tượng HS lớp 10 Trung tâm GDNN- GDTX Long Biên, Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2016 đến tháng 9 năm 2017
8 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận: Cung cấp đầy đủ cơ sở lí luận về DH theo hướng phát
triển NLHT Đồng thời nêu rõ về nội dung DH theo chủ đề
- Ý nghĩa thực tiễn: Những biện pháp đưa ra trong đề tài có thể áp dụng vào việc dạy theo chủ đề và DH nhằm nâng cao các năng lực học tập cho HS
9 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu lý luận về
phương pháp dạy và học, đặc biệt là các tài liệu viết vềDHHT
- Phương pháp điều tra quan sát: Tiến hành dự giờ, trao đổi, tham khảo ýkiến một số đồng nghiệp dạy toán có kinh nghiệm, tìm hiểu thực tiễngiảng dạy phần thống kê
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu từng trường hợp: Quan sát, đánh giá một số
HS về các biểu hiện của NLHT để nhận thấy mức độ phát triển của NLHT
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thực nghiệm giảng dạy một số giáo án soạn giảng theo hướng phát triển NLHT cho HStại lớp 10 Trung tâm GDNN- GDTXQuậnLong Biên, Hà Nội nhằm đánh giá tính khả thi và hiệu quả của đề tài
10 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo luận văn
dự kiến được trình bày trong 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dạy học hợp tác trong dạy học chủ đề “Ứng dụng thống kê trong thực tiễn”, chương trình Đại số lớp 10 ban cơ bản
Chương 2: Cơ sở thực tiễn
Chương 3:Một số biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua dạy học chủ đề “ Ứng dụng thống kê trong thực tiễn” Chương 4: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DẠY HỌC HỢP TÁC
TRONGDẠY HỌC CHỦ ĐỀ“ỨNG DỤNG THỐNG KÊ TRONG
THỰC TIỄN”, CHƯƠNG TRÌNH ĐẠI SỐ LỚP 10 BAN CƠ BẢN 1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về dạy học hợp tác
Trong phần "2" của "mục I" mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu quan trọng
và nhiệm vụ trọng tâm trong 5 năm 2016-2020 đã được Nghị quyết Đại hội XII của Đảng diễn ra từ ngày 20/01/2016 đến ngày 28/01/2016 tại Thủ đô Hà Nội, đưa ra và một trong những nhiệm vụ trọng tâm đó là: “Đổi mới căn bản
và toàn diện giáo dục, đào tạo (GD-ĐT); phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao” Vì thế, việc đổi mới tư duy giáo dục trong thời đại trí thức nhằm đáp ứng sự thay đổi của cuộc sống phát triển không ngừng là một tất yếu Việc đổi mới phương pháp dạy học trước hết là đáp ứng yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực người học và cuối cùng là vì mục tiêu đáp ứng bối cảnh của thời đại, nhu cầu phát triển đất nước Chính vì vậy giáo viên cần tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập cần tạo ra môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người học tích cực tham gia các hoạt động học tập Và người thầy giáo phải là người khơi gợi, khuyến khích học sinh tự khẳng định năng lực và nguyện vọng của bản thân, đồng thời rèn cho các em thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy Từ đó tạo tiền đề để phát triển con người toàn diện trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế
Đáp ứng các yêu cầu trên, một trong những phương pháp dạy học đổi mới mà mỗi giáo viên đang cần hướng tới là dạy học hợp tác Phương pháp dạy học hợp tác đã được các tác giả sau chỉ rõ:
- Hoàng Lê Minh, Hợp tác trong dạy học môn Toán, nhà xuất bản Đại
Trang 17- Trịnh Văn Biểu với “ Dạy học hợp tác -Một xu hướng mới của giáo dục thế kỉ XXI, đăng trên tạp chí khoa học ĐHSP TP HCM số 25 năm 2011"
- Nguyễn Thị Ngọc Linh, Luận văn về phát triển năng lực hợp tác cho học sinh thông qua dạy học chủ đề ứng dụng của đạo hàm
- Bùi Nguyên Thảo, Luận văn dạy học hợp tác chương “ Hàm số bậc nhất và bậc hai” lớp 10 trung học phổ thông, luận văn thạc sĩ sư phạm Toán,
Đại học giáo dục Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2015
1.1.2 Nghiên cứu về dạy học nội dung thống kê trong THPT
Theo bài báo “Một số quan điểm dạy học thống kê ở trường trung học phổ thông” của Hoàng Nam Hải [13 Tr 15] đã đưa ra 5 quan điểm như sau:
Quan điểm 1: Số liệu thống kê đưa vào giảng dạy trong trường THPT
nên lựa chọn từ các số liệu thực tế phù hợp với thực tiễn lao động sản xuất, phù hợp với lứa tuổi HS
Quan điểm 2: Hình thành phương pháp thu thập và xử lý số liệu thống
kê cho HS
Quan điểm 3: Rèn luyện năng lực đọc hiểu, biểu đồ thống kê
Quan điểm 4: Tập trung vào hiểu biết thống kê và phát triển năng lực
suy luận thống kê cho HS
Quan điểm 5: Tăng cường khai thác các ứng dụng thực tiễn trong dạy
học thống kê ở trường THPT
1.2 Những khái niệm cơ bản về dạy học hợp tác
