Chiều dài làm việc là một thuật ngữ được dùng trong điều trị tủy, là khoảng cách được xác định từ một điểm xác định trên thân răng đến một điểm gần lỗ chóp chân răng: vịtrí thắt ở chóp h
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị nội nha đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn các răng bệnh
lý và phục hồi chức năng ăn nhai và thẩm mỹ của hàm răng Vào những năm
1930, thuật ngữ điều trị nội nha ra đời với hệ thống các nguyên tắc cơ sinhhọc nhằm mục đích kéo dài tuổi thọ của răng để duy trì sức nhai [1]
Hơn một thế kỷ trôi qua đã có nhiều quan điểm mới trong điều trị nộinha, cho đến nay nguyên tắc cơ bản trong điều trị nội nha vẫn không có gìthay đổi Nguyên tắc đó chính là tam thức nội nha, bao gồm việc chuẩn bị cơsinh học, kiểm soát nhiễm khuẩn và hàn kín hệ thống ống tủy theo ba chiềutrong không gian Tuy nhiên việc tiếp cận để phát hiện ra miệng ống tủy vàxác định chiều dài ống tủy để kiểm soát được lỗ cuống răng luôn là thách thứcđối với các chuyên gia nội nha Do vậy việc đạt được mục tiêu theo bộ bacũng là những vấn đề rất khó khăn Mục tiêu cuối cùng của điều trị nội nha làtạo ra môi trường mà cơ thể có thể chống lại được sự viêm nhiễm tại đó.Tiếpcận được miệng ống tủy chính là chìa khóa của sự thành công Khi đó việclàm sạch và tạo hình ống tủy mới được tiến hành
Từ những năm 70, Schilder [2] đã đưa ra quan niệm “làm sạch và tạohình hệ thống ống tủy” là mấu chốt chủ đạo của nội nha Theo mô tả cổ điểncủa Schilder, làm sạch và tạo hình hệ thống ống tủy dạng thuôn dần, có đườngkính nhỏ nhất tại lỗ cuống răng Đó là điểm có mốc tham chiếu là đường ranhgiới xê măng và ngà răng trên phim Xquang Do vậy, việc xác định chiều dàiống tủy chính xác để làm sạch, tạo hình và trám bít là vấn đề rất quan trọng,quyết định sự thành công hay thất bại của việc điều trị tủy Chiều dài làm việc
là một thuật ngữ được dùng trong điều trị tủy, là khoảng cách được xác định
từ một điểm xác định trên thân răng đến một điểm gần lỗ chóp chân răng: vịtrí thắt ở chóp hay là điểm nối xê măng và ngà răng
Trang 2Tuy vậy, việc xác định chính xác lỗ chóp chân răng rất khó khăn, do đóngười làm chuyên môn cần có những hiểu biết sâu rộng về giải phẫu, tế bàohọc, sinh lý học và bệnh lý tủy răng cũng như các phương pháp xác địnhchiều dài ống tủy Cùng với sự hiểu biết về khoa học và công nghệ và ứngdụng của chúng như: kính hiển vi nha khoa, siêu âm nội nha, phim CTConebeam để mang lại thành công trong điều trị nội nha Từ những trăn trở
trên, chúng tôi tiến hành viết chuyên đề tổng quan có tên là: “Vai trò của các phương pháp xác định ống tủy, chiều dài làm việc và tạo hình hệ thống ống tủy trong điều trị nội nha”.
Trang 31 Các phương pháp xác định ống tủy và chiều dài làm việc
1.1 Một số nét về giải phẫu sinh lý của răng.
1.1.1 Đại cương về cấu tạo của răng [3].
- Răng được chia làm ba phần: thân răng, cổ răng và chân răng
- Cấu tạo của răng gồm: men răng, ngà răng, tủy răng
Hình 1 Cấu tạo của răng [4]
1.1.2 Giải phẫu tủy răng
Tuỷ răng là một khối tổ chức liên kết mạch máu và thần kinh nằm trongmột hốc ở giữa răng gọi là hốc tuỷ răng Hình của tuỷ răng nói chung tương
tự như hình thể ngoài của răng Nó gồm có tuỷ buồng và tuỷ chân Răng hàm
là răng có nhiều chân Tuỷ buồng của răng nhiều chân có trần tuỷ và sàn tuỷ
Ở trần tuỷ có thể thấy những sừng tuỷ tương ứng với các núm ở mặt nhai Tuỷbuồng thông với tuỷ chân và thông với tổ chức liên kết quanh cuống răng bởi
lỗ quanh cuống răng Mỗi chân răng thường có một ống tuỷ chính Songngoài ống tuỷ chính ra ta có thể thấy nhiều ống tuỷ chân phụ, những nhánhphụ này có thể mở vào vùng cuống răng bởi các lỗ phụ Mỗi ống tủy thườngcong, ít khi thẳng đơn giản Đây cũng là một thách thức trong việc tạo hìnhống tủy [3]
Men răngTủy răng
Mạch máu
Xê măng măngmămamă
măngmămamă
Trang 4Hình 2 Hình thể trong của tủy răng hàm [5]
Tuy nhiên hình dạng ống tuỷ không phải ổn định Những nghiên cứu củaHess (1945) cho tới nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng hệ thống ống tuỷ vôcùng đa dạng và phức tạp ở hầu hết các răng với sự phân nhánh hoặc nhánhnối của ống tuỷ phụ, các đoạn cong bất thường của các ống tuỷ chính và hìnhthể đa dạng của hệ thống ống tuỷ trên diện cắt ngang [6]
Trong điều trị trước đây các nhà lâm sàng thường chỉ quan tâm đến ốngtuỷ chính và hàn kín ống tuỷ chính Về mặt lâm sàng ống tuỷ chính là ống tuỷ
có thể thăm dò và thông bằng trâm K từ số 08 trở lên [7]
Vectuci (1974) , đã mô tả hình thể đặc biệt với cấu trúc ống nối và dạngống tuỷ dẹt của răng số 4, 5 hàm trên [8] Răng số 6 hàm trên là răng có cấutrúc phức tạp nhất trên cung hàm Khác với quan niệm trước đây, các côngtrình của Green (1981) và Kulid (1990) đều đưa ra một tỉ lệ rất cao sự xuấthiện ống tuỷ chính thứ 2 của chân răng gần ngoài [9], [10]
Theo nghiên cứu mô học của Hatton năm 1918, giới hạn mô tủy là ranhgiới xê măng ngà Tuy nhiên đây là mốc rất khó có thể xác định được trên lâmsàng [11] Qua nghiên cứu invivo năm 1955, Kuttler đã xác định được “mốctin cậy” để áp dụng trong lâm sàng đó là điểm cách cuống răng trên Xquang0,5-1mm, điểm được coi là tận hết của hệ thống ống tủy [12]
1.1.2.1 Định khu hốc tủy [13].
Trang 5Hốc tủy gồm buồng tủy (BT) và ống tủy (OT), nằm trong buồng tủy làtủy buồng, nằm trong ống tủy là tủy chân.
