Theo định nghĩa này,tình trạng sức khoẻ tốt còn mang ý nghĩa là con người đạt được sự cân bằngđộng với môi trường xung quanh, có khả năng thích ứng với môi trường [11].Đối với
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Truyền thông giáo dục sức khỏe (TT-GDSK) là nội dung quan trọngtrong các nội dung chăm sóc sức khoẻ ban đầu (CSSKBĐ) mà Hội nghị quốctế về chăm sóc sức khoẻ ban đầu tại Alma-Ata (1978) đã nêu, cần tất cả cácnước trên thế giới cố gắng thực hiện [1] Hoạt động TT-GDSK đã góp phầnquan trọng và tích cực vào kết quả đạt được của các chương trình, hoạt động ytế dự phòng nói riêng và vào thành công của chiến lược chăm sóc sức khỏenhân dân (CSSKND) nói chung [2] Đảng, Nhà nước và ngành Y tế nước taluôn coi trọng và khẳng định công tác TT-GDSK là một phần không thể thiếuđược trong sự nghiệp bảo vệ và CSSKND Ban chấp hành Trung ương Đảngđã khẳng định công tác thông tin, truyền thông, giáo dục sức khỏe là mộttrong những nhiệm vụ quan trọng và giải pháp chủ yếu để bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới [3] Xây dựng vàđẩy mạnh công tác truyền thông, vận động nhân dân thực hiện lối sống lànhmạnh; khám sàng lọc phát hiện sớm bệnh, tật; hạn chế tác hại của thuốc lá,rượu, bia, đồ uống có cồn, có ga; thực hiện ăn chín, uống sôi; giữ gìn vệ sinh
cá nhân và môi trường sống Củng cố, phát triển mạng lưới truyền thông
từ Trung ương đến thôn, xóm; xây dựng các thông điệp, nội dung truyềnthông phù hợp để người dân dễ nhớ, dễ hiểu, nâng cao nhận thức, thay đổihành vi trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đìnhvà xã hội [4]
Bệnh không lây nhiễm (BKLN) là bệnh không lây truyền từ người nàysang người khác, hoặc từ động vật sang người Hầu hết BKLN là bệnh mạntính, khó chữa khỏi Theo nghiên cứu gánh nặng về bệnh tật toàn cầu cho
thấy trong tổng số 52,7 triệu ca tử vong năm 2010, có 65,5% là do các
Trang 2BKLN Điều đáng báo động là các ca tử vong do các BKLN ở các nước đang phát triển càng ngày càng xảy ra ở nhóm tuổi trẻ hơn [5] Trong bối
cảnh hiện nay, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định phê duyệt Chiến lượcquốc gia phòng chống các BKLN giai đoạn 2015-2025, với mục tiêu rất rõràng: “Khống chế tốc độ gia tăng tiến tới làm giảm tỷ lệ người mắc bệnh tạicộng đồng, hạn chế tàn tật và tử vong sớm do mắc các BKLN, trong đó ưutiên phòng, chống các bệnh ung thư, tăng huyết áp (THA), đái tháo đường,bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen phế quản, nhằm góp phần bảo vệ, chămsóc, nâng cao sức khỏe của nhân dân và phát triển kinh tế, xã hội của đấtnước” [6]
Trạm Y tế xã, phường, thị trấn là đơn vị y tế thuộc Trung tâm Y tếquận, huyện [7] Trong hệ thống chăm sóc sức khỏe Việt Nam, trạm y tế xã lànơi đầu tiên người dân tiếp cận khi ốm đau với chức năng và nhiệm vụ cungcấp, thực hiện các dịch vụ CSSKBĐ, các hoạt động y tế cho nhân dân trên địabàn [7],[8] TT-GDSK là tiêu chí thứ 10 trong “Bộ tiêu chí quốc gia về y tế xãgiai đoạn đến 2020”, các Trạm y tế xã đã có nhiều hoạt động TT-GDSKvà mang lại tác dụng rất lớn về trang bị những kiến thức phòng chống bệnh,giữ gìn sức khoẻ tại cộng đồng [9] Tuy nhiên, thực tế tình hình hoạt độngTT-GDSK phòng chống các BKLN nói chung và cụ thể là THA và đái tháođường týp 2 (ĐTĐT2) của tuyến y tế xã hiện nay như thế nào? Những yếu tốnào có thể là yếu tố thuận lợi hoặc khó khăn đối với hoạt động TT-GDSKphòng chống bệnh THA và ĐTĐT2? Để có cơ sở khoa học trả lời các câu hỏinày và cung cấp những thông tin nhằm đưa ra khuyến nghị về giải pháp, xâydựng các chương trình hành động về TT-GDSK phòng chống BKLN nóichung và phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2 nói riêng, chúng tôi tiến hành
Trang 3nghiên cứu “Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng chống bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2 tại trạm y tế xã, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, năm 2019.
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Mô tả thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe về phòng chống bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2 tại các trạm y tế xã, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình năm 2019.
2 Phân tích một số thuận lợi, khó khăn trong thực hiện truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống hai bệnh trên tại các trạm y tế xã được nghiên cứu.
Trang 4Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Một số khái niệm liên quan đến Truyền thông giáo dục sức khỏe và vai trò của Truyền thông giáo dục sức khỏe trong công tác chăm sóc sức khỏe.
1.1.1 Khái niệm chung về sức khỏe
Ngay từ khi hình thành cuộc sống của con người, sức khỏe đã trởthành một chủ đề quan tâm chính của nhân loại, vấn đề được đề cập là sựchống chọi với bệnh tật của con người và miêu tả những yếu tố tác động cóhại với sức khỏe, cũng như các yếu tố giúp cho con người khỏe mạnh và kéodài cuộc sống
Năm 1946, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) được thành lập, với mongmuốn đem lại sức khỏe tốt nhất cho tất cả mọi người WHO đã định nghĩa:
“Sức khỏe là tình trạng hoàn toàn thoải mái về thể chất, tinh thần, và xã hộichứ không chỉ là không có bệnh tật hoặc đau yếu” [10] Theo định nghĩa này,tình trạng sức khoẻ tốt còn mang ý nghĩa là con người đạt được sự cân bằngđộng với môi trường xung quanh, có khả năng thích ứng với môi trường [11].Đối với cá nhân, tình trạng sức khoẻ tốt có ý nghĩa là chất lượng cuộc sốngcủa họ được cải thiện, ít bị đau ốm, ít khuyết tật; cuộc sống cá nhân, gia đìnhvà xã hội hạnh phúc; cá nhân có cơ hội lựa chọn trong công việc và nghỉ ngơi.Đối với cộng đồng, có tình trạng sức khoẻ tốt có nghĩa là chất lượng cuộcsống của người dân cao hơn; người dân có khả năng tham gia tốt hơn trongviệc lập kế hoạch và thực hiện các hoạt động phòng bệnh, hoạch định chínhsách về sức khoẻ Nói cách khác, chỉ riêng ngành y chưa thể mang lại sứckhỏe con người mà còn cần phải có sự tham gia của nhiều ngành khác nữa.Ngoài ra định nghĩa này cũng hàm ý: Để có được sức khỏe ta không chỉ thựchiện việc phòng bệnh, chữa bệnh mà còn phải thực hiện các hoạt động manglại đời sống tinh thần lành mạnh, phong phú cùng các hoạt động cải thiện điều
Trang 5kiện kinh tế, văn hóa và xã hội [12],[13].
