1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Vận dụng thẻ điểm cân bằng (balanced scorecard) trong đánh giá thành quả hoạt động tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng cát linh

109 132 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM TẮT Qua nghiên cứu tác giả trình bày được những nội dung liên quan đến các phát hiện, các vấn đề cần giải quyết tại công ty Cát Linh trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty..

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM KIM NGÂN

VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG

(BALANCED SCORECARD) TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁT LINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – 2019

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

PHẠM KIM NGÂN

VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG

(BALANCED SCORECARD) TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ

PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁT LINH

Chuyên ngành : Kế toán ( hướng ứng dụng)

Mã ngành : 8340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học : TS Nguyễn Ngọc Dung

Tp Hồ Chí Minh – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các thông tin và số liệu mà tôi sử dụng trong bài luận văn là trung thực Nội dung và kết quả nghiên cứu chưa được cộng bố dưới bất kỳ hình thức nào trước đây

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Phạm Kim Ngân

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

TÓM TẮT

ABSTRACT

NHẬN XÉT CỦA ĐƠN VỊ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do lựa chọn vấn đề giải quyết 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn tại đơn vị nghiên cứu 2

CHƯƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT 4

1.1 Giới thiệu về công ty 4

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 4

1.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 5

1.1.3 Cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty 6

1.2 Nhận diện vấn đề cần giải quyết 7

1.2.1 Vấn đề cần giải quyết và nguyên nhân vấn đề vẫn tồn tại 8

1.2.2 Sự cần thiết phải vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh 10

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG 17

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến mục tiêu của đề tài 17

2.2 Các nghiên cứu trong nước có liên quan đến mục tiêu của đề tài 18

2.3 Nhận xét về các nghiên cứu trước 19

2.4 Cơ sở lý thuyết về thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động 20 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 22

Trang 5

CHƯƠNG 3: KIỂM CHỨNG VẬN DỤNG BSC TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CÁT LINH - DỰĐOÁN

NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG 23

3.1 Thực trạng về công tác đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh23 3.1.1 Thực trạng đánh giá thành quả tài chính 24

3.1.1.1 Tình hình tài chính của công ty 24

3.1.1.2 Đánh giá thành quả hoạt động ở khía cạnh tài chính 27

3.1.2 Thực trạng đánh giá thành quả ở khía cạnh khách hàng 30

3.1.2.1 Tình hình đối tượng khách hàng của công ty 30

3.1.2.2 Đánh giá thành quả hoạt động ở khía cạnh khách hàng 30

3.1.3 Khía cạnh quy trình kinh doanh nội bộ 36

3.1.3.1 Tình hình kinh doanh nội bộ hiện tại của Công ty 36

3.1.3.2 Đánh giá thành quả hoạt động về khía cạnh quy trình kinh doanh nội bộ hiện tại của doanh nghiệp 38

3.1.4 Khía cạnh học hỏi và phát triển 39

3.1.4.1 Tình hình nhân sự và hệ thống thông tin 39

3.1.4.2 Đánh giá tình hình nhân sự và hệ thống thông tin 41

3.2 Nguyên nhân của hạn chế 44

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 46

CHƯƠNG 4: KIỂM CHỨNG NGUYÊN NHÂN TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI CÔNG TY CÁT LINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP 47

4.1 Kiểm chứng nguyên nhân trong đánh giá thành quả hoạt động tại công ty Cát Linh 47

4.2 Đề xuất giải pháp 49

4.2.1 Xác định tầm nhìn và chiến lược của công ty trong thời gian tới 50

4.2.1.1 Sứ mệnh, giá trị cốt lõi 51

4.2.1.2 Tầm nhìn và chiến lược của công ty Cát Linh 52

4.2.2 Gợi ý về giải pháp cần hoàn thiện trong đánh giá thành quả hoạt động tại công ty Cát Linh 53

4.2.2.1 Giải pháp về đánh giá thành quả hoạt động về khía cạnh tài chính 52

4.2.2.2 Khía cạnh khách hàng 58

Trang 6

4.2.2.3 Khía cạnh quy trình kinh doanh nội bộ 65 4.2.2.4 Khía cạnh học hỏi và phát triển 71 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 81 CHƯƠNG 5: KẾ HOẠCH TRIỂN KHAI GIẢI PHÁP VỀ VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNG TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT

ĐỘNG CỦA CÔNG TY CÁT LINH 82 5.1 Kế hoạch triển khai 82 5.2 Qui định trách nhiệm phối hợp các bộ phận liên quan đến giải pháp 86 5.3 Đánh giá kết quả giải pháp thông qua các chỉ tiêu cụ thể sau khi triển khai 88 KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BCH: Ban chấp hành

BGĐ: Ban giám đốc

BHXH: Bảo hiểm xã hội

KQHDKD: Kết quả hoạt động kinh doanh MTV: Một thành viên

SX: Sản xuất

TM : Thương mại

TNHH: Trách nhiệm hữu hạn

QS: Phòng dự toán

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 : Doanh thu theo loại công trình thi công 2018 24

Bảng 2 : Tình hình hoạt động kinh doanh của Cát Linh giai đoạn 2015-2018 25

Bảng 3:Bảng cân đồi kế toán rút gọn Công ty Cát Linh năm 2017- 2018 25

Bảng 4 :KQHDKD rút gọn công ty Cát Linh năm 2017-2018 26

Bảng 5: Bảng chỉ số tài chính công ty Cát Linh năm 2017 – 2018 27

Bảng 6 : Bảng so sánh doanh thu – lợi nhuận công ty Cát Linh năm 2017 – 2018 27

Bảng 7: Bảng theo dõi doanh thu khách hàng cũ và khách hàng mới 31

Bảng 8: Bảng thống kê kết quả khảo sát chất lượng hạng mục thi công năm 2018 31

Bảng 9 : Bảng thống kê kết quả khảo sát chất lượng ngoài hạng mục thi công năm 2018 32

Bảng 10 : Bảng thống kê kết quả khảo sát tiến độ thi công năm 2018 34

Bảng 11 : Cơ cấu nhân sự công ty năm 2017 và 2018 39

Bảng 12 : Đánh giá, phân loại nhân viên năm 2018 41

Bảng 13 : Bảng tổng hợp các chỉ tiêu chăm sóc nội bộ nhân viên năm 2018 42

Bảng 14 : Bảng triển khai chiến lược về khía cạnh tài chính 56

Bảng 15 : Bảng triển khai chiến lược về khía cạnh khách hàng 62

Bảng 16 : Bảng triển khai chiến lược về khía cạnh quy trình kinh doanh nội bộ 69

Bảng 17 : Bảng triển khai chiến lược về khía cạnh học hỏi và phát triển 77

Bảng 18 : Kế hoạch triển khai vận dụng BSC trong đánh giá thành quả công ty Cát Linh 82

Trang 9

DANH MỤC ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ, HÌNH ẢNH

Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức công ty 6

Sơ đồ 1.2 : Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán 7

Hình 3.1 : Cơ cấu doanh thu được phân loại theo các loại hình công trình của Cát Linh năm 2018 25