1.2.1.Một số quan điểm về dạy học hợp tác
Theo Từ điển Tiếng việt: Hợp tác là cùng chung sức giúp đỡ nhau trong
một công việc, trong một lĩnh vực nào đó nhằm đạt được mục đích chung[20] Nguyễn Hữu Châu trong cuốn “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trình dạy học” đã đề cập đến DHHT chỉ ra DHHT là sử dụng nhóm nhỏ
để HS làm việc cùng nhau nhằm phát huy tối đa kết quả học tập của bản thân Ông cho rằng: HTHT phức tạp hơn học cá nhân, các thành viên phải biết đưa
ra quyết định,xây dựng lòng tin, giải quyết mâu thuẫn và khẳng định rèn kỹ
Trang 18năng học cá nhân, học tranh đua, HTHT trở thành một mục tiêu kép trong DH[9]
Một số vấn đề về lý luận DHHT (Cooperative Learning) đã được nghiên cứu trong các công trình của Slavin R E (1983),thực hiệnDHHT các em được tổ chức theo các nhóm, cùng nhau tham gia, chia sẻ, hỗ trợ trong sự phụ thuộc lẫn nhau để cùng xây dựng ý tưởng về một vấn đề của hoạt động học tập, do đó người học cần có kỹ năng tìm kiếm và chia sẻ, quan sát, nhận xét, đánh giá, phân tích, cộng tác…
Các nghiên cứu đã biết cho rằng: Phương thức học tập dựa trên sự hợp tác của người học thì trong quá trình học tập, người dạy có sự tương tác hỗ trợ dưới sự hướng dẫn giúp đỡ của người dạy để hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Dựa trên những nghiên cứu đi trước và đặc trưng khái quát của PPDH
hợp tác, luận văn sử dụng khái niệm PPDH hợp tác: "Học sinh được phân chia thành từng nhóm nhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiện thông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệt được tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung"
1.2.2 Đặc trưng của dạy học hợp tác
DHHT mang lại những thế mạnh nổi trội được thể hiện qua các đặc điểm sau:
- Đối với các tiết học, mục tiêu trong các giáo án: được thể hiện rõ ràng,
HS tiếp thu lĩnh hội tri thức kỹ năng môn Toán được tốt hơn, phát triển được tinh thần đoàn kết, thái độ ứng xử trong học tập, tiền đề của cuộc sống được trau dồi nâng cao, giúp các em tự tin hoàn thiện hơn về nhân cách và tri thức
- Đối với từng hoạt động của DH: Được lựa chọn, phân bổ thời gian, tổ chức hoạt động bố trí không gian phù hợp giúp các em hoàn thành những mục tiêu đặt ra dễ dàng, thuận lợi nhất, tự tin trình bày ý tưởng của mình trước đám đông, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng thuyết trình được liên tục củng cố hình
Trang 19quan sát, hỗ trợ các em điều khiển hoạt động hợp tác, khuyến khích động viên các em hay say học tập, đam mê tìm hiểu chinh phục kiến thức mới
- Đối với HS: Các em được chủ động, chuẩn bị tâm thế, tài liệu dụng cụ học tập, sẵn sàng tham gia tích cực và hợp tác hoàn thành nhiệm vụ được giao
và trình bày kết quả của nhóm Dưới sự hướng hướng dẫn, giám sát, nhận xét của GV
- Đánh giá kết quả hoạt động nhóm:
+ Quá trình chuẩn hoạt động nhóm
+ Quá trình thảo luận, hợp tác trong nhóm
+ Khả năng tìm kiếm, lĩnh hội kiến thức trong bài
+ Quá trình làm việc của từng thành viên trong nhóm
+ Thời gian đưa ra kết quả đúng thời gian quy định
1.3.Cáchình thức của dạy học hợp tác
Theo tác giả Phạm Viết Vượng (2008) Giáo dục học, NXB Đại học sư phạm Hà Nộiđịnh nghĩa: "Hình thức tổ chức dạy học là cách thức tổ chức, sắp xếp các giờ học cho phù hợp với mục tiêu, nội dung của từng bài, phù hợp với điều kiện và môi trường trường hợp nhằm làm cho quá trình dạy học đạt được kết quả tốt nhất"
Tác giả Hoàng Lê Minh "Hợp tác trong dạy học môn toán" [20 Tr 76]
có nêu những hình thức tổ chức HTHT như:
+ Thi trò chơi theo đội
+ Thi kiến thức theo đội
Trang 201.4 Tổ chức dạy học hợp tác
1.4.1.Quá trình dạy học hợp tác theo nhóm
Cấu tạo của một hoạt động theo nhóm [15] (trong một phần của tiết học, hoặc một tiết, một buổi) có thể là như sau:
- Thỏa thuận quy tắc làm việc
- Phân công trong nhóm, từng cá nhân làm việc độc lập
- Trao đổi ý kiến, thảo luận trong nhóm
- Cử đại diện trình bày kết quả làm việc của nhóm
Bước 3: Thảo luận, tổng kết trước toàn lớp
- Đại diện từng nhóm trình bày kết quả thảo luận của nhóm
- Các nhóm khác quan sát, lắng nghe, chất vấn, bình luận và bổ sung ý kiến
- GV tổng kết và nhận xét, đặt vấn đề cho bài tiếp theo hoặc vấn đề tiếp theo
1.4.2.Ưu điểm và hạn chế của dạy học hợp tác
* Ưu điểm:
- HS được học cách cộng tác trên nhiều phương diện, được nêu quan
điểm của mình, được nghe quan điểm của bạn khác trong nhóm, trong lớp; được trao đổi, bàn luận về các ý kiến khác nhau và đưa ra lời giải tối ưu cho nhiệm vụ được giao cho nhóm Qua cách học đó, kiến thức của các em sẽ bớt