Theo Vertucci, thể tích hốc tủy của các răng vĩnh viễn thay đổi theo hìnhdạng, kích thước từng răng, từng chân răng và theo tuổi Tuổi càng tăng, thểtích hốc tủy càng thu hẹp, sự thu hẹp này diễn ra nhiều ở vùng trần buồng tủy,sừng tủy và một phần sàn buồng tủy, thành bên BT Đồng thời cũng diễn ra
sự thu hẹp đường kính tủy chân và lỗ cuống [14]
Chiều cao buồng tủy ở người 25 tuổi bằng một phần ba chiều cao thânrăng, khi tuổi càng tăng lên thì thể tích buồng tủy càng hẹp dần, do các tạongà bào bị lớp ngà thứ phát đẩy lùi vào khoang tủy, quá trình thu hẹp khoangtủy cũng xảy ra như vậy ở phần tủy chân răng
Hình 3 Hình ảnh buồng tủy lúc bình thường và bị thu hẹp [15]
Ống tủy cũng bị thu hẹp dần Đặc biệt, ở các chân răng dẹt, thành gầnhoặc xa của ống tủy xuất hiện gờ ngà xâm lấn vào lòng ống tủy làm cho ốngtủy bị chia làm hai hoặc nhiều ống tủy Sự phân chia này có thể hoàn toànhoặc không hoàn toàn do giữa các ống tủy được phân chia có sự liên thông
1.1.2.2 Hình thái và cấu trúc của tủy răng [13]
Trang 6- Trần buồng tủy là giới hạn trên của buồng tủy, thường cách xa sàn ởngười trẻ và bị hạ thấp ở người già do quá trình phát triển ngà cũng như cáckích thích về cơ học, hóa học.
- Sàn buồng tủy là giới hạn dưới của buồng tủy, trên sàn buồng tủy có lỗvào (miệng) của các ống tủy chân Các nha sỹ đặc biệt quan tâm đến hình tháisàn buồng tủy, màu sắc và đặc điểm của các lỗ vào ống tủy chân Các răngmột chân không có sàn buồng tủy Sàn buồng tủy không bao giờ là một mặtphẳng, sàn thường có những vùng gồ ngà và giữa các gồ này có rãnh nối vớinhau [16] Trong điều trị nội nha, sàn buồng tủy phải được tôn trọng
- Ống tủy chân: Bắt đầu từ miệng ống tủy ở sàn buồng tủy và kết thúc ở
lỗ cuống răng Ở sàn buồng tủy, OT tương đối rộng nhưng ngay sau đó thuhẹp lại làm cho OT có hình phễu, do vậy việc thông hết chiều dài OT là khótrên lâm sàng Hình thái miệng ống tủy có cấu trúc đa dạng và phức tạp liênquan đến hình thái thân và chân răng
Hess và Zurcher đã cho thấy sự phức tạp của hình thái hệ thống ống tủy(HTOT), qua các nghiên cứu bằng phương pháp khử khoáng mô cứng, từ năm
1925 Ngày nay, với sự ra đời của kính hiển vi điện tử và nhiều kỹ thuật hiệnđại khác thì sự phức tạp của HTOT càng được nhìn nhận rõ hơn Các đoạncong bất thường của ống tủy chính, sự phân nhánh của chúng thành các ốngtủy phụ hay các ống tủy bên, sự đa dạng của các ống tủy trên các lát cắtngang, sự liên thông tiếp nối giữa các ống tủy trong cùng một chân răng hoặccác chân răng liền nhau… là các yếu tố gây khó khăn trong việc chuẩn bị ốngtủy và hàn kín HTOT [6], [17]
- Lỗ cuống răng: Nhiều nghiên cứu cho thấy: một chân răng, thậm chímột OT cũng có thể có nhiều lỗ cuống răng Các lỗ cuống răng này có thể gặpbất kỳ vị trí nào của chân răng [18], [19]
Trang 7(a) (b)
Hình 4 (a): Vị trí có đường kính nhỏ nhất tại điểm thắt chóp, đường ranh giới xê măng- ngà.Chóp răng giải phẫu, chóp răng xquang, lỗ cuống răng của ống tủy phụ (b): Đo chóp răng sinh lý và chóp răng giải phẫu (chụp
qua kính hiển vi độ phóng đại 40 lần) [19]
1.2 Một số nguyên nhân gây thất bại trong điều trị nội nha
1.2.1 Các biến thể giải phẫu (Dị dạng chân răng, ống tủy tắc).
Các yếu tố như sự hiện diện của ống tủy quá cong, khoáng hoá ống tủy quámức, ống tủy phụ không thể thâm nhập vào ống tủy phân nhánh ở chân răngtrong quá trình thâm nhập và tạo hình có thể dẫn đến điều trị nội nha thất bại.Răng hàm lớn thứ hai hàm dưới thường có hai ống tủy và ba ống tủynhưng biến thể trong số các ống tủy cũng như hình thái ống tủy là không phải
là hiếm Trong đó bao gồm một ống tủy duy nhất, hai, ba và bốn, năm ống tủy
và hệ thống ống tủy dạng chữ C Làm sạch, tạo hình và hàn kín toàn bộ hệthống ống tủy được coi là một yếu tố quan trọng để tiên lượng tốt các biến thểtrong hệ thống ống tủy, do vậy đó là một thách thức để chẩn đoán đúng, mởđường vào phù hợp để xác định ống tủy
Trang 8Hình 5 Các hình thái và vị trí miệng ống tủy răng số 7 hàm dưới [20]
Cách xử lý:
- Tùy từng trường hợp để có cách xử lý cho phù hợp, những răng có ốngtủy cong, tắc ở vùng cuống, chúng ta có thể kết hợp giữa điều trị nội nha vàphẫu thuật cắt cuống
- Đối với những răng ống tủy tắc không thể hàn được bằng điều trị nộinha, tổ chức quanh răng tương đối tốt, có thể tiến hành bảo tồn răng bằngphương pháp cấy răng, tức là nhổ răng và điều trị răng ngoài miệng sau đócấy lại
1.2.2 Do bỏ sót ống tủy
Mở đường vào buồng tủy mà không điều trị hoặc không điều trị đầy đủ cácống tủy là nguyên nhân dẫn đến thất bại thường gặp trong điều trị nội nha [55].Thường gặp ở những chân răng có hai ống tủy nhưng chỉ tìm được mộtống, thường gặp ở răng cửa hàm dưới, răng hàm lớn thứ nhất hàm trên chỉ tìm
Trang 9được ba ống nhưng thực tế tỷ lệ răng bốn ống gần đây đã được phát hiệnnhiều hơn nhờ các kỹ thuật mới cùng các phương tiện phóng đại như kính lúp,kính hiển vi.