Đồ thị 3.2: Đồ thị biểu diễn kết quả khảo sát chất lượng hạng mục thi công 32

Đồ thị 3.3 : Đồ thị biểu diễn kết quả khảo sát chất lượng hạng mục thi công 33

Đồ thị 3.4 : Đồ thị biểu diễn kết quả khảo sát tiến độ thi công năm 2018 34

Sơ đồ 3.5 : quy trình kinh doanh của công ty 38

Đồ thị 3.6 : Đồ thị biểu diễn phân loại đánh giá nhân viên năm 2018 42

Trang 10

TÓM TẮT

Qua nghiên cứu tác giả trình bày được những nội dung liên quan đến các phát hiện, các vấn đề cần giải quyết tại công ty Cát Linh trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cụ thể, tác giả tập trung trình bày những nội dung như giới thiệu về công ty Cát Linh, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty, và đặc biệt là trình bày nội dung liên quan đến tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh trong công ty Từ việc trình bày những nội dung nêu trên, tác giả nhận thấy việc đánh giá hoạt động kinh doanh trong công ty còn nhiều hạn chế, như trình độ nhân lực quản

lý trong việc xây dựng các chỉ tiêu và đo lượng thành quả hoạt động của công

ty còn hạn chế; khó khăn trong việc xác định đúng chiến lược kinh doanh và xây dựng các thước đo; việc phát triển kế hoạch/ biện pháp, ngân sách thực hiện các mục tiêu chưa tốt; Công ty chưa chú trọng theo dõi kết quả thực hiện trong quá trình triển khai để có sự điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế; Chưa chú trọng việc xây dựng hệ thống lương, thưởng dựa trên thành tích;…do vậy cần tập trung giải quyết những hạn chế vừa nêu, mà theo tác giả

là vận dụng thẻ điểm cân bằng vào đánh giá thành quả hoạt động của công ty

là cần thiết

Qua xác định các hạn chế trong việc đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh, kiểm chứng các hạn chế, cũng như những nguyên nhân gây nên hạn chế trong đánh giá thành quả hoạt động của Công ty, đề tài cũng để đề xuất một số giải pháp, xây dựng kế hoạch hành động liên quan đến vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả của công ty trong thời gian tới

Trang 11

ABSTRACT

Through the study, the author presented the contents related to the findings and issues to be solved at Cat Linh Company in assessing the performance of the company Specifically, the author focuses on presenting contents such as introduction of Cat Linh company, business and production performance characteristics, accounting organization structure at the company, and especially presenting content related to the business analysis organization

in the company From the presentation of the above contents, the author found that the assessment of business activities in the company is still limited, such

as the level of management manpower in setting targets and measuring the performance of operations the company's limited; difficulties in properly identifying business strategies and building metrics; the development of plans / measures, the budget to implement the objectives is not good; The company has not focused on monitoring the implementation results in the process of implementation to make adjustments appropriate to the actual situation; Not paying attention to the construction of the system of salary and bonuses based

on merit, therefore, it is necessary to focus on addressing the mentioned limitations, but according to the author, to apply a balanced scorecard to evaluate the performance of the Company is needed

above-Through the identification of limitations in the assessment of performance at Cat Linh Construction Investment Joint Stock Company, verification of limitations, as well as the causes of limitations in evaluating performance The project also proposes some solutions, builds action plans related to the use of balanced score cards in evaluating the company's performance in the future

Trang 12

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn vấn đề giải quyết

Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây chịu tác động rất lớn của

sự suy yếu nền kinh tế toàn cầu, trong môi trường kinh doanh như hiện nay, doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải chọn cho mình một hướng đi và một chiến lược phù hợp Nhưng làm thế nào để biến chiến lược thành hành động lại là vấn đề khó hơn và khó nhất là việc đánh giá thành quả hoạt động của đơn vị

để khẳng định con đường mà đơn vị đang đi không bị chệch hướng và chiến lược

họ đang thực hiện phù hợp với mục tiêu đặt ra

Những thước đo tài chính truyền thống sử dụng trong đánh giá thành quả hoạt động của một tổ chức – chủ yếu là cung cấp các thông tin tài chính trong quá khứ, không thể dự báo thành quả hoạt động trong tương lai đã trở nên lạc hậu, không còn phù hợp với thời kỳ cạnh tranh thông tin khi mà hoạt động tạo ra giá trị của tổ chức ngày càng chuyển từ sự phụ thuộc vào tài sản hữu hình, tài sản vật chất sang tài sản vô hình, tài sản phi vật chất

Rober S.Kaplan và David Norton đã phát triển Hệ thống Thẻ cân bằng điểm (Balance Scorecard – BSC) giúp các tổ chức chuyển tầm nhìn chiến lược thành mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập hệ thống bốn phương diện tài chính, khách hàng, qui trình hoạt động kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển để đo lường thành quả hoạt động của doanh nghiệp

Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh đã đạt một số thành tựu nhất định, và là một trong số các doanh nghiệp duy trì được lợi nhuận hàng năm trong thời kỳ suy thoái kinh tế nói chung và trong thời kỳ ngành xây dựng gặp khó khăn lớn nói riêng Tuy nhiên, tại công ty công tác quản lý vẫn còn nhiều hạn chế như trình độ nhân lực quản lý trong việc xây dựng các chỉ tiêu và đo lượng thành quả hoạt động của công ty còn chưa phù hợp, việc xác định đúng chiến lược kinh doanh và xây dựng các thước đo còn nhiều khó khăn, phát triển kế hoạch/ biện pháp, ngân sách thực hiện các mục tiêu chưa tốt, Do vậy, làm thế nào đương đầu với thách thức trên thị trường cũng như phát triển mạnh trong tương lai đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng chiến lược tốt, xây dựng hệ thống đo lường đánh

Trang 13

giá thành quả hoạt động một cách hữu hiệu và hiệu quả hơn nữa Cụ thể là đo lường hoạt động của doanh nghiệp thông qua các phương diện tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ và học hỏi, phát triển Từ đó, đánh giá được trách nhiệm của các nhà quản lý thông qua công cụ BSC nhằm nâng cao năng lực quản lý và thúc đẩy hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp

Xuất phát từ vấn đề nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài “Vận dụng Thẻ cân bằng điểm (Balance Scorecard) trong đánh giá thành quả hoạt động tại công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh” để thực hiện nghiên cứu Qua nghiên cứu, luận văn góp phần đề xuất một số giải pháp, xây dựng kế hoạch hành động liên quan đến vận dụng BSC trong đánh giá thành quả của công ty trong thời gian tới

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát: vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh

3 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài thực hiện trên cơ sở áp dụng phương pháp định tính, phương pháp quan sát sử dụng các công cụ như phân tích, thống kê, khảo sát, tổng hợp số liệu thu thập tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh để giải quyết các mục tiêu trên

4 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn tại đơn vị nghiên cứu

Đề tài đã nêu được các hạn chế trong việc đánh giá thành quả hoạt động tại Công ty cổ phần đầu tư xây dựng Cát Linh, kiểm chứng các hạn chế, cũng như những nguyên nhân gây nên hạn chế trong đánh giá thành quả hoạt động của

Trang 14

Công ty, để đề xuất một số giải pháp, xây dựng kế hoạch hành động liên quan đến

vận dụng BSC trong đánh giá thành quả của công ty trong thời gian tới

Trang 15

CHƯƠNG 1: PHÁT HIỆN VẤN ĐỀ CẦN GIẢI QUYẾT

1.1 Giới thiệu về công ty

1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển

Công ty CP Đầu Tư Xây Dựng Cát Linh được thành lập theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0309130759 ngày 01 tháng 03 năm 2010 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hồ Chí Minh cấp Với ngành nghề kinh doanh là xây dựng nhà các loại và kinh doanh bất động sản Trụ sở chính tại địa chỉ: 71/24 Nguyễn Công Hoan, Phường 7, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM Sau nhiều lần thay đổi Giấy phép kinh doanh, thông tin của công ty hiện tại như sau:

- Tên đầy đủ: CÔNG TY CỔ PHẦN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÁT LINH

- Tên giao dịch: CAT LINH CONSTRUCTION AND INVESTMENT JOINT STOCK COMPANY

- Tên viết tắt: CAL

- Mã số thuế: 0309130759 (Cấp ngày 01 tháng 03 năm 2010)

- (Theo Giấy phép kinh doanh số 0309130759, thay đổi lần thứ 10 ngày 10/10/2015)

- Trụ sở chính: 71/24 Nguyễn Công Hoan, Phường 7, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM

Sau hơn 9 năm phát triển đến nay, Cát Linh đã đạt được những thành tựu

to lớn, xây dựng được một vị thế vững chắc trong lĩnh vực xây dựng với những

dự án tầm cỡ và trở thành một nhà thầu uy tín Cát Linh đã có một bước chuyển mình lớn từ khi mới thành lập đến nay Với bề dày kinh nghiệm, cũng như những sản phẩm, dịch vụ chất lượng cung cấp cho khách hàng Cát Linh ngày càng

Trang 16

chứng tỏ rằng mình xứng đáng là một đối tác lâu dài, đáng tin cậy và vươn lên trở thành một thương hiệu hàng đầu cho sự lựa chọn của khách hàng