Trang 21phần chủ quan, phiến diện, làm tăng tính khách quan khoa học, tư duy phê phán của HS để rèn luyện và phát triển hoàn thiện mình hơn
- Các thành viên trong nhóm được chia sẻ các suy nghĩ, băn khoăn, kinh nghiệm, hiểu biết của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức, thái độ mới và học hỏi lẫn nhau Kiến thức trở nên rõ ràng sâu sắc, bền vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên trong nhóm, được tham gia trao đổi, trình bày vấn đề nêu ra, đặt ra Từ đó, HS hào hứng khi thấy có sự đóng góp của mình vào thành công chung của cả lớp
- Nhờ không khí thảo luận cởi mở không phân biệt giữa các em, kết quả bước đầu là những em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của mình, biết lắng nghe và phê phán ý kiến của bạn; từ đó giúp học sinh dễ hòa nhập vào cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và sinh hoạt
- Vốn hiểu biết và kinh nghiệm xã hội của HS được chia sẻ, bổ sung thêm các
kĩ năng giao tiếp, kĩ năng hợp tác để cùng phát triển
* Hạn chế
Một số HS do nhút nhát hoặc vì một lí do nào đó không tham gia vào hoạt động chung cuả nhóm, nên nếu GV không phân công hợp lí có thể dẫn đến tình trạng chỉ có một vài HS khá tham gia còn đa số HS khác không hoạt động
- Ý kiến các nhóm có thể quá phân tán hoặc mâu thuẫn gay gắt với nhau (nhất là đối với các môn Khoa học xã hội)
- Thời gian có thể bị kéo dài
- Với những lớp có sĩ số đông hoặc lớp học chật hẹp, bàn ghế khó di chuyển thì khó tổ chức hoạt động nhóm Khi tranh luận, dễ dẫn tới lớp ồn ào, ảnh hưởng đến các lớp khác
Trang 221.4.3 Khi nào sử dụng hình thứcdạy học hợp tác
- Chỉ những hoạt động đòi hỏi sự phối hợp của các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn hoạt động động cá nhân thì mới nên sử dụng phương pháp này
- Dạy học nhóm thường được áp dụng để đi sâu, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học hoặc cũng có thể tìm hiểu một chủ đề mới
- Các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:
+ Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?
+ Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống hay khác nhau?
+ HS đã có đủ kiến thức điều kiện cho công việc nhóm chưa?
+ Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?
+ Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?
+ Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?
1.4.4 Các cách thành lập nhóm
Có nhiều cách để thành lập nhóm theo các tiêu chí khác nhau, không nên
áp dụng một tiêu chí duy nhất trong cả năm học Có thể theo sổ điểm danh, theo màu sắc, theo biểu tượng, theo giới tính, theo vị trí ngồi, hoặc có cùng sự lựa chọn…
Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, tùy theo nhiệm vụ Tuy nhiên, nhóm thường từ 3-5 HS là phù hợp
Có 10 cách chia nhóm theo các tiêu chí khác nhau như:
(1) Các nhóm gồm những người tự nguyện, chung mối quan tâm
(2) Các nhóm ngẫu nhiên
(3) Nhóm ghép hình
(4) Các nhóm với những đặc điểm chung
(5) Các nhóm cố định trong một thời gian dài
(6) Nhóm có HS khá giỏi để hỗ trợ HS yếu kém
(7) Phân chia theo năng lực học tập khác nhau
Trang 23(9) Nhóm với các bài tập khác nhau
(10) Phân chia HS nam và nữ
1.4.5.Các thành viên và nhiệm vụ của các thành viên trong nhóm
Trong hoạt động nhóm gồm: trưởng nhóm, thư ký và các thành viên khác
* Trưởng nhóm
- Chuẩn bị trước nội dung
- Khởi động buổi thảo luận nhóm
- Dẫn dắt buổi thảo luận
- Tổng kết và thống nhất lại ý kiến chung của các thành viên khác
* Thư ký
Ghi chép lại các ý kiến trong buổi thảo luận như:
- Phát hiện mới
- Nội dung chưa thống nhất
- Ý kiến khác với các nhóm khác, khác với GV
* Các thành viên khác
- Chuẩn bị nội dung mình được phân công
- Tham gia thảo luận, lắng nghe các ý kiến của thành viên khác
- Xây dựng ý kiến chung trong nhóm
1.4.6 Vai trò của giáo viên
- Thu thập thông tin về HS lớp sẽ dạy học theo phương pháp hợp tác trong nhóm nhỏ
- Lựa chọn mục tiêu kiến thức, kĩ năng cần đạt
- Thành lập nhóm
- Chuẩn bị địa điểm, tài liệu, đồ dùng, PPDH hợp lí…
- Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng nhóm
- Giám sát, hỗ trợ các nhóm
- Đánh giá kết quả hoạt động của các nhóm
Trang 241.4.7.Một số lưu ý khi tiến hành dạy học nhóm
- Cần quy định rõ thời gian thảo luận nhóm và trình bày kết quả thảo luận cho các nhóm
- Khi làm việc theo nhóm, các nhóm có thể tự bầu ra nhóm trưởng (nếu cần), các thành viên trong nhóm có thể luân phiên nhau làm nhóm trưởng Nhóm trưởng phân công cho mỗi thành viên thực hiện một phần công việc
