1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu giá trị tiên lượng ác tính của siêu âm kết hợp với chất chỉ điểm u (CA12 5 và HE4) trong các khối u buồng trứng

105 134 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 480,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CA 12.5 là dấu ấn sinh học được sử dụng rộng rãi nhất trong ung thư biểu mô buồng trứng.Tuy nhiên, độ nhạy và độ đặc hiệu của CA 12.5 dù khá cao khoảng 80%trong tất cả các giai đoạn của

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

U buồng trứng là một trong những khối u thường gặp của hệ sinh dục nữ,đứng thứ hai về tần suất sau u xơ tử cung Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, từtrẻ em chưa thấy kinh đến người già sau mãn kinh

Ung thư buồng trứng (UTBT) là một trong những ung thư phụ khoa gây

tử vong hàng đầu của phụ nữ UTBT đứng thứ 3 trong ung thư phụ khoa sauung thư vú và ung thư cổ tử cung ở phụ nữ 40 - 60 tuổi, chiếm khoảng 4% cácung thư ở nữ giới, tỷ lệ mắc mới dao động 5-15 /100.000 phụ nữ hàng năm ởcác nước phương Tây Theo GLOBOCAN (2012), tỷ lệ mắc bệnh ở Việt Nam

là khoảng 3-4,5/100.000 phụ nữ/năm [1]

Buồng trứng là 1 trong số những cơ quan phát sinh ra nhiều loại u nhấttrong cơ thể Các khối u của buồng trứng có thể có nhiều nguồn gốc khácnhau nhưng chủ yếu xuất phát từ ba thành phần: biểu mô bề mặt, tế bào mầm

và dây sinh dục - mô đệm, trong mỗi loại u lại được chia thành nhiều nhómnhỏ Trong UTBT, có tới 80 - 90% UTBT là loại biểu mô, 5 - 10% là u tế bàomầm, và khoảng 5% u có nguồn gốc mô đệm [2]

UTBT là bệnh khó chẩn đoán sớm, phần lớn được phát hiện ở giai đoạnmuộn, khi bệnh đã lan tràn, gieo rắc vùng chậu và ổ bụng, khoảng 70% cáctrường hợp UTBT phát hiện ở giai đoạn tiến triển và tỷ lệ sống sót sau 5 nămdưới 30% [3] Vì vậy chẩn đoán sớm ung thư buồng trứng là yếu tố then chốtgiúp cải thiện tiên lượng bệnh

Chẩn đoán sớm và sàng lọc UTBT thường phải kết hợp lâm sàng vớiphương tiện chẩn đoán hình ảnh và xét nghiệm chất chỉ điểm u CA 12.5 là dấu

ấn sinh học được sử dụng rộng rãi nhất trong ung thư biểu mô buồng trứng.Tuy nhiên, độ nhạy và độ đặc hiệu của CA 12.5 dù khá cao (khoảng 80%)trong tất cả các giai đoạn của UTBT nhưng giảm xuống 50% hoặc thậm chí

Trang 2

thấp hơn ở những bệnh nhân giai đoạn sớm Hơn nữa, CA 12.5 có thể tăngtrong một loạt các bệnh lành tính phổ biến như lạc nội mạc tử cung và viêmvùng chậu, cũng như trong các khối u lành tính ở buồng trứng [4] Gần đây,HE4 (Human Epididymis protein 4) đã được xác nhận là một trong những dấu

ấn sinh học hứa hẹn nhất để chẩn đoán bệnh ở giai đoạn sớm HE4 đã được tìmthấy trong hơn một nửa khối u buồng trứng mà không có biểu hiện tăngCA12.5 [5], và ít gặp hơn trong các khối u lành tính của ung thư buồng trứng,thường thấy ở phụ nữ tiền mãn kinh [6] Sự kết hợp của các giá trị HE4 vàCA125 dẫn đến thuật toán đánh giá sự ác tính của buồng trứng - ROMA [7], cóthể cung cấp độ nhạy và độ đặc hiệu cao để phát hiện sớm UTBT

Tại Việt Nam, HE4 bước đầu được áp dụng trong chẩn đoán và theo dõiUTBT Xét nghiệm chất chỉ điểm CA 12.5 và HE4 đã được áp dụng tại bệnhviện K trong chẩn đoán và theo dõi UTBT Tuy nhiên các nghiên cứu về giátrị của chẩn đoán hình ảnh và các chất chỉ điểm u trong việc dự báo khả năng

ác tính của một khối u buồng trứng còn hạn chế và chưa đầy đủ Vì vậy,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu giá trị tiên lượng ác tính của siêu âm kết hợp với chất chỉ điểm u (CA 12.5 và HE4) trong các khối

u buồng trứng”, với mục tiêu:

1 Mô tả một số đặc điểm của siêu âm và chất chỉ điểm u của bệnh nhân u buồng trứng được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện K từ 1/2018 đến 8/2019.

2 Tìm hiểu giá trị tiên lượng ác tính các khối u buồng trứng dựa vào siêu âm kết hợp với chất chỉ điểm u (CA 12.5 và HE4) tại Bệnh viện

K trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu.

Trang 3

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 GIẢI PHẪU CỦA BUỒNG TRỨNG [8]

Buồng trứng là một tạng nằm trong ổ phúc mạc, hai buồng trứng nằm sáthai thành bên của chậu hông bé, sau dây chằng rộng Buồng trứng có hìnhhạnh nhân hơi dẹt, màu hồng nhạt Hình dáng kích thước của buồng trứngthay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể

Mặt ngoài liên quan với động mạch chậu ngoài, động mạch chậu trong

và động mạch tử cung Mặt trong liên quan với manh tràng, ruột thừa, ruộtnon ở bên phải và đại tràng sigma ở bên trái

Hình 1.1 Tử cung và các phần phụ

(Trích trong Atlas - Giải phẫu người của Frank H Netter)

Trang 4

Buồng trứng được định vị bởi 4 dây chằng Các dây chằng này treo giữbuồng trứng một cách tương đối:

+ Dây chằng tử cung - buồng trứng

+ Dây chằng thắt lưng - buồng trứng

+ Mạc treo buồng trứng

+ Dây chằng vòi trứng - buồng trứng

Mạch máu và thần kinh buồng trứng:

* Động mạch: Buồng trứng được cấp máu từ hai nguồn

- Động mạch buồng trứng: tách ra từ động mạch chủ bụng ở ngang

mức các động mạch thận Sau khi bắt chéo động mạch chậu ngoài, động mạchbuồng trứng chia làm 3 nhánh ở đầu trên của buồng trứng gồm: nhánh vòingoài, nhánh buồng trứng ngoài và nhánh nối

- Động mạch tử cung: tách ra các nhánh tận tiếp nối với các nhánh của

động mạch buồng trứng tạo thành cung mạch máu nuôi dưỡng buồng trứng

- Tại rốn buồng trứng: Động mạch buồng trứng chia ra 10 nhánh tiến

sâu vào vùng tủy

- Tại vùng chuyển tiếp: Các động mạch và tiểu động mạch tạo thành

một đám rối, từ đó tạo ra các mạch thẳng nhỏ hơn tiến vào vùng vỏ buồngtrứng, ở lớp vỏ trong của nang noãn có một mạng lưới mao mạch dày đặc

* Tĩnh mạch: Tĩnh mạch buồng trứng phải đổ về tĩnh mạch chủ dưới, tĩnh

mạch buồng trứng trái đổ về tĩnh mạch thận trái

* Hệ thống bạch huyết: Dẫn lưu vào các thân bạch mạch lớn hơn để tạo thành

đám rối ở rốn buồng trứng, chúng đi qua mạc treo buồng trứng để dẫn lưu tớicác hạch quanh động mạch, các nhánh khác dẫn lưu vào các hạch chậu trong,chậu ngoài, giữa động mạch chủ, động mạch chậu chung và hạch bẹn

* Thần kinh: Tách ra từ đám rối liên mạc treo và đám rối thận.

Trang 5

1.2 DỊCH TỄ HỌC

1.2.1 Trên thế giới

UTBT là một trong những bệnh UT phụ khoa phổ biến nhất ở phụ nữ

da trắng, đặc biệt một số quốc gia ở Bắc Mỹ và Bắc Âu Tỷ lệ mắc thấp ởNhật Bản và phụ nữ châu Phi Tỷ lệ mắc bệnh rất khác nhau tuỳ theo từngquốc gia, từng chủng tộc và từng thời kỳ Đã có những thông báo về sự giatăng tần xuất mắc bệnh và tử vong do UTBT tại Singapore, Anh, Tây BanNha, Nhật Bản [9]

Năm 2007, tại Mỹ ghi nhận 22.430 trường hợp mới mắc, 15.280 phụ nữ

tử vong vì căn bệnh này Ở Singapore UTBT đứng hàng thứ 6 trong các bệnh

nữ da đen tăng hàng năm 0,5% ở nhóm dưới 50 tuổi, 0,4% ở độ tuổi già hơn

Tỷ lệ mắc trung bình ở phụ nữ da trắng là 13 - 15/100.000 phụ nữ, trong khi

đó tỷ lệ mắc trung bình ở phụ nữ da đen là 10/100.000 phụ nữ [9]

Về tỷ lệ mắc theo tuổi, UTBT thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh,nhóm phụ nữ 40-44 tuổi tỷ lệ mắc 15.5/100.000 tỷ lệ này tăng dần theo tuổi

và đạt đỉnh cao ở nhóm 70-74 với tỷ lệ mắc 57/100.000 [9]

1.2.2 Tại Việt Nam

Năm 2004, theo ghi nhận UT tại thành phố Hồ Chí Minh UTBT đứnghàng thứ 3 trong UT cơ quan sinh dục nữ với tần suất là 4,4/100.000 dân [9]

Trang 6

Theo Nguyễn Bá Đức, Đào Ngọc Phong, giai đoạn 2001 - 2004 tỷ lệmắc UTBT ở Hà Nội là 3,7/100.000 dân [11]

Theo ghi nhận UT năm 2006 tại Việt Nam, trong số 10 bệnh UTthường gặp nhất ở phụ nữ, UTBT đứng hàng thứ 7 Căn bệnh khó này đangthực sự là gánh nặng sức khỏe đối với phụ nữ bởi khả năng phát hiện và chẩn

đoán sớm là rất khó [9]

1.3 NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ [12]

Hiện nay người ta vẫn chưa xác định rõ nguyên nhân dẫn đến UTBT,tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ sau được xác định có liên quan đến bệnh

sự phóng noãn bị đình chỉ trong thời gian cho con bú ở một số phụ nữ

Có kinh sớm, mãn kinh muộn cũng là yếu tố nguy cơ tăng khả năngmắc UTBT Về lý thuyết, bề mặt biểu mô của buồng trứng liên tục quá trình

bị tổn thương - rụng trứng và sửa chữa - làm sẹo Quá trình này làm tăng khảnăng phát sinh đột biến gen dẫn đến việc xuất hiện UT Trong thời gian mangthai và cho con bú quá trình này bị ngưng lại, yếu tố này được cho là giảmnguy cơ mắc bệnh