Trên thực tế bản thân công ty cũng có những khó khăn đang tồn tại cần khắc phục các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài mạnh về vốn, kỹ thuật, quản lý tiên tiến đang xâm nhập vào thị trường xây dựng Việt Nam rất nhiều, gây nhiều bất lợi cho công ty xây dựng Việt Nam nói chung và Cát Linh nói riêng trong quá trình đấu thầu, cũng như cạnh tranh về giá thầu xây dựng Bên cạnh đó, các vấn

đề liên quan đến pháp luật, quy định về xây dựng, thi công công trình cũng thường xuyên thay đổi gây nhiều khó khăn cho công ty trong quá trình hoạt động

1.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

PHÓ TỔNG

GIÁM ĐỐC

PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC

VÀ AN TOÀN

PHÒNG THIẾT

KẾ

PHÒNG

CƠ ĐIỆN

PHÒNG THI CÔNG

Trang 17

Sơ đồ 1.1 : Cơ cấu tổ chức công ty

- Về lĩnh vực kinh doanh:

+ Chủ yếu xây dựng, lắp đặt, sửa chữa các công trình dân dụng, công trình công nghiệp, các công trình kỹ thuật hạ tầng khu đô thị và khu công nghiệp; các công trình giao thông và công trình thủy lợi

+ Tư vấn đầu tư, quản lý dự án các công trình dân dụng và công nghiệp, các công trình kỹ thuật hạ tầng khu đô thị và khu công nghiệp

+ Thiết kế tổng mặt bằng xây dựng công trình Thiết kế công trình dân dụng và công nghiệp Thiết kế phần cơ điện công trình

- Mục tiêu hoạt động: Cát Linh không ngừng cung cấp cho khách hàng những giải pháp xây dựng tối ưu nhờ vào thế mạnh kỹ thuật, nhân sự, quản lý và tiềm năng tài chính, lấy Uy tín – Chất lượng – Hiệu quả làm phương châm hoạt động Những ưu thế đó, đã tạo cho các công trình từ các cao ốc văn phòng, căn hộ chung cư, biệt thự hay các khu nhà máy sản xuất công nghiệp đều có dấu ấn đặc biệt từ giai đoạn đầu đến giai đoạn cuối Đến nay, tổng giá trị hợp đồng mà Cát Linh thực hiện đã lên tới hàng ngàn tỷ đồng

Đến năm 2020, Cát Linh hướng đến trở thành một trong 10 công ty xây dựng có doanh thu cao nhất của nhóm doanh nghiệp xây dựng dân dụng và công nghiệp góp phần xây dựng doanh nghiệp có thương hiệu hàng đầu tại Việt Nam

- Thị trường mục tiêu: dự án cấp trung và lớn từ 50 tỷ trở lên, các dự án thuộc cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại

1.1.3 Cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty

PHÒNG

KẾ HOẠCH VẬT TƯ

PHÒNG QUẢN LÝ NHÂN SỰ

PHÒNG

KẾ TOÁN

Trang 18

Công ty thực hiện việc ghi sổ kế toán, lập và trình bày Báo cáo tài chính theo hướng dẫn của thông tư 200/ 2014/ TT – BTC hướng dẫn chế độ kế toán doanh nghiệp ban hành ngày 22/12/2014, tuân thủ Luật kế toán (Luật số: 88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015) và áp dụng các chế độ, chính sách kế toán theo qui định của Nhà Nước có liên quan đến hoạt động của công ty

Công ty tổ chức ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký chung Công ty tổ chức quản lý kế toán theo hình thức tập trung, toàn bộ công việc kế toán được tập trung tại phòng tài chính kế toán để xử lý Phòng tài chính kế toán chịu trách nhiệm tất cả các công việc của kế toán từ khâu xử lý chứng từ đến việc ghi sổ sách tổng hợp, chi tiết, lập báo cáo tài chính

Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán:

Sơ đồ 1.2 : Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán

1.2 Nhận diện vấn đề cần giải quyết

Kế toán trưởng

Phó phòng kế toán

Kế toán công

nợ

Kế toán tài sản

cố định

Kế toán lao động tiền lương

Kế toán thanh toán

Kế toán chi phí sản xuất giá thành

Kế toán tổng hợp

Kế toán vật tư

Trang 19

1.2.1 Vấn đề cần giải quyết và nguyên nhân vấn đề vẫn tồn tại

Đối với khía cạnh tài chính

+ Tăng trưởng doanh thu:Từ khi thành lập đến nay, hiệu quả kinh tế của

Cát Linh đều tăng qua các năm, cụ thể, trong giai đoạn 2015 – 2018, tài sản công

ty tăng từ 242.577.645.026 đồng lên 1.393.945.804.536 đồng, doanh thu và lợi nhuận của công ty cũng liên tục tăng trong giai đoạn này (doanh thu tăng từ 36.525.646.910 đồng lên 3.229.969.675.619 đồng, năm 2015 lỗ 1.881.863.802

đồng, thì đến năm 2018, công ty đạt mức lợi nhuận là 141.915.576.380 đồng)

+ Sử dụng tài sản hiệu quả: Công ty có đánh giá hiệu quả sử dụng trong

việc tính toán và so sánh thường xuyên các chỉ số như ROA, ROE qua các năm Tuy nhiên công ty không xây dựng mục tiêu tài chính cụ thể qua các năm, cũng như chưa chú trọng đến tăng trưởng doanh thu mà hầu hết tập trung vào tỷ lệ lãi gộp hàng năm, việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty không phản ánh

được việc công ty có đạt được mục tiêu chiến lược của công ty hay không

Kể từ năm 2015, khi hoạt động kinh doanh của công ty đã đi vào ổn định, sinh lãi, công ty luôn đóng góp hàng tỷ đồng tiền thuế vào ngân sách Nhà nước hàng năm, bên cạnh đó, công ty cũng hỗ trợ việc làm cho hàng trăm lao động có

hộ khẩu trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và những khu vực lân cận, tạo điều kiện việc làm, thu nhập, hỗ trợ người lao động ổn định cuộc sống, tham gia BHXH cho người lao động, tạo điều kiện làm việc an toàn, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người lao động Bên cạnh đó, với đặc thù ngành nghề xây dựng, công ty nhận thức rõ những tác động của doanh nghiệp đến môi trường nên thường xuyên tổ chức tuyên truyền, nâng cao ý thức nhân viên công ty về bảo vệ

môi trường trong quá trình hoạt động

Đối với khía cạnh khách hàng:

+ Tăng trưởng thị phần của công ty: Công ty có nghiên cứu, tìm hiểu,

xác định điểm mạnh và điểm yếu của đơn vị, tuy nhiên, công tác này chưa được thực hiện một cách khoa học, chưa hệ thống, chủ yếu được thực hiện khi nhận thầu công trình mới, hoặc những khó khăn mà công ty gặp phải trong khi thi công

