1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác động của vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp việt nam

80 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì sự quan trọng của việc quản lý vốn luân chuyển, mà tác giả đã thực hiện bài nghiên cứu này tại thị trường Việt Nam, để kiểm định, liệu các giả thuyết sự tác động của vốn luân chuyển,

Trang 1

NGUYỄN VĂN ĐÌNH THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ

KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 3

TRANG PHỤ BÌA

NGUYỄN VĂN ĐÌNH THƯƠNG

TÁC ĐỘNG CỦA VỐN LUÂN CHUYỂN VÀ KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA

CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài Chính – Ngân hàng (hướng ứng dụng)

Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS LÊ THỊ LANH

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2019

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Nguyễn Văn Đình Thương – là học viên lớp Cao học Khóa 27 chuyên ngành Tài chính, Khoa Tài chính, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh,

là tác giả của Luận văn thạc sĩ kinh tế với đề tài “Tác Động Của Vốn Luân Chuyển

Và Khả Năng Sinh Lợi Của Các Doanh Nghiệp Việt Nam”

Tôi xin cam đoan rằng, tất cả nội dung xuất hiện trong bài nghiên cứu này, hoàn toàn là kết quả độc lập của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học Trong luận văn có sử dụng trích dẫn, số liệu, hay kết quả kế thừa từ những nghiên cứu đi trước, đều được trích nguồn, và tên tác giả Các số liệu, tính toán, và mô hình đề xuất trong bài nghiên cứu hoàn toàn khách quan và mang tính trung thực

Học viên thực hiện Chữ ký

NGUYỄN VĂN ĐÌNH THƯƠNG

Trang 5

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

TÓM TẮT

ABSTRACT

Chương 1 Giới Thiệu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu luận văn 4

Chương 2 Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây 6

2.1 Khung lý thuyết 6

2.1.1 Vốn luân chuyển 6

2.1.2 Khả năng sinh lợi 8

2.1.3 Sự tác động của việc quản lý hiệu quả vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi 9

2.2 Các nghiên cứu trước đây 10

2.2.1 Nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006) 10

2.2.2 Nghiên cứu của Zubairi (2010) 12

2.2.3 Nghiên cứu của Panigrahi (2013) 13

Trang 6

2.2.4 Nghiên cứu của Mawutor (2014) 15

2.2.5 Nghiên cứu của Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) 17

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu 23

3.1 Giả thuyết nghiên cứu 23

3.2 Mô hình nghiên cứu và mô tả biến 25

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 25

3.2.2 Mô tả biến 25

3.3 Nguồn dữ liệu 31

3.4 Ước lượng mô hình 31

3.4.1 Thống kê mô tả 31

3.4.2 Các kiểm định 32

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 35

4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 36

4.2 Các kiểm định 39

4.2.1 Kiểm định hiện tượng tự tương quan 39

4.2.2 Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 40

4.2.3 Kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi 40

4.3 Tác động của kỳ thu tiền đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp 41

4.3.1 Không có yếu tố ngành 41

4.3.2 Có yếu tố ngành 42

4.4 Tác động của kỳ lưu kho đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp 44

4.4.1 Không có yếu tố ngành 44

4.4.2 Có yếu tố ngành 45

4.5 Tác động của kỳ phải trả đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp 46

4.5.1 Không có yếu tố ngành 46

Trang 7

4.5.2 Có yếu tố ngành 47

4.6 Tác động của chu kỳ luân chuyển tiền đến khả năng sinh lợi doanh nghiệp 48

4.6.1 Không có yếu tố ngành 48

4.6.2 Có yếu tố ngành 49

Chương 5 Kết luận và khuyến nghị 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Khuyến nghị 54

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Các kết quả chạy từ phần mềm Eview 8.1

Phụ lục 2: Danh sách các công ty niêm yết theo từng ngành được lựa chọn để đưa vào nghiên cứu

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

CCC: Cash Conversion Cycle

DR: Financial Debt Ratio

FAR: Fixed Financial Assets Ratio

GOP: Gross Operating Profit

HNX: Hanoi Stock Exchange

HOSE: Ho Chi Minh Stock Exchange

IP: Number of Days of Inventory

PP: Number of Days of Accounts Payables

RP: Number of Days of Accounts Receivables

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp 19Bảng 3.1: Bảng thể hiện kỳ vọng dấu của các biến độc lập và kiểm soát trong mô hình 24Bảng 3.2: Bảng tổng hợp tất cả biến được đưa vào mô hình nghiên cứu 29Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả 36Bảng 4.2: Bảng phân tích tương quan tác động kỳ thu tiền lên khả năng sinh lợi 39Bảng 4.3: Bảng kiểm định White tác động kỳ thu tiền lên khả năng sinh lợi 40Bảng 4.4: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của kỳ thu tiền 42Bảng 4.5: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của kỳ thu tiền, có yếu tố ngành 43Bảng 4.6: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của kỳ lưu kho 44Bảng 4.7: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của kỳ lưu kho, có yếu tố ngành 45Bảng 4.8: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của kỳ phải trả 46Bảng 4.9: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của kỳ phải trả, có yếu tố ngành 47Bảng 4.10: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của chu kỳ luân chuyển tiền 49Bảng 4.11: Bảng phân tích hồi quy sự tác động của chu kỳ luân chuyển tiền, có yếu

tố ngành 50Bảng 4.12: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu, bỏ qua yếu tố ngành 51Bảng 4.13: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu, có yếu tố ngành 52

Trang 10

TÓM TẮT

Quản lý vốn luân chuyên là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng và cấp bách mà các công ty đang hướng tới Quản lý vốn luân chuyển hiệu quả giúp doanh nghiệp có thể thực hiện mục tiêu chính của mình đó là tối đa hóa lợi nhuận,

và tối thiểu hóa chi phí Chính vì vậy, các công ty rất mong muốn mình có thể sở hữu được các giám đốc tài chính tài ba, giúp doanh nghiệp mình hoàn thành được mục tiêu quản lý vốn luân chuyển theo một phương thức hiệu quả nhất có thể, vì lẽ

dĩ nhiên, quản lý vốn luân chuyển, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp hiện nay Vì sự quan trọng của việc quản lý vốn luân chuyển, mà tác giả đã thực hiện bài nghiên cứu này tại thị trường Việt Nam, để kiểm định, liệu các giả thuyết sự tác động của vốn luân chuyển, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp có thể được áp dụng ở Việt Nam hay không? Doanh nghiệp có thể làm gì để giúp gia tăng lợi nhuận thông qua việc quản lý vốn luân chuyển? Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để thực hiện kiểm định sự tác động của việc quản lý vốn luân chuyển, được đo lường bằng chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, và kỳ phải trả, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp, áp dụng cho các công ty phi tài chính, niêm yết trên 2 sàn chứng khoán HOSE và HNX Bài nghiên cứu đã tìm ra được rằng, có một sự tác động nghịch biến của các yếu tố đo lường việc quản lý vốn luân chuyển, lên tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp, đại diện cho khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Các doanh nghiệp có thể dựa vào kết quả nghiên cứu để áp dụng, khi muốn nâng cao khả năng sinh lợi của doanh nghiệp mình

Từ khóa: Vốn luân chuyển, khả năng sinh lợi, chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, kỳ phải trả

Trang 11

ABSTRACT

Working capital management is really important and urgent to the business Working capital management can help the company achieve the main duties which are to maximize the profit, and minimize the cost Therefore, the company completely wants to employ an talented CFO who can achieve efficiently working capital management, and actually, working capital management affects the profitability really much Due to the importance of this issue, the author made this paper to find out whether the hypothesis of the impact of working capital and the profitability of Vietnamese company, and which action the company can take to improve the profitability The paper uses regression analysis test the impact of working capital, which is measured by cash conversion cycle, accounts receivables cycle, inventory cycle, and accounts payables cycle, to the profitability, which is measured by gross operating profit The analysis is applied to non-financial company which is listed on HOSE and HNX The analysis shows that there is an negative impact of the factors, which is used to measure working capital management, to gross operating profit, which is used to measure the profitability The company can use the result to set an strategy for improving the profitability