Trang 7

1.3.3 Tiền sử nội tiết

* Hormon ngoại sinh:

- Sử dụng thuốc tránh thai với thời gian dài giảm nguy cơ mắc bệnh.Người ta cho rằng nếu dùng thuốc tránh thai 5 năm làm giảm nguy cơ ở ngườichưa chửa đẻ xuống còn như người đã đẻ, nếu dùng 10 năm làm giảm nguy

cơ ở người có tiền sử gia đình bị UTBMBT xuống còn như người không cótiền sử gia đình bị UTBMBT

- Ở những phụ nữ phải dùng thay thế hormon, nguy cơ UTBMBT cũnggiảm đi Dùng thuốc kích thích rụng trứng như clomiphen citrat làm tăngnguy cơ 2-3 lần nếu dùng trên 12 chu kỳ

* Hormon nội sinh:

- Nồng độ Androgen cao, FSH và LH thấp làm tăng nguy cơ UTBMBT

1.3.4 Tuổi

UTBM buồng trứng thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh Tuổi mắc trungbình là 60 Nhóm phụ nữ 40 - 44 tuổi tỷ lệ mắc 15-16 /100.000 phụ nữ, tỷ lệnày tăng dần theo tuổi và gặp nhiều nhất ở nhóm tuổi 70 - 74 với tỷ lệ mắc là57/100.000 phụ nữ Trái lại ung thư tế bào mầm buồng trứng hay gặp ở ngườitrẻ dưới 30 tuổi [9]

1.3.5 Yếu tố gen [12]

Có khoảng 5- 10% UTBM buồng trứng có tính di truyền, thường xảy rasớm hơn 10 năm so với UTBM buồng trứng không có tính di truyền, tuynhiên tiên lượng có vẻ tốt hơn UTBM buồng trứng di truyền nằm trong 2 hộichứng chính bao gồm:

- Hội chứng ung thư vú-buồng trứng gia đình: chiếm khoảng 90% trong

UTBT di truyền, thường ảnh hưởng tới liên quan phả hệ bậc 1 và 2 Hội chứngnày thường gặp ở phụ nữ trẻ, thường ở cả hai bên vú và hoặc buồng trứng Ởnhững phụ nữ này, nguy cơ bị mắc ung thư vú trong suốt cuộc đời là 50-85%,

Trang 8

UTBT là 15-40 % Về cấp độ phân tử hội chứng liên quan đến đột biến của 2gen BRCA1 và hoặc BRCA2 Locus gen hiện diện trên chromosome 17 q12-21của gen BRCA1, chromosome 13 q12-13 của gen BRCA2 Nguy cơ mắcUTBMBT trong cuộc đời người phụ nữ mang những đột biến trên là 20-60%những người mang đột biến gen BRCA1, 10-35 % những người mang độtbiến BRCA2 Đa số UTBT liên quan đến đột biến gen BRCA1 là ung thưbiểu mô tuyến thanh dịch, thời điểm chẩn đoán ở độ tuổi trung bình 40 tuổi,ngược lại độ tuổi trung bình của UTBT liên quan đến đột biến gen BRCA2 là

60 tuổi Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng tiên lượng của UTBMBT di truyềntốt hơn so với không di truyền Theo Rubin [13] thời gian sống thêm trung vịcủa UTBT di truyền giai đoạn tiến triển liên quan đến đột biến gen BRCA1 là

77 tháng so với 29 tháng của nhóm chứng Cass [14] cũng ghi nhận lợi íchsống thêm tương tự qua một nghiên cứu thuần tập và gợi ý rằng có sự cải thiệnđáp ứng với hóa chất có platium của các bệnh nhân mang đột biến gen BRCA1

và hoặc BRCA2 so với các bệnh nhân không mang những đột biến gen này Cơchế được giải thích là do tế bào u không có khả năng sửa chữa những tổnthương ADN do platinum gây ra [13], [15]

- Hội chứng Lynch II: chiếm khoảng 5-10% trong UTBT di truyền, biểu

hiện ở nhiều cơ quan, hiện diện đồng thời ung thư ở đại tràng, buồng trứng,nội mạc tử cung, vú và những ung thưu khác của đường sinh dục Người ta đãtìm thấy hội chứng này liên quan đến đột biến một trong năm gen: hMSH2,hMLH1, hPMS1, hPMS2, hMSH6, nhưng chủ yếu là hai gen: hMSH2,hMLH1 Nguy cơ mắc UTBT gấp 3,5 lần ở những phụ nữ thành viên trongnhững gia đình này [12, 13]

- Các phụ nữ liên quan đến UTBT di truyền nên được theo dõi một cáchchặt chẽ thông qua tư vấn về gen học, khám sàng lọc định kỳ hàng năm bởicác bác sỹ ung thư phụ khoa Cắt phần phụ hai bên dự phòng sau tuổi 35 hoặc

Trang 9

sau kết thúc một lần sinh đẻ, được chứng minh làm giảm đáng kể nguy cơUTBT và ung thư vú ở những bệnh nhân này Một nghiên cứu trên 259 bệnhnhân mang gen đột biến ung thư vú-buồng trứng trải qua phẫu thuật cắt phầnphụ hai bên, kết quả cho thấy giảm 96% UTBT và 50% ung thư vú so vớinhóm chứng Tuy nhiên vẫn có một nguy cơ thấp cho ung thư thanh dịch củaphúc mạc, được coi là cùng nguồn gốc với UTBMBT [12], [16]

1.4 NGUỒN GỐC CÁC KHỐI U BUỒNG TRỨNG

1.4.1 U biểu mô bề mặt [17-19]

Cho đến nay, có nhiều giả thuyết còn đang tranh luận nhưng đa số cáctác giả thừa nhận và ủng hộ thuyết phát sinh từ “Nang vùi biểu mô và dị sảnbiểu mô bề mặt buồng trứng” Nói chung nguồn gốc của sự hình thành cácnang vùi biểu mô còn chưa thống nhất hoàn toàn Sự hình thành thể trắng, cácnang noãn thoái triển và xơ hóa buồng trứng làm cho buồng trứng trở nên nhỏhơn, trên bề mặt có những xoắn vặn, nhăn nhúm Quá trình này kéo biểu môphủ khoang cơ thể nằm ở phía trên vào mô đệm, dần dần tạo ra những ổ biểu

mô nằm sâu trong mô đệm Những ổ biểu mô này dần dần phân cách với biểu

mô bề mặt bằng một lớp mô đệm để tạo thành các nang biểu mô khoang cơthể vùi trong vùng vỏ buồng trứng

Các nang vùi còn có thể được hình thành sau phóng noãn - tạo hoàngthể Sau đó hoàng thể thu nhỏ, xơ tăng sinh tạo nên thể trắng kéo theo biểu

mô phủ ở phía trên xuống tạo ra ổ biểu mô nằm trong phần vỏ Các nang vùinày cũng có thể được hình thành thứ phát do sự sát nhập của phần cuối tuavòi trứng với trung mô phúc mạc phủ buồng trứng, do sự dính vòi trứng –buồng trứng Quá trình này được hỗ trợ bởi dịch nang noãn Sau đó vùng này

tổ chức hóa, bề mặt buồng trứng được tái tạo lại, có thể dẫn đến hiện tượngbiểu mô phủ bề mặt buồng trứng vùi vào mô đệm vùng vỏ buồng trứng

Trang 10

Sau cùng, các nang vùi có thể là sự phát triển gợi lại ống Muller trongthời kỳ bào thai.

Mặc dù có nhiều giả thuyết khác nhau cắt nghĩa sự hình thành nangvùi biểu mô nhưng quan trọng hơn là các nang vùi đã xuất hiện trong vỏbuồng trứng và chúng có thể dị sản hoặc quá sản tiếp theo dẫn tới hìnhthành các u nang biểu mô buồng trứng

Như vậy, sự hình thành các nang biểu mô buồng trứng là do dị sản –tăng sản của biểu mô khoang cơ thể, loại biểu mô này có chung nguồn gốcống Muller - mẹ đẻ của tử cung và vòi tử cung nên khi biến đổi dị sản tạo ra

 Nang nước (Tương tự biểu mô vòi tử cung)

 Nang nhầy (Tương tự biểu mô ống cổ tử cung)

 Nang dạng nội mạc (Như biểu mô nội mạc tử cung)

 Ở vùng chuyển tiếp là u BrennerQuá trình dị sản xảy ra hoặc ở biểu mô bề mặt trước khi các nang vùihình thành hoặc xảy ra ở biểu mô phủ nang vùi

Với UTBT, về nguyên nhân gây ra loại ung thư này, đang tồn tại haikhuynh hướng được các nhà nghiên cứu ủng hộ: đó là sự “chấn thương” trênbiểu mô vỏ buồng trứng do quá trình phóng noãn được lặp đi lặp lại trong cuộcđời người phụ nữ Giả thuyết này tỏ ra có lý vì UTBM không gặp ở trẻ em vàphụ nữ teo đét buồng trứng Ở phụ nữ dùng thuốc chống phóng noãn, phụ nữđang có thai và cho con bú liên tục, tỷ lệ UTBT giảm xuống 1,5 – 3,2 lần so vớiphụ nữ không có thai Nhóm giả thuyết thứ 2 (Yaker 1975) cho rằng: các chấtgây UT đi qua âm đạo, cổ tử cung, tử cung, vòi trứng rồi tác động lên biểu mô

bề mặt buồng trứng cũng như tác động lên các nang vùi biểu mô Nhiều nghiêncứu cho thấy: UTBM buồng trứng chủ yếu phát sinh từ các tuyến vùi biểu môhơn là trực tiếp từ biểu mô bề mặt và coi sự biệt hóa ống Muller là bước đầutrong sự hình thành ung thư

Trang 11

1.4.2 U tế bào mầm [20]

Theo một số tác giả (Simard L.C 1975, Frederick K 1994), u tế bàomầm là do đơn tính sinh của tế bào mầm tạo ra Các tế bào sinh dục dù chỉ có

23 nhiễm sắc thể vẫn có thể sinh ra các bộ phận và tổ chức trong cơ thể trong

đó tuyệt đại đa số là lành tính bao gồm: u quái thành thục và hay gặp nhất là unang bì (95% là u nang bì lành tính), có một tỷ lệ nhỏ là ác tính (1% - 3%theo Smith J.P 1973, Robert R.S 1982, Philip B Clement 2000) bao gồm u tếbào mầm nguyên thủy, u xoang nội bì (u túi noãn hoàng), ung thư bào thai,ung thư nguyên bào nuôi tiên phát ở buồng trứng, u quái chưa thành thục