Nguyên nhân: Mở buồng tủy phạm vào sàn làm mất đi mốc giải phẫu đểtìm ống tủy đối với những răng hàm lớn Những răng một chân, nhất là nhómrăng cửa khi mở tủy đi lệch trục răng sẽ không tìm thấy ống tủy Một sốtrường hợp răng có bè canxi làm lấp miệng ống tủy Một số trường hợp bấtthường về giải phẫu, số lượng ống tủy thực tế nhiều hơn số lượng ống tủytheo lý thuyết, trong trường hợp này nếu không có kinh nghiệm lâm sàng sẽ
bỏ sót ống tủy, do đó kết quả điều trị sẽ thất bại
Vì vậy, khi điều trị tủy để tránh bỏ sót ống tủy nên chụp phim sau ổ răngthường qui và phim trượt bóng với một góc 15 - 20 độ, nếu thực sự nghi ngờ
về số lượng ống tủy cần kết hợp dùng kính hiển vi nha khoa để quan sát sànbuồng tủy và chụp CT Conebeam Quan sát kỹ sàn của buồng tủy để tìm dấuhiệu về sự thay đổi màu sắc, hình thái miệng ống tủy
1.2.3 Gẫy dụng cụ
Đối với những ống tủy phức tạp, nhỏ hẹp như răng nhỏ, thậm chí chiathành nhánh ở một phần ba chóp răng, trong quá trình tạo hình sử dụng cácfile tạo hình không đủ mềm dẻo, kích thước của file lớn hơn kích thước ốngtủy Do đó sẽ làm gẫy dụng cụ trong ống tủy, thủng thành ống tủy Sử dụngnhững dụng cụ thích hợp để lấy bỏ dụng cụ gẫy trong ống tủy
Kính hiển vi kết hợp với kỹ thuật siêu âm dẫn đễn độ chính xác mangtính chất vi mô Khi đầu của dụng cụ gẫy được nhìn thấy dễ dàng thì dụng cụsiêu âm sẽ được lựa chọn để làm nhẵn ngà răng và khoan quanh dụng cụ gẫy.Năng lượng siêu âm được truyền trên dụng cụ gẫy trong răng sẽ làm nới lỏngdụng cụ và thông thường nó sẽ “nhảy” ra khỏi ống tủy
Trang 10Khi các kỹ thuật siêu âm dưới kính hiển vi thất bại ta lại dùng sang hệthống lấy dụng cụ gẫy - Instrument Removal (IRS) Nó cung cấp một bướcđột phá trong việc thu hồi các dụng cụ gẫy kẹt sâu bên trong ống tủy Các IRSgồm nhiều ống nhỏ với kích thước khác nhau cùng vít nêm Các ống nhỏ cótay cầm nhỏ để tăng cường lực, đầu xa của nó được thiết kế nghiêng 45 độ và
có cửa sổ ở bên Các ống nhỏ được đưa vào trong ống tủy, đối với ống tủycong, phần dài vát cuối cùng định hướng cho các lớp vỏ ngoài của ống tủy đểchụp xuống đầu dụng cụ hỏng và hướng nó vào lòng mình
Hình 6 Instrument Removal (IRS) sử dụng trong ống tủy [21]
1.2.4 Hàn ống tủy thiếu
Đôi khi phẫu thuật nội nha được chỉ định để khắc phục sai sót này
Hình 7 Hình ảnh ống tủy đã điều trị tủy lần 1 và điều trị lại [21]
Bước quan trọng trong điều trị nội nha là tạo đường vào để việc tìm kiếmmiệng các ống tủy và hệ thống ống tủy được thuận lợi, từ đó các ống tủy sẽđược làm sạch và tạo hình, đồng thời tạo điều kiện cho việc hàn kín hệ thốngống tủy thuận lợi Tuy nhiên việc điều trị nội nha gặp thất bại do hệ thống ống
Trang 11tủy chưa được kiểm soát: có thể là bỏ sót ống tủy, hàn không hết chiều dàiống tủy chính hoặc ống tủy phụ Đối với răng đã hàn ống tủy mà chưa đượchàn kín hết chiều dài ống tủy cần được điều trị lại Các dung dịch điều trị lạinhư zylene được dùng làm dung môi để loại bỏ guttapercha Sau khi làm sạchchất hàn cũ, chúng ta cần nghĩ về hệ thống ống tủy như một cái cây, bao gồmmột nhánh chính là thân cây và các nhánh nhỏ hơn là cành cây Các nhà lâmsàng dùng dụng cụ định dạng ống tủy và chuẩn bị ống tủy chính Tạo hìnhloại bỏ ngà mủn Ống tủy chính giống như một hồ chứa tạo điều kiện thuậnlợi cho việc bơm rửa, lưu thông làm sạch cả các ống tủy bên Một loạt cácmiệng ống tủy và hình dạng ống tủy chính lại từng bước mở ra và việc bơmrửa trên cơ sở đó rất thuận lợi.
Theo Crump (1979), việc điều trị lại hàn quá cuống là không cần thiếttrừ phi xuất hiện triệu chứng lâm sàng [23] Nên tránh hàn quá cuống bởi việchàn quá cuống sẽ ảnh hưởng đến sự thành công của điều trị
Nguyên nhân của hàn quá cuống
- Thất bại trong xác định chính xác vị trí của lỗ cuống, mất nút chặnchóp, hoặc mất đoạn thu hẹp của cuống răng trưởng thành
- Chọn côn chính sai
Trang 12- Lỗ cuống răng mở
Dự phòng
- Chụp phim Xquang răng cận chóp hoặc Xquang kỹ thuật số để làm cơ
sở xác định chiều dài làm việc và điểm thắt chóp trước khi điều trị
- Thăm dò chiều dài làm việc bằng trâm số 15, nếu trường hợp ống tủynhỏ dùng trâm số 8 hoặc 10, đối chiếu qua phim, đánh dấu chiều dài làm việcbằng nút chặn trên cây trâm trừ khoảng một milimet Đây là chiều dài mà cáccây trâm khác được dùng trong quá trình tạo hình ống tủy
- Luôn giữ ổn định vị trí nút chặn trên cây trâm và điểm mốc trên mặtnhai cho từng ống tủy
- Xác định chiều dài làm việc với côn chính trước khi hàn ống tủy
1.3 Các phương pháp xác định ống tủy
1.3.1 Xác định ống tủy theo phương pháp thường qui
Để có kết quả điều trị cao người làm nội nha phải tuân thủ ba nguyên tắc
cơ bản trong điều trị Cho đến nay nguyên tắc cơ bản của điều trị vẫn không
có gì thay đổi so với 40 năm trước Nguyên tắc đó là “tam thức nội nha” baogồm ba yếu tố:
- Kiểm soát vi sinh vật
- Chuẩn bị ống tủy thuận lợi cho việc hàn kín ống tủy và tuân thủ nguyêntắc cơ sinh học trong chuẩn bị ống tủy
- Hàn kín hệ thống ống tủy đến ranh giới ngà xương răng của cuống răngtheo ba chiều trong không gian
Tuy nhiên nếu sự tiếp cận với miệng ống tủy và lỗ cuống răng khôngthực hiện đúng thì việc đạt được mục tiêu của bộ ba sẽ khó khăn và mất nhiềuthời gian Tiếp cận đầy đủ miệng ống tủy và lỗ cuống răng là chìa khóa để đạt
Trang 13được điều này Vì vậy chìa khóa để đạt được thành công trong điều trị nội nha
là làm thế nào để truy cập vào buồng tủy và tìm các miệng ống tủy
Hệ thống tủy răng bắt đầu từ buồng tủy và kết thúc ở đỉnh cuống răng