Keywords: Working capital, profitability, cash conversion cycle, accounts receivables cycle, inventory cycle, and accounts payables cycle

Trang 12

Chương 1 Giới Thiệu

1.1 Lý do chọn đề tài

Quản lý vốn luân chuyên là một trong những vấn đề cực kỳ quan trọng và cấp bách mà các công ty đang hướng tới Quản lý vốn luân chuyển hiệu quả giúp doanh nghiệp có thể thực hiện mục tiêu chính của mình đó là tối đa hóa lợi nhuận,

và tối thiểu hóa chi phí Chính vì vậy, các công ty rất mong muốn mình có thể sở hữu được các giám đốc tài chính tài ba, giúp doanh nghiệp mình hoàn thành được mục tiêu quản lý vốn luân chuyển theo một phương thức hiệu quả nhất có thể, vì lẽ

dĩ nhiên, quản lý vốn luân chuyển, sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp hiện nay

Trên hoạt động kinh doanh thường nhật của các doanh nghiệp Việt Nam, việc duy trì khả năng thanh khoản, hay nói cách khác việc quản lý hiệu quả của vốn luân chuyển là một điều kiện tiên quyết giúp các doanh nghiệp tại Việt Nam có thể đứng vững và phát triển Vốn luân chuyển không chỉ ảnh hưởng đến các kế hoạch trong ngắn hạn của doanh nghiệp được thực hiện tốt đẹp, mà còn đảm bảo những kế hoạch dài hạn trong tương lai mà đã được các giám đốc tài chính của doanh nghiệp hướng tới

Theo một nghiên cứu gần đây cho thấy các doanh nghiệp Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2013 – 2017 đã có sự tăng trưởng đáng ngưỡng mộ, đơn

cử, mức độ tăng trưởng trong giai đoạn này là đạt khoảng 6,1%, sự phát triển này đi đôi với các chính sách tiền tệ cũng như việc điều tiết vớn FDI của chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tại Việt Nam

Tuy nhiên, chúng ta vẫn không thể phủ nhận thực trạng rằng chu kỳ luân chuyển tiền mặt của các công ty đang hoạt động kinh doanh tại Việt Nam, đang kéo dài ra trong giai đoạn 2013 – 2017, chu kỳ tiền mặt đã kéo dài ra thêm 6 ngày, chính điều này đã cho thấy một sự yếu kém trong quản lý vốn luân chuyển của các nhà quản lý doanh nghiệp Mặc khác, phần lớn nguồn vốn luân chuyển, xuất phát từ việc các doanh nghiệp đi vay mượn từ các tổ chức tín dụng, hay việc các doanh

Trang 13

nghiệp phát hành một cách “vô tội vạ” cổ phiếu và trái phiếu, chứ không phải thực chất từ bản thân nội tại của các doanh nghiệp

Hàng loạt các doanh nghiệp Việt Nam, đang niêm yết trên sàn chứng khoán, đang có xu hướng phát hành các cổ phiếu có giá thấp để nhằm mục đích có thêm nhiều nhà đầu tư, đặt tài sản của mình cho công ty, các cổ phiếu được chào bán với giá rất thấp, và gần như là “cho không biếu không” Nếu nhìn theo cái nhìn dài hạn thì việc các doanh nghiệp Việt phát hành nhiều cổ phiếu với giá thấp, hay nói cách khác là hiện tượng “pha loãng cổ phiếu”, một cách “hết sức lạm dụng” và “vô tội vạ”

sẽ làm ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu thu được ở các năm tiếp theo

Như vậy việc quản lý hiệu quả vốn luân chuyển sẽ có những tác động như thế nào đến các công ty Việt Nam? Có sự khác biệt gì giữa một doanh nghiệp quản

lý thật hiêu quả vốn luân chuyển với một doanh nghiệp chưa làm tốt công tác này?

Sự thật là các doanh nghiệp quản lý tốt vòng quay vốn luân chuyển, sẽ rút ngắn thời gian quay vòng của đồng vốn xuống còn khoảng 12 ngày, thấp hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp chưa thật sự làm tốt công tác này, giảm số ngày luân chuyển xuống thấp hơn gấp 20 lần Một doanh nghiệp có khả năng chủ động trong việc quản lý hiểu quả vốn luân chuyển sẽ thật sự giúp cho doanh nghiệp mình ít phụ thuộc vào các đồng vốn vay mượn từ các tổ chức tín dụng cũng như vay mượn từ công chúng thông qua các hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu Như vậy các doanh nghiệp Việt Nam đang gặp khó khăn ở khâu nào để có thể làm tốt công tác quản lý vốn luân chuyển Cốt lõi chính nằm ở việc quản lý các khoản phải thu của khách cũng như việc quản lý hàng tồn kho của doanh nghiệp, chỉ khi doanh nghiệp

có thể chủ động lên kế hoạch quản lý những thông số liên quan đến khoản phải thu, cũng như các thông số về hàng tồn kho, doanh nghiệp mới có thể từng bước cải thiện số ngày trong chu kỳ quay của vốn luân chuyển

 Nguồn: https://www.pwc.com/vn/vn/media/press-release/wcm_study_press%20release_vn.pdf

Trang 14

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Bài nghiên cứu này nhằm mục đích tìm ra rằng, có một sự tác động của việc quản lý vốn luân chuyển, lên khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Việt Nam, thông qua việc sử dụng mô hình hồi quy nhiều biến, cho các doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết trên hai sàn chứng khoán lớn nhất Việt Nam, là HOSE và HNX Dựa trên kết quả có được từ mô hình hồi quy, tác giả sẽ đưa ra những khuyến nghị cho hướng phát triển sắp tới của doanh nghiệp, cũng như việc mở rộng đề tài nghiên cứu này

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Kết quả bài nghiên cứu nhằm giải quyết những câu hỏi sau,

Thứ nhất, liệu rằng có một sự tác động nào trong việc quản lý vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp? Nếu có tồn tại, thì tác động đó sẽ là đồng biến, hay nghịch biến?

Thứ hai, các doanh nghiệp Việt Nam có thể có những cách thức như thế nào

để giúp gia tăng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp mình?

1.4 Phạm vi nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng các công ty phi tài chính được niêm yết trên hai sàn chứng khoán lớn nhất Việt Nam, là Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (Ho Chi Minh Stock Exchange – HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (Hanoi Stock Exchange), với giai đoạn nghiên cứu 2015-2018, và tổng số công

ty được lựa chọn là 30 công ty, kèm danh sách các công ty cụ thể tại phụ lục 2 Các nhóm ngành được đưa vào mô hình là nhóm ngành kỹ thuật xây dựng, chăm sóc sức khỏe và hàng tiêu dùng Các công ty có hoạt động kinh doanh thuộc nhóm ngành này được đánh giá là có một sự yếu kém trong công tác quản lý vòng quay của vốn luân chuyển Chúng ta cũng không quên nhắc đến các nhóm ngành có những bước chuyển mình mạnh mẽ, đi tiên phong trong việc làm tốt công tác quản lý vốn luân

Trang 15

chuyển, đó là các doanh nghiệp thuộc nhóm ngành năng lượng – tiện ích khác, dầu

mỏ – khí đốt, và nhóm ngành thương mai, với mức ghi nhận khoảng tăng khoảng 15% một năm, bên cạnh đó, các nhóm ngành công nghệ – truyền thông, hàng tiêu dùng,

và nhóm ngành kim loại – khai khoáng, lại được ghi nhận với mức sụt giảm khoảng 10% một năm

Vậy thì với việc tồn động của tiền mặt, thông qua việc quản lý yếu kém vốn luân chuyển có thể được giải phóng ra như thế nào nếu các doanh nghiệp Việt Nam thay đổi bộ máy quản lý nguồn vốn Đồng thời đứng trước thách thức nguồn vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam ngày càng nhiều, thông qua việc đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài, với tiềm lực kinh tế hùng hậu Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải thay đổi như thế nào để có thể bắt kịp đà tăng trưởng của kinh tế trong thời đại phát triển mạnh mẽ như hiện nay Tất cả sẽ xuất hiện trong bài nghiên cứu này