1.4.3 U dây sinh dục - mô đệm của buồng trứng [19].

Người ta cho rằng: các khối u mô đệm sinh dục có thể có nguồn gốc từtrung mô tuyến sinh dục là nơi có khả năng phát triển thành cơ cấu tuyến sinhdục của nam và nữ tạo thành các khối u nam hóa và nữ hóa Các u này thườnggây rối loạn nội tiết, rối loạn sự phát triển giới tính hay kinh nguyệt Các khối

u này bao gồm u tế bào hạt ác tính, u tế bào vỏ ác tính, u tế bào Leydig, u tế bào Steroid

Sertoli-1.5 PHÂN LOẠI U BUỒNG TRỨNG THEO GIẢI PHẪU BỆNH VÀ LÂM SÀNG

1.5.1 Phân loại u buồng trứng theo mô bệnh học [19]

Năm 2003, tổ chức y tế thế giới WHO – World Health Organization đãđưa ra một bảng phân loại khối u buồng trứng như sau:

* U mô đệm biểu mô bề mặt

1.1 U thanh dịch: Lành tính

U giáp biên

Ác tính1.2 U nhầy: Lành tính

U giáp biên

Trang 12

Ác tính

U nang chế nhầy với các nốt vách nang

U nang chế nhầy giả u nhầy phúc mạc1.3 U dạng nội mạc tử cung gồm các biến thể biệt hóa vảy:

Lành tính

U giáp biên

Ác tính1.4 U tế bào sáng: Lành tính

U giáp biên

Ác tính1.5 U tế bào chuyển tiếp: Lành tính

U giáp biên

Ác tính1.6 U tế bào vảy:

- UTBM tế bào vảy

1.8 U không phân loại và không biệt hóa

- UTBM không biệt hóa

- UTBM tuyến không cần ghi chú thêm

* U mô đệm – dây sinh dục

* U tế bào đệm - hạt

2.1 Nhóm u tế bào hạt

2.2 Nhóm u xơ – u vỏ

Trang 13

3.1 U tế bào mầm nguyên thủy

3.2 UT biểu mô bào thai

3.3 U quái 2 hoặc 3 pha

3.4 U quái đơn bì và các u quái typ tế bào thân, kết hợp với nang bì3.5 Các loại khác

* U mô đệm – dây sinh dục tế bào mầm

* Những u của vết tích bào thai ở buồng trứng

“UTBM thanh dịch độ cao” [21], [20]

Trang 14

Tuy nhiên cũng có một số rất hiếm các trường hợp u thanh dịch giápbiên và UTBM thanh dịch độ thấp có thể tiến triển thành UTBM thanh dịch

độ cao Trong phân loại mới này không còn thứ típ UTBM tế bào chuyển tiếp,các típ của nhóm u biểu mô ác tính được rút gọn hơn so với phân loại năm

2003 Mặt khác, các UTBM được trình bày chi tiết hơn về sinh bệnh học, tạo

mô học và đặc biệt là các biến đổi về sinh học phân tử Phần chi tiết của phânloại xin được trình bày ở bảng phụ lục, dưới đây chúng tôi chỉ nêu về cácUTBM của buồng trứng:

Trang 15

UTBM không biệt hóa

1.5.2 Phân loại u buồng trứng theo lâm sàng

1.5.2.1 U nang buồng trứng

*Các khối u cơ năng: [17]

Khối u cơ năng BT sinh ra do tổn thương chức năng của BT U thườnglớn nhanh, chỉ tồn tại trong vài chu kỳ kinh, không cần điều trị

Nang bọc noãn: Do nang De Graaf vỡ muộn, tiếp tục tiết estrogen.Dịch trong nang thường có màu vàng chanh và chứa nhiều estrogen

Nang hoàng tuyến hay gặp ở những bệnh nhân chửa trứng hoặc ung thưnguyên bào nuôi, có thể gặp ở những bệnh nhân vô sinh đang được điều trịbằng hormon hướng sinh dục liều cao, là hậu quả của β hCG tăng quá cao Uthường có cả hai bên buồng trứng, nhiều thùy, vỏ mỏng, chứa nhiều lutein

Nang hoàng thể: sinh ra từ hoàng thể, chỉ gặp trong giai đoạn hoàng thể

và thời kỳ thai nghén, nhất là trong trường hợp đa thai Nang chứa nhiềuestrogen và progesteron

*Các khối u thực thể: [17]

U nang nước: thường lành tính,vỏ mỏng, có thể có cuống dài, trong

chứa dịch trong Nang thường không dính vào xung quanh, có thể có nhú ởmặt trong hay mặt ngoài của vỏ nang, nếu có nhú thường ác tính

U nang nhầy: Nang có nhiều thùy nên có thể rất to, thành nang dày

gồm hai lớp: Lớp ngoài là tổ chức xơ, ở trong là lớp thượng bì trụ đơn,trong nang chứa dịch nhầy màu vàng U nang nhầy có thể dính vào cáctạng xung quanh

U nang bì: Thường gặp nhất là u quái (teratome) và các khối u tế bào

mầm, có thể gặp ở mọi lứa tuổi, 10% teratome gặp khi mang thai Thành nang

Trang 16

có cấu trúc như da gồm lớp sừng, mỡ, tuyến mồ hôi, trong nang chứa tóc,răng, bã đậu.

U nang dạng nội mạc tử cung: Nang thường là một thùy ở một hoặc hai

bên BT , thành mỏng, dính, bên trong chứa dịch màu nâu sẫm

Các nang cơ năng tồn tại trên 3 chu kỳ đều được coi là nang thực thể

1.5.2.2 UTBT và các khối u buồng trứng khác

* Khối u có nguồn gốc biểu mô : Chiếm khoảng 70% các khối u buồng trứng

(75% là u thanh dịch, 20% là u nhầy, 2% là u dạng lạc nội mạc tử cung)

* Khối u tế bào mầm: Chiếm khoảng 15 – 20% tất cả các loại khối u buồng

trứng Khối u tế bào mầm thường gặp ở bệnh nhân dưới 20 tuổi

* Khối u mô đệm buồng trứng: Chiếm khoảng 5% tất cả các loại khối u

CA 12.5 huyết thanh không hữu ích khi sử dụng đơn độc bởi vì sự tăngkhông đặc hiệu cho UTBT, nó có thể tăng trong các bệnh lành tính khác như:

u xơ tử cung, lạc nội mạc tử cung, u nang buồng trứng, các bệnh viêm nhiễmvùng chậu, tràn dịch màng phổi, màng bụng bất cứ nguyên nhân gì; và cácbệnh ác tính như: ung thư vú, phổi, đại-trực tràng, tụy, dạ dày…Mặt khác CA12.5 chỉ tăng trong khoảng 50% các trường hợp UTBMBT giai đoạn sớm

Trang 17

Kết hợp CA 12.5 huyết thanh và siêu âm đầu dò âm đạo đặc biệt là siêu

âm Doppler màu là một nỗ lực trong việc cải thiện hiệu quả của sàng lọc.Việc kết hợp khám khung chậu, xét nghiệm nồng độ CA 12.5 huyết thanh vàsiêu âm đầu dò âm đạo hàng năm đối với các phụ nữ có nguy cao mắc UTBT(tiền sử gia đình có mẹ, hoặc chị, em mắc ung thư vú, UTBT; mang genUTBT di truyền …) làm tăng tỷ lệ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm, mặc dùhiện tại chưa có một bằng chứng rõ ràng giảm được tỷ lệ tử vong của UTBTqua các phương pháp này Gần đây người ta đã phát hiện ra một số chất chỉđiểm u khác hứa hẹn sẽ làm tăng độ chính xác của CA 12.5 huyết thanh nhưHE4, osteopontin, mesothelin, và osteoblast-stimulating factor-2 [12]

1.6.2 Triệu chứng lâm sàng

1.6.2.1 Triệu chứng cơ năng

Buồng trứng là cơ quan nằm sâu trong khung chậu Ở giai đoạn sớm,

các triệu chứng của UTBT thường tiến triển âm thầm và không có dấu hiệuđặc trưng, thường chỉ là cảm giác đầy tức bụng mơ hồ, khó giải thích hoặccác triệu trứng mượn của hệ tiêu hóa (táo bón) và tiết niệu (tiểu nhiều lần, tiểukhó), đôi khi gặp dấu hiệu đau bụng với nhiều mức độ khác nhau nhưng cũngkhông đặc hiệu, thường gặp trong hoàn cảnh khám bệnh định kỳ hoặc tình cờphát hiện khi khám một bệnh khác Mặt khác lại có khoảng 1/3 bệnh nhânUTBT không có triệu chứng gì và có đến 75% trường hợp đã có các triệuchứng trên 6 tháng cho đến lúc được chẩn đoán Chính vì vậy, hơn 70% cáctrường hợp khi được phát hiện thì đã ở giai đoạn muộn, lúc này các triệuchứng thường rầm rộ, tiến triển nhanh như thấy bụng chướng nhanh, gầy sút,kém ăn, nhiều trường hợp bệnh nhân tự sờ thấy u Kèm theo là các triệu chứng

do khối u chèn ép, xâm lấn các cơ quan lân cận như rối loạn kinh nguyệt, ra máu

âm đạo sau mãn kinh, các biến chứng tiêu hoá, tiết niệu, đau bụng do u xoắn, vỡhoặc khó thở do cổ trướng nhiều hay do tràn dịch màng phổi

Trang 18

Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân có biểu hiện suy dinh dưỡng nặng, rối loạnnước điện giải Hình ảnh lâm sàng điển hình là bụng căng to, người chỉ còn dabọc xương, mất hết tổ chức mỡ ở mặt làm cho bệnh nhân luôn như cười mỉamai, mắt trũng Hình ảnh đó gọi là bộ mặt buồng trứng [22].