Để loại bỏ hoàn toàn hệ thống tủy răng cần phải có đường vào thật phù hợpcho từng loại răng tạo điều kiện thuận lợi cho việc quan sát miệng ống tủycũng như việc thăm dò và tạo hình ống tủy Quá trình làm sạch và tạo hình hệthống ống tủy có thể được chia làm bốn giai đoạn nhỏ: Giai đoạn phân tíchtrước khi mở tủy, giai đoạn mở tủy, giai đoạn xác định cấu trúc sàn buồng tủycùng miệng ống tủy và ống tủy, giai đoạn sử dụng thiết bị để xác định chiềudài ống tủy
1.3.1.1 Phân tích trước khi mở tủy
Phân tích về cấu trúc giải phẫu và tổ chức quanh răng cần điều trị TheoKrasner và Rankow, buồng tủy luôn nằm ở trung tâm của răng ở mức độ men
xê măng (Cementoenamel junction - CEJ) Quy luật của trung tâm có thểđược sử dụng như một hướng dẫn đầu cho mở tủy, nó chỉ luôn đúng ở cấp độCEJ và không liên quan đến giải phẫu nhai Do vậy các mũi khoan thâm nhậpban đầu nên được hướng về phía trung tâm của CEJ [24]
1.3.1.2 Mở tủy và xác định miệng ống tủy
Bước 1: Trước khi mở tủy cần loại bỏ hết các khối phục hồi và tổn thươngsâu răng, vì đây là nguyên nhân gây nhiễm khuẩn trong và sau điều trị
Bước 2: Hình dạng và loại mũi khoan được sử dụng là do sự lựa chọncủa bác sỹ
- Phải xác định được điểm xâm nhập đầu tiên Các mũi khoan hướng vềtrung tâm cho đến khi cảm nhận được điểm vào buồng tủy Tuy nhiên chỉ cảmnhận được khi buồng tủy sâu Đặc biệt lưu ý đối với răng có buồng tủy bị vôi hóa.Mục tiêu là loại bỏ hoàn toàn trần buồng tủy, tránh tìm kiếm miệng ốngtủy khi trần buồng tủy chưa được loại bỏ hoàn toàn vì dễ dẫn đến thủng sàn
Trang 14hoặc thủng sang cổ răng Các miệng ống tủy sẽ được bộc lộ khi trần buồngtủy được loại bỏ hoàn toàn.
- Để loại bỏ trần buồng tủy, dùng mũi khoan đặt thẳng rồi di chuyển sanghai bên nhưng vẫn giữ song song với trục của răng
Để xác định được đã hoàn tất được việc mở tủy ta cần nắm được quy luật
về sự đổi màu của sàn buồng tủy Sàn của buồng tủy luôn tối hơn so với thànhngà xung quanh Sự khác biệt màu sắc này tạo ra đường giao phân biệt tại điểmcác thành và sàn gặp nhau ở buồng tủy Khi truy cập được hoàn tất, toàn bộ sànbuồng tủy sẽ bộc lộ được (hình 8) Nếu có sự khác biệt về sự sáng tối ở sànbuồng tủy ta cần hiểu ngay rằng cấu trúc phía trên cần được loại bỏ thêm
Hình 8 Mở tủy của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên hoàn tất [25]
Bước 3: Xác định miệng ống tủy
Số lượng miệng ống tủy trong một chiếc răng không bao giờ có thể đượcbiết trước khi bắt đầu điều trị Do vậy cần phải có sự hỗ trợ đắc lực củaXquang, các phương tiện quan sát, nắm chắc đặc điểm giải phẫu cơ bản,những biến thiên hay gặp đối với hệ thống ống tủy của từng răng và quy luật
về sự tương quan giữa sàn và thành buồng tủy
Quy luật đối xứng: Ngoại trừ các răng hàm hàm trên, miệng ống tủy luônđối xứng qua một đường vẽ theo một hướng ở gần - xa thông qua các trungtâm sàn buồng tủy (hình 9)
Trang 15Hình 9 Thể hiện quy luật đối xứng [25]
Sự thay đổi màu: Màu sắc của sàn buồng tủy là luôn luôn đậm hơn thànhbuồng tủy (hình 10)
Hình 10 Màu sắc của thành và sàn buồng tuỷ [25]
Quy luật vị trí của miệng ống tủy 1: miệng ống tủy luôn nằm ở đườngnối giữa thành và sàn buồng tủy (hình 11)
Hình 11 Miệng OT luôn nằm ở đường giao nhau
của các thành và sàn BT [25]
Trang 16Quy luật vị trí của miệng ống tủy 2: Các miệng ống tủy được đặt ở đỉnhcủa góc có cạnh là thành và sàn buồng tủy (hình 12)
Hình 12 Các miệng OT được đặt ở đỉnh của góc có
cạnh là thành và sàn BT [25]
Sau khi sàn và thành buồng tủy được nhìn thấy rõ ràng, tất cả các quiluật của vị trí miệng ống tủy và qui luật đối xứng có thể được sử dụng để xácđịnh chính xác vị trí và số lượng các miệng ống tủy
Quy luật đối xứng của vị trí miệng ống tủy được sử dụng để xác định vịtrí, số lượng của miệng ống tủy Bởi vì tất cả miệng ống tủy chỉ có thể nằm dọctheo ngã ba sàn buồng tủy, tại đó có thể quan sát thấy chấm đen, lõm hoặc chấmtrắng, những dấu hiệu này phải lưu ý để tránh làm thủng khi mở và tìm ống tủy.Đồng thời có thể giúp tập trung vào các vị trí chính xác của miệng ống tủy.Các đỉnh hoặc góc của hình học hình dạng của các sàn buồng tối sẽ xác định
cụ thể vị trí của miệng ống tủy
Nếu các ống tủy bị vôi hóa, vị trí này sẽ chỉ ra một cách chắc chắn nơi
mà các bác sĩ lâm sàng nên bắt đầu thâm nhập với mũi khoan của mình đểloại bỏ ngà từ phần trên của ống tủy (hình13)
Trang 17Hình13 Hình ảnh sàn BT bị vôi hóa và được làm sạch [25]
Quy luật đối xứng của vị trí miệng ống tủy kết hợp với qui luật thay đổimàu sắc sàn và thành buồng tủy thường là chỉ điểm quan trọng cho vị trí củamiệng các ống tủy, đặc biệt đối với ống tủy ngoài gần thứ hai của răng hàmlớn thứ nhất hàm trên
1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phát hiện và tạo hình ống tủy
Năm 1997, Ibarolla xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng pháthiện và tạo hình OTNG2 đó là mùn ngà, hiện tượng canxi hóa và sỏi tủy [26].Năm 1989, Weller và Hartwell nhận thấy tỷ lệ OTNG2 được điều trịtăng lên gấp đôi sau khi áp dụng các cách mở rộng buồng tủy theo hình thoi
và mở rộng hơn về phía gần so với cách mở theo hình tam giác [27]
Gorduysus và cộng sự (2001) [28], Yoshioka và cộng sự (2005) [29]nhận thấy dùng mũi khoan Muller đầu tròn nhỏ, cổ dài và các đầu siêu âm đểloại bỏ lớp ngà dọc theo rãnh sàn tủy có chiều dài khoảng ba mm từ miệngOTNG1 đến miệng OT trong làm tăng khả năng phát hiện và tạo hìnhOTNG2.