Trang 20

các dự án xây dựng, chính điều này tạo tâm thế bị động trước các tác nhân gây rủi

ro cho hoạt động của công ty

+ Tăng sự hài lòng của khách hàng hiện tại: Tương tự với việc đánh giá

môi trường bên trong, việc phân tích môi trường bên ngoài công ty cũng chưa thực hiện hiệu quả, đồng bộ Trên thực tế, các doanh nghiệp xây dựng nước ngoài mạnh về vốn, kỹ thuật, quản lý tiên tiến đang xâm nhập vào thị trường xây dựng Việt Nam rất nhiều, việc bị động trong nghiên cứu, phân tích đối thủ gây nhiều bất lợi cho công ty xây dựng Việt Nam nói chung và Cát Linh nói riêng trong quá trình đấu thầu, cũng như cạnh tranh về giá thầu xây dựng Bên cạnh đó, môi trường bên ngoài của công ty liên quan đến pháp luật, quy định về xây dựng, thi công công trình cũng thường xuyên thay đổi, không ổn định, việc không tổ chức đội ngũ nhân viên thường xuyên theo dõi, cập nhật thay đổi cũng gây nhiều khó

khăn cho công ty trong quá trình hoạt động

Đối với khía cạnh quy trình kinh doanh nội bộ: Với đặc thù công ty xây

dựng, quá trình quản lý thi công và hạch toán của Cát Linh vẫn chưa được thực hiện hiệu quả, vẫn còn tình trạng khách hàng khiếu nại về chất lượng công trình thi công, mất nguyên vật liệu, cũng như công ty chưa xây dựng được quy trình

nội bộ trong quản lý chất lượng thi công

Đối với nhân viên: Công ty có xây dựng văn hóa công ty, liên quan đến

ứng xử của các thành viên trong công ty trong quá trình làm việc, đồng thời cũng xây dựng cơ cấu công ty rõ ràng, cụ thể, trong đó có phân chia chức năng, quyền hạn cụ thể cho từng phòng ban Với đặc thù ngành xây dựng, chi phí nhân công luôn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi phí của công ty Người lao động nói chung mà nhân viên thi công nói riêng đóng vai trò quan trọng trong chất lượng

và tiến độ thi công công trình Nhận thức được điều này, Cát Linh đặc biệt chú trong đến năng suất của người lao động, tuy nhiên các chính sách thưởng, phạt của công ty chưa thật sự rõ ràng, hợp lý, chưa đủ sức răn đe cũng như tạo động lực làm việc cho người lao động Quy định phạt đối với nhân công trộm cắp vật

tư, phóng uế trong thi công,… cũng chỉ mang tính hình thức Đối với nhân viên thuộc khối văn phòng, công ty cũng chưa xây dựng kế hoạch làm việc cụ thể,

Trang 21

cũng như xây dựng thang đo, tiêu chí đánh giá chất lượng công việc của những

nhân viên này

Từ những phân tích, đánh giá vừa nêu trên liên quan đến công ty Cát Linh với các nội dung như lịch sử hình thành và phát triển, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty và đặc biệt là tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh trong công ty có thể nhận thấy chất lượng trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty còn nhiều hạn chế Các chỉ tiêu dùng trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty còn chưa đầy đủ, chưa phản ánh

được tính toàn diện và thống nhất trong đánh giá thành quả công ty

Trên cơ sở kiến thức được học về BSC, cũng như qua quá trình hệ thống

cơ sở lý thuyết, nghiên cứu các bài học vận dụng thành công BSC ở doanh nghiệp trong đánh giá thành quả hoạt động của đơn vị, tác giả nhận thấy việc vận dụng BSC vào Cát Linh là rất phù hợp, và mạnh dạn đề xuất vận dụng BSC vào giải quyết những hạn chế trong công tác phân tích hoạt động của công ty hiện nay

1.2.2 Sự cần thiết phải vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh

Thẻ điểm cân bằng ra đời đã khắc phục được những hạn chế của thước đo truyền thống và nó nhanh chóng được các tổ chức áp dụng rộng rãi và đạt được những thành công vang dội trên toàn thế giới Thẻ điểm cân bằng cung cấp cho nhà quản trị các thiết bị đo lường để chèo lái tổ chức đạt tới những thành công đầy tính cạnh tranh trong tương lai

Nền kinh tế thế giới đang ở trong giai đoạn chuyển hóa mang tính cách mạng, cạnh tranh trong thời đại công nghiệp đang dần chuyển hóa thành cạnh tranh trong thời đại công nghệ thông tin Bên cạnh đó, sự lỗi thời của thước đo tài chính truyền thống đã không cung cấp cho nhà quản trị cái nhìn toàn cảnh, những thông tin đúng, đủ và kịp thời về tình hình hiện tại cũng như những hướng đi trong tương lai.Sự ra đời của Thẻ điểm cân bằng mang tính tất yếu, được phân tích bởi những nội dung sau:

+ Cạnh tranh trong thời đại thông tin

Trang 22

Nền kinh tế thế giới đang dịch chuyển từ sự cạnh tranh trong thời đại công nghiệp sang cạnh tranh trong thời đại công nghệ thông tin Trong suốt thời đại công nghiệp năm 1850 đến khoảng năm 1975, các công ty đã thành công bằng cách nắm bắt tốt những lợi ích từ các lợi thế kinh tế theo quy mô và phạm vi, cụ thể là lợi thế cạnh tranh thể hiện thông qua sự cải tiến kỹ thuật, công nghệ nhằm nâng cao năng suất, mở rộng quy mô sản xuất, sản phẩm sản xuất hàng loạt theo đúng tiêu chuẩn và tiết kiệm chi phí Lúc này, cùng với các tài sản hữu hình, trình

độ ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất đóng vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng đến sự thành công của một doanh nghiệp Tuy nhiên, trong thời đại thông tin, thì những nhận định về cạnh tranh ứng với thời đại công nghiệp trở nên lỗi thời, với sự cạnh tranh gay gắt và thị trường có hàng loạt những sản phẩm thay thế với giá thành và chất lượng tương đương, người tiêu dùng có nhiều quyền lựa chọn, đồng nghĩa doanh nghiệp muốn đạt được thành công phải xây dựng các chiến lược và sản phẩm của mình chiếm một vị thế nhất định trong lựa chọn của khách hàng

Các công ty trong thời đại công nghệ thông tin không những phải cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước mà còn phải chịu sự cạnh tranh nhanh và nhạy của các doanh nghiệp ngoài nước Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin đã làm cho cuộc chiến cạnh tranh ngày càng gay gắt hơn, khi mà thông tin dễ dàng chia sẻ, quảng bá và sự hiểu biết của người tiêu dùng ngày càng tăng lên

Bên cạnh đó, vòng đời của sản phẩm ngày càng rút ngắn, lợi thế cạnh tranh trong một vòng đời sản phẩm này không phải là nền tảng bảo đảm cho sản phẩm đó thành công ở chu kỳ kinh doanh tiếp theo Các công ty cùng ngành có sự đổi mới công nghệ nhanh chóng, yêu cầu đặt ra là phải nắm bắt và dự đoán đúng nhu cầu của khách hàng trong tương lai, tạo ra những sản phẩm mới với tính năng vượt trội, thay đổi linh hoạt trong quy trình hoạt động kinh doanh bắt đầu từ xác định nhu cầu, phát triển sản phẩm, sản xuất, phân phối nhằm tạo lợi thế cạnh tranh và nâng cao giá trị doanh nghiệp

Trang 23

Về mối liên hệ giữa khách hàng và nhà cung cấp, trong thời đại công nghệ thông tin điều khác biệt là những hoạt động kinh doanh hay các sản phẩm được khởi sự từ các đơn đặt hàng của khách hàng, xây dựng một hệ thống “ngược” từ nhu cầu của khách hàng đến các nhà cung cấp liên quan, có nghĩa là sự hồi đáp nhanh chóng làm thỏa mãn khách hàng, tăng hiệu quả và có được những cải thiện đáng kể về chí phí, chất lượng Chính sự bắt đầu từ nhu cầu của khách hàng đã góp phần làm cho tất cả các bộ phận trong tổ chức có thể hiểu rõ một các sâu sắc

về mục tiêu, đối tượng của doanh nghiệp hướng đến

+Những hạn chế của thước đo tài chính

Thước đo tài chính là công cụ phổ biến để phân tích được sử dụng qua nhiều thế kỷ, báo cáo tài chính cho thấy “sức khỏe” của doanh nghiệp cho các cổ đông và những người sử dụng báo cáo tài chính thông qua sự thay đổi của các tài khoản lợi nhuận, tuy nhiên thước đo tài chính trong thời đại công nghệ thông tin

đã bộc lộ những hạn chế khi đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp, điều

đó thể hiện qua những khía cạnh sau:

 Sự gia tăng nhanh chóng của tài sản vô hình

Khác với thời đại công nghiệp, thời đại công nghệ thông tin ngày nay thì tài sản sản vô hình chiếm một vị thế vô cùng quan trọng và là nguồn lực cơ sở để doanh nghiệp tạo ra giá trị trong tương lai Nhưng trên báo cáo tài chính chỉ cung cấp được những thông tin tài chính mà bỏ qua các thông tin phi tài chính về tài sản vô hình mà đặc biệt là các tài sản vô hình thuộc về trí tuệ và năng lực của tổ chức như sự trung thành, ghi nhớ của khách hàng, đội ngũ nhân viên có năng lực cao, vị thế của doanh nghiệp trên thị trường, quy trình hoạt động kinh doanh hiệu quả, … Do đó, bức tranh tài chính của doanh nghiệp không cung cấp đúng, đủ, toàn diện về năng lực của doanh nghiệp cho quyết định của nhà quản trị, cũng như thông tin ra các tổ chức bên ngoài Điều này, có thể dẫn tới doanh nghiệp sẽ mất cơ hội cho sự phát triển và xây dựng vị thế của doanh nghiệp trong tương lai

Khả năng của mỗi công ty trong việc huy động và khai thác tài sản vô hình ngày càng trở thành một yếu tố có tính quyết định hơn so với việc đầu tư và quản

Trang 24

lý tài sản hữu hình Robert S.Kaplan & David P.Norton Các tài sản vô hình cho phép một tổ chức kinh doanh:

- Phát triển các mối quan hệ khách hàng nhằm duy trì sự trung thành của khách hàng hiện có và làm cho phân khúc khách hàng, mảng thị trường mới có khả năng được phục vụ một cách chu đáo và có hiệu quả

- Giới thiệu các sản phẩm và dịch vụ có tính sáng tạo theo nhu cầu của các phân khúc khách hàng mục tiêu

- Tạo ra các sản phẩm dịch vụ chất lượng cao theo yêu cầu của khách hàng với chi phí thấp, đồng thời rút ngắn các giai đoạn thời gian trong sản xuất

- Huy động những kỹ năng và động lực của nhân viên cho sự cải tiến liên tục khả năng xử lý, chất lượng và thời gian đáp ứng

- Triển khai công nghệ thông tin, các cở sở dữ liệu và hệ thống

 Thước đo tài chính truyền thống là một cái nhìn về quá khứ

Thước đo tài chính cung cấp những thông tin về những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, nó thể hiện một cách rõ ràng, mạch lạc và tóm tắt hoạt động kinh doanh của công ty ở giai đoạn trước Tuy nhiên, nó không có sức mạnh về giá trị tầm nhìn, định hướng tương lai Như chúng ta đã biết, kết quả tài chính tuyệt vời của tổ chức trong tháng, quý, năm này không có nghĩa là tháng, quý hay năm tiếp theo tổ chức sẽ tiếp tục thành công Thậm chí nó không được xem là một chỉ dẫn thích hợp có thể áp dụng được cho ngày nay và mai sau đạt mục tiêu tạo ra thành quả hoạt động tài chính cho doanh nghiệp Điều này làm cho thước đo tài chính bị xem là chỉ số tụt hậu và được ví như việc nhìn vào gương chiếu hậu của xe khi lái

xe về phía trước Paul R.Nivel

 Thước đo tài chính truyền thống hy sinh lợi ích dài hạn, để theo đuổi mục tiêu ngắn hạn

Xét ở những điểm mấu chốt trong kinh doanh, việc quá coi trọng vào kết quả tài chính ngắn hạn có thể khiến cho công ty đầu tư quá mức vào việc giải quyết các khó khăn trong ngắn hạn, bỏ qua việc tạo ra giá trị dài hạn, đặc biệt là tài sản vô hình và tri thức – những thứ có thể mang lại sự tăng trưởng trong tương lai Robert S.Kaplan & David P.Norton Khi mà các nhà quản lý chịu sức ép bởi

Trang 25

các kết quả tài chính trong ngắn hạn thì họ phải đánh đổi bằng việc hạn chế đầu

tư, hạn chế tìm kiếm những cơ hội phát triển mới Nghiêm trọng hơn, việc quá chú trọng theo đuổi những chỉ số tài chính ngắn hạn về gia tăng doanh thu, giảm chi phí, hay tốc độ nhanh của vòng quay tài sản các công ty buộc phải cắt giảm chi tiêu trong việc phát triển sản phẩm mới, sa thải nhân công, thu hẹp quy mô hoạt động, bỏ qua chi phí đào tạo, quảng bá, các quy trình cải thiện hệ thống như công nghệ thông tin, xây dựng hệ thống cở sở dữ liệu cũng như phát triển mối quan hệ với khách hàng, nhà cung cấp Trước mắt, những hành động này làm gia tăng khả năng sinh lời nhanh chóng, đạt được mục tiêu kết quả tài chính ngắn hạn nhưng sự tiêu tốn hết nguồn lực và khả năng của công ty cho việc tạo ra giá trị kinh tế tương lai cùng với sự thiếu trung thành, thoả mãn của khách hàng, trình

độ của nhân viên không được đào tạo nâng cao và thiếu sự cam kết lâu dài với doanh nghiệp sẽ khiến công ty đánh mất cơ hội trong cuộc đua dài hạn

 Các chỉ số tài chính có thể bị bóp méo, không thể hiện trung thực về thực trạng của doanh nghiệp

Việc đánh giá doanh nghiệp chỉ dựa vào kết quả tài chính, đã làm cho những nhà quản trị chạy theo những mục đích riêng lợi dụng những thủ thuật

“làm đẹp” báo cáo tài chính Doanh nghiệp cố tình bóp méo thực trạng tài chính hiện tại của doanh nghiệp Sử dụng những tài khoản chờ phân bổ, hay treo chi phí trong giá trị hàng tồn kho, hoặc khai khống doanh thu, các khoản phải thu để đạt được mức tăng trưởng lợi nhuận như mong muốn Điều này làm cho thực trạng tài chính của doanh nghiệp đang ẩn chứa những rủi ro tiềm tàng, cung cấp thông tin một cách không chính xác cho các đối tượng sử dụng thông tin

 Báo cáo tài chính không cung cấp thông tin cho từng bộ phận

Báo cáo tài chính của một doanh nghiệp là một cái nhìn tổng thể của toàn

bộ doanh nghiệp trong một giai đoạn, thông tin trên báo cáo tài chính không thể hiện một bộ phận cụ thể nào Vì báo cáo tài chính không được chia nhỏ theo từng

bộ phận nên trưởng bộ phận không nhận thấy được sự đóng góp của bộ phận mình trên báo cáo tài chính của doanh nghiệp Các nhà quản lý không thể kết nối giữa các bộ phận của họ với báo cáo tài chính của tổ chức, điều này có thể dẫn

Trang 26

đến các nhà quản lý bộ phận không sử dụng thông tin báo cáo tài chính để đánh giá thành công của bộ phận Mà trong các tổ chức ngày nay, đáp ứng sự đa dạng trong tình hình cạnh tranh gay gắt của thị trường, một doanh nghiệp có thể có nhiều bộ phận cùng tham gia tạo nên giá trị của doanh nghiệp, mỗi bộ phận được xem là đơn vị kinh doanh riêng lẻ đóng góp vào thành quả hoạt động của doanh nghiệp Do đó, mỗi đơn vị kinh doanh, bộ phận có thể phải đối mặt với những áp lực cạnh tranh khác nhau, hay theo đuổi những mục tiêu riêng của bộ phận mình, nên có thể xây dựng những chiến lược khác nhau cho từng đơn vị kinh doanh cụ thể trong cùng một doanh nghiệp Và BSC là công cụ đã giải quyết được vấn đề trên với thế mạnh cho phép đánh giá hiệu quả quản lý từng bộ phận cũng như các đơn vị cá nhân bằng cách xây dựng công cụ BSC cụ thể cho từng bộ phận

Từ những lý do trên, cho thấy việc thay đổi phương pháp đo lường truyền thống là tất yếu, để đáp ứng nhu cầu về thông tin đo lường, đánh giá một cách chính xác và toàn diện của nhà quản trị bên trong và những tổ chức bên ngoài doanh nghiệp Đó chính là sự kết hợp giữa khía cạnh tài chính và phi tài chính, nó giải quyết hiệu quả những hạn chế của thước đo tài chính mang tính ngắn hạn và phản ảnh kết quả quá khứ bằng việc bổ sung các thước đo động lực phát triển doanh nghiệp trong tương lai