Các khối u tế bào mầm thường được phát hiện sớm hơn so với ung thưbiểu mô (70% phát hiện bệnh ở giai đoạn I) vì u phát triển nhanh, làm căng bềmặt buồng trứng và dây chằng rộng gây đau mặc dù u vẫn khu trú ở buồngtrứng, u có kích thước to khiến bệnh nhân tự sờ thấy hoặc đau tức hạ vị là cáctriệu trứng thường gặp nhất khiến bệnh nhân đến khám bệnh

Đối với thể u giáp biên do đặc điểm u phát triển rất chậm nên bệnh nhânđến khám khi u có kích thước lớn, chiếm hết hạ vị

1.6.2.2 Triệu chứng thực thể

Ở giai đoạn sớm cần thăm khám kỹ phần tiểu khung, thăm âm đạo, trựctràng để đánh giá vị trí, kích thước, mật độ cũng như mức độ di động và xâmlấn của u Khi u còn khu trú tại buồng trứng thường di động dễ và ranh giới rõnhưng khi vượt quá khỏi buồng trứng và xâm lấn các cơ quan lân cận thì uthường hạn chế di động và ranh giới không rõ ràng với cơ quan xung quanh.Dấu hiệu cổ trướng có thể gặp nhưng ít hơn nhiều so với giai đoạn muộn vàthường ở mức độ nhẹ hoặc vừa Khám vùng bụng chậu kết hợp với khám phụkhoa là động tác quan trọng đầu tiên khi nghi ngờ một khối u buồng trứng,nhất là đối với giai đoạn sớm các dấu hiệu thực thể thường nghèo nàn vàkhông đặc hiệu

Ở giai đoạn muộn các triệu chứng phong phú và rõ rệt hơn, thường códịch cổ trướng xuất hiện Sự xuất hiện dịch cổ trướng là một biểu hiện xấucủa bệnh Khám kỹ vùng bụng có thể phát hiện được biểu hiện u xâm lấn,phát triển làm đóng bánh mạc nối lớn Cần thăm khám toàn thân để đánh giáthể trạng cũng như tìm kiếm các biểu hiện lan tràn của bệnh như tràn dịchmàng phổi, hạch bẹn, hạch thượng đòn [23]

Trang 19

1.6.3 Cận lâm sàng

1.6.3.1 Siêu âm

Siêu âm là một phương pháp chẩn đoán quan trọng đầu tiên trong đánhgiá một khối vùng tiểu khung, nó nhậy hơn so với các phương pháp chẩnđoán hình ảnh khác như CT trong việc phát hiện những khối u buồng trứng.Siêu âm cung cấp những thông tin có giá trị cao, gợi ý khả năng lành tínhhoặc ác tính của những khối u buồng trứng [12]

Siêu âm ổ bụng: có giá trị trong việc đánh giá kích thước u, vị trí u ở

một hay cả hai bên buồng trứng, tình trạng dịch ổ bụng cũng như tìm kiếmbằng chứng về di căn xa tới các cơ quan khác trong ổ bụng đặc biệt là việcđánh giá tình trạng di căn gan, di căn hạch ổ bụng

Siêu âm đường âm đạo: xác định cấu trúc bên trong của khối u.

Siêu âm Doppler màu: nghiên cứu sự thay đổi phân bố mạch máu vùng

tiểu khung, tình hình cấp máu của khối u

Các dấu hiệu sau đây trên siêu âm gợi ý hình ảnh một khối u ác tính [24]:

+ Thành phần đặc hoặc hỗn hợp cả đặc và lỏng

+ Có nhiều vách, dày không đều, kích thước > 3 mm

+ Có nụ sùi trong nang

+ Bờ nham nhở không rõ với tổ chức xung quanh

+ Có dịch ổ bụng

+ Kích thước ≥ 10 cm

+ Nhiều mạch máu tân sinh trên siêu âm Doppler màu

Nang cơ năng: thường có kích thước nhỏ (<6cm), bờ rõ, thành mỏng,

dịch nang là vùng âm vang không đồng nhất, thường tự mất đi sau 2 – 3 chu

kỳ kinh

Trang 20

U buồng trứng thực thể: Siêu âm có thể xác định được bờ viền u, độ

dày của vỏ, vách u, cấu trúc âm vang phản xạ trong lòng u và liên quan của uvới các vùng xung quanh, u có kèm theo dịch cổ trướng hay không?

- Nang nước : Thường có một thùy, thành mỏng, ranh giới rõ, dịch trong

nang có âm vang đồng nhất, đôi khi u có vách, có nhú

- Nang nhầy: Thường có nhiều thùy, thành dày, ranh giới rõ, u có nhiều

vách, dịch nang có âm vang thưa

- Nang dạng nội mạc tử cung: Có thành dày, phản xạ âm vang thưa

không thuần nhất, có thể có một hoặc nhiều thùy

- Nang bì: Có nhiều hình ảnh đa dạng:

+ U Brenner: Hình ảnh đậm âm và đồng nhất, có khi có nang

+ UT nguyên phát thể đặc: U có âm vang đậm, không đồng nhất,ranh giới không rõ ràng

Theo nghiên cứu của Herrmann [25] dự đoán tính chất ác tính của ubuồng trứng qua siêu âm dựa vào các đặc điểm u có bờ không rõ, vách ngăndày, cổ trướng và nhất là có tổ chức đậm âm trong khối u, sau đó so với kếtquả giải phẫu bệnh khối u sau mổ , người ta thấy phương pháp chẩn đoán này

có độ nhạy cao (82,6%) Nếu qua siêu âm chẩn đoán là ác tính thì tỷ lệ đúng

là 73% Nếu siêu âm chẩn đoán là lành tính thì tỷ lệ đúng là 95,6%

Ngày nay, bằng phương pháp siêu âm màu người ta có thể phát hiệnđược những mạch máu tăng sinh bất thường xung quanh và trong lòng khối u

Trang 21

Trong khối u buồng trứng ác tính có rất nhiều mạch máu tăng sinh Nhữnghình ảnh Doppler màu dự đoán khối u buồng trứng ác tính:

- Mạch máu xâm nhập nhiều ở vùng trung tâm của khối u

- Mạch máu nhánh to hơn mạch máu chính

- Có nhiều mạch nối tắt giữa động mạch và tĩnh mạch, cuối mạch máuphình to thành hồ huyết

Fleicher AC [26] nhận xét rằng: Với phương pháp Doppler màu thì khảnăng chẩn đoán đúng UTBT là 83% (độ nhậy là 92%, độ đặc hiệu là 80%).Hiện nay nhiều tác giả dựa vào siêu âm để phân loại tiền phẫu u buồngtrứng, có nhiều thang điểm khác nhau để đánh giá tính chất u buồng trứngtrên SA như thang điểm của Sasson [27] (các khối u trên 9 điểm nghi ngờ là

ác tính), thang điểm của đại học Tokyo (các khối u thuộc nhóm I, II, III (A,B) đa số là các khối u lành tính, các khối u từ nhóm IIIC trở lên có tỷ lệ áctính tùy theo từng loại khối u), thang điểm của Osmers [28]

Các bảng phân loại này đã giúp ích rất nhiều cho các nhà lâm sàng trongvấn đề tiên lượng và xử trí u buồng trứng

Kết hợp siêu âm đầu dò âm đạo với định lượng nồng độ CA 12.5 huyếtthanh có ý nghĩa trong việc sàng lọc và phát hiện sớm UTBT đối với các phụ

nữ có nguy cơ cao, tuy nhiên sự kết hợp này không được khuyến cáo trongsàng lọc đối với những phụ nữ không có các yếu tố nguy cơ rõ ràng [29],[26], [30], [31], [32]

1.6.3.2 Xét nghiệm CA 12.5 huyết thanh

Kháng nguyên carbohydrate 12.5 (CA 12.5), là một glycoprotein loạimucin, được sản xuất bởi gen MUC16 và liên kết với màng tế bào Dấu ấnsinh học này thường được sử dụng cho các tổn thương buồng trứng Nó đãđược sử dụng vào đầu năm 1980 khi Bast và CS [33] đặc biệt phân lập khángthể đơn dòng OC 125 trong mô buồng trứng ung thư so với mô buồng trứng

Trang 22

khỏe mạnh Nồng độ CA 12.5 tăng khi lớn hơn 35 U/ml, giống nhau ở bệnhnhân trước và sau mãn kinh Tuy nhiên, CA 12.5 thường không nhạy tronggiai đoạn đầu của UTBT (chỉ báo cáo tăng trong 23 đến 50% trường hợp giaiđoạn I) Người ta đã chứng minh được rằng có gần 1% phụ nữ khỏe mạnhkhông mang thai có nồng độ CA 12.5 huyết thanh > 35U/ml Trong khi đó, cókhoảng 80% - 85% bệnh nhân UTBM buồng trứng có nồng độ CA 12.5 huyếtthanh tăng cao Ngoài ra, nồng độ CA12.5 huyết thanh tăng cao có thể đượcquan sát trong các tình trạng sinh lý hoặc bệnh lý khác (kinh nguyệt, mangthai, lạc nội mạc tử cung, các bệnh viêm phúc mạc) [34] Trong một phân tíchtổng hợp của Ferraro và CS [35], độ đặc hiệu của CA 12.5 để phát hiện ungthư buồng trứng là 78% (95% CI 76-80) Để mô tả các chỉ điếm khối u và testsàng lọc, vùng đặc tính hoạt động của người nhận (ROC) dưới đường cong(AUC) thường được sử dụng vì nó đại diện cho một công cụ đồ họa hữu ích

để so sánh các dấu ấn sinh học và thuật toán ROC đo lường sự phân biệt củamột xét nghiệm, tức là khả năng phân biệt giữa có bệnh và không mắc bệnhđối với một bệnh nhân nhất định Trong nghiên cứu của Dikmen [36], AUCcho CA 12.5 khá yếu (0,78), cho thấy rằng nó có thể không phải là điểm đánhdấu lý tưởng để chẩn đoán UTBT

Nồng độ CA 12.5 huyết thanh thường được đo khi quan sát thấy u nangbuồng trứng, để loại trừ khối u ác tính Nhưng trong nhiều thập kỷ qua, nồng

độ CA 12.5 huyết thanh tăng cao đã được nhìn thấy trong u lạc nội mạc tửcung, do đó cho tỷ lệ cao là dương tính giả [37] Điều này đã được xác nhậntrong một nghiên cứu gần đây của Cochrane, báo cáo rằng trong số 97 dấu ấnsinh học được nghiên cứu, CA 12.5 là dấu hiệu duy nhất tăng trong trườnghợp lạc nội mạc tử cung với độ nhạy 40% và độ đặc hiệu 91% với giới hạn cắt

là 35 U/mL [38] Trong một phân tích tổng hợp rất gần đây, Hirsch và CS[39] đã chứng minh rằng CA 12.5 nên hữu ích để chẩn đoán lạc nội mạc tử

Trang 23

cung, đặc biệt là với độ nhạy tăng dần tương ứng đồng thời với giai đoạnbệnh Chen và CS [40] báo cáo rằng nồng độ CA 12.5 cao hơn đáng kể trongnhóm có u nang lạc nội mạc tử cung so với nhóm có khối u buồng trứng lànhtính khác (49,7 U / mL so với 21,6 U / mL).