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Bài nghiên cứu áp dụng mô hình hồi quy sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square – OLS) để nêu lên sự tác động của quản lý vốn luân chuyển, được đại diện bởi việc quản lý hiện quả chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, và kỳ phải trả, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Từ mô hình hồi quy, các tác động đồng biến, hay nghịch biến sẽ được thể hiện thông qua các hệ số

1.6 Kết cấu luận văn

Bài nghiên cứu được kết cấu bao gồm 5 chương,

Chương 1: Giới thiệu, như đang được trình bày tại đây

Chương 2: Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, nêu lên các lý thuyết cơ bản về các thuật ngữ được sử dụng trong bài nghiên cứu, bên cạnh đó, nêu lên các nghiên cứu liên quan trước đây, đã từng được thực hiện ở trong, và ngoài nước Việt Nam

Trang 16

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu, nêu lên các giả thuyết của mô hình, và

mô tả các biến sẽ xuất hiện trong mô hình hồi quy, đồng thời nêu cụ thể nguồn dữ liệu được sử dụng để thực hiện mô hình nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu, nêu lên các kết quả được thể hiện trong mô hình về sự tác động của việc quản lý vốn luân chuyển, đại diện bởi chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, và kỳ phải trả, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị, dựa trên kết quả thu được tác giả đưa ra những khuyến nghị, cũng như hướng mở rộng bài nghiên cứu này, thông qua việc nghiên cứu sự tác động của một số yếu tố khác đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, từ đó, có thể giúp doanh nghiệp cải thiện khả năng sinh lợi của mình, bằng việc cải thiện các yếu tố có tác động đến việc tạo ra lợi nhận của công ty mình

Trang 17

Chương 2 Khung lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

2.1 Khung lý thuyết

2.1.1 Vốn luân chuyển

Có rất nhiều khái niệm được các nhà kinh tế học đưa ra để định nghĩa về vấn

đề kinh tế vốn luân chuyển, chúng ta hãy cùng điểm ra một số định nghĩa đã được

đề xuất Guthmann (1953) đã đề xuất “Vốn luân chuyển là sự chênh lệch giữa tổng tài sản và tổng nguồn vốn”, còn Hoglend và Adams (1962) lại định nghĩa như sau

“Vốn luân chuyển không cố định , nhưng cơ bản có thể định nghĩa vốn này như là

sự chênh lệch giữa giá trị sổ sách của tổng tài sản và tổng nguồn vốn Bên cạnh đó, Weston và Brigham (1975) cũng đề xuất rằng “Vốn luân chuyển là việc công ty đầu

tư vào tài sản ngắn hạn, như tiền và các chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu

và hàng tồn kho”, trong khi đó, Kuchhal (1982) lại định nghĩa vốn luân chuyển theo một hướng khác, như sau “Tổng vốn luân chuyển có thể được dùng để nói đến tổng tài sản, còn vốn luân chuyển thực thì lại được dùng để nói đến thặng dư giữa tổng tài sản và tổng nguồn vốn”

Như vậy dù nói theo cách nào thì vẫn không thể phủ nhận được giá trị thực của vốn luân chuyển, là tổng hòa giá trị của tất cả các tài sản lưu động trong một doanh nghiệp Một chu kỳ chuyển động, hay nói cách khác là vòng quay vốn luân chuyển sẽ được khởi đầu từ tiền mặt hoặc các khoản tương đương tiền mặt như tiền gửi tại các ngân hàng, chuyển hóa thành hàng tồn kho và các khoản phải thu, và cuối chu kỳ sẽ chuyển hóa về dạng ban đầu đó chính là tiền mặt Như vậy, một doanh nghiệp, nếu muốn quản lý hiệu quả vốn luân chuyển, thì nên băt đầu từ việc quản lý, hay nói các khác rút ngắn thời gian chuyển đổi từ hàng tồn kho, và các khoản phải thu của người bán trở về dạng tiền mặt hoặc các khoản tương được tiền, như vậy các doanh nghiệp mới có thể nhan lấy lại nguồn vốn để có thể tiếp tục thực hiện việc kinh doanh, và tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì tính tất yếu đó,

mà một doanh nghiệp hoàn toàn có thể thực hiện tốt việc tối đa hóa lợi nhuận của mình, thông qua việc bắt đầu cải thiện và rút ngắn vòng quay vốn luân chuyển Như

Trang 18

vậy các doanh nghiệp cần phải hiểu rõ các yến tố xuất hiện trong vốn luân chuyển

là gì và các yếu tố đó vận động ra sao

Tiền mặt của công ty bao gồm tiền mặt trong tay và các khoản tương đương tiền Nếu chúng ta nói một chu kỳ của vốn luân chuyển, khởi đi bằng tiền mặt và chốt lại cũng bằng tiền mặt, như vậy chẳng khác nào các doanh nghiệp cứ nắm giữ tiền mặt và không chuyển hóa tiền mặt thành các hoạt động kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp giảm chu kỳ của một vòng quay vốn lưu động Hiểu như vậy là hoàn toàn sai, bởi vì mục địch của các doanh nghiệp là tối đa hóa hết mức lợi nhuận của mình, và như vậy doanh nghiệp buộc lòng phải chuyển hóa tiền mặt thành việc sản xuất kinh doanh, và rút ngắn việc chuyển hóa quá trình sản xuất kinh doanh thành tiền mặt, nhờ đó có thể rút ngắn vòng quay vốn luân chuyển Như vậy thì việc doanh nghiệp chỉ nắm giữ tiền mặt và không chuyển hóa thành hoạt động kinh doanh, sẽ làm cho doanh nghiệp không thể thực hiện được mục tiêu tốt đa hóa lợi nhuận và không thể tồn tại trong một nền kinh tế phát triển như hiện tại

Để giúp doanh nghiệp có thể gia tăng lợi nhuận và tạo được các mối quan hệ tốt với khách hàng, các doanh nghiệp buộc lòng phải sử dụng chính sách “bán chịu”, điều này sẽ làm lượng tiền mặt trong danh mục các khoản phải thu của doanh nghiệp tăng lên Như vậy, một doanh nghiệp nếu muốn tối đa hóa lợi nhuận, thì không chỉ phải sử dụng danh mục các khoản phải thu, mà còn phải biết cách quản lý thật hiệu quả danh mục này, nhờ đó có thể làm rút ngắn vòng quay của vốn luân chuyển Tuy nhiên việc quản lý danh mục vốn luân chuyển có thể tạo nhiều rủi ro cho doanh nghiệp, lấy đơn cử, các khoản phải thu này có thể chuyển hóa thành các khoản nợ phải thu khó đòi, gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc xoay vòng đồng vốn của các doanh nhiệp hiện nay

Hàng tồn kho sẽ bao gồm các nguyên vật liệu, các công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, và các thành phẩm lưu kho Hàng tồn kho được xem như là yếu tố không thể thiếu của doanh nghiệp nếu muốn phát triển kinh doanh, quảng bá và đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng Nếu nói như vậy, doanh nghiệp chỉ cần sản xuất

ra thật nhiều sản phẩm, thành phẩm, rồi lưu trữ, là có thể chiếm lĩnh được thị trường,

Trang 19

chiếm lĩnh được người tiêu dùng Hiểu như vậy thì hoàn toàn sai, vì nếu thành phẩm không có khả năng chuyển hóa lại thành tiền mặt, nói cách khác doanh nghiệp không thể tìm được đầu ra cho các sản phẩm mình sản xuất, thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến lợi nhuận, chi phí, và vòng quay vốn luân chuyển của doanh nghiệp Như vậy, việc tạo ra sản phẩm lưu kho cực kỳ quan trọng, nhưng việc quản lý đầu ra cho sản phẩm lại càng quan trọng hơn, nếu các giám đốc doanh nghiệp không am hiểu thị trường, cũng như nhu cầu của người tiêu dùng, thì hàng hóa tồn kho sẽ trở thành con dao hai lưỡi, gây ảnh hưởng nghiêm trọng, với tác động trực tiếp lên lợi nhuận doanh nghiệp, và vòng quay vốn luân chuyển trong doanh nghiệp