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã viết trên báo Cứu Quốc mộtcâu: “Khí huyết lưu thông, tinh thần thoải mái thế mới là sức khỏe”
Như vậy, sức khỏe là sự phối hợp hài hòa cả ba thành phần: Thể chất,tinh thần và xã hội, các thành phần này có quan hệ biện chứng với nhau tạonên con người có sức khỏe [14],[15]
Ngày nay con người đã có nhiều kiến thức và phương tiện để phòngngừa và kiểm soát bệnh tật Nhiều người đã biết cách phòng bệnh, bảo vệ sứckhỏe cho cá nhân, cho gia đình và cho cả cộng đồng Gần đây, khoa học y họcđã có những tiến bộ vượt bậc Chúng ta đã hiểu biết toàn diện hơn, sâu hơn vềcác yếu tố nguy cơ của bệnh tật, các thông tin dịch tễ về tình hình bệnh tật,đau ốm ở các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng Thực tế cũng chochúng ta thấy rằng sự cải thiện rõ rệt về sức khỏe có thể đạt được nếu các điềukiện kinh tế và xã hội được thay đổi một cách tích cực
Sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân là nhiệm vụ nặng nềnhưng cũng rất vẻ vang, Đảng, Chính phủ và nhân dân đã tin tưởng giao phónhiệm vụ đó cho ngành Y tế [16] Trên chặng đường hình thành và phát triểncủa mình cùng với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, ngành Y tếcách mạng Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn rất đáng tự hàotrong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân mặc dù vẫn cònnhững yếu kém và thách thức cần giải quyết [17] Y tế Việt Nam lấy nền tảngcông bằng, coi trọng hiệu quả vì mục tiêu: “Mọi người đều được quan tâmCSSK” [18] Theo Nghị quyết Trung ương VI khóa XII nêu rõ “Sức khoẻ làvốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nângcao sức khoẻ là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thốngchính trị và toàn xã hội, đòi hỏi sự tham gia tích cực của các cấp uỷ, chínhquyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, các ngành, trong đó ngành Y tế là
Trang 6nòng cốt" [19]
1.1.2 Một số khái niệm cơ bản về Truyền thông giáo dục sức khỏe
Truyền thông: là một quá trình giao tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin
giữa người truyền với người nhận nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhậnthức, thay đổi thái độ và hành vi của đối tượng [20],[21],[22] Truyền thông làmột quá trình diễn ra theo trình tự thời gian, trong đó bắt buộc phải có các yếutố sau:
- Người truyền thông: là yếu tố mang thông tin tiềm năng và khởi
xướng quá trình truyền thông Người truyền thông là người hay nhóm ngườimang nội dung thông tin muốn được trao đổi với người hay nhóm người khác
- Thông điệp: thông điệp truyền thông là nội dung cơ bản được trình
bày ngắn gọn, súc tích, thuyết phục về một vấn đề nào đó mà người truyềnmuốn chuyển đến người nhận nhằm thu hút sự quan tâm, ủng hộ và hànhđộng của họ để đạt được mục tiêu mong muốn của người, tổ chức thiết kếthông điệp Thông điệp có thể là: lời nói, chữ viết; biểu cảm của khuôn mặt,ánh mắt, hay biểu tượng, hình ảnh
- Kênh truyền thông: là sự thống nhất của phương tiện, con đường,
cách thức chuyển tải thông điệp từ người truyền đến người nhận Căn cứ vàođặc điểm và tính chất cụ thể , người ta thường chia kênh truyền thông thành 2loại hình: truyền thông trực tiếp và truyền thông gián tiếp
- Người được truyền thông: là các cá nhân hay nhóm người tiếp nhận
thông điệp trong quá trình truyền thông
- Phản hồi: là phản ứng của người nhận đối với thông điệp của người
truyền về những suy nghĩ, thái độ, thực hành khi nhận thông điệp
- Nhiễu: nhiễu là các yếu tố có thể gây ra sự sai lệch thông tin trong quá
trình truyền thông
Trang 7- Hiệu quả của truyền thông: được xem xét trên cơ sở những thay đổi
về kiến thức, nhận thức, thái độ và thực hành của đối tượng được TT-GDSK
Giáo dục sức khoẻ: là một quá trình tác động có mục đích, có kế
hoạch đến tình cảm và lý trí con người, nhằm nâng cao kiến thức, thay đổithái độ theo hướng tích cực và thực hành các hành vi có lợi cho sức khoẻ của
cá nhân, gia đình và cộng đồng Mục đích của giáo dục sức khỏe là nhằm giúpđối tượng thực hiện những hành vi có lợi cho sức khỏe [22]
Các phương pháp truyền thông giáo dục sức khỏe:
- Truyền thông giáo dục sức khỏe gián tiếp: nội dung TT-GDSK được
thực hiện qua đài phát thanh, truyền hình, báo, áp phích, tranh gấp với ưuđiểm là nội dung truyền thông thống nhất, đến được nhiều người, nhanh, tạođược dư luận xã hội nhưng lại khó thu được thông tin phản hồi, chỉ làm tăngkiến thức là chủ yếu, khó làm thay đổi thái độ và thực hành của đối tượng.Đòi hỏi phải có trang thiết bị [21]
- Truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp: nội dung TT-GDSK được
thực hiện trực tiếp giữa người với người với nhiều ưu điểm như: tạo sức tincậy cho thông điệp, cung cấp thông tin một cách chi tiết, thảo luận được cácchủ đề nhạy cảm riêng tư, nhận được ngay các thông tin phản hồi từ đối tượngđược truyền thông, thích hợp cho các thông tin phức tạp hoặc dạy các kỹnăng, cộng đồng có thể hỗ trợ trong việc lan truyền thông điệp tuy nhiên cầncó đủ thời gian và thông tin chỉ đến được với số ít đối tượng, đặc biệt phụthuộc rất nhiều vào kỹ năng của truyền thông viên (được đào tạo, tập huấn) vàđòi hỏi sự đầu tư nhiều trong thiết kế thông điệp [21]
Các cách tiếp cận truyền thông giáo dục sức khỏe: Đối tượng
truyền thông thay đổi hành vi có thể là cá nhân, nhóm hay công chúng nói
Trang 8chung Căn cứ vào việc tổ chức tiếp cận đối tượng để tác động có các cáchtiếp cận sau [21].
- Cách tiếp cận cá nhân: Truyền thông giáo dục sức khỏe cho trực tiếp
cho các cá nhân, hay còn được gọi là phương pháp TT-GDSK mặt đối mặtgiữa người thực hiện TT-GDSK và đối tượng được TT-GDSK như: tư vấntrực tiếp giữa người cung cấp dịch vụ và khách hàng, Truyền thông giáo dụcsức khỏe bằng phương pháp tư vấn cho cá nhân cũng có thể sử dụng phươngpháp gián tiếp qua phương tiện tiện như: tư vấn qua điện thoại, tư vấn quaviết thư, hoặc gửi thư điện tử
- Tiếp cận nhóm: Tiếp cận nhóm là truyền thông giáo dục sức khỏe cho
một nhóm người, một tổ chức nào đó Tiếp cận TT-GDSK theo nhóm có thểlà sử dụng phương pháp gián tiếp hoặc trực tiếp Chẳng hạn các cuộc họpmặt, thảo luận nhóm, giảng bài toạ đàm với nhóm đều là TT-GDSK chonhóm trực tiếp Nhưng nếu các thông điệp truyền thông được chuyển tải quacác ấn phẩm, các phương tiện nghe nhìn tới nhóm người, thì đó là TT-GDSKgián tiếp (qua phương tiện) [21]
- Tiếp cận xã hội (đại chúng): Tiếp cận xã hội không mang tính cá nhân
và nhóm mà là sự phát tán thông điệp diễn ra trên một diện rộng thông quacác phương tiện in ấn (báo, tạp chí, pa-nô, tờ rơi, sách), phát thanh, truyềnhình và phim ảnh đến công chúng Các thông điệp sử dụng trên các phươngtiện thông tin đại chúng được xây dựng có tính chất chuyên môn để phù hợpvới từng phương tiện truyền thông Mặc dù truyền thông đại chúng không cótính tương tác như truyền thông trực tiếp, tuy nhiên việc tiếp nhận thông điệpvẫn diễn ra ở từng cá nhân [21]
Trang 91.1.3 Vai trò của truyền thông giáo dục sức khỏe trong công tác chăm sóc sức khỏe
TT-GDSK được xếp là nội dung số một trong các nội dungCSSKBĐ Nhiều tài liệu của WHO đã đề cập đến vai trò quan trọng củaTT-GDSK trong CSSKBĐ [13] Để đẩy mạnh công tác CSSK nói chung vàCSSKBĐ nói riêng có thể lựa chọn hai giải pháp, giải pháp thứ nhất là đầu
tư cho đào tạo nhiều loại hình cán bộ y tế để mở rộng thực hiện các nhiệm
vụ CSSK cho nhân dân; Giải pháp thứ hai là cung cấp các kiến thức, nângcao trình độ hiểu biết để mọi người có thể tự CSSK cho mình, cho gia đình
và cho cộng đồng Thực tế cho thấy các cá nhân, gia đình và cộng đồng
đưa ra hầu hết các quyết định CSSK cho họ chứ không phải cán bộ y tế.Chính vì vậy, giải pháp thứ hai mang tính khả thi cao, được nhiều người ủnghộ vì giá thành đầu tư thường thấp và được nhân dân chấp nhận Lựa chọngiải pháp thứ hai có nghĩa là phải đẩy mạnh các hoạt động TT-GDSK ở cáctuyến, nhất là tuyến cơ sở, vì TT-GDSK là quá trình giúp đỡ, động viên đểmọi người hiểu và chọn được cách giải quyết thích hợp nhất vấn đề sức khỏe
của họ [23],[24]
TT-GDSK là một quá trình cần được tiến hành thường xuyên, liên tục,lâu dài, kết hợp nhiều phương pháp Hoạt động TT-GDSK không phải chỉ đơnthuần là phát đi các thông tin hay thông điệp về sức khỏe, hay cung cấp thậtnhiều thông tin về sức khỏe cho mọi người, mà là quá trình tác động có mụcđích, có kế hoạch vào con người nhằm thay đổi kiến thức, thái độ và cáchthực hành của mỗi người nhằm NCSK cho họ và cho cả cộng đồng Hoạtđộng TT-GDSK thực chất là tạo ra môi trường hỗ trợ cho quá trình thay đổihành vi sức khỏe của mỗi người nhằm đạt được tình trạng sức khỏe tốt nhấtcó thể được [25]
Sự tập trung của TT-GDSK là vào lý trí, tình cảm và các hành động
Trang 10nhằm thay đổi hành vi có hại, thực hành hành vi có lợi mang lại cuộc sốngkhỏe mạnh, hữu ích cho mọi người TT-GDSK cũng là phương tiện hỗ trợnhằm phát triển ý thức con người, phát huy tính tự lực cánh sinh và chủ độngphòng ngừa và giải quyết vấn đề sức khỏe của cá nhân và cộng đồng [26].
Làm cho mọi người thay đổi các hành vi sức khỏe có hại, thực hành cáchành vi, lối sống lành mạnh là nhiệm vụ trọng tâm của TT-GDSK Quá trìnhthay đổi hành vi thường diễn ra một cách phức tạp, quá trình này chịu tácđộng của rất nhiều yếu tố bên trong và bên ngoài, diễn ra qua nhiều giaiđoạn [27] Hầu hết các vấn đề sức khỏe không thể chỉ giải quyết bằngthuốc hay các phương pháp điều trị, mà cần kết hợp với các biện pháp kháctrong đó có vai trò quan trọng của TT-GDSK và các hoạt động tư vấn hỗ trợthay đổi hành vi và duy trì hành vi lành mạnh [13]
Hoạt động TT-GDSK không thay thế được các dịch vụ CSSK khác,nhưng nó góp phần nâng cao hiệu quả của các dịch vụ CSSK khác Đầu tưcho TT-GDSK chính là đầu tư có chiều sâu, lâu dài cho công tác bảo vệ vàNCSK Hoạt động TT-GDSK thể hiện quan điểm dự phòng trong CSSK,mang lại hiệu quả lâu dài, bền vững vì nếu mọi người có hiểu biết và cónhững kỹ năng nhất định về phòng chống bệnh tật, NCSK, họ có thể chủđộng quyết định hành vi CSSK đúng đắn Hiện nay, rất nhiều chương trìnhCSSK sẽ không thể thành công nếu không chú trọng đến vai trò của TT-GDSK nhằm thay đổi các hành vi liên quan đến sự tồn tại của các vấn đềsức khỏe
1.2 Các yếu tố làm cho Truyền thông giáo dục sức khỏe có hiệu quả
Mục đích của truyền thông là một quá trình liên tục chia sẻ thông tin,kiến thức, thái độ tình cảm và kỹ năng, nhằm tạo sự hiểu biết lẫn nhaugiữa bên truyền và bên nhận thông điệp, dẫn đến các thay đổi trong nhậnthức và hành động
Trang 11Truyền thông bao gồm 3 khâu cơ bản liên quan chặt chẽ với nhau,được mô tả theo sơ đồ sau:
Nguồn phát tin Kênh truyền tin
Nơi nhận tin
Sơ đồ 1.1 Ba khâu cơ bản của truyền thông
Vì vậy, hiệu quả của quá trình truyền thông phụ thuộc vào cả 3 khâu
cơ bản là nguồn phát tin, kênh truyền tin và nơi nhận tin
Nguồn phát tin:
Nguồn phát tin chính là những người thực hiện TT-GDSK Người thựchiện TT-GDSK là mắt xích quan trọng nhất, quyết định đến kết quả và hiệuquả của quá trình truyền thông Để đạt được kết quả và hiệu quả tốt, các cánbộ làm công tác TT-GDSK trước hết cần phải có kiến thức về y học Đó lànhững kiến thức cần thiết về những vấn đề sức khỏe, bệnh tật cần TT-GDSK
để có thể soạn thảo các nội dung và thông điệp phù hợp với từng loại đốitượng đích Bên cạnh đó, những kiến thức về tâm lý học và khoa học hành vi,kiến thức và kỹ năng về giáo dục học, kiến thức và kỹ năng truyền thông giaotiếp, sự hiểu biết về phong tục tập quán, văn hóa xã hội và những vấn đề kinhtế, chính trị của cộng đồng là những điều kiện cần thiết hỗ trợ cho quá trìnhTT-GDSK diễn ra thuận lợi, phù hợp và đạt hiệu quả cao
Kiến thức về tâm lý học và khoa học hành vi giúp hiểu được tình cảm,tâm lý, các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi, quá trình thay đổi hành vi của cácđối tượng đích, từ đó chọn các cách giao tiếp, các phương tiện và phươngpháp TT-GDSK cho thích hợp với từng loại đối tượng đích Thực chất củaTT-GDSK là quá trình dạy và học, vì thế người TT-GDSK cần vận dụng cáckiến thức giáo dục học, tạo điều kiện hỗ trợ cho quá trình học tập của đối
Trang 12tượng đích Kiến thức và kỹ năng truyền thông giao tiếp là điều kiện cần thiết
để thực hiện mọi hoạt động TT-GDSK hiệu quả [20] Song, để đảm bảo cócách tiếp cận và thực hiện giáo dục thích hợp, được sự chấp nhận của đốitượng và của cộng đồng, người TT-GDSK cũng cần nắm được các thông tin
cơ bản về cộng đồng, bao gồm các thông tin về đời sống văn hóa, chính trị, xãhội của cộng đồng Người cán bộ TT-GDSK phải có sự hiểu biết về phong tụctập quán, văn hóa xã hội và những vấn đề kinh tế, chính trị của cộng đồng[13]
Thông điệp và kênh truyền thông:
Thông điệp cần chứa đựng và chuyển tải những nội dung cốt lõi cầnđược truyền thông, bao gồm những từ ngữ, tranh ảnh, các hiện vật hấp dẫn,gợi cảm và những tiếng động được sử dụng để chuyển những ý tưởng qua đó
Để đảm bảo TT-GDSK có hiệu quả cao thì thông điệp truyền đi cần đạt mộtsố yêu cầu cơ bản là: Rõ ràng, chính xác, hoàn chỉnh, có tính thuyết phục, cóthể thực hiện được và đảm bảo tính hấp dẫn Tuy vậy chỉ quan tâm đến thôngđiệp chưa đủ mà cần chú ý các kênh truyền thông chuyển tải thông điệp được
sử dụng Để chuyển tải được thông điệp, kênh truyền thông phải phù hợp vớiđối tượng đích [28] Vì vậy, khi chọn kênh truyền thông phải quan tâm đếnkhả năng tiếp cận với kênh truyền thông của các nhóm đối tượng đích.Nguyên tắc chọn kênh truyền thông là đảm bảo tối đa cho nhóm đối tượngđích có đủ các điều kiện để thu nhận được thông tin từ kênh truyền thông đó
Các phương tiện, thiết bị phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật Ví dụnhư các phương tiện nghe nhìn chuyển tải các hình ảnh, âm thanh, lời nói,chữ viết phải rõ ràng, đầy đủ Cần cố gắng để hạn chế đến mức tối đa tìnhtrạng trục trặc kỹ thuật xảy ra khi đang truyền thông, có thể gây gián đoạn hay
Trang 13ức chế người nghe, người xem, làm cho họ không tiếp tục chú ý đến chươngtrình truyền thông nữa [20].
Nơi nhận tin:
Người nhận tin trong truyền thông chính là người được TT-GDSK.Người được truyền thông phải có khả năng tiếp nhận thông tin Ví dụ, đốitượng bị khiếm thị sẽ không tiếp cận được các thông điệp bằng hình ảnh Bêncạnh đó, để quá trình truyền thông có hiệu quả, người được truyền thông phảinhận ra nhu cầu cần tiếp nhận thông tin của họ và sẵn sàng tiếp nhận thôngtin Nếu đối tượng không thấy rõ nhu cầu, họ sẽ không chú ý tiếp nhận, phântích để hiểu nội dung của thông điệp Ngoài ra, khi nhận thông điệp đối tượngphải có đủ khả năng về trí tuệ để có thể phân tích thông điệp, từ đó hiểu thôngđiệp và phản hồi lại người gửi thông điệp, đồng thời thực hiện hành động theothông điệp đã nhận
Như vậy, chúng ta thấy hai trong ba khâu cơ bản giúp cho quá trìnhtruyền thông đạt hiệu quả cao đó là người làm truyền thông và kênh truyền
thông Người thực hiện truyền thông là mắt xích quan trọng, quyết định
nhưng không thể thiếu kênh truyền thông, đó là cầu nối để chuyển tải thôngđiệp truyền thông đến với đối tượng được truyền thông Mặt khác, cơ sở vậtchất, trang thiết bị, phương tiện truyền thông tốt cũng là điều kiện thúc đẩyđối với người làm công tác truyền thông và thu hút, kích thích sự chú ý củađối tượng được truyền thông [24],[29]
1.3 Những đóng góp của hệ thống truyền thông giáo dục sức khỏe trong thành quả chung của ngành Y tế ở Việt Nam
TT-GDSK được đánh giá là có vai trò vô cùng quan trọng trong côngtác CSSKBĐ Nhờ có TT-GDSK mà tất cả mọi người dân trong cộng đồngđều có cơ hội tiếp cận với những thông tin, những kiến thức và dịch vụ chăm
Trang 14sóc sức khỏe cho họ Việt Nam là một trong các nước đã tham dự và cam kếtthực hiện các mục tiêu của Tuyên ngôn Alma-Ata về CSSKBĐ năm 1978.Năm 1980 Chính phủ chỉ đạo ngành y tế triển khai thực hiện Chiến lược chămsóc sức khỏe ban đầu Dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, với nguyên tắc
cơ bản là đảm bảo phục vụ nhân dân tốt nhất và có hiệu quả cao, các cơ sở ytế trong ngành y tế của nước ta đã có khả năng đáp ứng được nhu cầu CSSKthiết yếu cho nhân dân
Công tác TT-GDSK trong những năm qua đã có đóng góp to lớn trongthành quả chung của ngành Y tế Cả hệ thống truyền thông đã góp phần cùngvới các đơn vị ngành y tế làm tốt công tác phòng chống dịch bệnh, khắc phụchậu quả của thiên tai, thảm hoạ, những nỗ lực trong việc giảm quá tải tại bệnhviện, chuyển tải một số nội dung và chính sách của Đảng, Nhà nước, củangành y tế về công tác y tế đến được người dân Nhìn chung, hoạt động củacác Trung tâm TT-GDSK tại các tỉnh/thành phố đã dần mang tính chủ động,có định hướng và hệ thống từ tuyến tỉnh đến tuyến cơ sở Năm 2006, Bộ Y tếcũng đã triển khai hội thảo tổng kết hoạt động giáo dục sức khỏe trong bệnhviện và cũng đã đề cập đến nhu cầu cần đẩy mạnh và lồng ghép hoạt độngTT-GDSK trong công tác chăm sóc bệnh nhân [30], [31], [32]
Trong Báo cáo Bộ Y tế năm 2006 nhấn mạnh đến vai trò của GDSK được coi là một biện pháp dự phòng có chi phí thấp nhưng hiệu quảcao và bền vững, đồng thời cũng là giải pháp quan trọng trong thực hiện cácchính sách lớn về y tế Hoạt động TT-GDSK có vai trò quan trọng trong thựchiện một chủ trương quan trọng của ngành y tế là thực hiện xã hội hóa cáchoạt động y tế, tạo ra chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của toànbộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏenhân dân, đồng thời cung cấp thông tin, trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗingười, mỗi gia đình mỗi cộng đồng có thể tham gia tích cực các hoạt động
Trang 15TT-bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho cộng đồng [33] Nhiệm vụ tăngcường công tác TT-GDSK được thể hiện trong chương trình hành động củaChính phủ thực hiện Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23/02/2005 của BộChính trị và Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban chấp hànhTrung ương Đảng [3],[19].
TT-GDSK không chỉ quan trọng trong công tác phòng bệnh mà còn có
ý nghĩa trong công tác điều trị và quản lý các trường hợp bệnh Hiện nay côngtác thông tin, truyền thông, giáo dục về sử dụng thuốc an toàn hợp lý và quản
lý các bệnh mạn tính đang là một trong những trọng tâm công tác của ngành ytế Nguy cơ sử dụng thuốc không an toàn như người dân tự mua thuốc điều trịkhông theo chỉ định của bác sĩ hoặc sử dụng thuốc theo thói quen không có sựhướng dẫn và giám sát của nhân viên y tế là khá phổ biến Đó là do sự thiếutiếp cận thông tin và thiếu hiểu biết của người dân về hậu quả của việc tựdùng thuốc
1.4 Chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế với công tác truyền thông giáo dục sức khỏe.
Do nhận thức rõ vai trò quan trọng của GDSK nói chung và GDSK về BKLN nói riêng trong sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe(BVSK) nhân dân từ trước tới nay, Đảng, Nhà nước và Bộ Y tế rất quan tâmđến hoạt động TT-GDSK từ tuyến trung ương đến tuyến cơ sở và chỉ đạo tăngcường các hoạt động TT-GDSK
TT-1.4.1 Công tác Truyền thông Giáo dục sức khỏe
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức
khoẻ nhân dân khẳng định: “ làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục sức khoẻ và hỗ trợ về mặt kỹ thuật-chuyên môn, để nhân dân tự giác, chủ động
Trang 16xây dựng nếp sống trật tự, vệ sinh, có ý thức phòng bệnh, phòng dịch, bảo vệ môi trường, môi sinh, thường xuyên rèn luyện thân thể và tham gia tích cực vào các hoạt động chăm sóc sức khoẻ ở cơ sở”
Nghị quyết số 46-NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của Bộ Chính trị xác định nâng cao hiệu quả thông tin-giáo dục-truyền thông là một
trong những giải pháp chủ yếu để bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ
nhân dân trong tình hình mới TT-GDSK…“Tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân; trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại với sức khoẻ, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ chăm sóc
và nâng cao sức khoẻ nhân dân ”[3].
Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ
thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 của Hội nghịlần thứ sáu BCH TW Đảng khóa XII về tăng cường công tác bảo vệ, chămsóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hình mới đã đề cập đến rất cụ
thể về: công tác truyền thông…“Xây dựng và đẩy mạnh công tác truyền thông, vận động nhân dân thực hiện lối sống lành mạnh, tăng cường rèn luyện thân thể, tập thể dục, thể thao, dinh dưỡng hợp lý; lợi ích của tiêm chủng; khám, sàng lọc phát hiện sớm bệnh, tật; nói không với ma túy; hạn chế tác hại của thuốc lá, rượu, bia, đồ uống có cồn, có ga; thực hiện ăn chín, uống sôi; giữ gìn vệ sinh môi trường sống, sử dụng nước sạch, nhà tắm, nhà tiêu hợp vệ sinh Củng cố, phát triển mạng lưới truyền thông từ trung ương đến thôn, xóm, bản, làng; xây dựng các thông điệp, nội dung truyền thông phù hợp để người dân dễ nhớ, dễ hiểu, nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi
Trang 17trong bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho bản thân, gia đình và xã hội”…[4]
Chỉ thị số 08/CT-BYT ngày 01 tháng 9 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ
Y tế về việc Tăng cường công tác truyền thông giáo dục sức khoẻ Bộ trưởng
Bộ Y tế chỉ thị các cơ quan, tổ chức có liên quan triển khai thực hiện cácnhiệm vụ cấp bách sau:
1- Kiện toàn mạng lưới tổ chức làm công tác truyền thông giáo dục sứckhoẻ tại tất cả các tuyến, bảo đảm đủ định mức lao động và cơ cấu viên chứctheo qui định tại Thông tư liên tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV ngày05/6/2007 của Bộ Y tế và Bộ Nội vụ hướng dẫn định mức biên chế sự nghiệptrong các cơ sở y tế nhà nước và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liênquan
2- Đẩy mạnh công tác đào tạo, đào tạo liên tục nhằm nâng cao kỹ năng
TT GDSK cho các cán bộ làm công tác truyền thông, đặc biệt ưu tiên đào tạocho cán bộ truyền thông tuyến huyện
3- Nâng cao chất lượng TT GDSK bảo đảm tính chính xác, khoa học,kịp thời với hình thức đa dạng, nội dung phong phú, phù hợp với từng đốitượng truyền thông và yêu cầu của thực tiễn Nội dung truyền thông cần tậptrung vào một số vấn đề đang được ngành Y tế và xã hội quan tâm giải quyếtnhư nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh; các biện pháp chống quátải bệnh viện, tăng cường củng cố y tế cơ sở, phòng chống các bệnh dịch nguyhiểm đang lưu hành: cúm A (H5N1), tiêu chảy cấp, sốt xuất huyết…, các biệnpháp đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng chống suy dinh dưỡng, thựchiện công tác kế hoạch hoá gia đình giảm tỷ lệ tăng dân số
4- Đầu tư đủ kinh phí, trang thiết bị, cơ sở vật chất phục vụ công tác TTGDSK phù hợp với quy mô hoạt động của từng tuyến [34]
Trang 18Quyết định số 1827/QĐ-BYT ngày 07 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Phê duyệt “Chương trình hành động Truyền thông
giáo dục sức khỏe giai đoạn 2011 - 2015” với mục tiêu “Giúp người dân được tiếp cận đầy đủ và sử dụng hiệu quả các dịch vụ truyền thông giáo dục sức khỏe để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi bảo vệ sức khỏe cho bản thân, gia đình và cộng đồng”[2].
1.4.2 Công tác Truyền thông Giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh không lây nhiễm
Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 20 tháng 03 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt Chiến lược quốc gia phòng, chống bệnh
ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phếquản và các bệnh không lây nhiễm khác, giai đoạn 2015-2025 Giải pháp vềtruyền thông và vận động xã hội như sau:
1- Sử dụng mạng lưới thông tin truyền thông từ Trung ương tới địaphương để tuyên truyền, phổ biến, vận động các cấp, các ngành, đoàn thể vàngười dân thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật, các hướng dẫn,khuyến cáo về phòng, chống bệnh không lây nhiễm
2- Nghiên cứu, xây dựng và cung cấp các chương trình, tài liệu truyềnthông về phòng chống bệnh không lây nhiễm phù hợp với phương thức truyềnthông và các nhóm đối tượng
3- Vận động xây dựng cộng đồng nâng cao sức khỏe phù hợp với từngvùng miền và từng nhóm đối tượng, trong đó chú trọng trường học nâng caosức khỏe, nơi làm việc vì sức khỏe và thành phố vì sức khỏe
4- Đề xuất phát động phong trào toàn dân thực hiện lối sống tăngcường sức khỏe gắn với phòng, chống các bệnh không lây nhiễm [6]
Trang 19Quyết định số 346/QĐ-BYT ngày 30 tháng 01 năm 2015 của Bộ
trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành Kế hoạch phòng chống bệnh không lây
nhiễm giai đoạn 2015 - 2020 Nội dung hoạt động được nêu ra: “Đẩy mạnh công tác thông tin giáo dục truyền thông nhằm nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, nhận thức của người dân về phòng, chống các BKLN”[35].
Quyết định số 4298/QĐ-BYT ngày 09 tháng 8 năm 2016 của Bộ
trưởng Bộ Y tế về việc Phê duyệt Dự án truyền thông, vận động xã hội
phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽnmạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác, giai đoạn 2016-
2020, với mục tiêu: “Nâng cao hiểu biết, thực hành của người dân và vai trò trách nhiệm của các cấp chính quyền, các Bộ, ban, ngành, đoàn thể trong phòng, chống bệnh không lây nhiễm góp phần thực hiện mục tiêu Chiến lược phòng, chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác, giai đoạn 2015- 2025”[36].
Quyết định số 4299/QĐ-BYT ngày 09 tháng 08 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Phê duyệt Dự án chủ động dự phòng, phát hiện sớm,
chẩn đoán, điều trị, quản lý bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnhphổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh không lây nhiễm khác,
giai đoạn 2016 – 2020 Thông tin, giáo dục, truyền thông “Đẩy mạnh công tác truyền thông vận động chính sách để nâng cao trách nhiệm của các cấp chính quyền, các Bộ, ban, ngành, đoàn thể trong việc xây dựng và thực thi cơ chế chính sách, tạo nguồn lực bền vững để phòng chống bệnh không lây nhiễm và nâng cao sức khỏe người dân Sử dụng hiệu quả mạng lưới thông tin truyền thông từ Trung ương tới địa phương để tuyên truyền, hướng dẫn, khuyến cáo người dân về phòng, chống bệnh không lây nhiễm”[37].
Trang 20Quyết định số 3756/QĐ-BYT ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc Ban hành Hướng dẫn hoạt động dự phòng, phát hiện
sớm, chẩn đoán, điều trị và quản lý một số bệnh không lây nhiễm phổ biếncho tuyến y tế cơ sở Quyết định ban hành có hoạt động dự phòng một sốbệnh không lây nhiễm phổ biến, trong đó nêu chi tiết công tác truyền thônggiáo dục sức khỏe cho tuyến huyện, tuyến xã và nhân viên y tế [38]
1.5 Bệnh tăng huyết áp và bệnh đái tháo đường týp 2 ở nước ta hiện nay.
Ở nước ta trong một vài thập kỷ gần đây một số BKLN có xu hướnggia tăng Bệnh không lây nhiễm bao gồm nhiều loại bệnh khác nhau có chungyếu tố là không phải là bệnh lây truyền từ người hoặc từ động vật sang người.Trong số các bệnh không lây nhiễm phổ biến hiện nay ở Việt Nam, có 2 bệnhrất đáng được quan tâm là bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2
Bệnh tăng huyết áp: Theo Tổ chức Y tế thế giới: Một người lớn được
gọi là THA khi HA tối đa, HA tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc HA tối thiểu,
HA tâm trương ≥ 90 mmHg hoặc đang điều trị thuốc hạ áp hàng ngày hoặc có
ít nhất 2 lần được bác sỹ chẩn đoán là THA [39],[40],[41] Đây không phảitình trạng bệnh lý độc lập mà là một rối loạn với nhiều nguyên nhân, các triệuchứng đa dạng, đáp ứng với điều trị cũng rất khác nhau THA cũng là yếu tốnguy cơ của nhiều bệnh tim mạch khác như: tai biến mạch máu não, bệnhmạch vành
Bệnh tăng huyết áp (THA) là bệnh phổ biến trên thế giới cũng như ở ViệtNam, tỷ lệ bệnh THA rất cao và có xu hướng tăng rất nhanh không chỉ ở cácnước có nền kinh tế phát triển mà ở cả các nước đang phát triển là mối đe dọa rấtlớn đối với sức khoẻ của con người, là nguyên nhân gây tàn phế và tử vong hàngđầu ở người cao tuổi Chính vì thế, bệnh THA không những ảnh hưởng đến chấtlượng cuộc sống của bản thân người mắc bệnh, mà còn là gánh nặng cho giađình và xã hội Trong số các trường hợp mắc bệnh và tử vong do tim mạch hàng
Trang 21năm có khoảng 35% - 40% nguyên nhân do THA [42].
Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1978, trên thế giới tỷ lệ mắc bệnh THAchiếm khoảng 10% - 15% dân số và ước tính đến 2025 là 29% Tại Hoa Kỳ,hàng năm chi phí cho phòng, chống bệnh THA trên 259 tỷ đô la Mỹ [42]
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của bộ môn Tim mạch và Viện Timmạch tại thành phố Hà Nội năm 2001-2002, tỷ lệ THA ở người lớn là 23,2%,cao gần ngang hàng với các nước trên thế giới [43] Tỷ lệ THA trong cácnghiên cứu về dịch tễ học luôn vào khoảng từ 20% đến 25% [42] Bệnh THAcòn liên quan đến một số rối loạn chuyển hoá glucose máu, lipid máu Cácrối loạn chuyển hoá này vừa là nguyên nhân gây THA vừa là hậu quả củaTHA và như vậy khi bị THA bệnh ngày càng nặng lên nhanh chóng và tửvong do các biến chứng tại tim, não, thận Đây là vòng xoắn bệnh lý màchúng ta cần quan tâm và TT-GDSK cho mọi người dân
Đái tháo đường: Theo Hội Đái tháo đường Hoa Kỳ 2004: “Đái tháo
đường là một nhóm các bệnh lý chuyển hóa đặc trưng bởi tăng glucose máu
do khiếm khuyết tiết insulin, khiếm khuyết hoạt động insulin, hoặc cả hai.Tăng glucose máu mạn tính trong đái tháo đường sẽ gây tổn thương, rối loạnchức năng hay suy nhiều cơ quan, đặc biệt là mắt, thận, thần kinh, tim vàmạch máu” [44] Đái tháo đường cũng là yếu tố nguy cơ của những bệnh khácnhư bệnh tăng huyết áp và bệnh thận
Kết quả điều tra về đái tháo đường ở Việt Nam cho thấy, tỷ lệ mắc bệnhđái tháo đường lứa tuổi 30-69 tuổi toàn quốc là 2,7% vào năm 2002 [45], đãtăng gấp đôi lên 5,4% năm 2012 [46] Đây là điều đáng báo động khi tỷ lệ đáitháo đường gia tăng nhanh hơn dự báo Tỷ lệ rối loạn dung nạp glucose cũngtăng lên từ 7,7% năm 2002 lên 12,8% năm 2012 [46] Ước tính, năm 2010 tỷ
lệ đái tháo đường ở nhóm tuổi từ 20-79 tuổi là 2,9% tương ứng 1,65 triệungười bị bệnh và dự báo sẽ tăng lên 3,42 triệu người vào năm 2030, gia tăng
Trang 2288 000 người một năm [47].
Đái tháo đường týp 1 có các yếu tố khó thay đổi (di truyền, miễn dịch)và yếu tố môi trường có thể thay đổi được Trong môi trường, các yếu tố đượcphát hiện làm tổn thương tụy dẫn đến đái tháo đường bao gồm bệnh quai bị,rubella, và các tác nhân độc hóa học Đối với đái tháo đường týp 2, cũng cócác yếu tố di truyền và môi trường Yếu tố môi trường gây nguy cơ đái tháođường týp 2 bao gồm tuổi cao, béo phì (nhất là béo bụng) và có lối sống tĩnhtại, quần thể có gia tăng bất thường mô mỡ, tăng lipoprorein có tỷ trọng rấtthấp, tăng huyết áp
1.6 Nghiên cứu hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe và truyền thông giáo dục sức khỏe phòng chống bệnh không lây nhiễm.
1.6.1 Trên thế giới
Các nghiên cứu phân tích về thực trạng nguồn lực, tổ chức và hoạtđộng TT-GDSK cũng như những phân tích về hiệu quả, các ưu điểm vànhược điểm của các mô hình thực hiện TT-GDSK ở các nước trên thế giớicòn rất ít Lý do là mỗi nước trên thế giới có cấu trúc tổ chức hệ thống y tếkhác nhau, các báo cáo thường chỉ mang tính chất quốc gia, thậm chí chỉ bóhẹp trong một khu vực nào đó của một nước, vì vậy ít được phổ biến trên thếgiới
* Manoj Sharma (2005), tiến hành nghiên cứu tại Ấn Độ, nhận thấy tổchức hệ thống TT-GDSK được xem là hợp lý khi bao gồm đa dạng các đơn vị
kỹ thuật, khi các cơ quan TT-GDSK được thành lập ở tất cả các tuyến, các cơquan TT-GSDK nhà nước và các chương trình TT-GDSK của các tổ chức phichính phủ cùng tồn tại và có các hoạt động phối hợp với nhau Ở nước này, cơquan TT-GDSK bao gồm 7 đơn vị kỹ thuật chính là: Đào tạo; truyền thông;biên tập; giáo dục sức khỏe; nghiên cứu và đánh giá, thực địa và mô phỏng;đơn vị giáo dục sức khỏe ở trường học [48]
Trang 23Nhân lực thực hiện các hoạt động TT-GDSK ở các nước thường đadạng, gồm các cán bộ thuộc các chuyên ngành khác nhau như các bác sĩchuyên khoa, bác sĩ đa khoa, các nhà tâm lý học, y tá, bác sĩ gia đình, các nhàdịch tễ học, các nhà quản lý, v.v Các cán bộ này tùy theo vị trí của mình màtham gia vào các hoạt động TT-GDSK ở các mức độ khác nhau, từ việc thựchiện tư vấn trực tiếp cho bệnh nhân về bệnh của họ đến việc tổ chức cácchương trình truyền thông, thiết kế phương tiện truyền thông và lập kế hoạchchiến lược cho các hoạt động TT-GDSK [48],[49].
Một số điểm hạn chế của các hệ thống TT-GDSK ở các nước đã đượccác tác giả đề cập như các chương trình TT-GDSK thường chỉ dựa trên kinhnghiệm và kiến thức chứ chưa dựa trên việc xác định nhu cầu của cộng đồng,chưa có sự tham gia của cộng đồng trong quá trình lập kế hoạch và việc thiếtkế các chương trình giáo dục sức khỏe chưa dựa trên các mô hình về sự thayđổi hành vi [48] Các cơ quan TT-GDSK nhà nước tập trung chủ yếu ở khuvực thành phố trong khi đại đa số dân số lại ở các vùng nông thôn làm chocác hoạt động TT-GDSK chưa tiếp cận được số lượng lớn dân số như ở mộtsố bang ở Ấn Độ một phần năm các cơ quan TT-GDSK đặt ở nông thôn trongkhi ba phần tư dân số sống ở các vùng nông thôn [50]
Các nghiên cứu này đã chỉ ra một số yếu tố cản trở làm cho các chươngtrình giáo dục sức khỏe tốt nhất chưa đến được với người dân như sự hạn chế
về tài chính, hạn chế chất lượng và số lượng nhân lực, các hoạt động thườngkhông được lập kế hoạch [49]
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng ở một số nước, các phương phápchuyển tải thông điệp trong hoạt động TT-GDSK chưa phù hợp với các nhómđối tượng đích, cụ thể là sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng trongcác hoạt động truyền thông là không có hiệu quả đối với một bộ phận dân cư
Trang 24vì họ không có điều kiện tiếp xúc với các phương tiện này [Kannapiran,1992].
* G Jeet, J S Thakur, S Prinja, et al (2017), tiến hành một nghiên cứu
về nhân viên y tế cộng đồng trong phòng chống bệnh không lây nhiễm,chương trình quốc gia phòng và kiểm soát bệnh không lây nhiễm ở các nướcđang phát triển có sự tham gia mạnh mẽ của cộng đồng Một nhân viên y tếcộng đồng cung cấp các cách phòng ngừa BKLN bằng cách sử dụng thông tincũng như tiếp cận hành vi Giáo dục cộng đồng và truyền thông về thay đổilối sống được tập trung vào phòng ngừa BKLN và sàng lọc được thực hiệnnhư một phần của việc chẩn đoán và quản lý sớm Tuy nhiên, hiệu quả củacác can thiệp sàng lọc và tăng cường sức khỏe được thực hiện thông qua nhân
viên y tế cộng đồng cần phải được bàn đến Nghiên cứu thấy sự cần thiết phải giải quyết các BKLN chính, bao gồm Bệnh tim mạch, Đái tháo đường, Bệnh đường hô hấp mạn tính và Ung thư tại trạm y tế đã trở thành những bệnh không thể không xét đến vì tỷ lệ mắc bệnh và tử vong tăng do nhóm này của bệnh [51].
Có bằng chứng và ý nghĩa nhưng còn hạn chế từ các nước đang pháttriển hướng đến hiệu quả của các can thiệp dự phòng nhằm vào các yếu tố lốisống cho các BKLN khác nhau Tổng hợp bằng chứng hiện có, đánh giá củachúng tôi cho thấy các nhân viên y tế cộng đồng đã được trang bị kiến thức cókhả năng thực hiện các can thiệp dự phòng ban đầu BKLN thành công, đặcbiệt là kiểm soát Tăng huyết áp, với tác động ít mạnh mẽ hơn nhưng đầy hứahẹn cho Bệnh tiểu đường và BMI Dự kiến những phát hiện của nghiên cứunày sẽ giúp hướng dẫn việc ra quyết định cung cấp các biện pháp can thiệpnhằm nâng cao sức khỏe và chính sách nhằm ngăn chặn sự gia tăng của các
Trang 25BKLN và qua đó định hướng phân bổ nguồn lực cho các biện pháp dự phòngvà nâng cao sức khỏe [51].
1.6.2 Tại Việt Nam
Tuy gần đây ở nước ta đã có các nghiên cứu về TT-GDSK nhưng chủyếu là các nghiên cứu về thực trạng TT-GDSK nói chung ở tuyến huyện, xã;các nghiên cứu TT-GDSK về phòng chống BKLN ở các tuyến, đặc biệt làtuyến xã còn quá ít
* Nguyễn Văn Hiến (2010), nghiên cứu đã đưa ra các kết luận nổi bậtnhư sau [52]:
- Thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực: Các phòng GDSK còn nhiều khó khăn về cơ sở vật chất cũng như trang thiết bị, rất thiếu
TT-về số lượng cán bộ, nhân viên y tế và hạn chế TT-về trình độ chuyên môn
- Thực trạng hoạt động TT-GDSK: đang được phần lớn cán bộ thựchiện với các hình thức đa dạng: Nói chuyện với cộng đồng, thảo luận nhómcộng đồng, tư vấn cho cá nhân/nhóm, sử dụng đài phát thanh, tài liệu in ấn.Đồng thời hoạt động TT-GDSK có sự phối hợp với nhiều ban ngành đoàn thể
- Các yếu tố tăng cường và hạn chế năng lực hoạt động của các PhòngTT-GDSK trong đó:
Những thuận lợi chung như cán bộ thuộc nhóm tuổi trẻ, có sức khỏe, cónăng lực, thuộc nhóm tuổi từ 31-45 chiếm tỷ lệ cao; đã được sự quan tâm của
Trang 26lãnh đạo các cấp và các ban ngành, đoàn thể; có đội ngũ cộng tác viên nhiệttình, trách nhiệm Mặt khác, thuận lợi từ phía cá nhân như có sự phối hợpthực hiện với các ban, đoàn thể, các khoa/phòng.
Những khó khăn chung như đội ngũ cán bộ TT-GDSK còn thiếu; trìnhđộ chuyên môn của cán bộ yếu, có cán bộ chưa được đào tạo/tập huấn về TT-GDSK; cán bộ có trình độ đại học và sau đại học chiếm tỷ lệ thấp, còn thiếukinh phí hoạt động, thiếu cơ sở vật chất, thiếu trang thiết bị cho hoạt độngTT-GDSK Những khó khăn từ phía cá nhân được nêu lên còn thiếu nhiềukiến thức, kỹ năng về TT-GDSK, thiếu điều kiện làm việc, cán bộ y tế nhậnthấy trình độ dân trí còn thấp, phong tục lạc hậu ảnh hưởng không tốt đếnhoạt động của cán bộ y tế
* Tạ Hoàng Giang (2009), nghiên cứu đã đưa ra một số kết luận chínhnhư sau [53]:
- Thực trạng hoạt động truyền thông giáo dục sức khỏe ở tuyến xã:Hoạt động TT-GDSK đã và đang được phần lớn cán bộ y tế xã/phườngthực hiện với các hình thức đa dạng: nói chuyện với cộng đồng về các vấn đềsức khỏe bệnh tật, thảo luận nhóm cộng đồng, tư vấn cho cá nhân/nhóm vềcác vấn đề sức khỏe bệnh tật, viết bài cho đài phát thanh xã, phát tài liệu: tờrơi, tờ bướm, sách mỏng ; có sự phối hợp với nhiều ban ngành đoàn thể:chính quyền xã/thôn, hội phụ nữ, đoàn thanh niên Về chất lượng hoạt độngnhiều ý kiến nhận xét chất lượng hoạt động TT-GDSK tuyến xã đạt chấtlượng khá, những vẫn còn ít ý kiến cho rằng chất lượng TT-GDSK ở mứctrung bình
- Những điểm mạnh/thuận lợi và những điểm yếu/khó khăn trong hoạtđộng TT-GDSK ở tuyến xã:
Về thuận lợi chung: cán bộ thuộc nhóm tuổi 31-45 tuổi, chiếm tỷ lệcao; cán bộ nhiệt tình, có đội ngũ CTV đông đảo giúp đỡ; hoạt động TT-
Trang 27GDSK của tuyến xã được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp; có sự phối hợpthực hiện với các ban ngành, đoàn thể trong xã Mặt khác, thuận lợi từ phía cánhân: có sự chỉ đạo của cấp trên, có sự phối hợp nhiệt tình, trách nhiệm củađồng nghiệp, được tập huấn kiến thức quản lý về lập kế hoạch, theo dõi/giámsát, đánh giá, có kinh nghiệm trong hoạt động quản lý TT-GDSK.
Những điểm yếu/khó khăn: thiếu kinh phí hoạt động, thiếu trang thiếtbị cho hoạt động TT-GDSK, thiếu tài liệu/ấn phẩm, thiếu nhân lực Nhữngkhó khăn từ phía cán bộ được đề cập đến là thiếu kiến thức, kỹ năng lập kếhoạch, thiếu kinh nghiệm về lập kế hoạch, năng lực của các cán bộ còn nhiềuhạn chế, còn nhiều cán bộ chưa được đào tạo/tập huấn về quản lý hoạt độngTT-GDSK và có nhu cầu cần đào tạo và đào tạo lại, nguồn lực cho hoạt độngTT-GDSK còn thiếu do đầu tư nguồn lực chưa nhận được sự quan tâm
* Vũ Duy Kiên, Hoàng Văn Minh, Kim Bảo Giang và cộng sự (2015),một nghiên cứu định tính được thực hiện tại Hà Nội: Sáu chủ đề, liên quanđến sáu khối xây dựng của khung hệ thống y tế của WHO, đã được xác địnhđó là cung cấp dịch vụ, lực lượng y tế, hệ thống thông tin y tế, tiếp cận vớicác loại thuốc thiết yếu, tài chính và lãnh đạo/quản trị Các chủ đề này khaithác khả năng đáp ứng của các trạm y tế xã đối với các BKLN ở thành phố HàNội Nhân viên y tế tại các trạm y tế xã không biết về chiến lược quốc gia vềphòng chống BKLN Nhân viên y tế nêu việc thiếu tài liệu thông tin về phòngchống BKLN cho quản lý và lập kế hoạch Số lượng cán bộ thiếu tại các trạmxã y tế được hưởng lợi từ nhiều nhân viên y tế nói chung và những người cóđào tạo và kỹ năng đặc thù của BKLN Ngoài ra, ngân sách cho phòng chốngBKLN tại các trạm y tế xã vẫn còn rất hạn chế Một số trạm y tế xã không cóchương trình phòng chống BKLN, trong khi những trạm khác có chươngtrình Việc thiếu thuốc điều trị BKLN cũng được ghi nhận, với tác động tiêucực đến việc cung cấp các dịch vụ liên quan đến BKLN tại các trạm y tế
Trang 28xã Những chủ đề này cũng được phản ánh trong báo cáo của các hoạt độngliên quan đến phòng chống các BKLN hiện có Qua nghiên cứu, các chuyêngia y tế xem khả năng đáp ứng của các trạm y tế xã đối với phòng chống cácBKLN ở thành phố Hà Nội, Việt Nam là yếu Cần thực hiện các chính sáchphù hợp để cải thiện các dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu về phòng chốngcác BKLN tại các trạm y tế xã ở thành phố Hà Nội, Việt Nam [54].
Những thay đổi về mô hình bệnh tật với sự gia tăng của BKLN cần cócách tiếp cận phù hợp trong TT-GDSK để giảm thiểu các nguy cơ đối với sứckhỏe, thông qua thay đổi hành vi có hại Nghiên cứu của Rhonda Galbally(2001) về NCSK ở Việt Nam cho thấy nhiều cơ sở y tế đã rất chú trọng đếncông tác giáo dục sức khỏe, với mục đích thông báo đến người dân về vấn đềsức khỏe, cung cấp những thông tin liên quan đến vấn đề đó và dùng cácphương pháp tiếp thị xã hội để thuyết phục người dân chấp nhận những cáchsống thích hợp Với phương pháp này, còn xem nhẹ các yếu tố xã hội, kinh tế,tâm lý và môi trường [55],[56],[57] Bên cạnh vai trò tác động trực tiếp trongcông tác dự phòng và điều trị, TT-GDSK cũng có vai trò gián tiếp hỗ trợ các
cá nhân và hộ gia đình giảm bớt gánh nặng tài chính cho y tế, tránh nhữnglãng phí trong chi tiêu cho y tế
Như vậy có thể thấy nhiều lĩnh vực trong CSSK hiện nay muốn thựchiện tốt thì cần đẩy mạnh hoạt động TT-GDSK Đáp ứng được nhu cầu đó đòihỏi phải tiến hành những nghiên cứu, nhằm giúp cho các cán bộ trong hệthống TT-GDSK có đủ các cơ sở khoa học và thực tiễn để thực hiện và quản
lý hoạt động TT-GDSK ngày càng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượngtrong CSSK cộng đồng
Trang 291.7 Một số thông tin về địa bàn nghiên cứu
Hình 1.1 Bản đồ huyện Yên Khánh
Nghiên cứu được thực hiện tại huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.Huyện Yên Khánh nằm ở phía đông nam tỉnh Ninh Bình Phía bắc giáp thànhphố Ninh Bình, phía tây và tây nam giáp huyện Yên Mô, phía nam giáphuyện Kim Sơn, phía đông và đông bắc có sông Đáy bao bọc, là ranh giới tựnhiên với huyện Nghĩa Hưng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định Trên bản đồ địa
lý, Yên Khánh giống hình một con dê di chuyển theo hướng từ đông sang tây
Diện tích tự nhiên toàn huyện là 137,9 km², dân số 143.131 người, mậtđộ dân số 1.038 người/km² Gồm thị trấn Yên Ninh và 18 xã: Khánh
An, Khánh Công, Khánh Cư, Khánh Cường, Khánh Hải, Khánh Hòa, KhánhHội, Khánh Hồng, Khánh Lợi, Khánh Mậu, Khánh Nhạc, Khánh Phú, KhánhThành, Khánh Thiện, Khánh Thủy, Khánh Tiên, Khánh Trung, Khánh Vân
Trang 30Yên Khánh là huyện đồng bằng, nền kinh tế thế mạnh chủ yếu củahuyện là nông nghiệp Từ năm 2007, huyện Yên Khánh phát triển mạnh mẽcác khu công nghiệp nằm ở các xã Khánh Phú, Khánh An để thúc đẩy pháttriển kinh tế Yên Khánh có khu công nghiệp Khánh Phú và nằm cạnh cảngNinh Phúc (thành phố Ninh Bình) rất thuận lợi giao lưu kinh tế nội tỉnh, gópphần giải quyết việc làm và tăng thu nhân cho hàng ngàn hộ gia đình trên địabàn và các vùng lân cận.
Trong những năm qua, TTYT huyện đã chủ động khắc phục khó khăn,
tổ chức triển khai thực hiện hoàn thành tốt nhiệm vụ, kế hoạch được giao vàđã đạt được một số thành tựu nhất định TTYT huyện đã tham mưu cho Sở Ytế Ninh Bình chỉ đạo kịp thời các hoạt động về công tác bảo vệ, chăm sóc vànâng cao sức khoẻ cho nhân dân trong huyện Hệ thống y tế ngày một củng cốvà hoàn thiện, đội ngũ cán bộ y tế sau nhiều năm phát triển, được đào tạonâng cao đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sứckhoẻ cho nhân dân Công tác y tế đã được sự quan tâm của cấp uỷ đảng, chínhquyền các cấp, sự phối kết hợp có hiệu quả của các cơ quan, ban, ngành tronghuyện Chính sách xã hội hoá công tác y tế đang ngày càng được mở rộngthực hiện và phát huy hiệu quả TTYT huyện đã chủ động sáng tạo trong quátrình chỉ đạo, quản lý, điều hành trong mọi hoạt động, tăng cường công táckiểm tra, giám sát cơ sở, kịp thời giải quyết những vướng mắc trong quá trình
tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao
Tuy vậy công tác chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân trong nhữngnăm vừa qua vẫn tồn tại nhiều vấn đề bất cập cần phải tiếp tục quan tâm giảiquyết như: cơ sở vật chất, trang thiết bị, dụng cụ tại các trạm y tế đa phần đãxuống cấp, còn thiếu và lạc hậu, một số xã còn gặp khó khăn Một số địaphương cấp uỷ đảng, chính quyền chưa thật sự quan tâm chỉ đạo công tác y tế,hiệu quả các hoạt động còn thấp Nhận thức của một bộ phận người dân về
Trang 31công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ còn hạn chế Kinh phí đầu tư cho ngành ytế còn hạn hẹp, nhất là nguồn kinh phí sự nghiệp, việc đầu tư cho cơ sở vậtchất, trang thiết bị y tế còn chưa đáp ứng được nhu cầu Cơ chế quản lý, chínhsách đãi ngộ, đào tạo, thu hút cán bộ y tế có trình độ cao chưa phù hợp, chưaphát huy được hiệu quả Công tác xã hội hoá y tế chưa đồng đều, hiệu quả cònthấp ở một số lĩnh vực Năng lực quản lý, điều hành tại một số đơn vị còn hạnchế, hiệu quả, chất lượng hoạt động chưa cao Hoạt động TT-GDSK nóichung và TT-GDSK phòng chống BKLN nói riêng tuy đã có những chuyểnbiến nhất định, nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế củacông tác CSSK cho người dân.
Chương 2:
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU2.1 Địa bàn và đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại tất cả 19 trạm y tế xã của huyện YênKhánh, tỉnh Ninh Bình
Trang 322.1.2 Đối tượng nghiên cứu
- Trưởng trạm và cán bộ, nhân viên y tế của TYTX có liên quan đếnthực hiện nhiệm vụ TT-GDSK của 19 trạm y tế xã, thị trấn (bao gồm: Bác sĩ,
y sĩ, điều dưỡng…) của huyện Yên Khánh
- Một số cán bộ của Trung tâm y tế huyện Yên Khánh liên quan đến chỉđạo các hoạt động TT-GDSK của các Trạm y tế xã
- Một số người dân được chẩn đoán xác định bệnh tăng huyết áp và đáitháo đường týp 2, có lĩnh thuốc hàng tháng và được quản lý tại các trạm y tếxã, thị trấn của huyện Yên Khánh vào thời điểm nghiên cứu năm 2019
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ TT-GDSK hiện cótại các trạm y tế xã của huyện Yên Khánh vào thời điểm nghiên cứu năm2019
2.1.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu từ tháng 4/2019 đến tháng 9/2019
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành theo phương pháp mô tả cắt ngang Sửdụng cả phương pháp định lượng và định tính để thu thập thông tin
2.2.2 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định lượng
Chọn toàn bộ Trưởng trạm và tất cả cán bộ, nhân viên y tế của 19 trạm
y tế xã, thị trấn huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình có liên quan đến hoạt độngTT-GDSK Số lượng thực tế là 96 cán bộ, nhân viên y tế của các trạm y tế đãđược chọn nghiên cứu
2.2.3 Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu cho nghiên cứu định tính
- Tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm với đại diện các trạm y tế xã, mỗicuộc 10 cán bộ đã được mời tham dự
Trang 33- Tổ chức 01 cuộc thảo luận nhóm với cán bộ Trung tâm y tế huyện cóliên quan đến chỉ đạo công tác TT-GDSK của các trạm y tế xã, đã có 9 cán bộtham dự
- Tổ chức 02 cuộc thảo luận nhóm với một số người dân được chẩnđoán xác định bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2, có lĩnh thuốc hàngtháng tại các trạm y tế xã, mỗi cuộc 10 người tham dự
2.3 Các biến số và chỉ số nghiên cứu (Phụ lục 5)
2.3.1 Biến số về thông tin chung
- Tuổi
- Giới
- Chức vụ
- Trình độ chuyên môn
- Số năm phụ trách công tác TT-GDSK phòng chống bệnh THA vàĐTĐT2
2.3.2 Các biến số, chỉ số cho mục tiêu 1:
* Thực hiện hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA và bệnh ĐTĐT2 của các trạm y tế xã
- Thực hiện lưu trữ các văn bản chỉ đạo hoạt động TT-GDSK phòngchống bệnh THA và bệnh ĐTĐT2
- Tình hình thực hiện TT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2trong 3 tháng gần đây
- Những phương pháp TT-GDSK đã và đang sử dụng, các nội dung cụthể và loại tài liệu/vật liệu TT-GDSK về bệnh THA và ĐTĐT2 đang có tạitrạm y tế
- Tình hình thực hiện tư vấn cho người mắc bệnh THA và ĐTĐT2 theohướng dẫn của Bộ Y tế và phạm vi hoạt động
Trang 34- Phân công cán bộ phụ trách hoạt động TT-GDSK về phòng chốngbệnh THA và ĐTĐT2
- Triển khai phòng truyền thông/ góc TT-GDSK về phòng chống bệnhTHA và ĐTĐT2
- Thực hiện hướng dẫn và hỗ trợ cán bộ y tế thôn
- Thực hiện lồng ghép, phối hợp tổ chức các hoạt động truyền thôngnhân các ngày sức khỏe hằng năm về bệnh THA và ĐTĐT2
- Nguồn nhân lực, kinh phí và cơ sở vật chất, trang thiết bị thực hiệnTT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2
- Lập kế hoạch, theo dõi/ giám sát và đánh giá hoạt động TT-GDSKphòng chống bệnh THA và ĐTĐT2 tại trạm y tế
- Đánh giá/ nhận xét của cán bộ trưởng/ phó trạm y tế xã hoặc cán bộphụ trách TT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2
* Thực hiện hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA và bệnh ĐTĐT2 của các cán bộ y tế xã
- Đánh giá của cán bộ y tế về đáp ứng yêu cầu thực tế hoạt động GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2
TT Lồng ghép/phối hợp các hoạt động TTTT GDSK phòng chống bệnhTHA và ĐTĐT2 của trạm y tế xã với các đơn vị/tổ chức của xã
- Cán bộ TYT thực hiện và các nội dung TT-GDSK và TT-GDSKphòng chống bệnh THA và ĐTĐT2 trong 1 tuần qua, 1 tháng qua và 3 thángqua
- Những nội dung cụ thể về bệnh THA và ĐTĐT2 đã được cán bộ y tếthực hiện TT-GDSK
- Nguồn nhân lực, kinh phí và cơ sở vật chất thực hiện TT-GDSKphòng chống bệnh THA và ĐTĐT2 theo ý kiến cán bộ y tế
Trang 35- Phân công cán bộ y tế quản lý/theo dõi hoạt động TT-GDSK phòngchống bệnh THA và ĐTĐT2
- Hoạt động quản lý chung, lập kế hoạch, theo dõi/ giám sát và đánh giátrong TT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2
- Cán bộ tham gia hoặc thực hiện hoạt động lập kế hoạch, theo dõi/giám sát và đánh giá TT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2
- Đào tạo/ hướng dẫn về lập kế hoạch; theo dõi, giám sát và đánh giáTT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2 theo ý kiến của cán bộ y tế
- Đánh giá/ nhận xét chung của cán bộ y tế về hoạt động TT-GDSKphòng chống bệnh THA và ĐTĐT2 của trạm y tế xã hiện nay
2.3.3 Biến số, chỉ số cho mục tiêu 2:
Một số thuận lợi, khó khăn trong thực hiện TT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2
- Những thuận lợi (điểm mạnh) của trạm y tế xã và bản thân cán bộ ytế: Chính sách, nhân lực, trang thiết bị cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn…
- Một số khó khăn (điểm yếu) của trạm y tế xã và bản thân cán bộ y tế:Chính sách, nhân lực, trang thiết bị cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn…
2.4 Công cụ và phương pháp thu thập thông tin (Phụ lục 1a,1b,2,3,4)
2.4.1 Công cụ thu thập thông tin
- Phát triển bộ câu hỏi để thu thập thông tin
- Đối với thông tin định tính: Phát triển hướng dẫn thảo luận nhóm vớicán bộ trạm y tế xã; cán bộ trung tâm y tế huyện; người dân có chẩn đoán xácđịnh bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2, có lĩnh thuốc hàng tháng tạicác trạm y tế xã
2.4.2 Phương pháp thu thập thông tin
2.4.2.1 Số liệu định lượng
- Các bước thu thập thông tin:
Trang 36Bước 1: Xây dựng bộ công cụ
Bộ phiếu điều tra xây dựng dựa vào nội dung và mục tiêu nghiên cứu.Được hoàn thiện khi điều tra thử
Bước 2: Tập huấn cho cán bộ tham gia nghiên cứu:
- Tổ chức tập huấn chu đáo cho các cán bộ tham gia nghiên cứu giúp
điều tra viên hiểu về mục đích, đảm bảo thống nhất phương pháp chọn đốitượng và phương pháp thu thập thông tin giữa các cán bộ điều tra tại địa bànnghiên cứu Đồng thời hướng dẫn điều tra viên cách thức xử trí tình huốnggặp phải trong quá trình điều tra và cách thu thập thông tin một cách chínhxác và khách quan nhất
- Cán bộ tham gia phỏng vấn là các cán bộ Trung tâm y tế huyện YênKhánh, thuộc Phòng KH-NV và Khoa Kiểm soát bệnh tật - HIV/AIDS
Bước 3: Tiến hành phỏng vấn:
Điều tra viên đến từng trạm y tế gặp gỡ đối tượng nghiên cứu và tiếnhành thu thập thông tin theo quy trình sau:
+ Phỏng vấn trực tiếp với các đối tượng là cán bộ y tế đang công tác tạitrạm bằng bộ công cụ điều tra đã thiết kế sẵn
+ Trong quá trình phỏng vấn chỉ có hai người (điều tra viên và đốitượng phỏng vấn) và ngồi đối diện nhau
2.4.2.2 Đối với nghiên cứu định tính:
- Xây dựng hướng dẫn thảo luận nhóm
- Thống nhất hướng dẫn thảo luận nhóm trong nhóm nghiên cứu
- Thông báo kế hoạch và mời đối tượng tham dự thảo luận nhóm
- Tiến hành 05 cuộc thảo luận nhóm trong đó: 02 cuộc thảo luận nhóm
với các trưởng/ phó trạm TYT xã, 01 cuộc thảo luận nhóm của một số cán bộhuyện có liên quan đến TT-GDSK và 02 cuộc thảo luận nhóm với một sốngười dân có chẩn đoán xác định bệnh tăng huyết áp và đái tháo đường týp 2,có lĩnh thuốc hàng tháng tại các trạm y tế xã
Trang 37- Học viên là người hướng dẫn các cuộc thảo luận nhóm Thông tin từcác cuộc thảo luận nhóm được thư ký ghi chép đầy đủ để thuận lợi cho việcphân tích theo các nội dung nghiên cứu.
2.4.3 Sai số và cách khắc phục sai số
2.4.3.1 Sai số: Trong nghiên cứu này một số sai số có thể gặp:
- Sai số do đối tượng bỏ trống không điền hoặc đối tượng từ chối khôngtham gia
- Sai số do chưa hiểu rõ câu hỏi
- Sai số nhớ lại
- Sai số do quá trình nhập số liệu
2.4.3.2 Cách khắc phục sai số
- Hướng dẫn kỹ cho các đối tượng trước khi phỏng vấn bộ câu hỏi.
- Giải thích rõ cho đối tượng các nội dung đối tượng chưa hiểu, hiểuchứ đúng
- Kiểm tra kỹ các biểu mẫu ngay tại chỗ để đảm bảo các thông tin thu
thập đầy đủ và đúng với mục tiêu của nghiên cứu
- Làm sạch số liệu trước khi nhập, tạo file check để hạn chế sai số donhập số liệu
- Kiểm tra logic file số liệu, phát hiện và xử lý các số liệu không hợp lýtrước khi phân tích
2.5 Xử lý và phân tích số liệu
- Số liệu được làm sạch trước khi nhập vào máy tính, sử dụng chương
trình EPI DATA 3.1 để nhập số liệu Phân tích số liệu được tiến hành bằngchương trình SPSS Sau khi phân tích được trình bày dưới dạng bảng, biểu
đồ, đồ thị…của phần mềm Excel và Word
- Một số tiêu chuẩn chính được sử dụng trong nghiên cứu như sau:
Trang 38** Đánh giá của cán bộ y tế về việc đáp ứng yêu cầu thực tế hoạt độngTT-GDSK phòng chống bệnh THA và ĐTĐT2 của trạm y tế xã: Đáp ứngđược, chưa đáp ứng được dựa theo ý kiến của cán bộ TYT xã.
** Thực hiện lồng ghép/phối hợp: Các hoạt động TT-GDSK phòngchống bệnh THA; ĐTĐT2 của trạm y tế xã được phối hợp triển khai cùng vớicác hoạt động khác của các đơn vị/tổ chức khác của xã như chính quyềnxã/thôn, hội phụ nữ, đoàn thanh niên nhằm huy động các đối tượng nàycùng tham gia
** Tình hình thực hiện hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA,ĐTĐT2 của các xã trong 1 tuần qua, 1 tháng qua và 3 tháng qua: Thu thập sốliệu về tần xuất thực hiện các hoạt động TT-GDSK được thực hiện tại tuyếnxã như: nói chuyện với cộng đồng về bệnh THA, ĐTĐT2, thảo luận nhóm, tưvấn cá nhân, phát tờ rơi/tờ bướm , phát thanh trên hệ thống đài phát thanhcủa xã, trong thời gian 1 tuần vừa qua, 1 tháng vừa qua và 3 tháng vừa qua
về bệnh THA, ĐTĐT2
** Nguồn nhân lực; kinh phí; cơ sở vật chất, trang thiết bị (CSVC,TTB) cho hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA; ĐTĐT2 ở tuyến xãtheo ý kiến của cán bộ y tế: cán bộ y tế đánh giá về nguồn nhân lực; kinh phí;CSVC, TTB cho hoạt động TT-GDSK tại đơn vị theo các mức độ đủ, tạm đủ,thiếu, rất thiếu theo ý kiến cá nhân của cán bộ y tế
** Đánh giá của cán bộ y tế về quản lý chung; lập kế hoạch; theodõi/giám sát và đánh giá hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA,ĐTĐT2 của xã mình: CBYT đánh giá theo các mức độ đạt, chưa đạt và đánhgiá khác theo ý kiến cá nhân
* Đạt: Quản lý chung; lập kế hoạch; theo dõi/giám sát và đánh giá hoạtđộng TT-GDSK phòng chống bệnh THA, ĐTĐT2 thực hiện được đầy đủ theođánh giá của cán bộ TYT
Trang 39* Chưa đạt: Quản lý chung; lập kế hoạch; theo dõi/giám sát và đánh giáhoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA, ĐTĐT2 thực hiện được phầnnhỏ hoặc không thực hiện theo đánh giá của cán bộ TYT.
** Thực trạng phân công quản lý/ theo dõi hoạt động TT-GDSK phòngchống bệnh THA, ĐTĐT2 tại tuyến xã: CBYT đánh giá theo 2 tiêu chí cóđược phân công và không được phân công quản lý/ theo dõi hoạt động TT-GDSK tại đơn vị mình
** Thực trạng đào tạo/hướng dẫn về hoạt động TT-GDSK tại tuyến xã:CBYT trả lời thông tin theo 2 tiêu chí có được đào tạo/hướng dẫn và khôngđược đào tạo/hướng dẫn về quản lý hoạt động TT-GDSK (gồm lập kế hoạch,theo dõi/giám sát và đánh giá hoạt động TT-GDSK)
** Đánh giá của cán bộ y tế về hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnhTHA, ĐTĐT2 của xã mình: CBYT đánh giá theo các mức độ tốt, khá, trungbình, kém và đánh giá khác theo ý kiến cá nhân của mình
* Tốt: hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA, ĐTĐT2 của đơnvị được triển khai phong phú, nhận thức của người dân về các vấn đề sứckhỏe bệnh tật được nâng cao rõ rệt, các hoạt động TT-GDSK được sự thamgia tích cực của người dân và các đơn vị/tổ chức tại địa phương;
* Khá: hoạt động TT-GDSK bệnh THA và ĐTĐT2 của đơn vị đượctriển khai, nhận thức của người dân về các vấn đề sức khỏe bệnh tật được cảithiện, các hoạt động TT-GDSK được sự tham gia của người dân và các đơnvị/tổ chức tại địa phương;
* Trung bình: hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA; ĐTĐT2của đơn vị được triển khai chưa đầy đủ, có một số hạn chế nhất định, nhậnthức của người dân về các vấn đề sức khỏe bệnh tật chưa được cải thiệnnhiều, các hoạt động TT-GDSK ít được người dân và các đơn vị/tổ chức tạiđịa phương quan tâm;
Trang 40* Kém: hoạt động TT-GDSK phòng chống bệnh THA, ĐTĐT2 của đơnvị không được triển khai hoặc được triển khai với nhiều hạn chế rõ rệt, nhậnthức của người dân về các vấn đề sức khỏe bệnh tật về cơ bản không hoặc itđược cải thiện, các hoạt động TT-GDSK chưa được người dân và các đơnvị/tổ chức tại địa phương quan tâm
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành khi được sự đồng ý của hội đồng thông qua
đề cương luận văn Trường Đại học Y Hà Nội
Những cán bộ, nhân viên y tế được chọn vào nghiên cứu thông báo rõ
về mục đích nghiên cứu và đồng ý tham gia trả lời phỏng vấn
Các điều tra viên tôn trọng sự lựa chọn và trả lời của cán bộ, nhân viên
y tế những kiến thức, thái độ và thực hành của họ, không có ý kiến chê bai,phê phán trong quá trình điều tra
Nghiên cứu này không phải một cuộc kiểm tra, đánh giá thi đua của các
cơ sở y tế tuyến trên đối với tuyến dưới Các thông tin thu thập được từ đốitượng tham gia nghiên cứu tuyệt đối được giữ bí mật
Kết quả nghiên cứu có thể được đề xuất với các đơn vị chức năng để cónhững hoạt động hỗ trợ nhằm nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành choCBYT trong thời gian tới