CA 12.5 là một chỉ điểm khối u trong nhiều thập kỷ, nên những thay đổi vềmức độ của nó theo đặc điểm nhân khẩu học và lối sống của bệnh nhân đã đượcđánh giá nhiều lần [41], [42] Hút thuốc dường như không làm thay đổi nồng độCA12.5 huyết thanh [43], [44] Trong khi CA 12.5 có thể thay đổi trong chu kỳkinh nguyệt, người ta đã chứng minh rằng mức độ của nó không bị ảnh hưởngbởi biện pháp tránh thai kết hợp estrogen cộng với progestin [42], [45] Tương

tự, chỉ số khối cơ thể không làm thay đổi mức CA 12.5 [46]

Ở những phụ nữ đã mãn kinh, khi có khối u buồng trứng đi kèm với tăng

CA 12.5 huyết thanh (> 65 U/ml) có độ nhậy là 97% và độ đặc hiệu là 78%với UTBT Tuy nhiên ở những phụ nữ tiền mãn kinh độ nhậy và độ đặc hiệucủa CA 12.5 huyết thanh giảm xuống do hiện tượng tăng nồng độ CA 12.5huyết thanh có thể gặp ở những trường hợp đang mang thai, lạc nội mạc tửcung, u cơ trơn tử cung và những tổn thương viêm nhiễm vùng tiểu khung

Những phụ nữ đã mãn kinh, khi có khối u buồng trứng kèm theo tăng nồng độ

CA 12.5 huyết thanh thì có chỉ định phẫu thuật thăm dò [12]

Liên quan với thể giải phẫu bệnh, UTBT typ biểu mô thường tăng nồng

độ CA 12.5, trong khi đó u tế bào mầm liên quan đến sự tăng nồng độ βHCG

và ˜FP, u dây sinh dục và u giáp biên thường ít liên quan đến sự tăng nồng độcác chất chỉ điểm u Trong nhóm UTBM, UTBM thanh dịch có xu hướng tăngnồng độ CA 12.5 huyết thanh cao nhất (> 85% các trường hợp), trong khi ở thểchế nhày, týp tế bào sáng tỷ lệ tăng nồng độ CA 12.5 huyết thanh thấp hơn.Các khối u buồng trứng tế bào mầm và u mô đệm sinh dục tỷ lệ tăng nồng độ

CA 12.5 huyết thanh cũng thấp hoặc không tăng [12]

Trang 24

Như vậy CA 12.5 tăng trong UTBT nhưng không đồng nhất ở giai đoạnbệnh và các thể giải phẫu bệnh, ngoài ra CA 12.5 còn tăng trong một số bệnh lýlành tính và ung thư khác Điều này dẫn đến CA 12.5 không phải là test sàng lọc

hữu ích trong UTBT Đây cũng là một trong những nguyên nhân giải thích

ung thư buồng trứng xếp vào nhóm bệnh ung thư có hiệu quả sàng lọc và pháthiện sớm thấp hơn nhiều so với ung thư vú và ung thư cổ tử cung

Mặc dù sự tăng nồng độ CA 12.5 huyết thanh là không đặc hiệu trong chẩnđoán UTBT được nhưng lại rất có ích trong đánh giá đáp ứng với điều trị và theodõi tái phát sau điều trị Tuy nhiên hiện thời chưa có một bằng chứng chứng tỏviệc phát hiện sớm tái phát thông qua mức CA 12.5 huyết thanh có lợi ích sốngthêm trong căn bệnh này [47], [48]

1.6.3.3 Xét nghiệm HE4 huyết thanh

Lịch sử nghiên cứu HE4: Năm 1991, HE4 được tìm ra trong mào tinhhoàn Năm 1999, chất chỉ điểm u HE4 đã được chứng minh là có trong môcủa ung thư buồng trứng Năm 2003, HE4 được chứng minh có trong huyếttương bệnh nhân ung thư buồng trứng Năm 2007, Abbott cùng FDA thửnghiệm HE4 như là chất chỉ điểm u trong ung thư buồng trứng, nhằm tìm ra

độ đặc hiệu của nó Năm 2008, test ROMA, là thuật toán hồi quy kết hợp giữanồng độ CA 12.5 và nồng độ HE4 đã được dùng để tính nguy cơ ác tính củakhối u vùng tiểu khung, u buồng trứng Năm 2009, Abbott sản xuất kít xétnghiệm HE4 tự động đầu tiên Chất chỉ điểm u HE4 đã được chấp thuận ởChâu Âu, các nước Châu Á Thái Bình Dương và Châu Mỹ La tinh HE4 đượcdùng ở Mỹ và được FDA phê chuẩn [12], [49], [50]

HE4 thuộc về nhóm WFDC (whey acidic four – disulfide core) cácprotein nghi có tính chất ức chế trypsin Nhiễm sắc thể 20q12 – q13.1 chứamột locus với nhiều thành viên gia đình WFDC, là gen được khuếch đại trong

Trang 25

nhiều ung thư như ung thư buồng trứng, vú, đại trực tràng, tụy, phổi Trong

đó HE4 là WFDC2 – whey acidic four disulfide core protein 2 [50], [51]HE4 lần đầu tiên được xác định trong biểu mô của mào tinh ngoại biên.Dấu ấn sinh học này hiện diện rất thấp trong biểu mô của các mô hô hấp vàsinh sản bao gồm buồng trứng, nhưng tăng cao trong mô UTBT Ngoài raHE4 cũng hiện diện với nồng độ cao trong huyết thanh của các bệnh nhânUTBT HE4 là một chỉ điểm u mới được mong đợi sẽ giúp đánh giá nguy cơUTBM buồng trứng [52]

Gen mã hóa cho HE4 là một trong những gen phổ biến nhất được xácđịnh trong danh sách các gen biểu hiện trong ung thư buồng trứng dạng biểu

mô Đánh giá mức độ sản sinh của HE4 trong các bệnh lý như u buồng trứnglành tính, ung thư buồng trứng, bệnh lý tại các mô khác của cơ thể bằng cácphương pháp miễn dịch Trong khi biểu mô bình thường ở bề mặt buồngtrứng không sản sinh HE4, thì nang vùi vùng vỏ buồng trứng được lát bởi lớpbiểu mô Mullerian đã chuyển sản tạo ra nhiều protein này Sự sản sinh proteinnày giới hạn ở một số dạng mô: 93% carcinoma nang tuyến thanh dịch và100% carcinom tuyến dạng nội mạc tử cung có sản sinh HE4, trong khi đó chỉ

có 50% carcinom dạng nhầy không cho kết quả dương tính với HE4 Sử dụng

kỹ thuật tissue microarray cho thấy hầu hết các ung thư phổ biến khác khôngphải ung thư buồng trứng không có phản ứng miễn dịch HE4, trong đó baogồm ung thư đại tràng, vú, ung thư phối không tế bào nhỏ, bàng quang, thận,tuyến giáp, tuyến tiền liệt [53]

Sự thay đổi của mức HE4 trong các tình huống khác nhau cũng đượcđánh giá Trong khi đó Bolstad và CS [54] đã báo cáo mức độ thay đổi củaHE4 theo chỉ số khối cơ thể (BMI), Ferraro và CS [46] báo cáo mức độ HE4khác nhau không đáng kể ở 103 bệnh nhân theo BMI Tóm lại, nồng độ HE4

Trang 26

trong huyết thanh dường như không được điều chỉnh bởi BMI, tương tự CA12.5 Tuy nhiên, ngược lại với CA 12.5, hút thuốc dường như là một yếu tốquan trọng ảnh hưởng đến nồng độ HE4 huyết thanh [32] Mức HE4 tăng từ

20 đến 30% ở người hút thuốc so với người không hút thuốc [44], [55] Vìvậy, mức độ HE4 phải luôn được diễn giải cẩn thận ở những người hút thuốc,

vì nó có thể bị hiểu sai là dương tính giả Tương tự hút thuốc lá, việc sử dụngbiện pháp tránh thai góp phần làm thay đổi nồng độ HE4 Ferraro và cộng sự.[45] báo cáo mức HE4 thấp hơn đáng kể ở những bệnh nhân sử dụng biệnpháp tránh thai đường uống so với bệnh nhân sử dụng các biện pháp tránhthai khác (p = 0,008) Do đó, để giải thích sai về mức độ HE4, cần chú đếnphương pháp tránh thai trong lịch sử lâm sàng bệnh nhân

Yanaranop và CS [56] đã báo cáo độ đặc hiệu HE4 là 86% và AUC caohơn CA 12.5, với các giá trị tương ứng là 0,893 và 0,865 [57] Những dữ liệunày, theo những dữ liệu được báo cáo trong một nghiên cứu đa trung tâm gầnđây của Ý bao gồm 387 bệnh nhân, cho thấy HE4 để chẩn đoán ung thư biểu

mô buồng trứng có vẻ đáng tin cậy hơn CA12.5 [58] HE4 có trong máu bệnhnhân ung thư buồng trứng, không phụ thuộc tuổi Độ nhậy và độ đặc hiệu củaHE4 tương đương CA 12.5 và HE4 ít khi dương tính ở bệnh nhân không ungthư, tiềm năng sàng lọc tốt hơn CA 12.5 Sự phát triển xét nghiệm định lượngHE4 trong huyết thanh sẽ cung cấp công cụ đánh giá độ nhậy HE4 trước mổ,sau mổ, trong điều trị hóa trị, ngoài ra sử dụng chẩn đoán sớm ung thư buồngtrứng Sự kết hợp HE4 và CA 12.5 rất tiềm năng, đem lại độ nhậy và độ đặchiệu cao giúp phát hiện sớm ung thư buồng trứng [59]

1.6.3.4 ROMA test

Năm 2009, Moore đề xuất 1 thuật toán đánh giá nguy cơ ác tính của mộtkhối u buồng trứng (Risk of Ovarian Malignancy Algorithm- ROMA) là kết

Trang 27

quả kết hợp 2 nồng độ xét nghiệm chỉ điểm u là CA 12.5 và HE4, một thuậttoán hồi quy Theo Moore [59], [60], đây là một "nghiên cứu công nhận(Validation study)" Công nhận thuật toán về mặt lâm sàng như là một phươngtiện đánh giá nguy cơ ung thư buồng trứng ở phụ nữ có khối u vùng tiểu khung.ROMA test đã được nghiên cứu đa trung tâm mù đôi tiến cứu Nghiên cứu tại

14 vùng lãnh thổ khác nhau, với tiêu chuẩn vào mẫu: Tuổi ≥18; Có nang buồngtrứng hay khối u buồng trứng; Dự định phẫu thuật; Tất cả được lấy máu trướckhi phẫu thuật; Đánh giá giải phẫu bệnh lý; Phân tích biomarker sau khi kếtthúc nghiên cứu: Trong đó, Architect CA12.5II, tại Mass General Hospital,Boston và HE4 EIA, tại MGH, MD Anderson, FDAB

Cách tính chỉ số ROMA (Rist of ovarian malignancy algorithm: chỉ số nguy

cơ ác tính của u buồng trứng)

* Phụ nữ trước mãn kinh:

PI= -12.0 + 2.38*[HE4] + 0.0626[CA125]

PI: chỉ số dự đoán

ROMA = exp(PI) / [1 + exp(PI)] * 100

Nếu ROMA ≥ 7.4%, nguy cơ ác tính cao;

Nếu ROMA < 7.4%, nguy cơ ác tính thấp

* Phụ nữ sau mãn kinh:

PI= -8.09 + 1.04*[HE4] + 0.732[CA125]

PI: chỉ số dự đoán

ROMA = exp(PI) / [1 + exp(PI)] * 100

Nếu ROMA ≥ 25.3%, nguy cơ ác tính cao

Nếu ROMA < 25.3%, nguy cơ ác tính thấp

Trang 28

Các điểm cut off (điểm cắt ngang) này được áp dụng nếu dùng trên máycủa ARCHITECT CA125 + ARCHITECT HE4 ROMA phân bệnh nhân cókhối u vùng chậu thành nhóm có nguy cơ cao và nhóm có nguy cơ thấp bịUTBM buồng trứng, với độ đặc hiệu ROMA 95%, độ nhạy ROMA là 89%cho tiền mãn kinh 76%; mãn kinh [61], [62], [63].