2.1.2 Khả năng sinh lợi

Khi nói đế thuật ngữ khả năng sinh lợi, có một bộ phân không nhỏ đã lầm tưởng thuật ngữ này, với thuật ngữ lợi nhuận của doanh nghiệp Nhìn chung mà nói, không có một sự khác biệt quá lớn giữa hai khái niệm này, tuy nhiên chúng ta có thể hiểu rằng, thuật ngữ lợi nhuận doanh nghiệp là một thuật ngữ mang tính tuyệt đối, trong khi thuật ngữ về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, lại là một thuật ngữ tương đối Lord Keynes đã từng phát biểu rằng “Lợi nhuận là một nhân tố để thúc đẩy quá trình kinh doanh của doanh nghiệp” Bên cạnh đó, Weston và Brigham cũng đã từng phát biểu như sau “Cho việc quản lý tài chính, lợi nhuận là một bài kiểm tra cho sự hiệu quả và thước đo cho việc quản lý, trong khi đối với chủ hưởng lợi, nó lại là thước đó cho giá trị của việc đầu tư , còn đối với người cho vay, nó là biên cho sự an toàn, đối với chính phủ, nó là thước đo cho khả năng chịu thuế và là

cơ sở cho việc lập pháp, cuối cùng, đối với một quốc gia, lợi nhuận là một chỉ số được dùng trong tiến trình của nền kinh tế, thu nhập quốc dân, và sự nâng cao chất lượng cuộc sống” Hay nói theo một cách khác, lợi nhuận của doanh nghiệp được tính toán bằng một con số cụ thể, và được xác định như là hiệu số giữa tổng doanh thu và tổng lợi nhuận của doanh nghiệp Nó chỉ đơn giản là một phép tính, và không chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác, ngoài hai yếu tố được nêu ra ở đây

Trang 20

Trong khi đó, nếu nói về khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, có rất nhiều ý kiến khác nhau, đơn cử có thể kể đến, Harward và Upton (1961) khi phát biểu rằng

“Khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là một khoản đầu tư để thu lợi nhuận từ việc đầu tư đó” Trong khi đó, Kulshrestha đã nói “Lợi nhuận của hai doanh nghiệp riêng biệt, có thể được xác định một cách rạch ròi, và nếu, việc xác định lợi nhuận diễn ra nhiều lần, thì nó sẽ làm cho khả năng sinh lợi thay đổi khi được đo lường trong quy mô đầu tư”

Như vậy khả năng sinh lợi, mặc dù có một mối liên hệ với lợi nhuận doanh nghiệp, nhưng thuật ngữ này vẫn bao hàm ý nghĩa riêng của nó Khả năng sinh lợi,

là đại lượng có thể dược định nghĩa dựa trên lợi nhuận của doanh nghiệp, đặt trong mối liên hệ với quy mô của công ty Khả năng sinh lợi là một thước đo cho sự hiệu quả kinh doanh, là nhân tố để xác định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp Bàn sâu hơn về vấn đề khả năng sinh lợi, chúng ta có thể nhìn nhận yếu tố này như

là khả năng kinh doanh của doanh nghiệp, trong việc tạo ra lợi nhuận từ việc đầu tư kinh doanh, so với các khoản đầu tư kinh doanh khác Và chúng ta hoàn toàn có thể phát biểu rằng, một doanh nghiệp có khả năng tạo ra lợi nhuận, nhưng điều đó không có nghĩa là nó có khả năng sinh lợi

2.1.3 Sự tác động của việc quản lý hiệu quả vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi

Eljelly (2004) đã từng phát biểu rằng “Việc quản lý hiệu quả vốn luân chuyển, sẽ bao hàm cả việc lên kế hoạch, và quản lý tổng tài sản cũng như nguồn vốn, theo cách loại bỏ rủi ro, từ việc không có khả năng, nhằm mục đích không chỉ

có thể đạt được mục tiêu trong ngắn hạn, mà còn loại bỏ được các khoản đầu tư quá mức trên tài sản” Bên cạnh đó, Smith (1980) cũng đã từng bàn luận về vấn đề này như sau “Việc quản lý vốn luân chuyển quan trọng vì nó ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi, và cả việc gây rủi ro cho công ty”

Như vậy chúng ta có thể thấy được tác động của việc quản lý hiệu quả vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Một doanh nghiệp muốn phát

Trang 21

triển hiệu quả thì không thể nào bỏ qua vấn đề quản trị vốn luân chuyển trong công

ty Lấy đơn cử, doanh nghiệp muốn gia tăng khả năng sinh lợi của mình, thì việc tối thiểu trước hết là phải làm sao để chu kỳ luân chuyển tiền của minh được rút ngắn, hay nói cách khác, phải làm sao để các khoản phải thu trong doanh nghiệp được rút ngắn, nhằm mục đích hạn chế các khoản nợ khó đòi, và có thể thu hồi được tiền một cách nhanh nhất có thể Tiền đó lại được sử dụng cho mục đích tái đầu tư, hay cho các chu kỳ kinh doanh mới của doanh nghiệp

Hay có thể nói đơn cử về hàng tồn kho, doanh nghiệp ngoài mặt gia tăng khả năng sản xuất của mình, còn phải tìm đầu ra cho các sản phẩm mình sản xuất được, nhằm mục đích hạn chế thêm một khoản chi phí cho việc lưu kho, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất thực phẩm và đồ uống, vì những mặt hàng này, không thể lưu kho quá lâu Nếu các mặt hàng thực phẩm và đồ uống này

bị lưu kho quá lâu, thì doanh nghiệp không những bị tốn chi phí lưu kho, còn phải tốn thêm chi phí sản xuất cho những mặt hàng này, khi nó đã hết hạn sử dụng Và như vậy, tiền đầu tư cho công tác sản xuất kinh doanh sẽ không thể lấy lại, và dĩ nhiên doanh nghiệp sẽ không thể thu được lợi nhuận từ chính những hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình

Một vài ví dụ nêu, chẳng phải là đang đề cập đến vấn đề, doanh nghiệp phải quản lý một cách hiệu quả vốn luân chuyển của mình, nếu muốn làm gia tăng khả năng sinh lợi của chính mình Hiểu và nắm được tầm quan trọng trong việc quản trị vốn luân chuyển, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích sự tác động của vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp trong bài nghiên cứu này

2.2 Các nghiên cứu trước đây

2.2.1 Nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006)

Khi nói đến các nghiên cứu liên quan đến vấn đề kinh tế “Quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp nói chung, hay các doanh nghiệp được niêm yết trên sàn chứng khoán nói riêng, chúng ta không quên kể đến nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006) đã làm một bài nghiên cứu để tìm ra mối

Trang 22

quan hệ giữa khả năng sinh lợi và việc quản lý vốn luân chuyển của các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Athens

Để thực hiện công trình nghiên cứu này, hai tác giả Lazaridis và Tryfonidis

đã lựa chọn các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Athens, việc lựa chọn thị trường này là do, các công ty được niêm yết tại đây, họ công bố các báo cáo tài chính của họ, với một độ tin cậy dành cho nhà đầu tư rất cao, sở dĩ như vậy vì các công ty ở đây, khi thể hiện kết quả kinh doanh thực tế của họ sẽ càng làm cho cổ phiếu họ phát hành có một mức hấp dẫn nhiều hơn đối với nhà đầu tư, khác với các công ty không được niêm yết, họ không phát hành cổ phiếu ra công chúng, nên họ không quan tâm nhiều đến sự hấp dẫn của cổ phiếu, dẫn điến các kết quả tài chính của họ, nhiều khi không thể hiện đầy đủ tình hình kinh doanh của công ty Tác giả

đã lựa chọn công ty dựa trên bảng phân loại các lĩnh vực kinh doanh của cộng đồng châu Âu (Classification of Economic Activities in the European Community – NACE) Mẫu dữ liệu nguyên gốc bao gồm 300 công ty, tuy nhiên, tác giả đã loại bỏ các công ty kinh doanh trong ngành điện, nước, ngân hàng và các định chế tài chính, bảo hiểm, cho thuê, và các công ty cung cấp dịch vụ, làm cho mẫu dữ liệu chỉ gồm