- Kết quả thảo luận có thể được trình bày dưới nhiều hình thức (bằng lời, bằng tranh vẽ, bằng tiểu phẩm, bằng văn bản viết trên giấy to, ) có thể do một người thay mặt nhóm trình bày hoặc có thể nhiều người trình bày, mỗi người một đoạn nối tiếp nhau
- Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết quả chung của cả lớp Để trình bày kết quả làm việc của nhóm trước toàn lớp, nhóm có thể cử
ra một đại diện hoặc có thể phân công mỗi nhóm viên trình bày một phần nếu nhiệm vụ được giao là khá phức tạp
- Tạo điều kiện để các nhóm tự đánh giá lẫn nhau hoặc cả lớp cùng đánh giá
- Tùy theo nhiệm vụ học tập, HScó thể sử dụng hình thức làm việc cá nhân hoặc hoạt động nhóm cho phù hợp, không nên thực hiện PPDH này một cách hình thức Không nên làm dụng hoạt động nhóm và cần đề phòng xu hướng hình thức (tránh lối suy nghĩ: đổi mới PPDH là phải sử dụng hoạt động nhóm)
- Trong suốt quá trình học sinh thảo luận, GVcần đến các nhóm, quan sát, lắng nhe, gợi ý, giúp đỡ HS khi cần thiết
1.5 Năng lực hợp tác
1.5.1 Quan niệm về năng lực hợp tác
NLHT là khả năng thực hiện những hành động, kỹ thuật học tập một cách đúng đắn, linh hoạt, mềm dẻo, hiệu quả trên cơ sở vận dụng kế thừa những tri thức, kinh nghiệm HTHT với GV và HS trong môi trường nhóm
Trang 25- Có kiến thức hợp tác như mục đích, yêu cầu, cách thức tiến hành, những điều kiện, phương tiện môi trường cần thiết cho HTHT và phải biết vận dụng trong thực tiễn học tập một cách đúng đắn, linh hoạt, mềm dẻo và
có hiệu quả
- Giải quyết tốt các nhiệm vụ cá nhân, khi trong nhóm được giao vừa phối hợp, chia sẻ, hỗ trợ các thành viên khác trong nhóm để hoàn thành nhiệm
vụ chung của nhóm hợp tác
1.5.2 Biểu hiện của năng lực hợp tác
Trong luận văn “Phát triển một số năng lực của học sinh trung học phổ thông qua phương pháp và sử dụng thiết bị trong dạy học hóa học vô cơ” của
Trần Thị Thu Huệ [16 Tr 19] có nêu NLHT được biểu hiện như sau:
- Chủ động đề xuất mục đích hợp tác khi được giao các nhiệm vụ, xác định được loại loại công việc nào đó có thể hoàn thành tốt nhất bằng hợp tác theo nhóm với quy mô phù hợp
- Biết trách nhiệm, vai trò của mình trong nhóm ứng với công việc cụ thể, phân tích nhiệm vụ của cả nhóm để nêu được các hoạt động phải thực hiện trong đó, tự đánh giá được các hoạt động mình có thể đảm nhiệm tốt nhất
để tự đề xuất cho nhóm phân công
- Nhận biết được đặc điểm, khả năng của từng thành viên cũng như kết quả làm việc nhóm, dự kiến phân công từng thành viên trong nhóm đảm nhận các công việc trong nhóm
- Chủ động và gương mẫu hoàn thành phần công việc được giao, góp ý điều chỉnh thúc đẩy hoạt động chung, chia sẻ, khiêm tốn học hỏi các thành viên trong nhóm
- Biết dựa vào mục đích đặt ra để tổng kết hoạt động chung của nhóm, nêu mặt được, mặt thiếu sót của cá nhân và của cả nhóm
Trang 261.6 Dạy học theo chủ đề với chủ trương đổi mới giáo dục hiện nay
1.6.1 Thế nào là dạy học theo chủ đề
DH theo chủ đề là hình thức tìm hiểu những khái niệm, tương tưởng, đơn
vị kiến thức, nội dung bài học, chủ đề,… có sự giao thoa, tương đồng lẫn nhau, dựa trên các cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến trong nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học (tức là con đường tích hợp những nội dung từ một số đơn vị, bài học, môn học có liên hệ với nhau) làm cho nội dung học trong một chủ đề có ý nghĩa hơn, thực tế hơn, nhờ đó HScó thể tự hoạt động nhiều hơn để tìm ra kiến thức và vận dụng vào thực tiễn
DH theo chủ đề là sự kết hợp giữa mô hình DH truyền thống và hiện đại, với mô hình mới cho hoạt động mới thay thế cho lớp học truyền thống (đặc trưng là những bài học ngắn, cô lập, những hoạt động lớp học mà GV giữ vai trò trung tâm) tập trung vào HS và nội dung tích hợp những vấn đề giải quyết, thực hành gắn liền với thực tiễn
DH theo chủ đề tại Trung tâm GDNN-GDTX Quận Long Biên là cần thiết với các chủ đề toán bám sát thực tế, giúp các em nâng cao năng lực học tập
1.6.2 Ưu thế của dạy học chủ đề so với dạy học theo cách tiếp cận truyền thống hiện nay
So với PPDH truyền thống DH chủ đề có những ưu thế sau:
- HS là trung tâm được quyết định chiến lược học tập với sự chủ động, hợp tác của GV
- Hướng tới các mục tiêu, mục đích: Chiếm lĩnh nội dung kiến thức khoa học, hiểu biết tiến trình khoa học và rèn luyện các kỹ năng tiến trình khoa học (quan sát, thu thập, xử lý, phân loại)
- Dạy theo một chủ đề thống nhất được tổ chức lại theo hướng tích hợp
từ một phần trong chương trình học
Trang 27- Kiến thức thu được là các khái niệm trong một mối liên hệ mạng lưới với nhau
- Trình độ nhận thức có thể đạt được ở mức độ cao: Phân tích, tổng hợp, đánh giá
- Kết thúc một chủ đề HS có một tổng thể kiến thức mới, tinh giản, chặt chẽ và khác với nội dung trong SGK
- Kiến thức gần gũi với thực tiễn mà HS đang sống hơn do yêu cầu cập nhật thông tin khi thực hiện chủ đề
- Hiểu biết có được sau khi kết thúc chủ đề thường vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung cần học do quá trình tìm kiếm, xử lý thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của HS
- Hướng người học tới bồi dưỡng các kĩ năng làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác
1.6.3 Tại sao nên quan tâm đến dạy học theo chủ đề trong tiến trình đổi mới giáo dục hiện nay
- Về mặt lý luận: Một, trước yêu cầu đổi mới căn bản, toàn về giáo dục - trong đó chú trọng đổi mới phương pháp, cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát huy tính tích cực của HS Hai, tính giới hạn về định lượng nội dung trong SGK và quá trình bùng nổ thông tin, tri thức kèm theo đó là nhu cầu kiến thức vô hạn đối với sự học của người học Ba, với cách tiếp tiếp cận giảng dạy truyền thống hiện có không đủ khả năng thực hiện mục tiêu DH
- Về ý nghĩa thực tiễn: Với xu hướng hội nhập quốc tế, chúng ta bắt đầu chuyển sang chú trọng tới định hướng phát triển năng lực cho HS
1.7 Kết luận chương 1
Ở chương này, luận văn đã nêu rõ được các vấn đề sau:
- Nghiên cứu về DHHT và các quan điểm về DHHT
- Nghiên cứu các đặc trưng và các hình thức của DHHT
- Nêu rõ NLHT và biểu hiện của NLHT
- Những ưu điểm và nhược điểmcủa phương pháp DHHT
Trang 28- Nêu được vai trò cần thiết trong việc DH theo chủ đề
Với những khái niệm và quan điểm về DHHT đã nghiên cứu ở trong chương 1 thì thực trạng của DHHT và NLHT của các em HS ra sao? Để trả lời câu hỏi đó chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng DHHT và NLHT trong một số trường THPT sẽ được thể hiện trong chương 2
Trang 29CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1 Chủ đề “Thống kê” trong bậc trung học phổ thông
2.1.1 Mục đích dạy học thống kê
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, thống kê đang đóng vai trò ngày càng quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội Theo nghiên cứu chương trình toán ở bậc trung học của cộng đồng pháp ngữ Bỉ, Bair và Hasbroeck cho rằng:
“Dạy học thống kê ở bậc trung học đặc biệt nhắm đến việc đào tạo toán học cho công dân: bởi vì mỗi người nhận được vô số các thông tin đa phương tiện dưới dạng số liệu hoặc các biểu đồ, nên họ cần phải có khả năng hiểu, làm sáng tỏ và nhận định các thông tin.”
Như vậy mục đích DH thống kê là nhằm trang bị cho người học những kiến thức cơ bản về thống kê nhằm pháp triển khả năng phân tích và tổng hợp thông tin, từ đó cho phép họ nhận định trước một vấn đề và đưa ra quyết định
2.1.2 Nội dung thống kê trong các bậc học
a Nội dung của chủ đề thống kê trong chương trình Toán cấp tiểu học và trung học cơ sở
Nhận thấy tầm quan trọng của thống kê, các nhà biên soạn chương trình
đã đưa thống kê vào chương trình học từ các lớp 4,5,7
Ở bậc tiểu học các kiến thức thống kê được đưa vào chương trình DHcủa lớp 4 và lớp 5 dưới dạng sơ khai bằng cách sắp xếp xen kẽ với số học DH thống kê trong giai đoạn này là dạy một số nội dung quen thuộc trong số học theo tinh thần và “tư tưởng” của thống kê Các em HS được làm quen với kĩ năng thu thập số liệu, ghi chép số liệu thống kê và xử lí số liệu thống kê ở mức đơn giản
Ở chương trình Đại số 7, HS đã được học những khái niệm cơ bản liên quan đến bảng số liệu thống kê Đó là: đơn vị điều tra, kích thước mẫu, dấu hiệu điều tra, mẫu số liệu, các giá trị của dấu hiệu, tần số
Trang 30b.Nội dung của chủ đề thống kê trong chương trình Toán cấp trung học phổ thông
Nội dung của chủ đề thống kê trong chương trình Toán cấp THPT được
đề cập trong chương trình Đại số lớp 10 và 11
Trong Đại số 10, chương V - Thống kê bao gồm các khái niệm: Bảng phân bố tần số, tần suất, biểu đồ, số trung bình cộng, số trung vị, mốt, phương sai và độ lệch chuẩn
Mục tiêu là HS hiểu được các khái niệm, xác định được tần số, tần suất của mỗi giá trị trong dãy số liệu thống kê, lập được bảng phân bố tần số, tần suất ghép lớp, hiểu và vẽ được biểu đồ tần suất hình cột, đường gấp khúc tần
số, tần suất, đọc được các biểu đồ hình cột, hình quạt Tìm được số trung bình, số trung vị và mốt Tìm hiểu cách tính phương sai và độ lệch chuẩn HS được hoạt động nhóm theo bài tập điều tra nghiên cứu về sự vật, hiện tượng Các bài học phần thống kê gồm:
“Số lần xuất hiện biến cố 𝐴được gọi là tần số của 𝐴 trong 𝑁 lần thực hiện phép thử 𝑇
Tỉ số giữa tần số của 𝐴 với số 𝑁 được gọi là tần suất của 𝐴 trong 𝑁 lần thực hiện phép thử 𝑇.”
Trang 31Song trong nội dung này chúng tôi đi nghiên cứu nội dung thống kê trong chương trình Đại số lớp 10
2.1.3 Một số thay đổi trong nội dung dạy học phần chương V - Thống kê, Đại số 10
Trước yêu cầu đổi mới chương trình, Bộ GD – ĐT đề nghị giảm tải dạy- học trước hết là giáo dục mầm non, phổ thông, cần triển khai biên soạn SGK giáo dục phổ thông theo chương trình mới Đồng thời, tiếp tục điều chỉnh nội dung DH trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành theo hướng tinh giản, tiếp cận định hướng chương trình giáo dục phổ thông mới
Vì vậy theo công văn số 5842/BGĐT - VP ngày 01 tháng 9 năm 2011 của Bộ GD – ĐT [5 Tr 4] đã hướng dẫn thực hiện điều chỉnh nội dung DH môn toán, cấp THPT như sau:
Chương, bài, trang Hướng dẫn thực hiện
Bài tập cần làm (tr 128): 1, 2, 3
Ôn tập chương V Bài tập cần làm (tr 128-131): 4e,
bài tập thực hành nhóm (dành cho các nhóm HS)
2.1.4 Các dạng bài tập trong nội dung thống kê Đại số 10
Chương, bài, trang Nội dung bài tập
Trang 32§ 4 Phương sai và độ lệch chuẩn
(Tr 123-126)
- Tính trung bình cộng, phương sai
và độ lệch chuẩn của các bảng phân bố tần số và các bảng phân
2.1.5 Phân phối chương trình nội dung thống kê sau khi giảm tải
Chương, bài, trang Phân phối chương trình
§ 4 Phương sai và độ lệch chuẩn
(Tr 123-126)
Số tiết 1
- Như vậy ta thấy số tiết phân phối cho nội dung phần học thống kê đã giảm tải nên nội dung 2 bài học chỉ gói gọn trong 2tiết Đồng thời trong hướng dẫn việc giảng dạy thì kiến thức của các bài học không dạy vẫn phải được nêu qua
- Nội dung chương trình giảng dạy chưa thực sự chú trọng vào nội dung thống kê Bởi vì những giảm tải bắt đầu từ ngày 01 tháng 9 năm 2011 nhưng sau đó với nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn
diện GD-ĐT với quan điểm chỉ đạo “Học đi đôi với hành ; lý luận gắn với
thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo du ̣c xã
hội”, thì nội dung phần giảng dạy thống kê vẫn chưa có hướng dẫn thay đổi 2.2 Đối tượng học sinh ở Trung tâm GDTX
Trong bài báo “Nâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp: Băn khoăn, trăn trở” đăng trên báo Giáo dục và thời đại ngày 25/5/2013 có những nhận định về đối tượng HS GDTX như sau:
“Thầy Hồ Như Nghị chia sẻ: “Ngoài đối tượng là HS chậm tiến, không
Trang 33hay nghỉ học giữa chừng; ở Trung tâm còn có các học viên là những công nhân đang làm việc tại các nhà máy, xí nghiệp tại các khu công nghiệp trên địa bàn Hầu hết các em đều có hoàn cảnh gia đình rất đặc biệt, cuộc sống thường ngày kém may mắn Con đường học tập không được suôn sẻ Có thấu hiểu được hoàn cảnh của từng học sinh thì công tác xây dựng kế hoạch và tổ chức giảng dạy, kèm cặp học sinh mới có hiệu quả
Theo thầy Trần Ngọc Bản, Phó Giám đốc TT GDTX - HN quận Sơn Trà (Đà Nẵng), trong một thời khá dài trước đây và cho đến hiện nay nhiều người vẫn còn nhìn nhận, chất lượng giáo dục của hệ GDTX là một vấn đề bất cập của ngành Giáo dục Họ cho rằng, vì đa số HS vào học tại các Trung tâm GDTX - HN có năng lực học tập rất hạn chế, nhận thức chậm, nhiều học sinh lười học, ý thức tổ chức kỷ luật kém Số học viên là cán bộ và người lao động
do đã nghỉ học một thời gian dài, nên các kiến thức cơ bản hầu như bị mất hết, rất khó khăn cho việc tiếp thu kiến thức mới, nhất là trong giai đoạn đổi mới giáo dục.”
Với chúng tôi trong quá trình giảng dạy bộ môn Toán và làm công tác chủ nhiệm lớp trong Trung tâm GDNN - GDTX Quận Long Biên, được dạy
và tiếp xúc với các em HSchúng tôi nhận thấy các em vào trường học do các nguyên nhân:
- Thứ nhất, không đủ điểm thi đầu vào các trường THPT
- Thứ hai, không đủ điều kiện dự thi vào các trường THPT
- Thứ ba, các em chuyển trường do nhiều yếu tố như ý thức học tập và nề nếp học tập chưa cao
- Thứ tư, các em quay trở lại học để hoàn thành chương trình THPT, dẫn tới có nhiều độ tuổi trong cùng một lớp học
Chính vì vậy các em học tại GDTX có những đặc thù sau:
- Nhận thức và ý thức hành vi cần sửa chữa, uốn nắn nhiều
- Ý thức học tập chưa cao
Trang 34- Tri thức sẵn có hạn chế và việc tiếp nhận các tri thức mới gặp nhiều khó khăn
- Nhiều em có gia cảnh đặc biệt
- Các em thiếu các dụng cụ học tập cần thiết như SGK, dụng cụ học tập
và máy tính cầm tay
Do đó việc dạy và học đối với GV và HS Trung tâm GDTX trở nên vất
vả và khó khăn hơn để tiếp nhận những tri thức mới Bên cạnh đó cuộc cách mạng trong đổi mới giáo dục những năm gần đây yêu cầu việc DH phải hình thành các năng lực cho HS và học tập gắn với thực tiễn Tiếp nhận những đổi mới và những trăn trở với nghề, tôi muốn hướng các em tới những hoạt động hợp tác giúp các em tiếp nhận kiến thức tốt hơn, hòa đồng và nâng cao tính tự tin độc lập trong các em
2.3 Một phần thực trạng việc dạy học thống kê
2.3.1 Thực trạng việc dạy học thống kê trong các trường THPT nói chung
Theo những nghiên cứu và khảo sát của Hoàng Nam Hải về thực trạng việc DH thống kê trong trường THPT [13 Tr 14] có 6 vấn đề sau:
“ Thứ nhất, một số giáo viên dạy nhiều công thức, quy trình thống kê tách rời với tình huống thực tế, không phù hợp với lứa tuổi của các em Số liệu thống kê lộn xộn, có nhiều lí giải khác nhau dựa trên những giả thuyết khác nhau…Tất cả điều đó dẫn đến những khó khăn khi gây hứng thú, lôi kéo học sinh tham gia hào hứng vào môn học
Thứ hai, đa số các giáo viên chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp, rèn luyện cho học sinh các kỹ năng, quy trình, kĩ thuật tính toán của môn học, những điều đó tuy một mặt cần thiết nhưng không giúp ích được nhiều cho học sinh việc phát triển năng lực đọc hiểu cũng như năng lực suy luận thống kê
Thứ ba, khi gặp tình huống trong một số bài toán thống kê có thể làm cho học sinh hiểu sai, các em dựa trên những kinh nghiệm, trực giác sai lầm
Trang 35của bản thân để đưa ra lời giải cho bài toán, giáo viên chưa kịp thời giúp học sinh hiểu đúng vấn đề
Thứ tư, học sinh đánh đồng thống kê với toán học và chờ đợi trọng tâm
sẽ là các số và áp dụng công thức để tính toán
Thứ năm, cơ sở vật chất phục vụ đổi mới phương pháp giảng dạy môn học còn nhiều bất cập, dẫn đến nhiều hạn chế trong việc phát triển năng lực suy luận thống kê cho học sinh
Thứ sáu, một số giáo viên giảng dạy không hào hứng và chưa được đào tạo chuyên sâu về môn học.”
2.3.2 Thực trạng việc dạy thống kê trong một số trường THPT trên địa bàn Quận Long Biên
a Khái quát về khảo sát thực trạng
*Mục đích khảo sát
- Tìm hiểu việc học hợp táctrong DH đối với môn Toán và đặc biệt trong nội dung thống kê
- Tìm hiểu những hiểu biết của GV và HS về phương pháp DHHT
- Tìm hiểu thực trạng năng lực hợp tác của HS
- Khảo sát tình hình dạy học thống kê sau khi giảm tải
- Tìm hiểu về thực trạng việc DH nội dung thống kê có ứng dụng thực tiễn có được chú trọng hay không
* Đối tượng khảo sát
- GV dạy bộ môn Toán trong khối THPT và khối GDTX thuộc huyện Gia Lâm Tổng số GV điều tra là 20
- Học sinh lớp 10B1, 10B2, 11B1 và 11B2 tại Trung tâm GDNN – GDTX Quận Long Biên và điều tra 30HS khối 11 của các trường THPT khác thuộc huyện Gia Lâm Tổng số HS điều tra là 130
* Phương thức khảo sát
Để tìm hiểu thực trạng DHthống kê, chúng tôi tiến hành khảo sát qua các hình thức sau:
Trang 36- Khảo sát bằng phiếu hỏi dành choGV và HS
- Trực tiếp phỏng vấn GV và HS
- Tham khảo giáo án của GV
* Nội dung phiếu khảo sát
- Phiếu khảo sát dành cho GV:
+ Nội dung khảo sát vềDH thống kê có 11 câu hỏi
+ Nội dung khảo sát về DHHT có 7 câu hỏi
- Phiếu khảo sát dành cho HS:
+ Nội dung khảo sát về DH thống kê có 7 câu hỏi
+ Nội dung khảo sát về DHHT có 8 câu hỏi
b Kết quả khảo sát thực trạng
Thực trạng của việc DH nội dung thống kê sau khi giảm tải như sau:
- 80% GV dạy theo đúng phân phối chương trình Song chưa thực sự đạt được những mục tiêu DH thống kê và việc ứng dụng thống kê trong thực tiễn chưa được nhấn mạnh tầm quan trọng
- 90% GV dạy nội dung thống kê theo hình thức gợi mở vấn đáp, dạy trực quan, kết hợp luyện tập và ứng dụng GV gặp khó khăn trong việc thiết
kế bài giảng bởi khung chương trình không đủ thời lượng, việc thiết kế giáo
án đòi hỏi đổi mới phương pháp DH tốn nhiều thời gian
- 90% HS thấy dạng bài tập tính phương sai và độ lệch chuẩn khó hiểu, công thức khó nhớ và mất nhiều thời gian để giải bài
- Việc DH nội dung thống kê làm nhấn mạnh ứng dụng của thống kê chưa sâu
- Việc dạy tăng cường, DH theo chủ đề hay thậm chí một số trường không có tiết tăng cường nên nội dung thống kê chưa được chú trọng nhiều Nội dung thống kê theo phân phối có ít tiết, không có bài kiểm tra 45 phút đối với hệ GDTX và trong đề thi học kỳ ít có nội dung thống kê nên các kiến thức
về thống kê dễ dàng bị xem nhẹ hoặc bỏ qua
Trang 372.4 Thực trạng của việc dạy học theo phương pháp hợp tác
Phần khảo sát thực trạng đãđược nêu ở phần 2.3.2
2.4.1 Thực trạng việc triển khai dạy học hợp tác của giáo viên
- Việc DH theo phương pháp hợp tác chưa được hiểu một cách đầy đủ, 90% GV hiểu phương pháp DHHT theo nghĩa đơn thuần là tổ chức cho HS các hoạt động nhóm nhỏ
- Việc sử dụng phương pháp hoạt động nhóm ít được diễn ra, chủ yếu được thực hiện trong các giờ thao giảng
- Việc DH theo phương pháp hợp tác đòi hỏi GV phải đầu tư thời gian soạn bài, trình độ tin học và sự sáng tạo, cùng kinh nghiệm DHHT
- GV chưa bám sát hết được một giờ DHHT và các bài tập hợp tác cho
HS
2.4.2.Thực trạng việc học hợp tác của học sinh
Ngoài phiếu hỏi dành cho HS về nội dung HTHT, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp các em HS với các câu hỏi sau:
+ Các em thường đóng vai trò gì trong hoạt động nhóm?
+ Các em có được thường xuyên thay đổi vai trò trong nhóm không + Các em thấy khi hoạt động nhóm các bạn có học lực trung bình, yếu có tham gia tích cực không?
- 90% HS được học hợp tác trong các giờ luyện tập, ôn tập chương và thường được học khi có tiết thao giảng, có GV dự giờ
- 95 % HS chưa thực sự hiểu rõ những việc cần làm khi học hợp tác
- 90% HS tham gia học hợp tác chỉ thường giữ vai trò nhất định, ít được trải nghiệm các vị trí khác nhau NLHT của các em chưa cao, nhất là các em thuộc đối tượng GDTX
- Nhiều em còn thụ động trong các hoạt động nhóm
2.4.3.Thực trạng việc dạy họchợp tác chủ đề thống kê
- 90% bài giảng về thống kê chưa được DH theo phương pháp hợp tác do chưa có thời gian thực hiện nhiều hoặc không có do thời lượng phân phối ít
Trang 38- Với bài thực hành nhóm ở cuối chương bị bỏ qua, hay chỉ được nêu mà chưa được tiến hành hướng dẫn tỉ mỉ và nghiệm thu từ phía GV
- Việc học hợp tác với chủ đề thống kê ít được thực hiện
- NLHT của học sinh còn yếu
- Chủ đề DH thống kê chưa thu hút được sự đầu tư của GV và chưa thu hút được việc học thống kê đối với HS
- Việc DH để làm rõ “Ứng dụng của thống kê trong thực tiễn” chưa được chú trọng, HS chưa thấy được tầm quan trọng của thống kê một cách sâu sắc
Từ những cơ sở lý luận của chương 1kết hợp những cơ sở thực trạng của chương 2về thực tiễn DH nội dung thống kê và DHHT theo hướng phát triển NLHT cho HS nhất là đối tượng GDTX cho thấy cần thiết phải nghiên cứu và
đề xuất những biện pháp nhằm năng cao NLHT cho HS gắn với việc DH chủ
đề “ Ứng dụng thống kê trong thực tiễn”
Trang 39CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY HỌC NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ “ ỨNG DỤNG THỐNG KÊ TRONG THỰC TIỄN”
3.1 Nguyên tắc chung về các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực hợp tác
Để nghiên cứu và xây dựng các biện pháp nhằm nâng cao NLHT đòi hỏi các nguyên tắc chung sau đây:
Nguyên tắc 1: Các biện pháp đưa ra phải phù hợp với nội dung chương
trình mà SGK đã nêu
Nguyên tắc 2: Phát triển các NLHT thông qua các hình thức DH phải
đảm bảo tính khả thi
Nguyên tắc 3: Các biện pháp phát triểnNLHTnên áp dụng được CNTT
3.2 Một số biện pháp nhằm phát triển năng lực hợp tác
3.2.1 Biện pháp 1: Tổ chức các hoạt động nhóm tạo môi trường tương tác cho học sinh
Mục tiêu
Do năng lực học tập của các em HS tại Trung tâm GDTX còn hạn chế, cùng với ý thức học tập chưa cao, nên tôi sử dụng biện pháp hoạt động nhóm nhằm các mục đích sau:
- Các bạn trong nhóm hỗ trợ, hợp tác với nhau để hoàn thành công việc
Trang 40GV giới thiệu vấn đề, hướng dẫn gợi mở, dành thời gian để HS suy nghĩ Sau đó HS thành lập nhóm đôi và chia sẻ ý tưởng, thảo luận, phân loại
Ví dụ trong bài tập về nhà sau bài thực hành đo chiều cao và cân nặng
HS chúng tôi cho HS ghép cặp để cùng nghiên cứu 1 vấn đề, thu thập và xử lý
số liệu, sau đó lập bảng phân bố tần số, tần suất và nhận xét
HS ghép cặp và tiến hành các công việc sau:
Các công việc cần làm Nội dung tiến hành
- Thống nhất với nhau về đề tài
- Nội dung: mạng xã hội mà các bạn dùng gồm facebook, instagram, zalo
- Tiến hành hỏi 29 HS trong lớp 10B2 về các mạng xã hội mà các bạn dùng
- Đếm và tính toán tần số, tần suất
- Lập bảng phân bố tần số, tần suất
- Nhận xét về việc dùng mạng xã hội của các bạn
* Kỹ thuật bể cá: là một kỹ thuật dùng cho thảo luận nhóm, trong đó một thành viên ngồi giữa phòng và thảo luận với nhau, có những thành viên khác ngồi xung quanh ở vòng ngoài theo dõi cuộc thảo luận đó và sau khi kết thúc cuộc thảo luận thì đưa ra những nhận xét về cách ứng xử của những thành viên đang thảo luận Trong nhóm thảo luận có thể có một vị trí không có người ngồi Các thành viên tham gia nhóm quan sát có thể thay nhau ngồi vào chỗ đó và đóng góp ý kiến khi cuộc thảo luận
* Kỹ thuật khăn phủ bàn (Khăn trải bàn): là hình thức tổ chức mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạt động cá nhân và hoạt động nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tương tác giữa người học với người học Ví dụ trong nội