1.6.3.3 Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác [12].

- Chụp cắt lớp vi tính (CT-Computer Tomography), chụp cộng hưởng từcho phép đánh giá tổn thương một cách toàn thể, khách quan đặc biệt nhữngtổn thương vượt quá tiểu khung, những trường hợp có tổn thương nghi ngờ

mà không xác định được một cách chính xác bằng siêu âm hoặc chụp X quang thường quy, điều này rất có ý nghĩa trong việc đánh giá giai đoạn vàlập kế hoạch trước mổ

-Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh khác giúp đánh giá giai đoạn trongtrường hợp UTBT:

+ Chụp X - quang lồng ngực thẳng, nghiêng để phát hiện di căn phổi.+ Chụp khung đại tràng: đánh giá xâm lấn của các khối UTBT vào lòngđại tràng

+ Nội soi dạ dày, đại-trực tràng được chỉ định cho bệnh nhân có biểuhiện lâm sàng của UTBT giúp phân biệt với các khối u di căn buồng trứng từống tiêu hóa (u Krukenberg)

+ Chụp bụng không chuẩn bị được chỉ định trong các trường hợp UTBTnghi ngờ có biến chứng tắc ruột

+ Vai trò của PET (Positron Emission Tomography) đơn độc là chưa cóbằng chứng rõ ràng trong chẩn đoán và theo dõi sau điều trị UTBMBT nhưngphối hợp PET với CT làm tăng hiệu quả trong việc đánh giá đáp ứng và theo dõitái phát sau điều trị; tuy nhiên giá thành còn đắt, chưa áp dụng rộng rãi ở ViệtNam [64]

Trang 29

1.6.3.4 Các xét nghiệm khác

- Tế bào học dịch cổ trướng tìm tế bào ung thư

- Xét nghiệm đánh giá chức năng thận (ure, creatinin) là có ý nghĩa trongđánh giá mức độ xâm lấn của UTBT, cũng như giúp xây dựng phác đồ điều trị

và chỉ định điều trị hóa chất sau mổ

- PAP test (Papanicolaou smear): có thể được sử dụng mặc dù UTBT rất

ít khi vượt qua thân tử cung

- Soi ổ bụng khi còn nghi ngờ đối với khối u nhỏ Thủ thuật cần đượcthực hiện thận trọng, nếu không có thể làm vỡ khối u gây lan tràn tế bào ungthư ra ổ bụng, có thể kết hợp sinh thiết hoặc làm tế bào học các vị trí nghi ngờ

để đánh giá chính xác giai đoạn [23]

- Phẫu thuật thăm dò: đối với UTBT việc chẩn đoán xác định trước mổthường khó vì thông tin về giải phẫu bệnh ít khi đặt ra trước mổ, thường khinghi ngờ UTBT tiến hành phẫu thuật thăm dò đánh giá tổn thương đại thể kếthợp với sinh thiết tức thì trong mổ cho phép chẩn đoán xác định và xử trí tổnthương ngay trong cùng một thì [23]

1.6.4 Chẩn đoán giai đoạn

Theo hệ thống phân giai đoạn UTBT của FIGO năm 1986 dựa trênnguyên tắc: quan sát, thăm dò trong mổ, đánh giá tổn thương nguyên phát, tổnthương di căn ổ phúc mạc, còn gọi là giai đoạn phẫu thuật Hiệp hội ung thưHoa Kỳ (AJCC) cũng đưa ra hệ thống phân giai đoạn tương tự Hàng năm, hai

tổ chức này đều có sự điều chỉnh hệ thống phân giai đoạn cho các bệnh UTtrong đó có UTBT Hệ thống phân giai đoạn của FIGO hiện nay được áp dụngrộng rãi cho UTBT

Năm 2014, cả hai tổ chức trên đều công bố bảng phân giai đoạn giốngnhau cho UTBT:

Trang 30

Bảng 1.1 Phân loại giai đoạn theo TNM (AJCC) và của FIGO năm 2014 [65]

T: Primary tumor (u nguyên phát)

T1c

T1c IC U giới hạn một hoặc hai bên buồng trứng hoặc

vòi trứng với một trong các dấu hiệu:

T1c1 IC1 Phẫu thuật làm vỡ vỏ

T1c2 IC2 Vỡ vỏ trước phẫu thuật hoặc u trên bề mặt

buồng trứng hoặc bề mặt vòi trứng

T1c3 IC3 Thấy tế bào u trong dịch cổ chướng hoặc dịch

rửa màng bụng

T2 II U ở một hoặc cả hai bên buồng trứng hoặc vòi

trứng với sự lan tràn vào khung chậu

T2a IIA Lan tràn và/ hoặc cấy ghép trên tử cung và/hoặc

vòi trứng và/ hoặc buồng trứng

T2b IIB Lan tràn vào các cấu trúc khác trong khung

N1 IIIA1 Chỉ di căn hạch mạc nối

Trang 31

TNM FIGO Mô tả

N1a IIIA1i Hạch di căn có đường kính lớn nhất ≤ 10mm.N1b IIIA1ii Hạch di căn có đường kính lớn nhất > 10mmT3a IIIA2 Di căn phúc mạc vi thể ngoài khung chậu phối

hợp hoặc không phối hợp với hạch mạc treo

Di căn phúc mạc đại thể ngoài khung chậu vớikích thước lớn nhất ≤ 2cm kết hợp với hoặckhông di căn hạch mạc nối

Di căn phúc mạc ngoài khung chậu với kích thướclớn nhất trên 2cm kết hợp với hoặc không di cănhạch mạc nối (ngoại trừ sự lan rộng của u vào vỏbao gan hoặc lách mà không vào nhu mô kết hợpvới các cơ quan khác)

M1 IV Di căn xa (trừ di căn phúc mạc)

M1a IVA Lan tràn ở màng phổi có TBH dương tính

M1b IVB Di căn mô liên kết và di căn các cơ quan ngoài ổbụng (bao gồm hạch vùng SD và hạch ngoài ổ bụng)

N: Regional lymph nodes (các hạch nạch huyết vùng)

Nx: các hạch bạch huyết vùng không đánh giá được

No: không có di căn hạch bạch huyết vùng

N1: Di căn hạch bạch huyết vùng

N1a: hạch di căn có đường kính lớn nhất ≤ 10mmN1b: hạch di căn có đường kính lớn nhất > 10mm

M: Distant metastasis (di căn xa)

Mo: không có di căn xa

M1: di căn xa

M1a: di căn màng phổi với TBH dương tính

M1b: di căn nhu mô và các cơ quan ở ngoài ổ bụng (bao gồm hạch

vùng SD và hạch ở ngoài ổ bụng)

Trang 32

pTNM: phân loại sau phẫu thuật

Phân loại pT và pN tương ứng với phân loại T và N

pM1: di căn xa được xác định trên vi thể

Chú ý: pM0 và pMx không có giá trị phân loại

pN0: đánh giá mô học của các mẫu hạch vét khung chậu thường bao

gồm ≥ 10 hạch Nếu các hạch âm tính, nhưng số lượng hạch thông thườngkhông đủ, xếp loại pN0

Xếp loại giai đoạn

1.7.1 Điều trị phẫu thuật [23].

Trong điều trị ung thư buồng trứng, phẫu thuật được coi là phươngpháp ưu tiên hàng đầu, trừ khi bệnh ở giai đoạn IV Phẫu thuật có nhiều vaitrò quan trọng: xác định chẩn đoán mô bệnh học, đánh giá chính xác giai đoạntiến triển của bệnh nhờ phẫu thuật mở bụng, quan sát và lấy mẫu mô bệnh

Trang 33

học; Sinh thiết chẩn đoán tức thì (bằng phương pháp cắt lạnh); Điều trị triệt đểcác tổn thương khu trú, giảm nguy cơ reo rắc hoặc gây di căn xa; Giảm thểtích, số lượng tế bào ung thư khi bệnh ở giai đoạn muộn, tạo điều kiện thuận lợicho việc điều trị tiếp bằng hóa trị hay xạ trị; Giải quyết các biến chứng củabệnh như tắc ruột, thủng tạng, vỡ u, chảy máu.

Xếp giai đoạn phẫu thuật UTBT dựa vào quan sát, thăm dò trong mổ,đánh giá tổn thương nguyên phát cũng như có hay không những tổn thương dicăn ổ phúc mạc

1.7.2 Điều trị hóa chất: UTBT là khối u rất nhậy cảm với hóa chất và nhiều loại hóa chất tỏ ra có hiệu quả [2]

1.7.3 Điều trị tia xạ: Vai trò của điều trị tia xạ trong UTBT rất hạn chế [2] 1.7.4 Điều trị nội tiết: Điều trị miễn dịch, điều trị đích: đang được nghiên cứu [2] 1.8 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ VAI TRÒ CỦA SIÊU ÂM, CHẤT CHỈ ĐIỂM U (CA 12.5 VÀ HE4) TRONG CHẨN ĐOÁN UTBT

Nguyễn Thị Ngọc Phượng và CS (2000) với nghiên cứu đánh giá giá trịcác phương pháp chẩn đoán ung thư buồng trứng [29]

Nguyễn Thu Trang (2008) [66] nghiên cứu 804 bệnh nhân u buồng trứng

được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện phụ sản Trung Ương cho thấy: Lâm sàng chẩn đoán đúng 72,4% các trường hợp UTBT (độ nhậy 52,5%, độ đặc hiệu 95,65%) SA chẩn đoán đúng 84,5% các trường hợp ung thư buồng trứng (độ nhậy 88,75%, độ đặc hiệu 94,4%) CA12.5 chẩn đoán đúng 56,76% các

trường hợp ung thư buồng trứng (độ nhậy 88,1%,độ đặc hiệu 81,2%), OR =15,36 (95% CI = 7,93 – 30,10) Khi kết hợp 3 yếu tố: lâm sàng, SA và CA12.5 tác giả đi đến kết luận: nếu một bệnh nhân có chẩn đoán lâm sàng vàsiêu âm cùng là u ác tính thì khả năng bị ung thư buồng trứng là 89,4% Nếu

Trang 34

một bệnh nhân có chẩn đoán lâm sàng, SA và CA 12.5 cùng là dương tính thìkhả năng bị ung thư buồng trứng là 93,6%.

Vũ Thanh Nhân và CS [67] (2010) báo cáo vai trò của HE4 trong chẩn đoán

UTBT đăng trên tạp chí Y học TP HCM, tập 14, phụ bản của số 4, 2010

Vũ Bá Quyết [68] (2010) nghiên cứu giá trị CA12.5 trên 146 bệnh nhânUTBMBT cho thấy 100% bệnh nhân có hàm lượng CA12.5 > 35U/ml tại thờiđiểm chẩn đoán; hàm lượng CA12.5 trung bình tỷ lệ thuận với giai đoạn bệnh,kích thước u, thời gian mắc bệnh và vị trí u

Phạm Thị Diệu Hà [52] (2012) nghiên cứu giá trị chẩn đoán củaCA12.5 và HE4 trong 110 bệnh nhân u buồng trứng (70 bệnh nhân lành tính

và 40 bệnh nhân ác tính) tại bệnh viện K năm 2012 cho kết quả: SA có độ nhậy 75%; độ đặc hiệu 84,3% CA12.5 có độ nhậy 92,5%; độ đặc hiệu

64,3%; Nhóm còn kinh: độ nhậy 91,7%; độ đặc hiệu 65,2%; Nhóm mãn kinh:

độ nhậy 92,9%; độ đặc hiệu 62,5% HE4 có độ nhậy 82,5%; độ đặc hiệu

90%; Trong nhóm còn kinh: độ nhậy 66,7%; độ đặc hiệu 85%; Trong nhóm

mãn kinh: độ nhậy 89,3%; độ đặc hiệu 100% ROMA test có độ nhậy 95%;

độ đặc hiệu 44,3%; Trong nhóm còn kinh: độ nhậy 92%; độ đặc hiệu 35%;

Trong nhóm mãn kinh: độ nhậy 96,4%; độ đặc hiệu 62,5% Tác giả rút ra kết luận: CA 12.5 độ nhậy cao, nhưng tăng cả trong nhóm u lành tính, đặc

biệt nhóm viêm phần phụ, lạc nội mạc tử cung, lao HE4 có độ đặc hiệu cao(90%), phân biệt sớm u lành hay ác để có thái độ điều trị, mổ mở hay nội soi.Đặc biệt ở nhóm mãn kinh, HE4 có độ đặc hiệu 100% HE4 tăng trong cácung thư buồng trứng biểu mô, đặc biệt là ung thư biểu mô tuyến nhú, ung thưbiểu mô tuyến nội mạc tử cung, tăng ít trong ung thư biểu mô tuyến nangnhầy, ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp, ung thư biểu mô không biệt hóa.ROMA có độ nhậy cao nhất (95%), tăng sớm hơn CA12.5 hay HE4 riêng lẻ,giúp phát hiện sớm có nguy cơ ung thư buồng trứng

Ronny và CS nghiên cứu về HE4 là glycoprotein tiết, nghiên cứu tại

Trang 35

Mỹ HE4 được sản sinh nhiều trong ung thư buồng trứng thể thanh dịch và thểlạc nội mạc tử cung [53].

Richard G Moore và cộng sự nghiên cứu về vai trò của HE4 trongchẩn đoán và điều trị ung thư buồng trứng [6, 7, 59, 60]

Rafael Molina Porto [69], tại bệnh viện Barcelona, Tây Ban Nha vớinghiên cứu HE4, dấu ấn sinh học mới trong ung thư buồng trứng HE4 đặchiệu hơn CA 12.5 trong các bệnh phụ khoa HE4 là chỉ điểm u được lựa chọntrong UTBT và CA12.5 là chỉ điểm bổ sung, sử dụng kết hợp giúp tăng độnhậy trong UTBT ROMA giúp làm tăng độ nhậy so với HE4 và CA 12.5trong chẩn đoán phân biệt khối u vùng tiểu khung nhưng HE4 đặc hiệu hơn.ROMA không áp dụng được ở các bệnh nhân có chỉ điểm ung thư âm tính

Jaganathan Sickan [70] với nghiên cứu chất chỉ điểm HE4, HE4 tăngsớm hơn CA12.5 trong theo dõi điều trị ung thư buồng trứng

Một thử nghiệm lâm sàng đa trung tâm đánh giá giá trị của CA 12.5,HE4, ROMA test và RMI (Risk Malignant Index) trong dự báo khả năng áctính các khối u buồng trứng được thực hiện tại 6 bệnh viện tại Thụy Điển[71], với 638 bệnh nhân u buồng trứng từ tháng 9 năm 2013 đến tháng 2 năm

2016 Huyết thanh, dữ liệu siêu âm qua âm đạo và các đặc điểm bệnh nhân cơbản đã được thu thập trước phẫu thuật Mức độ chỉ điểm u, nguy cơ của thuậttoán ác tính (ROMA) và nguy cơ chỉ số ác tính (RMI) đã được tính toán và so

sánh với báo cáo bệnh lý cuối cùng Kết quả: 638 bệnh nhân có 445 bệnh

nhân u lành tính, 31 bệnh nhân u giáp biên và 162 bệnh nhân u ác tính được

ghi nhận, và tỷ lệ mắc UTBMBT tổng thể là 21% Ở phụ nữ mãn kinh, RMI

(> 200), ROMA (≥29.9), CA 12.5 (> 35U / mL) và HE4 (> 140pmol / L) cho

thấy độ nhạy ở 89%, 91%, 92% và 72%, tương ứng và độ đặc hiệu ở mức

80%, 77%, 80% và 92% Ở phụ nữ tiền mãn kinh, độ nhạy của RMI, ROMA

(≥11.6), CA125 và HE4 (> 70 pmol/L) lần lượt là 87%, 87%, 96% và 83% và

Trang 36

độ đặc hiệu là 90%, 81%, 60%, 91% Độ chính xác chẩn đoán (ROC AUC)

của RMI và ROMA ở phụ nữ mãn kinh là 0,85 và 0,84, và ở phụ nữ tiền mãn

kinh, 0,90 và 0,81 Nghiên cứu đi đến kết luận CA 12.5 vượt trội hơn HE4 để

xác định phụ nữ bị ung thư buồng trứng (độ nhậy cao hơn) HE4 đặc hiệu hơn trong việc xác định chính xác các tổn thương lành tính, có thể giúp chẩn đoán phân biệt để hướng dẫn mức độ chăm sóc và giảm việc điều trị quá mức Nghiên cứu này xác nhận kết quả trước đó từ các nghiên cứu đơn trung

tâm và đề xuất thực hiện đo HE4 trong thực hành hàng ngày

Một phân tích gộp dựa trên dữ liệu hồi cứu từ 56 bài báo có liên quanđược công bố về chỉ số ROMA từ năm 2009-2018 và về ung thư buồng trứng

từ cơ sở hạ tầng tri thức quốc gia Trung Quốc (CNKI), PubMed và EMBASE[72] Dữ liệu được phân tích toàn diện bằng phần mềm Rev-Man 5.3 và

MetaDisc 12.4 Kết quả: Dữ liệu của 5.954 trường hợp được lấy từ 23 bài

báo Trong số đó, có 2.117 trường hợp thuộc nhóm UTBT và 3,837 trường

hợp thuộc nhóm đối chứng Các ước tính gộp cho chỉ số ROMA là độ nhạy:

0,90 (CI 95%: 0,88-0,93), độ đặc hiệu: 0,91 (CI 95%: 0,89-0,94), dự báo

dương: 0,90 (CI 95%: 0,88-0,95) : 0,93 (CI 95%: 0,91-0,95) và diện tích dưới

đường cong ROC: 0,96, so với 0,71 (CI 95%: 0,56-0,82), 0,87 (CI 95%:

0,80-0,92), 0,82 (CI 95%: 0,78-0,86), 0,92 (CI 95%: 0,90-0,94) và 0,88 của HE4,

tương ứng Phân tích tổng hợp này xác nhận rằng ROMA test có thể tạo thuận

tiện cho chẩn đoán UTBT ở một mức độ nào đó

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Trang 37

Gồm các bệnh nhân được chẩn đoán lâm sàng là u buồng trứng lànhtính và ung thư buồng trứng được phẫu thuật tại bệnh viện K từ tháng 1 năm

2018 đến tháng 8 năm 2019

2.1.1 Tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân

 Bệnh nhân được chẩn đoán u buồng trứng thực thể có chỉ định phẫu thuật

 Bệnh nhân được siêu âm đánh giá khối u

 Bệnh nhân có xét nghiệm HE4, CA 12.5 trước mổ

 Thể trạng chung đảm bảo các điều kiện phẫu thuật-gây mê hồi sức (PS 0,1)

 Chẩn đoán xác định u buồng trứng lành tính hoặc ung thư buồng trứngdựa vào kết quả giải phẫu bệnh sau mổ

2.1.2 Tiêu chuẩn loại trừ

 U nang buồng trứng cơ năng

 UTBT đã điều trị hóa chất trước phẫu thuật

 Bệnh nhân ung thư buồng trứng tái phát hoặc có bất kỳ bệnh ung thưkhác kèm theo

 Bệnh nhân đang mang thai hoặc bị suy thận giai đoạn cuối hoặc trảiqua cấy ghép cơ thể

 Bệnh nhân không có đầy đủ các xét nghiệm siêu âm và các chất chỉđiểm u (CA 12.5, HE4) trước mổ

2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1 Cỡ mẫu

Cỡ mẫu:

Áp dụng công thức: n = Z(1−α/ 2)2 pxq

¿ ¿

Trang 38

ε là khoảng sai lệch tương đối = 0,05.

Thay vào công thức trên ta có được n = 337,3 Trong nghiên cứu của chúngtôi chọn n = 544 bệnh nhân

2.2.2 Thiết kế nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, hồi cứu kết hợp với tiến cứu

2.2.3 Phương pháp thu thập thông tin

+ Thu thập thông tin trong bệnh án đối với nhóm hồi cứu, trực tiếp thamgia khám, chẩn đoán và phẫu thuật đối với nhóm tiến cứu

+ Các kết quả được lưu trong mẫu bệnh án nghiên cứu của từng bệnh nhân

2.2.4 Các bước tiến hành nghiên cứu

Thu thập hồ sơ bệnh án đạt đủ tiêu chuẩn tại phòng hồ sơ bệnh viện K,ghi chép theo mẫu bệnh án thống nhất các thông tin sau:

2.2.4.1 Một số đặc điểm lâm sàng, siêu âm và chất chỉ điểm u (CA 12.5 và HE4)

Đặc điểm lâm sàng

- Tuổi và nhóm tuổi: < 15, 16-25, 26-35, 36-45, 46-55, 56-65, >65.

- Tình trạng kinh nguyệt: mãn kinh/ còn kinh/ chưa còn kinh.

Đặc điểm u trên siêu âm:

Trang 39

+ Thấy u/không thấy u

+ Kích thước: ≤ 10 cm/> 10 cm

+ Vị trí: u 1 bên/2 bên

+ Cấu trúc u: u nang/ u hỗn hợp/ u đặc

+ Các dấu hiệu gợi ý ác tính: có vách không đều, có nụ sùi trong u,

có dịch ổ bụng, xâm lấn xung quanh (Có/không)

Tiêu chuẩn ác tính trên SA dựa theo nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn [24] đánh giá tính chất u buồng trứng theo thang điểm sau:

+ Có nhú hình sùi : 2 điểm

+ Cấu trúc âm hỗn hợp : 1 điểm

+ Có từ 2 vách trở lên : 1 điểm

+ Vỏ khối u dày trên 3mm : 1 điểm

Nếu khối u từ 3 điểm trở lên được xếp vào nhóm hướng tới ác tính, nếudưới 3 điểm xếp vào nhóm hướng tới lành tính

- Nồng độ CA 12.5 và HE4 huyết thanh tại thời điểm chẩn đoán:

+ CA12.5 được coi là dương tính khi [CA12.5] > 35 UI/l, âm tính khi

≤ 35 UI/ml

+ HE4 được coi là dương tính khi [HE4] > 70pmol/l với phụ nữ cònkinh; là âm tính khi [HE4] ≤ 70pmol/l với phụ nữ còn kinh HE4được coi là dương tính khi [HE4] > 140 pmol/l với phụ nữ mãnkinh; là âm tính khi [HE4] ≤ 140pmol/l với phụ nữ mãn kinh

- ROMA test: Kết hợp 2 nồng độ xét nghiệm chỉ điểm u là CA 12.5

và HE4 gọi là, một thuật toán hồi quy

Cách tính chỉ số ROMA (Rist of ovarian malignancy algorithm: chỉ số

nguy cơ ác tính của u buồng trứng)

 Phụ nữ trước mãn kinh:

PI= -12.0 + 2.38*[HE4] + 0.0626[CA125]; PI: chỉ số dự đoán

Trang 40

ROMA = exp(PI) / [1 + exp(PI)] * 100

Nếu ROMA ≥ 7.4%, nguy cơ ác tính cao

Nếu ROMA < 7.4%, nguy cơ ác tính thấp

 Phụ nữ sau mãn kinh:

PI= -8.09 + 1.04*[HE4] + 0.732[CA125]

ROMA = exp(PI) / [1 + exp(PI)] * 100

Nếu ROMA ≥ 25.3%, nguy cơ ác tính cao

Nếu ROMA < 25.3%, nguy cơ ác tính thấp

- Phân loại mô bệnh học: dựa vào kết quả GPB sau mổ

U buồng trứng lành tính:

+ U nang bì; u nang nhày

+ U nang thanh dịch

+ U tế bào vỏ buồng trứng; lạc nội mạc tử cung, viêm phần phụ, viêm lao

Ung thư buồng trứng:

* UTBM buồng trứng, có nguồn gốc từ biểu mô bề mặt của buồng trứng,những thể vùi của biểu mô hoặc lạc nội mạc tử cung: UTBM hay gặp nhất,gồm các typ phổ biến sau:

 Ung thư biểu mô tuyến thanh dịch

 Ung thư biểu mô tuyến nang nhầy

 Ung thư biểu mô dạng nội mạc

 Ung thư biểu mô tế bào sáng

 Ung thư biểu mô không biệt hóa

 Ung thư biểu mô tế bào chuyển tiếp

* Ung thư tế bào mầm, có nguồn gốc từ những tế bào mầm

* Ung thư của mô đệm - dây sinh dục, phát sinh từ mô đệm buồng trứng, từnguồn gốc của dây sinh dục hoặc cả hai

2.2.4.1 Giá trị tiên lượng ác tính các khối u buồng trứng dựa siêu âm và chất chỉ điểm u (CA 12.5, HE4).

Ngày đăng: 08/11/2019, 21:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Bá Đức, Đào Ngọc Phong (2008), “Dịch tễ học bệnh ung thư”.Nhà xuất bản Y học, tr.19 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dịch tễ học bệnh ung thư”
Tác giả: Nguyễn Bá Đức, Đào Ngọc Phong
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2008
10. Feig, Barry W., et al (2006), “Surgical Oncology Handbook, The 4th Edition”. Section 20 - Gynecologic Cancers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Surgical Oncology Handbook, The 4thEdition
Tác giả: Feig, Barry W., et al
Năm: 2006
11. Nguyễn Bá Đức (2004), Ghi nhận ung thư Hà Nội, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr. 7 - 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Y học TPHồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Bá Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2004
12. DeVita, Vincent T, et al (2008), “Principles &amp; Practice of Oncology, 8th Edition", Part 3 - Practice of Oncology &gt; Chapter 42 - Gynecologic Cancers &gt; Section 5: Ovarian Cancer, Fallopian Tube Carcinoma, and Peritoneal Carcinoma Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles & Practice of Oncology,8th Edition
Tác giả: DeVita, Vincent T, et al
Năm: 2008
13. Boyd J, Rubin SC (1997), “Hereditary ovarian cancer: molecular genetics and clinical implications”, Gynecol Oncol 1997; 64:196 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hereditary ovarian cancer: moleculargenetics and clinical implications”, "Gynecol Oncol 1997
Tác giả: Boyd J, Rubin SC
Năm: 1997
14. Cass I, Baldwin RL, Varkey T, et al (2003), “Improved survival in women with BRCA-associated ovarian carcinoma”, Cancer 2003; 97:2187 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Improved survival in womenwith BRCA-associated ovarian carcinoma
Tác giả: Cass I, Baldwin RL, Varkey T, et al
Năm: 2003
18. Bộ môn Mô học – phôi thai học (2000) “ Bài giảng Mô học – Phôi thai học”, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, trang 400 – 449 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng Mô học – Phôi thaihọc
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
19. Bộ môn Giải phẫu bệnh(2000) “Bệnh của buồng trứng”, Giải phẫu bệnh học, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, trang 390 – 408 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh của buồng trứng”," Giải phẫubệnh học
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
20. Underwood. J.C.E (2000) “Ovarian neoplasms”, Vol: General and systematic Pathology, Churchill Livingstone Philadelphia, pp 515 – 518 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ovarian neoplasms”, Vol: "General andsystematic Pathology
21. Malpica A, Deavers MT, Tornos C et al (2007), Interobserver and intraobserver variability of a two-tier system for grading ovarian serous carcinoma, Am J Surg Pathol, 31, 1168-1174 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Am J Surg Pathol
Tác giả: Malpica A, Deavers MT, Tornos C et al
Năm: 2007
22. Nguyễn Bá Đức (2002), “Ung thư buồng trứng (không phải tế bào mầm)”, Hoá chất điều trị bệnh ung thư, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr.130 - 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ung thư buồng trứng (không phải tế bàomầm)
Tác giả: Nguyễn Bá Đức
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2002
23. Nguyễn Văn Hiếu và CS (2010), “ Ung thư buồng trứng”, Điều trị phẫu thuật bệnh ung thư, Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr. 346 – 355 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ung thư buồng trứng
Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu và CS
Nhà XB: Nhà xuất bản y học
Năm: 2010
24. Nguyễn Anh Tuấn (2006) “Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trị của siêu âm trong chẩn đoán khối u buồng trứng ”, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ chuyên khoa cấp II, 2006, Trường Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và giá trịcủa siêu âm trong chẩn đoán khối u buồng trứng
25. Herrmann JU (1987) “Sonography patterns of ovarian tumours:Prediction of malignancy”. Obstetric s and Gynecology, Vol I, 69., 26. Fleischer. AC (1996) “ Early detection ovarian carcinoma with transvaginalcolor Doppler ultrasonography”. AmJ Obst. 154,pp 806 – 813 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sonography patterns of ovarian tumours:Prediction of malignancy”. "Obstetric s and Gynecology", Vol I, 69., 26. Fleischer. AC (1996) “ Early detection ovarian carcinoma with transvaginalcolor Doppler ultrasonography”. "AmJ Obst
27. Sasson.AM, Timor. IE et al (1991) “Transvaginal sonographic characterization of ovarian disease: evaluation of a new scoring system to predict ovarian malignancy”. Am J Obstetric and gynecology, 78(1), pp 70 – 76 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transvaginal sonographiccharacterization of ovarian disease: evaluation of a new scoring systemto predict ovarian malignancy”. "Am J Obstetric and gynecology
29. Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Trần Thị Lợi, Vũ Thị Kim Chi (2000),"Nghiên cứu dự đoán độ lành ác của khối u buồng trứng bằng siêu âm và CA 12-5, CA153 trong huyết thanh", Y học TP. Hồ Chí Minh 2000, Vol. 4, No. 4: tr. 216 - 220 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu dự đoán độ lành ác của khối u buồng trứng bằng siêu âmvà CA 12-5, CA153 trong huyết thanh
Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Trần Thị Lợi, Vũ Thị Kim Chi
Năm: 2000
30. Karlan BY (1997), “The status of ultrasound and color Doppler imaging for the early detection of ovarian carcinoma”, Cancer Invest 1997;15:265 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The status of ultrasound and color Dopplerimaging for the early detection of ovarian carcinoma”, "Cancer Invest1997
Tác giả: Karlan BY
Năm: 1997
31. Robert Bristow and Deborah Amstrong (2010), “Early diagnosis and treatment of cancer: ovarian cancer”, Saunders Elserier 2010, Philadenphia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Early diagnosis andtreatment of cancer: ovarian cancer
Tác giả: Robert Bristow and Deborah Amstrong
Năm: 2010
32. Van Nagell JR Jr., DePriest PD, Reedy MB, et al (2000), “The efficacy of transvaginal sonographic screening in asymptomatic women at risk for ovarian cancer”, Gynecol Oncol 2000;77:350 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The efficacyof transvaginal sonographic screening in asymptomatic women at riskfor ovarian cancer”, "Gynecol Oncol 2000
Tác giả: Van Nagell JR Jr., DePriest PD, Reedy MB, et al
Năm: 2000
33. Bast RC, Feeney M, Lazarus H, et al (1981). Reactivity of a monoclonal antibody with human ovarian carcinoma. J Clin Invest.1981;68:1331–1337. doi: 10.1172/JCI110380. [PMC free article][PubMed] [CrossRef] [Google Scholar] Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Clin Invest
Tác giả: Bast RC, Feeney M, Lazarus H, et al
Năm: 1981

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w