131 công ty, trong giai đoạn 2001-2004, trong đó bao gồm các công ty không đủ dữ liệu thu thập Bảng các kết quả tài chính được hai ông lấy từ công ty International Capital (International Capital SA), và bao gồm tổng cộng 524 quan sát

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy nhiều biến, kết hợp với 8 biến ngành (gồm từ D1 đến D8) thể hiện ngành kinh doanh của các doanh nghiệp được

bổ sung vào nghiên cứu, vì sau khi bỏ ra những ngành như đã nêu ở trên, NACE còn lại bao gồm 9 ngành kinh doanh Tác giả lần lượt thể hiện việc quản lý vốn luân chuyển, thông qua chu kỳ luân chuyển tiền (CCC), kỳ thu tiền (A/R), kỳ lưu kho (INV), kỳ phải trả (A/P), lên tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp (GROSS PROFIT) của doanh nghiệp thông qua 4 mô hình hồi quy, để thể hiện sự tác động của quản lý vốn luân chuyển khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Bài nghiên cứu đã thể hiện kết quả, có một sự tác động giữa Chu kỳ luân chuyển tiền, được sử dụng để đo lường cho sự hiệu quả trong công tác quản lý vốn

Trang 23

luân chuyển, và tác động này là một tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp, được đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp, áp dụng cho mẫu dữ liệu được Lazaridis và Tryfonidis lựa chọn là các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Athens, loại bỏ các công ty kinh doanh trong ngành điện, nước, ngân hàng và các định chế tài chính, bảo hiểm, cho thuê, và các công ty cung cấp dịch vụ Ngoài ra sư tác động nghịch biến này cũng được tìm thấy trong hai thành phần cấu tạo nên vòng quay vốn luân chuyển, là kỳ thu tiền và kỳ lưu kho, riêng đối với thành phần kỳ phải trả, thì sự tác động đồng biến lại được tìm ra

2.2.2 Nghiên cứu của Zubairi (2010)

Zubairi (2010) đã thực hiện một bài nghiên cứu liên quan đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp, ông cho rằng khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, hay nói cách khác là lợi nhuận được xem như là mục tiêu cuối cùng mà bất kỳ một doanh nghiệp, cho dù đó là doanh nghiệp hoạt động hoạt động trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, đầu tư, hay tài trợ đều muốn hướng đến Tuy nhiên, các nhà quản trị doanh nghiệp, hay các giám đốc tài chính đều không thể chỉ tập trung vào một yếu

tố để tạo sự tác động lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, vì bản thân nó phải chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, có thể là các yếu tố phát sinh trong nội tại công ty, hay là các yếu tố từ bên ngoài tác động vào công ty Chính vì vậy mà bài nghiên cứu muốn hướng đến việc tìm ra được sự tác động của việc quản trị vốn luân chuyển cũng như cấu trúc vốn, lên khả năng sinh lợi của công ty, và với dữ liệu được lấy từ các công ty kinh doanh trong ngành công nghiệp xe hơi, tại Pakistan

Tác giả đã sử dụng dữ liệu là 7 công ty được lấy ra trong tổng số 13 công ty thuộc ngành công nghiệp xe hơi, các công ty này đều là những công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi, và trong khoảng thời gian tác giả nghiên cứu là 2000-2008 Sở dĩ tác giả lại lựa chọn ngành công nghiệp xe hơi, trong khoảng giai đoạn 2000-2008, vì đây là giai đoạn phát triển cực mạnh của ngành công nghiệp này tại Pakistan Với xu hướng hội nhập phát triển quốc tế, ngày công nghiệp xe hơi

Trang 24

tại Pakistan, cùng với sự trợ giúp về thuế nhập khẩu từ chính phủ, đã phát triển thần tốc Bắt đầu từ năm tài khóa 2001, ngày công nghiệp xe hơi tại Pakistan tăng trưởng 40% mỗi năm Không chỉ có vậy, sự trợ giúp từ các khoản vay của các định chế ngân hàng hay các công ty cho thuê, trong việc hỗ trợ chi phí cho thuê thấp, cũng là những yếu tố giúp ngành công nghiệp xe hơi tại Pakistan phát triển mạnh trong thời gian này Tuy nhiên mẫu dữ liệu lại chỉ dừng lại trong năm 2008, vì trong giai đoạn sau đó 2008-2009, ngành công nghiệp xe hơi tại Pakistan phải đối mặt với một sự sụt giảm nghiêm trọng, nguyên nhân chủ yếu được xác định là do, nhu cầu về xe hơi trong dân chúng giảm sút, vì giá cả tăng cao, và chi phí cho thuê tài chính cũng trở nên rất đắt đỏ, hơn nữa thời kỳ này cũng là thời điểm mà đồng tiền Pakistan bị mất giá trầm trọng, kèm theo sự gia tăng trong lãi suất thị trường và lạm phát khiến cho ngành công nghiệp xe hơi tại Pakistan, bao gồm ngành sản xuất xe hơi, và bán

lẻ xe hơi, bị tuột đà tăng trưởng một cách nhanh chóng

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy để làm sáng tỏ sự tác động của việc quản trị vốn luân chuyển cũng như cấu trúc vốn lên khả năng sinh lợi của công ty trong ngành công nghiệp xe hơi tại Pakistan

Bài nghiên cứu đã thể hiện kết quả rằng, khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được đại diện bởi thu nhập trước lãi vay và thuế EBIT, chịu sự tác động đồng biến của đòn bẩy tài chính và quy mô công ty, nhưng lại chịu sự tác động nghịch biến của đòn bẩy hoạt động, ba yếu tố trên đại diện cho cấu trúc vốn của doanh nghiệp Ngoài ra, việc quản lý vốn luân chuyển, được đại diện bởi thanh khoản, đo lường bằng tỷ số thanh toán hiện hành, có sự tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

2.2.3 Nghiên cứu của Panigrahi (2013)

Panigrahi (2013) đã đưa ra một bài nghiên cứu cụ thể để thể hiện mối quan

hệ giữa việc quản lý hàng tồn kho hay kỳ tồn kho của doanh nghiệp với khả năng sinh lợi của các công ty xi măng tại Ấn Độ Panigrahi cho rằng hàng tồn kho là một thành tố quan trọng cấu thành lên vốn luân chuyển Nói theo một cách khác, sự

Trang 25

thành công, hay thất bại của một doanh nghiệp, phụ thuộc vào việc, liệu doanh nghiệp đó có thành công hay không trong việc quản lý hiệu quả hàng tồn kho? Việc quản lý tốt hàng tồn kho không chỉ giúp các doanh nghiệp nâng cao được khả năng sinh lợi của mình, mà còn giải quyết được vấn đề thanh khoản trong hoạt động kinh doanh Bài toán hàng tồn kho, muốn giải quyết được thì phải giải quyết ổn thỏa, mối quan hệ giữa việc sản xuất và kinh doanh Bản chất thực của hàng tồn kho là một loại tài sản nhàn rỗi, và tiềm ẩn trong đó, vấn đề về việc phát sinh chi phí Hàng tồn kho, không chỉ giúp doanh nghiệp ổn định nguồn hàng kinh doanh, mà nó còn

có khả năng làm phát sinh chi phí, hay nói cách khác là làm giảm lợi nhuận Chính

vì vậy hàng tồn kho, trong mọi lúc, không được quá nhiều, cũng như quá ít, cái quan trọng là phải đảm bảo được nguồn hàng kinh doanh của doanh nghiệp