Trang 18Ngoài ra, các tác giả khác đề nghị sử dụng các phương pháp hỗ trợ như:sủi bọt, nhuộm màu, soi quang và tạo rãnh làm tăng khả năng phát hiện và tạohình OTNG2 [30] [31].
1.3.2.1 Khó quan sát sàn buồng tủy do chảy máu quá nhiều
Điều này thường được gây ra bởi tủy buồng hoặc tủy chân
- Cách khắc phục:
+ Mở rộng các vị trí mở tủy
+ Đặt cầm máu trong các buồng tủy, dùng trâm gai lấy mô tủy
1.3.2.2 Khó quan sát sàn buồng tủy do không lấy hết trần buồng tủy
- Nguyên nhân: Do định hướng mở tủy không đúng và không thể nhìnđược ngã ba sàn và thành buồng tủy
- Cách khắc phục: dùng mũi khoan phù hợp làm sạch cho đến khi bộc lộ
rõ sàn và thành buồng tủy
1.3.2.3 Khó quan sát buồng tủy do vật liệu phục hồi
- Nguyên nhân: Do không loại bỏ hết vật liệu phục hồi trước khi mở tủy(đặc biệt lỗ sâu loại V)
- Cách khắc phục: Loại bỏ hết nguyên liệu phục hồi trước khi mở tủy
1.3.2.4 Khó quan sát buồng tủy do hiện tượng can xi hóa buồng tủy.
- Nguyên nhân: Do tủy răng bị thoái hóa
- Cách khắc phục: Sau khi loại bỏ toàn bộ trần buồng tủy và chấm dứt chảymáu, dùng mũi khoan tròn mịn hoặc siêu âm để loại bỏ các thành phần làmcanxi buồng tủy, bộc lộ rõ ngã ba sàn và thành buồng tủy Dùng kính phóng đại
để quan sát đặc điểm và mức độ canxi của sàn buồng tủy
1.3.2.5 Khó quan sát sàn buồng tủy do ánh sáng không đủ
- Nguyên nhân
+ Do xoang mở tủy quá nhỏ
+ Do vât liệu phục hồi
Trang 19+ Do chưa làm nhẵn thành hoặc sàn buồng tủy
- Cách khắc phục
+ Mở rộng xoang mở tủy
+ Lấy bỏ hết khối phục hồi
+ Sử dụng các phương tiện phóng đại (kính lúp, kính hiển vi) vàánh sáng tự nhiên (của đèn phẫu thuật hoặc kính hiển vi)
+ Làm sạch sàn và nhẵn thành buồng tủy
1.3.2.6 Khó quan sát buồng tủy do mất định hướng
- Nguyên nhân
+ Sử dụng bề mặt nhai như điểm tham chiếu
+ Không quan tâm đến định hướng răng như răng xoay haynghiêng
+ Mất định hướng chu vi của CEJ
+ Góc gập không thích hợp với tiếp cận ban đầu
- Cách khắc phục
+ Quan sát và định hướng điểm mở tủy thích hợp
+ Xác định đúng chu vi của CEJ
+ Sử dụng đê cao su để xác định hướng trục của răng
+ Xác định góc thích hợp với mũi khoan mở tủy
1.3.2.7 Khó quan sát buồng tủy do thủng sàn buồng tủy
Trang 20+ Loại bỏ toàn bộ trần buồng tủy trước khi xác định vị trí miệngống tủy
+ Quan sát ngã ba sàn và trần buồng tủy ở mức 360 độ
+ Mở tủy trực tiếp mũi khoan hướng về phía trung tâm của CEJ chu vi
1.3.2.8 Khó quan sát buồng tủy do thủng thành buồng tủy
Tóm lại: Đa số các tác giả đều công nhận việc phát hiện miệng và tạohình OTNG2 là khó khăn do mùn ngà làm bít miệng OT, hiện tượng vôi hóa
và sỏi tủy [27] Sử dụng phương tiện phóng đại như kính lúp nha khoa, kínhhiển vi phẫu thuật, nguồn ánh sáng mạnh làm tăng khả năng phát hiện vàtạo hình OTNG2 [27], [30]
Sự biến động về số lượng miệng ống tủy hoặc hình thái ống tủy, đặc biệt
là hệ thống ống tủy trong răng là một thách thức để chẩn đoán và điều trị nộinha thành công Điều này đôi khi không phải là một qui luật, nó vẫn xảy ra,nếu không kiểm soát được, nha sỹ sẽ phải đối mặt với sự thất bại trong điềutrị nội nha là những cơn đau và sự phàn nàn của bệnh nhân Do vậy việc đầu
Trang 21tiên trong việc kiểm soát được hệ thống ống tủy là phải phát hiện được đầy đủmiệng ống tủy Xquang và đặc biệt là phương tiện phóng đại như kính hiển vi
là một công cụ quan trọng trong việc chẩn đoán và điều trị những trường hợpphức tạp như vây [32]
Hình 14 Hình ảnh OT thứ 4 và thứ 5 được phát hiện qua kính hiển vi
1 3 3 Tiêu chuẩn xác định miệng ống tủy
Nguyên nhân làm cho tỷ lệ phát hiện và tạo hình OTNG2 khác nhau giữacác nghiên cứu là do tiêu chuẩn xác định miệng OTNG khác nhau Phần lớncác nghiên cứu đều không đưa ra tiêu chuẩn để xác định miệng OT, hoặckhông phân biệt giữa việc phát hiện miệng OT và tạo hình OT mà chỉ đề cậpchung là điều trị OTNG2 [35], [13], [11]
Năm 2002, Yoshioka đưa ra tiêu chuẩn xác định miệng OT là khi đưathám trâm nội nha vào trong miệng OT mà tự nó đúng vững [33]