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương này tác giả tập trung trình bày những nội dung như giới thiệu về công ty Cát Linh, đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, cơ cấu tổ chức công tác kế toán tại công ty, và đặc biệt là trình bày nội dung liên quan đến tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh trong công ty Từ việc trình bày những nội dung nêu trên, tác giả nhận thấy việc đánh giá hoạt động kinh doanh trong công ty còn nhiều hạn chế, do vậy cần tập trung giải quyết vấn đề này, mà theo tác giả là vận dụng BSC vào đánh giá thành quả hoạt động của công ty là cần thiết

Trang 28

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN DỤNG THẺ ĐIỂM CÂN BẰNGTRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến mục tiêu của đề tài

Lý thuyết lãnh đạo sự thay đổi (leading change) của John p.Kotter, 1995

Năm 1995, John p Kotterthực

hiện nghiên cứu về ứng dụng một số công cụ, phương pháp quản trị mới để tốt hơn đối thủ cạnh tranh với hơn 100 công ty trên nhiều lĩnh vực và quy mô khác Qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra tám sai lầm có thể gặp trong quá trình chuyển đổi, qua phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của quá trình chuyển đổi tổ chức, tác giả đề xuất các giải pháp để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực và khuyến khích các tác động tích cực nhằm đảm bảo cho sự chuyển đổi đi đến thành công và thắng lợi Lý thuyết này có thể vận dụng vào trong việc nghiên cứu về vận dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động tạo nên quá trình chuyển đổi trong doanh nghiệp và cần phải tránh những sai lầm gì

để việc vận dụng BSC được thành công, đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp

Trên thực tế, công ty Cát Linh chưa vận dụng BSC vì vậy, việc tổ chức và

áp dụng BSC tại công ty nên chú ý đến 8 sai lầm mà John p Kotter đề cập, từ đó vận dụng BSC một cách hiệu quả, nâng cao chất lượng việc đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh

Lý thuyết về khuếch tán của những đổi mới (Diffusion of innovations) của

Everett M.Roger, 1995.Roger đã chỉ ra các yếu tố chính yếu có thể tác động đến

quá trình lan truyền và chấp nhận sự đổi mới, theo đó, tác giả chỉ ra có 3 nhóm

yếu tố chính yếu tác động đến quá trình này gồm:

+ Nhóm yếu tố thuộc về lãnh đạo: Lãnh đạo có tác động rất lớn đến việc chấp nhận sự đổi mới trong tổ chức thông qua thái độ ủng hộ mạnh mẽ, khả năng chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện;

+ Nhóm yếu tố thuộc về tổ chức: Đặc điểm của tổ chức có ý nghĩa quan trọng đến việc lan truyền, triển khai từng ý tưởng, kế hoạch mới Một tổ chức mà việc kết nối, truyền thông, chia sẻ giữa các phòng ban tốt sẽ rất có lợi cho việc truyền bá những đổi mới và ngược lại;

Trang 29

+ Nhóm yếu tố thuộc về bên ngoài: tổ chức hoạt động trong một môi trường sáng tạo và cạnh tranh có thể thúc đẩy việc ứng dụng các sáng kiến, thay đổi mới Hay là những áp lực từ khách hàng, từ thị trường, cổ đông sẽ mở ra nhiều cơ hội cho sự đổi mới mạnh mẽ về mọi mặt của tổ chức cũng như công tác quản trị của tổ chức

Lý thuyết này được đưa vào nghiên cứu cho thấy việc vận dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động tại Cát Linh cần rất nhiều tham gia của lãnh đạo cấp cao, cũng như một hệ thống truyền thông nội bộ hữu hiệu tại đơn vị

Jusoh (2008) với nghiên cứu“The performance consequence of multiple

performance measures usage: evidence from the Malaysian manufacturers” International Journal of Productivity and Performance Management, 57:119 -

136 Kết quả nghiên cứu cho thấy có rất nhiều công ty sản xuất của Malaysia vẫn còn nhiều hạn chế trong việc vận dụng BSC, cụ thể là chỉ tập trung chính vào các thuớc đo tài chính hơn là các thước đo phi tài chính Hầu hết các doanh nghiệp khảo sát đều khẳng định rằng thước đo tài chính không đủ để đo lường hoạt động của công ty và khi công ty kết hợp các thước đo từ cả bốn phương diện của BSC thì hiệu quả hoạt động của họ tốt hơn khi chỉ dựa vào các thước đo cua một phương diện nào đó

2.2 Các nghiên cứu trong nước có liên quan đến mục tiêu của đề tài

Khuất Ngân Hạnh (2015) với nghiên cứu “Xây dựng chỉ tiêu đo lường tổng thể theo bốn khía cạnh thẻ điểm cân bằng tại Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tân Hiệp Phát đến năm 2020” Luận văn thạc sĩ kinh tế, trường đại học

kinh tế TP Hồ Chí Minh Luận văn đã đưa ra các hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong việc vận dụng BSC tại công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Tân Hiệp Phát, từ đó đề xuất các giải pháp xây dựng chỉ tiêu đo lường tổng thể theo bốn khía cạnh thẻ điểm cân bằng tại công ty TNHH thương mại dịch vụ Tân Hiệp Phát đến năm 2020

Hoàng Thị Oanh (2017) với nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống đo lường thành quả hoạt động trên cơ sở vận dụng bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard) tại Công ty TNHH MTV Cao su Hà Tĩnh” Luận văn đánh giá được

Trang 30

những ưu điểm và những vấn đề còn tồn tại trong vận dụng BSC tại Công ty TNHH MTV Cao su Hà Tĩnh, từ đó làm căn cứ đưa ra giải pháp hoàn thiện vận dụng BSC tại Công ty

Lê Thị Kiều Oanh (2017) với nghiên cứu “Vận dụng thẻ điểm cân bằng (Balanced Scorecard) trong đo lường thành quả hoạt động tại Công ty TNHH MTV TM SX Việt Thổ” Luận văn trình bày thực trạng đo lường, đánh giá thành

quả hoạt động tại Công ty TNHH MTV TM SX Việt Thổ trên 4 phương diện: tài chính, khách hàng, quy trình sản xuất kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển, từ phát hiện những hạn chế cũng như nguyên nhân của những hạn chế này Luận văn cũng đề xuất một số phương pháp thực hiện việc xây dựng các mục tiêu và thước

đo lường các mục tiêu trên bốn phương diện tài chính, khách hàng, quy trình kinh doanh nội nộ, học hỏi phát triển Nghiên cứu chủ yếu được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định tính với các phương pháp cụ thể như thống kê mô

tả, phân tích, tổng hợp, so sánh,… và dữ liệu được thu thập bằng bảng câu hỏi khảo sát

2.3 Nhận xét về các nghiên cứu trước

Qua việc lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến

đề tài nghiên cứu có thể nhận thấy nghiên cứu về việc vận dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động của các đơn vị, tổ chức được nhiều tác giả lựa chọn nghiên cứu, kết quả của các nghiên cứu này góp phần hệ thống cơ sở lý thuyết liên đến thẻ điểm cân bằng, sự cần thiết vận dụng thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động của các đơn vị Bên cạnh đó, một số nghiên cứu cũng chỉ

ra những sai lầm có thể gặp trong vận dụng BSC một cách hiệu quả, một số nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố chính yếu có thể tác động đến quá trình lan truyền và chấp nhận sự đổi mới trong tổ chức Các nghiên cứu cũng chỉ ra những

ưu điểm, hạn chế trong đánh giá thành quả hoạt động tại đơn vị nghiên cứu, cũng như những nguyên nhân của những hạn chế vừa nêu trong đánh giá thành quả hoạt động của các đơn vị này, từ đó các nghiên cứu đề xuất các giải pháp phù hợp với tầm nhìn, mục tiêu, chiến lược của đơn vị nghiên cứu trong việc vận dụng BSC để đánh giá thành quả hoạt động

Trang 31

Tuy nhiên, các nghiên cứu trước được thực hiện ở nước ngoài liên quan đến vận dụng BSC hiện vẫn chưa có bằng chứng thực nghiệm về kết quả của các nghiên cứu này ở Việt Nam, hơn nữa do thực hiện ở các quốc gia khác nhau, có điều kiện về kinh tế, xã hội, cũng như lao động khác nhau nên không thể vận dụng rập khuôn kết quả của các nghiên cứu này vào điều kiện Việt Nam nói chung và Công ty xây dựng Cát Linh nói riêng Đối với các nghiên cứu trước được thực hiện ở Việt Nam, mỗi nghiên cứu khác nhau được thực hiện với các đối tượng nghiên cứu, về không gian nghiên cứu cũng như thời gian nghiên cứu khác nhau nên cũng không thể vận dụng hoàn toàn kết quả của các nghiên cứu này vào điều kiện của công ty Cát Linh mà không thực hiện nghiên cứu hay kiểm định lại

2.4 Cơ sở lý thuyết về thẻ điểm cân bằng trong đánh giá thành quả hoạt động 2.4.1 Lý thuyết lãnh đạo sự thay đổi (leading change) của John p Kotter,

1995

Năm 1995, John p Kotter thực hiện nghiên cứu về ứng dụng một số công

cụ, phương pháp quản trị mới để tốt hơn đối thủ cạnh tranh với hơn 100 công ty trên nhiều lĩnh vực và quy mô khác Qua nghiên cứu, tác giả đã chỉ ra tám sai lầm

có thể gặp trong quá trình chuyển đổi, qua phát hiện những yếu tố ảnh hưởng đến

sự thành công của quá trình chuyển đổi tổ chức, tác giả đề xuất các giải pháp để hạn chế tối đa những tác động tiêu cực và khuyến khích các tác động tích cực nhằm đảm bảo cho sự chuyển đổi đi đến thành công và thắng lợi Lý thuyết này

có thể vận dụng vào trong việc nghiên cứu về vận dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động tạo nên quá trình chuyển đổi trong doanh nghiệp và cần phải tránh những sai lầm gì để việc vận dụng BSC được thành công, đem lại hiệu quả cho doanh nghiệp

Trên thực tế, công ty Cát Linh chưa vận dụng BSC vì vậy, việc tổ chức triển khai thực hiện nên chú ý đến 8 sai lầm mà John p Kotter đề cập, từ đó vận dụng BSC một cách hiệu quả, nâng cao chất lượng việc đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh

Trang 32

2.4.2 Lý thuyết về khuếch tán của những đổi mới (Diffusion of innovations) Everett M.Roger, 1995

Roser đã chỉ ra các yếu tố chính yếu có thể tác động đến quá trình lan truyền và chấp nhận sự đổi mới, theo đó, tác giả chỉ ra có 3 nhóm yếu tố chính yếu tác động đến quá trình này gồm:

+ Nhóm yếu tố thuộc về lãnh đạo: Lãnh đạo có tác động rất lớn đến việc chấp nhận sự đổi mới trong tổ chức thông qua thái độ ủng hộ mạnh mẽ, khả năng chỉ đạo, hướng dẫn và tổ chức triển khai thực hiện;

+ Nhóm yếu tố thuộc về tổ chức: Đặc điểm của tổ chức có ý nghĩa quan trọng đến việc lan truyền, triển khai từng ý tưởng, kế hoạch mới Một tổ chức mà việc kết nối, truyền thông, chia sẻ giữa các phòng ban tốt sẽ rất có lợi cho việc truyền bá những đổi mới và ngược lại;

+ Nhóm yếu tố thuộc về bên ngoài: tổ chức hoạt động trong một môi trường sáng tạo và cạnh tranh có thể thúc đẩy việc ứng dụng các sáng kiến, thay đổi mới Hay là những áp lực từ khách hàng, từ thị trường, cổ đông sẽ mở ra nhiều cơ hội cho sự đổi mới mạnh mẽ về mọi mặt của tổ chức cũng như công tác quản trị của tổ chức

Lý thuyết này được đưa vào nghiên cứu cho thấy việc vận dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động tại Cát Linh cần rất nhiều sự quan tâm của lãnh đạo cấp cao và một cơ chế tiếp nhận, chia sẻ thông tin giữa linh hoạt

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương này tác giả tập trung trình bày những nghiên cứu trước liên quan đến vận dụng BSC, giúp tác giả hệ thống được tình hình nghiên cứu hiện nay liên quan đến BSC, cũng như xác định hệ thống cơ sở lý thuyết liên quan đến BSC Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày những nội dung liên quan đến cơ sở lý thuyết của BSC như lịch sử hình thành, khái niệm, sự cần thiết vận dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động của doanh nghiệp, các bước triển khai BSC thành công,…Nhìn chung, tác giả hệ thống lại cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến đề tài, làm nền tảng triển khai thực hiện nghiên cứu

Trang 34

CHƯƠNG 3: KIỂM CHỨNG VẬN DỤNG BSC TRONG ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CÁT LINH - DỰ ĐOÁN

NGUYÊN NHÂN VÀ TÁC ĐỘNG 3.1 Thực trạng về công tác đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh

Ở chương này, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính

để thực hiện nghiên cứu Cụ thể như sau:

- Về thu thập số liệu dùng cho nghiên cứu: Thu thập số liệu liên quan đến các khía cạnh tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển của công ty Cát Linh trong giai đoạn 2015 – 2018 như tình hình hoạt động kinh doanh của Cát Linh giai đoạn 2015-2018, bảng cân đối kế toán rút gọn Công ty Cát Linh năm 2017- 2018, bảng KQHDKD rút gọn Công ty Cát Linh năm 2017- 2018, các chỉ số tài chính công ty Cát Linh năm 2017- 2018, cơ cấu nhân sự công ty năm

2017 và 2018, Luận văn cũng thu thập các thông tin về dữ liệu có liên quan trực tiếp cũng như giáp tiếp đến nội dung đề tài về đánh giá thành quả hoạt động của công ty từ các báo cáo của các cơ quan quản lý về xây dựng, báo, sách, các tài liệu khác đã công bố tại những hệ thống khác nhau, hệ thống mạng Internet có liên quan đến nội dung nghiên cứu Từ những số liệu này, tác giả có căn cứ để phân tích, đánh giá thực trạng đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh Các công cụ sử dụng trong nghiên cứu như:

+ Thống kê: Phương pháp thống kê là cách thức sử dụng nguồn dữ liệu

sẵn có tại đơn vị để tiến hành xử lý, sắp xếp theo một quy luật, trật tự mà tác giả muốn trình bày để giải thích cho thực trạng đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh được sáng rõ hơn bằng chính các kết quả đó Việc này cũng giúp cho tác giả cũng như người đọc có thể dự đoán một số nội dung, diễn biến có thể xảy ra trong tương lai đối với phạm trù đang tìm hiểu

+ Tổng hợp: Từ những kết quả nghiên cứu liên quan đến từng khía cạnh trong việc đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh, tác giả tổng hợp

Trang 35

lại để có nhận thức đầy đủ, đúng đắn cái chung, tìm ra được bản chất, quy luật vận động trong đánh giá thành quả hoạt động tại công ty Cát Linh

+ So sánh, đối chiếu: phương pháp này được sử dụng nhằm nghiên cứu các mối quan hệ bản chất giữa các chỉ tiêu có quan hệ với nhau thông qua việc xem xét mức biến động tương ứng về trị số của các chỉ tiêu qua từng năm của công ty trong giai đoạn nghiên cứu

+ Phân tích: là cách thức sử dụng quá trình tư duy logic để nghiên cứu và

so sánh các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các số liệu, các thông tin thu thập được nhằm đánh giá tính hợp lý hoặc không hợp lý của các thông tin thu thập được liên quan đến đánh giá thành quả hoạt động của công ty Cát Linh

3.1.1 Thực trạng đánh giá thành quả tài chính

3.1.1.1 Tình hình tài chính của công ty

Hoạt động chủ yếu của Cát Linh hiện nay vẫn là ở trong lĩnh vực xây lắp, với doanh thu xây lắp chiếm đến 90% tổng doanh thu Về cơ cấu doanh thu xây lắp ở bốn phân khúc: xây dựng nhà xưởng, trung tâm thương mại, cao ốc văn phòng, chung cư cao cấp và khách sạn, resort Trong đó, phân khúc cao ốc văn phòng, trung tâm thương mại đây hiện là hai mảng hoạt động tạo doanh thu chính cho công ty