Panigrahi đã sử dụng mẫu dữ liệu dùng cho việc nghiên cứu của mình, gồm 5 công ty đứng đầu trong ngành công nghiệp xi măng (gồm có Ambuja Cements, ACC Limited, India Cements, Madras Cements, và Shree Cements), trong khoản thời gian 2001-2010, và được niêm yết trên sàn chứng khoán Bombay Dữ liệu được thu thập là dữ liệu thứ cấp được lấy từ báo cáo hằng năm của các công ty cũng như tại trang mạng www.moneycontrol.com Panigrahi đã nhận định rằng, ngành công nghiệp xi măng là một cấu thành không thể thiếu trong các kết cấu hạ tầng, nó cũng được xem là sản phẩm tiêu dùng cần thiết thứ hai, theo nhận đinh của Hội đồng Doanh nghiệp Thế giới dành cho sự phát triển bền vững (World Business Council for Sustainable Development, 2002) Trong khi đó Ấn Độ lại là một trong những thị trường lớn thứ hai thế giới về sản xuất xi măng, đứng sau Trung Quốc

Và sản xuất xi măng là phân khúc chủ lực chiếm khoảng 1.3% GDP, và cung cấp việc làm cho khoảng 0.14 triệu người lao động Đặc điểm của ngành công nghiệp xi măng tại Ấn Độ được cấu thành từ nhiều đơn vị sản xuất nhỏ lẻ, khoảng 300 đơn vị, nhưng phần lớn sản lượng xi măng sản xuất ra chiếm 94% thị phần lại đến từ một

số nhỏ các nhà máy lớn Một trong những đặc điểm khác của ngành công nghiệp xi măng tại quốc gia này, là vị trí của các mỏ đá vôi chỉ tập trung tại một số ít tiểu bang của Ấn Độ, dẫn đến các nhà máy xi măng ở đây, cũng được xây dựng tập

Trang 26

trung thành từng cụm, và cũng bởi vì xi măng là mặt hàng có số lượng lớn, và giá trị thấp, nên việc cạnh tranh chỉ diễn ra theo từng cum, do vị trí của các cụm khá xa nhau, dẫn đến chi phí vận chuyển giữa các cụm khá cao, làm cho, không tồn tại một

sự cạnh tranh giữa các cụm khác nhau Và đặc điểm cuối cùng là, nhu cầu xi măng tại Ấn Độ vận hành theo chu kỳ, đỉnh điểm của nhu cầu tiêu thụ rơi vào tầm tháng

ba, và xuống thấp vào tháng tám và tháng chín, chính vì vậy, chỉ có những doanh nghiệp đầu ngành mới có thể đưa công ty vượt qua các chu kỳ của nhu cầu thị trường, và cũng vì các lẽ trên, mà việc quản lý hàng tồn kho của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp xi măng tại Ấn Độ mới là một trong những vấn đề cấp thiết cần nghiên cứu, để nhằm mục đích cải thiện khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp Ấn Độ trong ngành này

Trong nghiên cứu của mình, Panigrahi đã sử dụng phép phân tích hồi quy để tìm ra sự tác động giữa việc quản lý kỳ tồn kho của doanh nghiệp với khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp xi măng

Như vậy, kết quả bài nghiên cứu đã thể hiện được có một sự tác động nghịch biến giữa việc quản trị hàng tồn kho, đại diện bởi giá trị kỳ lưu kho, lên khả năng sinh lợi của của doanh nghiệp, đại diện bởi tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp Ngoài ra kết quả nghiên cứu cũng thể hiện có một sự tác động đồng biến của quy mô công ty, cùng sự tác động nghịch biến của hai yếu tố tỷ số nợ và tỷ số thanh toán hiện hành, lên khả năng sinh lợi của của doanh nghiệp trong ngành công nghiệp xi măng tại Ấn

Độ

2.2.4 Nghiên cứu của Mawutor (2014)

Mawutor (2014) đã đưa ra một bài nghiên cứu để thể hiện mối sự tác động giữa việc quản lý vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp thuộc ngành công nghiệp sản xuất tại Cộng hòa Ghana

Trong bài nghiên cứu, Mawutor đã nêu lên phát biểu rằng, việc quản lý vốn luân chuyển là một trong những khía cạnh cần phải được doanh nghiệp chú ý trong ngắn hạn, và bất kỳ một sự thay đổi nào trong môi trường kinh doanh, cũng sẽ ảnh

Trang 27

hưởng đến vốn luân chuyển trong công ty Chính vì thế, việc quản lý vốn luân chuyển phải được bắt đầu từ việc phát hiện ra những thay đổi, để chắc chắn rằng có một sự hiểu quả khi đầu tư vào vốn luân chuyển Việc quản lý vốn luân chuyển sẽ

bị ảnh hưởng bởi doanh số kinh doanh, các yếu tố mùa vụ và chu kỳ, những thay đổi trong công nghệ thông tin, và chính sách riêng của từng công ty

Còn về việc quản lý hàng tồn kho, Mawutor đã nêu lên phát biểu, hàng tồn kho là tổng các khối lượng thành phẩm, hoặc nguyên vật liệu được lưu trữ trong kho, tại thời điểm nghiên cứu Việc duy trì hàng tồn kho, sẽ dẫn đến việc doanh nghiệp phải chịu các chi phí lưu kho, chi phí tài trợ, và chi phí cơ hội, và vì thế việc tối thiểu hóa hàng tồn kho bị lưu trữ trong kho, là một trong những vấn đề quan trọng cần được giải quyết Nó liên quan đến vấn đề dự báo tương lai về việc tiêu thụ sản phẩm, để hàng tồn kho, không quá thừa, cũng không quá ít, và chắc chắn phục

vụ vừa đủ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Về việc quản lý kỳ phải thu, cũng được Mawutor đề cập đến trong bài nghiên cứu của mình, việc quản lý kỳ phải thu cũng nhằm mục đích đảm bảo cho sự tối đa hóa khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Và để phục vụ cho mục đích đó, các doanh nghiệp cần phải xác định hai mục đích sau đây của khoản phải thu, hướng tới sự phát triển trong doanh thu, một doanh nghiệp nếu có chính sách bán chịu thì sẽ có doanh thu cao hơn những doanh nghiệp không có chính sách này, hướng tới sự gia tăng lợi nhuận, một sự gia tăng trong doanh thu sẽ dẫn tới một sự gai tăng trong lợi nhuận Chính vì vậy việc quản lý hiệu quả các khoản phải thu sẽ cực kỳ quan trọng đối với sự phát triển khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp không

có khả năng quản lý tốt vấn đề này, thì rất có thể làm gia tăng nợ xấu, nợ khó đòi, từ việc bán chịu này

Về việc quản lý kỳ phải trả, Mawutor đã nêu lên phát biểu, việc một doanh nghiệp phát sinh khoản mua trả chậm, thì sẽ dẫn đến doanh nghiệp đối tác kia phát sinh bán chịu trong quá trình giao dịch, và vì vậy khoản phải trả là một nguồn tài trợ cực kỳ quan trọng đối với các doanh nghiệp kinh doanh

Trang 28

Về vấn đề chu kỳ luân chuyển tiền, không thể không được đề cập trong bài nghiên cứu, vì lẽ các doanh nghiệp muốn gia tăng khả năng sinh lợi, thì cần thiết phải duy trì các khoản mua trả chậm, và bán chịu, và như vậy việc quản lý một vòng qua của tiền trong việc đâu tư sẽ cực kỳ quan trọng, vì lẽ nếu doanh nghiệp không làm tốt việc này thì rất có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh lợi của mình

Trong bài nghiên cứu của mình, Mawutor đã sử dụng mẫu dữ liệu gồm 4 công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán Ghana, trong khoản thời gian từ 2006-

2010 áp dụng cho năm tài chính của các công ty

Tác giả sử dụng mô hình hồi quy để phân tích sự tác động đã được đề xuất trong bài nghiên cứu

Kết quả bài nghiên cứu giải quyết vấn đề được đặt ra trong bài là, có sự tác động nào từ việc quản trị vốn luân chuyển, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp?