Theo Sempira, Hartwell và Wolcott thì tiêu chuẩn về xác định miệng OT làgiữa miệng OTNG1 và OTNG2 phải còn vách ngà sau khi tạo hình [34], [35].Tiêu chuẩn để xác định OTNG2 theo Sempira, Hartwell là OT có thể tạohình, trám bít đến chóp hoặc cách chóp nhỏ hơn bốn milimet
Năm 2002, Wolcott xác định OTNG2 khi có thể tạo hình đến chóp rănghoặc tạo hình đến vị trí mà OTNG2 kết hợp với OTNG1, vị trí này phải cáchchóp không quá năm milimet [35]
Năm 2006, Guttman xác định miệng OT khi thám trâm nội nha đi vàotrong và bị mút lại [36]
Trang 221.4 Các phương pháp xác định chiều dài làm việc
Việc xác định chiều dài thực sự của răng theo Noris và Ambramson vàhầu hết các tác giả là một trong những bước quan trọng nhất và cần đượcquan tâm đầu tiên trong điều trị nội nha Việc làm sạch, tạo hình và hàn kín hệthống ống tủy được thực hiện chính xác khi chiều dài làm việc được xác định
chính xác Do đó để tiên lượng một trường hợp điều trị nội nha thành công
một yêu cầu rất chặt chẽ là phải xác định chính xác chiều dài ống tủy [37].Norriss và Ambrason đã đưa ra công thức xác định chiều dài làm việccủa ống tủy như sau
ALT = (ALI x LIT) : ILI
ALT: Chiều dài thực sự của ống tủy (mm)
ALI: Chiều dài thực sự của trâm trong ống tủy (mm)
LIT: Chiều dài của ống tủy đo trên phim xquang (mm)
ILI: Chiều dài của trâm đo trên phim xquang (mm)
Sử dụng trâm K nhỏ, thường là trâm số 8 hoặc số 10 đưa vào trong lòngống tủy, khi thấy cảm giác chặt tay thì dừng lại Đẩy nút chặn cao su sát mộtđiểm bất kì trên bề mặt nhai, ghi nhớ điểm đặt nút chặn cao su Cho bệnhnhân chụp phim Xquang cận chóp Tiến hành đo chiều dài chân răng và chiềudài cây trâm trên phim (từ nút chặn cao su tới đầu trâm) sau đó rút cây trâm ra
và đo chiều dài thật của cây trâm từ nút cao su tới đầu trâm rồi tiến hành xácđịnh chiều dài thực sự của ống tủy dựa vào công thức trên
Thuật ngữ trong điều trị nội nha định nghĩa chiều dài làm việc là khoảngcách từ một điểm tham chiếu trên thân răng đến một điểm mà tại đó việc sửasoạn và hàn kín hệ thống ống tủy cần phải chấm dứt Tầm quan trọng của việcxác định chiều dài làm việc như sau:
- Chiều dài làm việc xác định phạm vi, giới hạn hoạt động của dụng cụtrong quá trình sửa soạn ống tủy
Trang 23- Nó có liên quan đến mức độ, cảm giác đau và khó chịu mà bệnh nhân
có thể gặp nếu như sửa soạn ống tủy không đủ chiều dài hoặc quá chiều dàilàm việc
- Chiều dài làm việc được đảm bảo sẽ giúp tiên lượng điều trị tốt hơn
- Chiều dài làm việc nếu không đủ sẽ dẫn đến hiện tượng hở vùng cuống
cùng với sự tồn tại của vi khuẩn gây viêm quanh cuống, từ đó giảm sự thànhcông của điều trị
Như vậy có thể nhìn thấy khá rõ ràng về việc tính toán chiều dài làmviệc cần phải thực hiện với kỹ năng, sử dụng kỹ thuật đã được chứng minh đểđưa ra giá trị và kết quả chính xác bằng một phương pháp nào đó là thiết thực
và hiệu quả Các yêu cầu lý tưởng về xác định chiều dài làm việc của ống tủylà: Xác định chiều dài làm việc lý tưởng cần đảm bảo các yêu cầu sau: chínhxác, dễ thao tác, kết quả đồng nhất và chắc chắn
Có bốn phương pháp dùng để xác định chiều dài làm việc là: Xquang,định vị chóp (Electronic Apex Locator), cảm giác xúc giác và dùng côn giấy Mỗi phương pháp có các mặt hạn chế nhất định trong việc xác định chiều dàilàm việc và không có một phương pháp nào là chính xác tuyệt đối Để xácđịnh đúng chiều dài làm việc cần phải hiểu biết chính xác hình thể giải phẫuvùng chóp và phối hợp các phương pháp
1.4.1 Phương pháp đo chiều dài ống tủy bằng máy định vị chóp
Là một thiết bị điện tử dùng để định vị chóp ống tủy, do đó nó đo đượcchiều dài của ống tủy, vùng chóp chân răng có một điện trở riêng đối vớidòng điện và có thể đo bằng một cặp điện cực trái chiều, một gắn vào gócmôi, một gắn vào trâm, nguyên lý hoạt động của máy rất đơn giản dựa vàođiện trở của mỗi vùng, điện trở trong ống tủy rất cao tức là dòng điện khôngqua được, trâm tiến dần tới vùng chóp, tương ứng điện trở giảm dần dòngđiện bắt đầu nối mạch một cách đột ngột kích hoạt máy định vị hoạt động
Trang 24hiển thị độ dài trâm đã tới gần chóp hoặc đi qua chóp đồng thời có tiếng kêubip bip hoặc nháy đèn.
Máy tích hợp endo motor và định vị Cách đo
Hình 15 Hình ảnh máy đo chiều dài ống tủy [38]
Đo chiều dài làm việc:
Cho trâm vào ống tủy đến vạch 0.5 (thường sử dụng trâm số 10) tiếp tục
xoay trâm theo chiều kim đồng hồ cho tới cuống, xoay trâm ngược chiều kimđồng hồ tới vạch 0.5 một lần nữa Chiều dài từ nút chặn cao su đến chóp trâm
là chiều dài làm việc Trong khi đó, trâm không được chạm vào niêm mạc hay
mô mềm của bệnh nhân hoặc ngón tay của bác sĩ, không nên dùng trâmkhông có cán bằng cao su (trâm máy), trâm không được tiếp xúc nướu triểndưỡng hoặc răng bị thủng, gãy, máy định vị sẽ không chính xác Trường hợpống tủy quá khô, máy sẽ không có dấu hiệu đo nhưng khi tới cận chóp máy sẽ
đo bình thường, trường hợp này nên cho nước muối để làm ẩm ướt ống tủy Ghi chú: Kiểm tra máy trước khi đo, mỗi loại máy có cách kiểm tra khácnhau Luôn luôn kiểm tra lại bằng phim quanh chóp trong những trường hợpbất thường Nhưng qua một số báo cáo lâm sàng cho rằng độ chính xác củamáy là rất cao chiếm 94%, một số khác cho là rất thấp, chỉ khoảng 55-75%.Qua sử dụng các thiết bị đo chiều dài ống tủy, người ta thấy phương phápchụp Xquang vẫn có độ chính xác ổn định nhất
1.4.2 Xác định chiều dài làm việc bằng Xquang [39]
Trang 25* Xác định chiều dài làm việc bằng Xquang thông thường
Hình ảnh chân răng là hình không gian ba chiều, được thể hiện trên phimXquang chỉ là hình ảnh hai chiều Rất hiếm khi lỗ chóp trùng với chóp chân răng
mà thường nằm lệch trục ở mặt bên chân răng Khi lỗ chóp nằm ở mặt ngoài haymặt trong chân răng thì không thể phát hiện lỗ chóp trên phim Xquang
Khi chỉ dùng Xquang để xác định chiều dài ống tủy cần chú ý những vấn
đề sau:
- Các nha sĩ phải có kiến thức về hình ảnh bình thường của răng và tổchức nha chu trên phim Xquang, những thay đổi về cấu trúc giải phẫu cũngnhư hình ảnh bệnh lý
- Phim cần phải có độ cản quang phù hợp, độ tương phản đủ
- Cần biết phân biệt những hình ảnh cản quang và không cản quang.Những sai sót như chồng hình ảnh, kích thước và sự xoắn có thể làm cho đọcsai, chẩn đoán sai
- Chụp phim chẩn đoán với kỹ thuật chụp song song
- Trâm đủ lớn ( từ số 10 trở lên)
- Dùng hai loại trâm khác nhau trong cùng một chân răng để dễ phân biệtcác ống tủy khác nhau
- Cần chụp hai phim đối với các răng nhiều ống tủy để tách ống tủy
- Nếu trên Xquang sự sai biệt lớn hơn một milimet thì cần điều chỉnh vàchụp Xquang lại
Hình 17 Vị trí thắt chóp không trùng với chóp răng trên Xquang [39]
Trang 26Hình 18 Tương quan lỗ chóp răng và chóp răng trên Xquang [Hình ảnh
bệnh nhân nghiên cứu]
Xác định chiều dài ống tủy bằng dụng cụ cầm tay và phim Xquang cậnchóp là phương pháp xác định cơ bản và phổ biến
* Ngày nay Xquang kỹ thuật số đã phát triển thay cho phim thông
thường, nó có ưu điểm: Tốc độ nhanh, giảm phóng xạ, chất lượng hình ảnhtốt, hình ảnh quan sát được theo 3 chiều không gian Hình ảnh thu được tươngứng với răng thật, với Xquang kỹ thuật số có thể đo được chính xác chiều dàilàm việc của răng, đo được độ cong của ống tủy và xác định chính xác hìnhthái ống tủy ở mỗi chân răng
Hình 19 Hình ảnh ống tủy đã được hàn trên Xquang kỹ thuật số [Hình
ảnh bệnh nhân nghiên cứu]
* Cone beam CT là 1 dạng chụp cắt lớp vi tính (Computed tomography
-CT) hay chụp cắt lớp theo tỉ trọng (Computed axial tomography - CAT), chophép sử dụng các tia Xquang kết hợp với chương trình máy tính để tạo ra hình
Trang 27ảnh ba chiều (3 - D) của cơ thể, cung cấp hình ảnh rõ nét cấu trúc răng, mômềm, thần kinh và xương ở vùng sọ mặt chỉ trong một lần quét với cường độtia X thấp hơn nhiều lần so với CT thông thường Hình ảnh thu được vớichùm tia CT cho phép bác sĩ dựng lại hình ảnh ba chiều chi tiết của bệnh nhân
từ đó lập kế hoạch điều trị chính xác hơn Từ đó hình ảnh giải phẫu của răngtrong không gian ba chiều cho thấy độ cong, số lượng ống tủy và đặc biệt là
vị trí của các chóp chân răng Điều này rất quan trọng trong xác định chiềudài làm việc của ống tủy
1.4.3 Đo chiều dài ống tủy bằng xúc giác
Nếu răng có cuống còn nguyên vẹn không bị tổn thương thì bao giờ cũng
có chỗ thắt hẹp trước lỗ ra và trước đó 2 - 3mm thường ống tủy cong, do vậykhi dùng trâm số 10 hoặc 15 trước khi đi qua chỗ hẹp, có cảm giác chặt lạikhông đưa sâu trâm vào được nữa phải lùi trâm lại và sau đó là cảm giác độtngột khi trâm đã đi qua chỗ thắt hẹp
Dùng cảm giác xúc giác để xác định chiều dài làm việc của ống tủy cócác mặt hạn chế như sau:
- Nhiều răng không có vùng thắt do chóp tiêu
- Chỉ có thể phán đoán khi vùng thắt có dạng thắt đột ngột
- Phụ thuộc kích thước file dùng để đo
- Cần nhiều kinh nghiệm
- Cảm giác tinh tế
Vì các lý do trên mà chỉ nên dùng cảm giác xúc giác khi kết hợp cácphương pháp khác
1.4.4 Đo chiều dài ống tủy bằng côn giấy
Trong quá trình tạo hình ống tủy, chúng ta dùng cone giấy để thấm khô.Nếu có máu chảy thì có khả năng đã làm thủng lỗ chóp răng hoặc thủng ốngtủy răng hoặc là còn tủy Nếu đầu cone giấy ướt là đã sắp tới lỗ chóp răng
Trang 28Trong một số trường hợp dùng cone giấy có thể giúp xác định chiều dàilàm việc, tuy nhiên nếu chỉ dùng 1 cách này thì kết quả không chính xác.
- Dùng các số cone giấy có số liên tiếp
- Quan sát đầu cone giấy: máu - ướt hay khô
- Các sai lầm: do máu hay dịch tiết chảy vào ống tủy, hay sự thẩm thấudọc theo cone giấy
1.4.5 Đo chiều dài ống tủy bằng phương pháp kết hợp
Như đã trình bày trên đây không có một cách nào cho kết quả chính xáctuyệt đối, cho nên cần phải kết hợp các phương pháp để cho kết quả đúng nhất Phương pháp được đề nghị như sau:
Đầu tiên dùng dụng cụ định vị chóp đạt được trị số 0
Trâm đo đủ khít ống tủy
Ghi nhận điểm tham chiếu ổn định trên thân răng
Lặp lại vài lần
Chụp Xquang với kỹ thuật chụp song song
Kết hợp cảm giác xúc giác và cone giấy
Xác định chiều dài làm việc chính xác là một trong những chìa khóa đểthành công trong điều trị nội nha
1.5 Vai trò của các phương pháp tạo hình hệ thống ống tủy trong nội nha
Tạo hình hay sửa soạn ống tủy qua nhiều năm đã có nhiều thay đổi Sựthay đổi này dựa trên kết quả của những nghiên cứu về giải phẫu hệ thốngống tủy Làm sạch và tạo hình đầy đủ tạo điều kiện cho việc hàn kín là nhữngyếu tố cần thiết điều trị thành công để loại bỏ (hoặc giảm đáng kể) tủy răng bịviêm hoặc hoại tử và loại bỏ vi sinh vật, đây chính là những yếu tố quan trọngnhất trong điều trị nội nha Vai trò của sự hàn kín ống tủy trong thành cônglâu dài chưa được xác định nhưng rất quan trọng trong việc ngăn ngừa hiệntượng viêm tái phát từ các khu vực thân răng hay cuống răng Làm sạch và
Trang 29tạo hình hệ thống ống tủy sẽ ngăn ngừa tái nhiễm của ống tủy và các môquanh cuống.
1.5.1 Mục đích của việc tạo hình ống tủy
Mục đích của việc tạo hình là tạo điều kiện để làm sạch và cung cấpkhông gian cho việc trám bít ống tủy Mục tiêu chính của tạo hình là ống tủythuôn dần từ miệng ống tủy đến chóp răng Điều này làm giảm sai sót về thủtục khi làm sạch và mở rộng chóp Mức độ mở rộng thường được quyết địnhbởi các phương pháp của hàn kín ống tủy Để lèn ngang (lèn bên) guttapercha,khe lèn mở rộng đủ để cho vị trí của cây lèn nằm trong phạm vi ống tủy vàcách cuống 1- 2mm Có một tương quan độ sâu của việc lèn và độ khít củavùng chóp Đối với kỹ thuật lèn dọc nóng, độ rộng theo mặt cắt ngang phảicho phép các vị trí của cây lèn pluggers nằm trong ống tủy cách cuốngkhoảng 3- 5mm chiều dài làm việc
Khi ngà răng được lấy ra từ các thành ống tủy sẽ làm thành ống tủy yếu
đi Do vậy mức độ tạo hình được xác định bởi kích thước trước điều trị củaống tủy, cùng với kỹ thuật hàn ống tủy và các kế hoạch điều trị phục hồi Ốngtủy hẹp mỏng như răng cửa hàm dưới không thể mở rộng như ống tủy của cácrăng cửa hàm trên Vị trí chốt cũng là một yếu tố quyết định để loại bỏ mức
độ ngà răng
1.5.2 Nguyên tắc của làm sạch và tạo hình
Làm sạch và tạo hình là hai khái niệm riêng biệt nhưng được thực hiệnđồng thời Các tiêu chí chuẩn bị bao gồm: Đi hết chiều dài ống tủy, duy trìống tủy ở hình dạng ban đầu, duy trì lỗ chóp răng ở vị trí ban đầu của nó giữcho việc mở lỗ chóp chân răng càng nhỏ càng tốt, thành buồng tủy mịn.Việclàm sạch và tạo hình được thiết kế để tạo điều kiện cho việc hàn ống tủy đượcthuận lợi
Trang 30Để thực hiện tốt việc tạo hình ống tủy người làm nội nha cần phải hiểubiết sâu sắc về giải phẫu hệ thống ống tủy răng và các biến thể hay gặp của
nó, cùng các kỹ thuật và các dụng cụ trong điều trị nội nha Tuy nhiên ngàynay chưa có sự thống nhất về dụng cụ và các kỹ thuật điều trị nào là tốt nhất.Trâm niken titan đã được đưa vào nội nha bởi tính linh hoạt và khả năngchống mỏi mệt dụng cụ theo chu kỳ Khả năng mềm dẻo của dụng cụ chophép nó được sử dụng trong tay khoan quay, một lợi thế hơn thép không gỉ.Dụng cụ có tính chất của titanium được thiết kế cho cả thao tác cầm tay vàchạy máy
Nói chung các dụng cụ chạy máy không dùng cho ống tủy hình chữ S,ống tủy cong
Cần hạn chế gẫy dụng cụ Dụng cụ bị gẫy có thể xảy ra do các vòngxoắn mệt mỏi Lực xoắn tăng do sức cản ma sát, do làm tăng diện tích bề mặtdọc theo rãnh ma sát lớn và dễ làm gẫy dụng cụ Để hạn chế gẫy dụng cụ dolực xoắn nên kiểm tra các dụng cụ sau mỗi lần sử dụng là điều rất quan trọng
Sự căng thẳng do xoắn có thể được giảm bằng cách hạn chế sự tiếp xúc củacây trâm và sửa soạn ống tủy bằng kỹ thuật Crown down và bôi trơn dụng cụ
Sự mệt mỏi dụng cụ xảy ra nhiều hơn đối với trâm quay trong ống tủy congkhi trâm đi trong ống tủy với sự gắng sức và có thể dẫn đến gẫy dụng cụ Vìvậy đối với trâm titan nikel được khuyến cáo sử dụng có kiểm soát chặt chẽ
và tần suất sử dụng một đến năm trường hợp Đối với trường hợp khó hoặcống tủy bị vôi hóa khuyến cáo sử dụng dụng cụ một lần
1.5.3 Các kỹ thuật tạo hình ống tủy
Tạo hình hay sửa soạn ống tủy qua nhiều năm đã có sự thay đổi Sự thayđổi này dựa trên kết quả của những nghiên cứu về giải phẫu hệ thống ống tủy.Trước đây người ta quan niệm rằng mỗi chân răng có một ống tủy, chạy suốt
Trang 31từ buồng tủy đến chóp răng Do vậy việc sửa soạn ống tủy là hình tròn vàthuôn hầu như song song Theo mô tả cổ điển của Schilder, sau khi tạo hình
và làm sạch, ống tủy có dạng thuôn dần, đường kính nhỏ nhất là chỗ thắt chópchân răng và chỗ rộng nhất là miệng ống tủy Để đạt được kết quả này, dùngtoàn bộ các cây nong từ nhỏ tới lớn với cùng chiều dài làm việc đã đo Đồngthời để hàn ống tủy dùng kỹ thuật hàn với một cây côn gutta (kỹ thuật đơncôn), cây côn gutta này có kích thước bằng cây cây nong cuối cùng[2]
Do thường xuyên nghiên cứu về hình thái giải phẫu hệ thống ống tủy,các tác giả nước ngoài đã thấy rằng, một chân răng không chỉ có mộ tống tủy
và các ống tuỷ đó lại có các ống tủy phụ (ống tủy bên), các ống tủy phụ đó lạichia nhánh hoặc nối với nhau Để chất hàn chui được vào các ống tủy bên đóngười ta nghĩ đến việc dùng chất hàn dẻo và áp lực để nén vào các ống tủy
Do vậy, việc sửa soạn ống tủy phải được tạo thuôn đều từ miệng ống tủy vàthắt lại ở chóp răng, tức là giữ được kích thước nguyên bản của chóp răng.Nói cách khác, chỗ hẹp đó là cái nút để khi lèn, chất hàn có thể chui vào cácống tủy bên mà không đi qua đường ranh giới xương và ngà
Bất kỳ kỹ thuật nào được sử dụng trong làm sạch và tạo hình ống tủy đều
có thể tạo ra tai biến Chúng có thể là mất chiều dài làm việc, thông chóp, xácđịnh chóp sai, thủng thành bên ống tủy và gẫy dụng cụ trong ống tủy
- Mất chiều dài làm việc do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng baogồm việc không có một điểm tham chiếu phù hợp để từ đó xác định chiều dàilàm việc, sự vận chuyển mô và các mảnh vụn ở phần chóp của ống tủy, tạokhấc và các phép đo không chính xác
- Gẫy dụng cụ xảy ra do sự mệt mỏi của vòng xoắn theo chu kỳ Vòngxoắn mệt mỏi khi có sự căng thẳng tăng dần trong kim loại