Bảng1: Doanh thu theo loại công trình thi công năm 2018

Loại

công trình

Doanh thu (đồng)

Tỷ lệ doanh thu (%)

Trang 36

Tổng 3.229.969.675.619 100

(Nguồn: Số liệu từ phòng kế toán – công ty Cát Linh)

Hình 3.1 : Cơ cấu doanh thu được phân loại theo các loại hình công trình

của Cát Linh năm 2018

(Nguồn: Số liệu phòng kế toán – tác giả tổng hợp)

Kể từ năm 2015,Cát Linh có mức tăng trưởng bền vững và ổn định Doanh thu, lợi nhuận và thu nhập của người lao động ngày càng tăng Tình hình doanh thu và lợi nhuận của Cát Linh từ năm 2015 đến 2018như sau:

Bảng2 : Tình hình hoạt động kinh doanh của Cát Linh giai đoạn

2015-2018

ĐVT: đồng

Tài sản 242.577.645.026 372.877.960.400 929.297.203.024 1.393.945.804.536 Doanh thu 36.525.646.910 157.554.311.685 828.197.352.723 3.229.969.675.619 Lợi nhuận -1.881.863.802 3.904.625.608 28.383.115.276 141.915.576.380

(Nguồn: Số liệu từ phòng kế toán – công ty Cát Linh)

Phân tích cụ thể tình hình tài chính của Cát Linh trong năm 2017 và 2018 như sau:

Bảng 3:Bảng cân đối kế toán rút gọn Công ty Cát Linh năm 2017- 2018

ĐVT: đồng

Trang 37

BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN

Tài sản ngắn hạn

807.009.102.009

1.175.904.850.181 1.Tiền và các khoản tương đương

tiền

13.130.211.047

33.221.955.075 2.Các khoản đầu tư tài chính ngắn

135.958.138.823 4.Hàng tồn kho

715.154.940.162

971.593.647.770 5.Tài sản ngắn hạn khác

8.227.073.065

35.125.176.292 Tài sản dài hạn

122.288.101.015

218.040.954.355

1 Tài sản cố định

101.403.299.151

165.432.882.803

2 Các khoản đầu tư tài chính dài

16.388.807.337

3 Tài sản dài hạn khác

20.884.801.864

36.219.264.215 Tổng cộng tài sản

929.297.203.024

1.393.945.804.536

Nợ phải trả

818.048.614.977

1.197.754.193.822

1.112.005.203.586

2 Nợ dài hạn

34.844.608.834

85.748.990.237 Vốn chủ sở hữu

111.248.588.047

196.191.610.714 1.Vốn chủ sở hữu

108.731.360.564

196.189.615.328 Vốn đầu tư của chủ sở hữu

88.990.475.491

163.876.082.598 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

19.740.885.072

32.313.532.729

2 Nguồn kinh phí và quỹ khác

Tổng cộng nguồn vốn

929.297.203.024

1.393.945.804.536

(Nguồn: Báo cáo kiểm toán công ty Cát Linh2017- 2018)

Bảng 4 : Bảng KQHDKD rút gọn Công ty Cát Linh năm 2017- 2018

Trang 38

3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung

10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh

14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 35.478.894.095 177.394.470.475

17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh

(Nguồn: Báo cáo công ty Cát Linh2017 - 2018)

3.1.1.2 Đánh giá thành quả hoạt động ở khía cạnh tài chính

Các chỉ tiêu tài chính được sử dụng trong đánh giá thành quả hoạt động của

công ty ở khía cạnh tài chính thể hiện như sau:

Bảng 5 : Bảng chỉ số tài chính công ty Cát Linh năm 2017- 2018

ST

1 Tài sản ngắn hạn

824.721.467.644

1.287.148.667.261

2 Nợ ngắn hạn

783.204.006.143

1.112.005.203.586

3 Tiền

13.130.211.047

33.221.955.075

4 Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

4.135.178

5.932.220

Trang 39

5 Lợi nhuận sau thuế

28.383.115.276

141.915.576.380

6 Tổng tài sản

929.297.203.024

1.393.945.804.536

7 Vốn chủ sở hữu

111.248.588.047

196.191.610.714

8 Chỉ số thanh toán hiện hành (8=1/2) 1,05

1,16

9 Chỉ số thanh toán nhanh (9=(3+4)/2) 0,02

0,03

10 ROA (10=5/6*100) 3,05

10,18

11 ROE (11=5/7*100)

25,51

72,34

12 Lợi nhuận gộp

57.759.102.986

292.120.989.019

13 Lợi nhuận thuần

35.951.658.802

145.568.141.305

14 Doanh thu thuần

828.197.352.723

3.229.969.675.619

(Nguồn: báo cáo công ty Cát Linhnăm 2017- 2018)

Bảng 6 : Bảng so sánh doanh thu – lợi nhuận công ty Cát Linh năm 2017-

Số tương đối

Doanh thu

thuần

828.197.352.723

3.229.969.675.619 2.401.772.322.896 2,9

Lợi nhuận sau

thuế

28.383.115.276

141.915.576.380

113.532.461.104 4

(Nguồn: báo cáo công ty Cát Linhnăm 2017- 2018)

Từ bảng trên cho thấy, nhìn chung tình hình kinh doanh của công ty khả

quan, ổn định với doanh thu và lợi nhuận nhanh và mạnh trong giai đoạn 2017-

2018, cụ thể doanh thu năm 2018 tăng trưởng gấp 2.9 lần so với năm 2017, lợi

nhuận tăng trưởng gấp 4 lần so với năm 2017 Tuy nhiên chỉ nhìn nhận vào các

chỉ số tài chính này thì không thể đánh giá một cách chính xác thực trạng chung

Trang 40

của công ty trong thời điểm này Cụ thể, theo số liệu có được thì doanh thu năm

2018 tăng vượt bậc so với năm 2017, vì doanh thu tăng nên có thể hiểu các khoản mục khác như hàng tồn kho, chi phí, cơ cấu nhân sự cũng tăng lên, suy cho cùng nguyên nhân của sự thay đổi là do doanh thu tăng Như vậy, nếu công ty phân tích theo phương pháp cũ thì công ty không thể nhìn nhận, dự đoán hay đánh giá được thành quả của công ty, điều này phần nào cho thấy nhược điểm trong cách đánh giá thành quả hoạt động hiện nay của công ty, từ đó đặt ra yêu cầu vận dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động trong thời gian tới

- Ưu điểm: Hiện nay Cát Linh vẫn chỉ đặt sự quan tâm vào các chỉ tiêu tài

chính truyền thống để đánh giá thành quả hoạt động tài chính của công ty Ban giám đốc chú trọng vào việc làm thế nào để gia tăng lợi nhuận của công ty, thể

hiện qua các chỉ tiêu cơ bản sau:

- Khả năng thanh toán hiện hành;

- Khả năng thanh toán nhanh;

- Khả năng thanh toán bằng tiền;

- Vòng quay khoản phải thu;

- Kỳ thu tiền bình quân;

- Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA);

- Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE);

- Tỷ suất lợi nhuận gộp/Doanh thu thuần;

- Tỷ suất lợi nhuận ròng/Doanh thu thuần

- Nhược điểm: Những nhược điểm trong đánh giá thành quả hoạt động của công ty ở khía cạnh tài chính thể hiện ở những điểm như:

+ Sự đánh giá, nhìn nhận vấn đề tài chính tại công ty đơn thuần là nhiệm

vụ của một số bộ phận nhất định

+ Công ty chưa có một mục tiêu tài chính cụ thể để đo lường thành quả đạt được có đúng định hướng của công ty, hiện nay công ty có sử dụng một số chỉ tiêu tài chính để đo lường hiệu quả hoạt động tài chính của năm hiện tại chủ yếu dựa vào Báo cáo KQHDKD và Cân đối kế toán Việc đánh giá tình hình tài chính

Ngày đăng: 08/11/2019, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w