Và câu trả lời được đưa ra ở đây là, có một sự tác động nghịch biến của chu kỳ luân chuyển tiền, được sử dụng như một thước đo cho việc quản lý hiệu quả vốn luân chuyển, lên khả năng sinh lời, được đo lường bằng tỷ số lợi nhuận trên tài sản Có một sự giảm đi trong khả năng sinh lợi, khi kỳ phải trả tăng lên, điều hàm ý rằng, doanh nghiệp có khả năng sinh lợi thấp, sẽ được hưởng đặc quyền, kéo dài kỳ phải trả, do quy định của các tổ chức tín dụng Tương tự, mối quan hệ nghịch biến này cũng được tìm thấy trong sự tác động của kỳ thu tiền lên tỷ số lợi nhuận trên tài sản Tuy nhiên, kỳ lưu kho lại có một tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được đo lường thông qua đại lượng tỷ số lợi nhuận trên tài sản

2.2.5 Nghiên cứu của Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tại Việt Nam, Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) cũng đã thực hiện bài nghiên cứu để thể hiện mối quan hệ giữa việc quản trị vốn luân chuyển của doanh nghiệp, và khả năng sinh lợi của họ, bài nghiên cứu được thực hiện dựa trên mẫu dữ liệu là 208 công ty phi tài chính được niêm yết trên sở Giao

Trang 29

dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chi Minh (HOSE), và sở Giao dịch Chứng khoán

Hà Nội (HNX), với giai đoạn thực hiện nghiên cứu là trong khoản thời gian

2006-2012

Nhóm tác giả đã thực hiện nghiên cứu trên những nhóm doanh nghiệp khác nhau, thể hiện doanh nghiệp đại diện của một số ngành công nghiệp khác nhau tại thị trường Việt Nam, và đã đưa ra nhận định rằng những ngành khác nhau, thể hiện mối quan hệ giữa vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi cũng khác nhau Theo Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên, việc quản trị vốn luân chuyển, bao hàm việc quản trị tài sản và nợ ngắn hạn trong doanh nghiệp một cách hiệu quả Giai đoạn tác giả chọn để thực hiên nghiên cứu là 2006-2012, trong khoản thời gian này,

có giai đoạn 2008-2012, là một giai đoạn khó khăn của nên kinh tế Việt Nam, mà trong giai đoạn này, hàng loạt doanh nghiệp đã phải từ bỏ ngành nghề kinh doanh của mình, khi bị phá sản không thể vực dậy, và chính trong giai đoạn này, tác giả cũng muốn đọc giả đặt câu hỏi rằng, xét về mặt vĩ mô, thì có thể thời kì này là một giai đoạn khó khăn để làm kinh doanh, nhưng nếu sét về mặt vi mô, thì liệu các doanh nghiệp đã quản trị một cách hiệu quả các nguồn lực trong công ty? Liệu những lý thuyết về quản trị vốn luân chuyển một cách hiệu quả để có thể tối đa hóa khả năng sinh lợi, có còn đúng đắn trong gia đoạn này? Bằng cách thực hiện nghiên cứu mối quan hệ về việc quản trị vốn luân chuyển, cùng với tác động của nó đến khả năng sinh lợi, nhóm tác giả sẽ dẫn đọc giả tìm hiểu vấn đề nghiên cứu đáng gây tranh cãi và nhức nhối trong gia đoạn 2006-2012 Vốn luân chuyển theo nhóm tác giả được xem là chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và nợ phải trả ngắn hạn, tuy nhiên, nếu nói cụ thể vấn đề thì nhóm tác giả lại dẫn đọc giả tìm hiểu về một chỉ tiêu khác, giúp đo lường hiệu quả của việc quản trị vốn luân chuyển trong công ty, đó chính là chu kỳ luân chuyển tiền Chỉ tiêu này có thể được hiểu là khoản thời gian từ lúc đầu

tư tiền vào việc mua nguyên liêu, chuyển hóa thành thành phẩm, đến việc bán thành phẩm ra thị trường, hay người tiêu dùng, rồi thu lại tiền mặt Cả quá trình này được xem là một vòng khép kín, doanh nghiệp càng rút ngắn được quá trình này, thì càng

Trang 30

có thể tiếp tục một quá trình mới, và chính vì thế có thể giúp doanh nghiệp gia tăng khả năng sinh lợi của mình

Ngoài việc thực hiện mô hình hồi quy hai tác giả Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên, đã thực hiện phân tích tương quan và phân tích hồi quy bằng các phương pháp Pooled OLS, GLS và FEM Tác giả đã thu thập mẫu dữ từ

cơ sở dữ liệu của Vietstock, trên cả hai sàn HOSE và HNX, trong đó có loại ra các ngành nghề kinh doanh liên quan đến ngành tài chính, bao gồm ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, các quỹ đầu tư, và loại cả những công ty không đủ dữ liệu trong giai đoạn nghiên cứu của tác giả

Để thực hiện nghiên cứu, Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên đã đưa một số biến vào mô hình của mình, gồm chu kỳ luân chuyển tiền (CCC), kỳ thu tiền (RP), kỳ lưu kho (IP), kỳ phải trả (PP), quy mô công ty (SIZE), tỷ số tài sản tài chính (FAR), tỷ số nợ (DR), tỷ số thanh toán hiện hành (CR), và biến phụ thuộc tỷ

lệ lợi nhuận hoạt động gộp (GOP) Ngoài các biến nêu trên, bài nghiên cứu còn sử dụng thêm 8 biến ngành của doanh nghiệp trong mẫu nghiên cứu kinh doanh

Kết quả của bài nghiên cứu đã cho thấy, việc quản trị vốn luân chuyển của các doanh nghiệp Việt Nam, được đo lường bằng chu kỳ luân chuyển tiền, có sự tác động nghịch biến lên tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp, đại diện cho khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Ngoài ra, mối quan hệ nghịch biến này cũng được tìm thấy trong tác động của các thành tố còn lại là kỳ thu tiền, kỳ lưu kho và kỳ phải trả, lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp Việt Nam

Bảng 2.1 sau đây xin được tổng kết để đọc giả có một cái nhìn tổng quan về các bài nghiên cứu được xem xét ở trên,

Bảng 2.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Yếu tố ảnh hưởng Tên tác giả Ảnh hưởng

Chu kỳ luân chuyển tiền

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và

Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên

Tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Trang 31

(2014)

Kỳ thu tiền

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và

Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Kỳ lưu kho

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013),

và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014), nhưng lại có tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi, theo nghiên cứu của Mawutor (2014)

Kỳ phải trả

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và

Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014), nhưng lại có tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi, theo nghiên cứu của Lazaridis và

Tryfonidis (2006)

Tỷ số tài sản tài chính

Lazaridis và Tryfonidis (2006), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Tỷ số nợ

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp theo Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013),

và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014), nhưng lại có tác động đồng biến lên khả

Trang 32

năng sinh lợi, theo nghiên cứu của Mawutor (2014)

Quy mô công ty

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Zubairi (2010), Panigrahi (2013), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo Lazaridis và Tryfonidis (2006), Zubairi (2010), Panigrahi (2013), và Mawutor (2014), nhưng lại có tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi, theo nghiên cứu của Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tỷ số thanh toán hiện

hành

Zubairi (2010), Panigrahi (2013), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp theo Zubairi (2010), nhưng lại có tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi, theo nghiên cứu của Panigrahi (2013),

và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Đòn bẩy hoạt động Zubairi (2010)

Tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Đòn bẩy tài chính Zubairi (2010)

Tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Sự tăng trưởng Mawutor (2014)

Tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Biến ngành

Lazaridis và Tryfonidis (2006), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Tất cả các ngành đều có tương quan dương, giữa quản trị vốn luân chuyển

và khả năng sinh lợi của công ty trong nghiên cứu của Lazaridis và

Tryfonidis (2006), nhưng lại có tương quan âm

Trang 33

trong nghiên cứu của Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Trang 34

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Giả thuyết nghiên cứu

Bài nghiên cứu được xây dựng dựa trên một số giả thuyết sau đây, tất cả các giả thuyết được trình bên dưới dựa trên lập luận và kế thừa của các bài nghiên cứu trước đây, đã được trình bày chi tiết trong mục 2.2,

Giả thuyết 1: Chu kỳ luân chuyển tiền có tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo như nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Giả thuyết 2: Kỳ thu tiền có tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo như nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Giả thuyết 3: Kỳ lưu kho có tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo như nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Giả thuyết 4: Kỳ lưu kho có tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo như nghiên cứu của Mawutor (2014)

Giả thuyết 5: Kỳ phải trả có tác động nghịch biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo như nghiên cứu của Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Giả thuyết 6: Kỳ phải trả có tác động đồng biến lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, theo như nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006)

Ngoài các giả thuyết cho rằng có một sự tác động của các yếu tố trên, đo lường khả năng quản lý vốn luân chuyển của doanh nghiệp, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, giống các nghiên cứu trước đó, bài nghiên cứu cũng muốn tự bổ sung thêm 4 giả thuyết phủ nhận sự tác động đó như sau,

Giả thuyết 7: Không có một sự tác động nào của chu kỳ luân chuyển tiền lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Trang 35

Giả thuyết 8: Không có một sự tác động nào của kỳ thu tiền lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Giả thuyết 9: Không có một sự tác động nào của kỳ lưu kho lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Giả thuyết 10: Không có một sự tác động nào của kỳ phải trả lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp

Kết thúc mục các giả thuyết nghiên cứu, tác giả xin được dự đoán kỳ vọng dấu trong mô hình, để thể hiện rằng, các doanh nghiệp tại Việt Nam, cũng nằm trong một quy luật kỳ vọng như những bài nghiên cứu trước đó, bảng bên dưới sẽ thể hiện kỳ vọng dấu của các yếu tố trong mô hình, tác động lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp,

Bảng 3.1: Bảng thể hiện kỳ vọng dấu của các biến độc lập và kiểm soát trong mô hình

Biến độc lập trong

mô hình

Kỳ vọng dấu (thể hiện sự tác động lên tỷ lệ lợi nhuận gộp

GOP)

Nghiên cứu đã đề xuất

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014),

và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014),

và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013),

và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Trang 36

DR -

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013),

và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Lazaridis và Tryfonidis (2006), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

3.2 Mô hình nghiên cứu và mô tả biến

3.2.1 Mô hình nghiên cứu

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary Least Square – OLS), để tìm ra rằng, liệu có một tác động nào từ việc quản lý vốn luân chuyển, lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp Ngoài các biến định lượng được đưa vào mô hình, như các nghiên cứu trước đây của Zubairi (2010), Panigrahi (2013), và Mawutor (2014), bài nghiên cứu còn sử dụng thêm một số biến ngành, nhằm thể hiện ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động, giống như trong nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) Việc đưa thêm biến ngành, nhằm mục đích để xác định xem, liệu lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp có ảnh hưởng gì đế khả năng sinh lợi của chính doanh nghiệp đó hay không?

Trang 37

độc lập tác động lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp được lựa chọn, để đo lường tính hiệu quả trong công tác quản lý vốn luân chuyển, là chu kỳ luân chuyển tiền,

kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, và kỳ phải trả, như được đề xuất trong bài nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) Bên cạnh đó tác giả muốn đưa vào mô hình một số biến kiểm soát, không giống như biến độc lập, các biến này không được sử dụng như thước đo cho vấn đề nghiên cứu được đưa ra ở đây, là sự tác động của quản lý vốn luân chuyển lên khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, nhưng xét thấy những yếu tố này vẫn có một ảnh hưởng nhất định đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp, được

đo lường bằng tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp Và các biến kiểm soát được đề xuất ở đây là tỷ số nợ và tỷ số tài sản tài chính, tương ứng với các biến kiểm soát đã được

đề xuất trong mô hình nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Panigrahi (2013), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) Ngoài ra như đã được giới thiệu trong phần mô hình nghiên cứu ở trên tác giả sẽ sử dụng thêm các biến ngành để nhằm thể hiện ngành nghề kinh doanh mà doanh nghiệp đang hoạt động

Về việc đo lường các biến trong mô hình sẽ được trình bày ở bên dưới như sau,

Theo để suất của Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014), việc tính toán các biến độc lập chu kỳ luân chuyển tiền, kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, và kỳ phải trả, được thực hiện như bên dưới,

Chu kỳ luân chuyển tiền được thể hiện như là thành tố tổng được cấu thành

từ ba yếu tố, gồm kỳ thu tiền, kỳ lưu kho, và kỳ phải trả, và được tính toán như là tổng của kỳ thu tiền và kỳ lưu kho, bỏ đi kỳ phải trả., với đơn vị tính là ngày

Chu kỳ luân chuyển tiền Kỳ thu tiền + Kỳ lưu kho - Kỳ phải trả

Trong đó các thành tố chính cấu tạo nên chu kỳ luân chuyển tiền, được thể hiện theo công thức,

Trang 38

Kỳ thu tiền sẽ là tỉ số giữa khoản phải thu trên doanh thu thuần, và được quy đổi ra ngày bằng cách nhân với giá trị 365,

Kỳ thu tiền Khoản phải thu

Doanh thu thuần 365 Còn với kỳ lưu kho, thì được đo lường bằng tỉ số giữa hàng tồn kho và giá vốn hàng bán, quy đổi ra ngày bằng phép nhân với 365, công thức này cũng đã được đề xuất bởi Panigrahi (2013),

Kỳ lưu kho Hàng tồn kho

Giá vốn hàng bán 365 Cuối cùng là thành tố kỳ phải trả được đo lường bằng tỉ số của các khoản phải trả người bán, trên giá vốn hàng bán, nhân với giá trị 365 để quy đổi ra đơn vị tính là ngày,

Kỳ phải trả Phải trả người bán

Giá vốn hàng bán 365 Biến đo lường khả năng sinh lợi của doanh nghiệp đã được đề xuất ở trên là

tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp của doanh nghiệp, và được tính toán giống như công thức trong mô hình nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014), bằng cách lấy Tỷ số của 2 giá trị hiệu số, gồm hiệu số của doanh thu thuần và giá vốn hàng bán, trên hiệu số của tổng tài sản

và tài sản tài chính,

Tỷ lệ lợi nhuận hoạt động gộp Doanh thu thuần - Giá vốn hàng bán

Tổng tài sản - Tài sản tài chínhNgoài các biến được nêu ở trên, đại diện cho vấn đề nghiên cứu được đề xuất trong bài, bài nghiên cứu cũng bổ sung thêm hai biến kiểm soát tỷ số nợ và tỷ số tài sản tài chính, và được tính toán như đã được nêu ra trong mô hình nghiên cứu của Lazaridis và Tryfonidis (2006), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Trang 39

Tỷ số nợ được đo lường bằng tỉ số giữa tổng nợ và tổng tài sản của doanh nghiệp, và công thức này cũng giống như công thức đã được nêu trong bài nghiên cứu của Panigrahi (2013), và đơn vị được sử dụng ở đây cho tỷ số này là phần trăm (%)

Với biến N1 = 1, thể hiện doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất nông nghiệp, N1 = 0 thể hiện doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành kinh doanh còn lại Với biến N2 = 1, thể hiện doanh nghiệp thuộc nhóm ngành khai khoán, N2 = 0 thể hiện doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành kinh doanh còn lại Với biến N3 = 1, thể hiện doanh nghiệp thuộc nhóm ngành sản xuất, N3 = 0 thể hiện doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành kinh doanh còn lại Với biến N4 = 1, thể hiện doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bán buôn, N4 = 0 thể hiện doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành kinh doanh còn lại Với biến N5 = 1, thể hiện doanh nghiệp thuộc nhóm ngành bán lẻ, N5 = 0 thể hiện doanh nghiệp thuộc các nhóm ngành kinh doanh còn lại

Trang 40

Như vậy để kết thúc phần mô tả biến này, tác giả xin trình bày một bảng tổng hợp các biến xuất hiện trong mô hình, kèm với các nghiên cứu được sử dụng để tham khảo, khi các biến này được đề xuất tại đây,

Bảng 3.2: Bảng tổng hợp tất cả biến được đưa vào mô hình nghiên cứu

Kỳ lưu kho

(IP)

Hàng tồn khoGiá vốn hàng bán 365 Ngày

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Kỳ phải trả

(PP)

Phải trả người bánGiá vốn hàng bán 365 Ngày

Lazaridis và Tryfonidis (2006), Mawutor (2014), và Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014)

Ngày đăng: 08/11/2019, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm