1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO kỹ THUẬT của BỆNH VIỆN BẠCH MAI năm 2017 – 2018

94 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 6,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả cho thấy nhu cầu chuyển giao kỹ thuậtcủa các bệnh viện là rất cao, quá trình đào tạo tại Bệnh viện Bạch Mai bướcđầu đã có nâng cao chất lượng chuyên môn cho các học viên nhận chu

Trang 1

LÊ ANH TUẤN

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT CỦA BỆNH VIỆN

BẠCH MAI NĂM 2017 – 2018

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

LÊ ANH TUẤN

THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CHUYỂN GIAO KỸ THUẬT CỦA BỆNH VIỆN

BẠCH MAI NĂM 2017 – 2018

Chuyên ngành : Quản lý Bệnh viện

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS TRẦN NHƯ NGUYÊN

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Quản

lý bệnh viện, ngoài những nỗ lực, cố gắng của bản thân, tôi luôn nhận được

sự giúp đỡ động viên của các thầy cô, Ban lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai nơitôi công tác, bạn bè đồng nghiệp và người thân trong gia đình tôi

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:

Ban giám hiệu nhà trường, các thầy cô giáo, các bộ môn và phòng sauđại học Trường Đại học Y Hà Nội - Viên đào tạo Y học dự phòng và Y tếcông cộng đã tận tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thờigian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

PGS.TS Trần Như Nguyên, người thầy nhiệt tình, trách nhiệm đã tậntình chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Ban lãnh đạo Bệnh viện Bạch Mai, các anh/chị em đồng nghiệp củaTrung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến là nơi tôi công tác và thực hiện đề tàinghiên cứu, đã tạo điều kiện giúp đỡ cung cấp thông tin cần thiết để tôi thựchiện được nghiên cứu

Các bạn lớp cao học Quản lý bệnh viện khóa 26 đã chia sẻ kinh nghiệm,trao đổi kiến thức, giúp đỡ nhau trong quá trình học tập

Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn đến tất cả mọi người trong gia đình đặc biệt

là vợ và con trai yêu quí là nguồn động viên, khích lệ để tôi hoàn thành đượcluận văn này

Trân trọng cảm ơn!

HỌC VIÊN

LÊ ANH TUẤN

Trang 4

Tôi tên là: Lê Anh Tuấn, học viên cao học khóa 26 Viện đào tạo Y học

dự phòng và Y tế công cộng - Trường đại học Y Hà Nội, chuyên ngành Quản

lý bệnh viện, xin cam đoan như sau:

1 Đây là luận văn do tôi trực tiếp thực hiện, dưới sự hướng dẫn củaPGS.TS Trần Như Nguyên

2 Đề tài nghiên cứu này không trùng lặp với bất kỳ nghiên cứu nào khác

đã được công bố tại Việt nam

3 Các số liệu và thông tin trong nghiên cứu là hoàn toàn chính xác,trung thực, khách quan, đã được xác nhận và chấp thuận của đơn vị nơinghiên cứu

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam kết trên

Hà Nội, ngày 10 tháng 06 năm 2019

NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

LÊ ANH TUẤN

Trang 5

TDC Training and direction of healthcare activities center

Trung tâm đào tạo và chỉ đạo tuyến bệnh viện Bạch Mai

Trang 6

1.1 Những vấn đề chung 3

1.1.1 Một số thuật ngữ liên quan đến hoạt động chuyển giao kỹ thuật 3

1.1.2 Phân loại bệnh viện 4

1.1.3 Danh mục kỹ thuật 5

1.1.4 Quy trình chuyển giao kỹ thuật 6

1.2 Nguồn nhân lực y tế 11

1.2.1 Khái niệm 11

1.2.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế 12

1.2.3 Thực trạng nhân lực y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế 13

1.3 Tổng quan về hoạt động chuyển giao kỹ thuật 15

1.3.1 Khung lý thuyết chuyển giao 16

1.3.2 Trên thế giới 17

1.3.3 Tại Việt Nam 19

1.3.4 Thực trạng hiệu quả Chuyển giao kỹ thuật 20

1.4 Tổng quan về khó khăn, thuận lợi 23

1.5 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu 26

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29

2.1 Địa điểm nghiên cứu 29

2.2 Thời gian nghiên cứu 29

2.3 Đối tượng nghiên cứu 29

2.4 Thiết kế nghiên cứu 30

2.5 Cỡ mẫu và chọn mẫu 30

2.6 Biến số, chỉ số, kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu 30

2.7 Sai số và biện pháp hạn chế 36

2.8 Xử lý số liệu 37

2.9 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 37

2.10 Hạn chế của nghiên cứu 37

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Thực trạng quy trình CGKT tại BVBM 38

3.2 Một số yếu tố liên quan đến kết quả CGKT của BVBM 53

Chương 4: BÀN LUẬN 59

4.1 Thực trạng thực hiện quy trình chuyển giao kỹ thuật 59

4.2 Một số yếu tố liên quan đến hoạt động chuyển giao kỹ thuật tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2017 – 2018 66

KẾT LUẬN 70

KHUYẾN NGHỊ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

Bảng 3.1 Đặc điểm cá nhân của đối tượng nghiên cứu 38Bảng 3.2 Đánh giá của học viên về mức độ phù hợp của hình thức đào tạo .42Bảng 3.3 Đánh giá của học viên về mức độ giải quyết các khó khăn gặp

phải sau CGKT 44Bảng 3.4 Kết quả đánh giá cuối khóa CGKT của học viên 50Bảng 3.5 Phản hồi của học viên về thời gian học lý thuyết, thực hành 51Bảng 3.6 Mối liên quan giữa một số đặc điểm cá nhân đối tượng nghiên

cứu và kết quả triển khai chuyển giao kỹ thuật 53Bảng 3.7 Mối liên quan giữa vị trí công tác của cán bộ và kết quả triển khai

chuyển giao kỹ thuật 54Bảng 3.8 Mối liên quan giữa tổ chức đào tạo và kết quả triển khai chuyển

giao kỹ thuật 55Bảng 3.9 Mối liên quan giữa trình độ, phương pháp giảng dạy của giảng

viên và kết quả triển khai kỹ thuật chuyển giao kỹ thuật 56Bảng 3.10 Mối liên quan giữa tính cần thiết, sự hài lòng của học viên và kết

quả triển khai chuyển giao kỹ thuật 57Bảng 3.11 Mối liên quan giữa nhận xét về khóa học của học viên và kết quả

triển khai chuyển giao kỹ thuật 57Bảng 3.12 Mối liên quan giữa loại kỹ thuật được chuyển giao và kết quả

triển khai chuyển giao kỹ thuật 58

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Trang 9

được chuyển giao 39Biểu đồ 3.3 Kênh thông tin học viên được tiếp cận về kỹ thuật được chuyển

giao 40Biểu đồ 3.4 Các hình thức được đào tạo 41Biểu đồ 3.5 Các khó khăn gặp phải trong hoạt động chuyên môn trước

chuyển giao kỹ thuật 43Biểu đồ 3.6 Đánh giá của học viên về trình độ chuyên môn của giảng viên 45Biểu đồ 3.7 Đánh giá của học viên về đội ngũ giảng viên tại BV Bạch Mai 46Biểu đồ 3.8 Những hỗ trợ cho học viên trong tổ chức giảng dạy tại BV

Bạch Mai 47Biểu đồ 3.9 Những hỗ trợ học viên nhận được khi học tại BV Bạch Mai .48Biểu đồ 3.10 Đánh giá của học viên về hỗ trợ học viên của trung tâm 48Biểu đồ 3.11 Đánh giá của học viên về công tác quản lý học viên của Trung

tâm Đào tạo và chỉ đạo tuyến 49Biểu đồ 3.12 Mức độ hài lòng về các hoạt động hỗ trợ/đào tạo do BV Bạch

Mai tổ chức 52

Trang 10

Sơ đồ 1.1 Quy trình chuyển giao kỹ thuật 8

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII và Nghị quyết số

46/NQ-TW ngày 23/02/2005 của Bộ Chính trị, trong những năm qua, Ngành Y tế đã

có nhiều nỗ lực trong củng cố, hoàn thiện và phát triển mạng lưới các cơ sởkhám bệnh, chữa bệnh trong cả nước, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao củangười dân Nhằm nâng cao chất lượng khám bệnh, chữa bệnh tại các cơ sở y

tế tuyến dưới, đưa dịch vụ có chất lượng đến gần với người dân và giảm tảicho các bệnh viện tuyến trên; Bộ Y tế đã thực hiện nhiều giải pháp nâng caonăng lực y tế tuyến dưới thông qua đẩy mạnh hoạt động chỉ đạo tuyến, đàotạo, luân phiên cán bộ, chuyển giao kỹ thuật…theo các đề án của Chính phủ

và của Bộ Y tế Trong thời gian qua, nhiều bệnh viện tuyến tỉnh và hầu hếtcác bệnh viện tuyến huyện đã được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết

bị theo Đề án 225, Đề án 47/930, Đề án 1816, Dự án Norred của Chính phủ,tuy nhiên các bệnh viện này còn thiếu cán bộ chuyên môn có trình độ phù hợp

để sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất và trang thiết bị đã được đầu tư [1]

Bệnh viện Bạch Mai là bệnh viện đa khoa hạng đặc biệt với hơn 105năm thành lập và phát triển, là bệnh viện đầu tiên trong cả nước triển khaithành công nhiệm vụ đào tạo chính quy sau đại học: bác sỹ nội trú, bác sỹchuyên khoa I và bác sỹ chuyên khoa II Hệ thống đào tạo của bệnh viện ápdụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 - 2015, mỗi năm

tổ chức hơn 200 khóa đào tạo/Chuyển giao kỹ thuật với khoảng 5.000 họcviên tại Bệnh viện và ở mọi miền đất nước với chất lượng tốt nhất Bệnh việnBạch Mai là lá cờ đầu của ngành trong triển khai các Dự án, Đề án và luônnhận được sự đánh giá cao của lãnh đạo Bộ Y tế cũng như các cơ sở địaphương [2]

Trang 12

Trong bối cảnh vẫn chưa triển khai đánh giá thực trạng đầu kỳ, Bệnhviện Bạch Mai đã chủ động khảo sát nhanh nhu cầu và lập kế hoạch đào tạo,chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện Trong năm 2017 Bệnh viện BạchMai đã tổ chức chuyển giao 16 gói kỹ thuật cho 223 học viên Kết quả đánhgiá đầu vào và đầu ra cho thấy trước khóa học trên 70% học viên đạt kết quảdưới trung bình nhưng sau khóa học 100% học viên đạt kết quả trên trungbình trong đó tỷ lệ khá, giỏi đạt tỷ lệ 90% Khảo sát sơ bộ tình trạng học viêncho thấy 90% học viên chưa từng được đào tạo liên tục và chính quy vềchuyên ngành đang công tác Kết quả cho thấy nhu cầu chuyển giao kỹ thuậtcủa các bệnh viện là rất cao, quá trình đào tạo tại Bệnh viện Bạch Mai bướcđầu đã có nâng cao chất lượng chuyên môn cho các học viên nhận chuyểngiao kỹ thuật Tuy nhiên, để các học viên có thể triển khai thành công kỹthuật đã chuyển giao tại cơ sở đòi hỏi các yếu tố về trang thiết bị, cơ sở hạtầng, các chính sách bảo hiểm và đặc biệt là sự tư vấn, hỗ trợ của Bệnh việnBạch Mai trực tiếp tại cơ sở Theo kế hoạch, cuối năm 2017 đầu năm 2018,Bệnh viện Bạch Mai sẽ tiến hành triển khai đánh giá công tác chuyển giao kỹthuật tại các bệnh viện nhận chuyển giao kỹ thuật Tuy nhiên hiện tại chưa cómột nghiên cứu nào đánh giá hiệu quả cũng như các tồn tại thực sự của côngtác chuyển giao kỹ thuật tại các Bệnh viện Từ tình hình trên, chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng hoạt động chuyển giao kỹ thuật của

Bệnh viện Bạch Mai năm 2017 – 2018” nhằm các mục tiêu sau:

1. Mô tả thực trạng thực hiện quy trình chuyển giao kỹ thuật của Bệnh viện Bạch Mai năm 2017- 2018.

2. Phân tích một số yếu tố liên quan đến hoạt động chuyển giao kỹ thuật tại Bệnh viện Bạch Mai năm 2017 - 2018.

Từ đó có những khuyến nghị có cở sở khoa học và có tính khả thi đểnâng cao hoạt động chuyển giao kỹ thuật tại Bệnh viện Bạch Mai

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Những vấn đề chung

1.1.1 Mộ t số thuật ngữ liên quan đến hoạt động chuyển giao kỹ thuật

Theo Công văn số 1246/KCB - CĐT, ngày 04 tháng 12 năm 2009 củaCục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế về việc hướng dẫn xây dựng quy trìnhCGKT trong thực hiện Đề án 1816, một số khái niệm liên quan đến CGKTbao gồm [1]:

-Chuyển giao kỹ thuật: Là việc chuyển giao công nghệ kỹ thuật y tế

giữa các đơn vị y tế tuyến trên cho các đơn vị y tế tuyến dưới, nhằm hỗ trợ,truyền nghề nâng cao năng lực chuyên môn cho tuyến dưới

-Kỹ thuật chuyển giao: Là những kỹ thuật, quy trình chẩn đoán và

điều trị mà đơn vị nhận chuyển giao chưa triển khai được hoặc đã triển khainhưng cần hoàn thiện hơn

-Đối tượng chuyển giao: Là các kỹ thuật y tế thuộc 26 chuyên ngành,

chuyên khoa theo Quy định phân tuyến kỹ thuật, Hướng dẫn Quy trình kỹthuật bệnh viện do Bộ Y tế ban hành

-Kỹ thuật mới: Là kỹ thuật, quy trình chẩn đoán và điều trị lần đầu

tiên được triển khai tại bệnh viện nhận chuyển giao

-Kỹ thuật cao: Là những kỹ thuật, quy trình chẩn đoán phức tạp đòi

hỏi trình độ và kỹ năng của người thực hiện cao hơn những kỹ thuật thôngthường, đem lại giá trị chẩn đoán cao hơn

-Hợp đồng chuyển giao kỹ thuật: Là Hợp đồng được ký kết giữa

bệnh viện chuyển giao và bệnh viện nhận chuyển giao, trong đó thống nhấtcác nội dung và điều khoản chuyển giao của hai bên

-Biên bản thanh lý hợp đồng: Là biên bản ký kết giữa bệnh viện

chuyển giao và bệnh viện nhận chuyển giao nhằm xác nhận nội dung chuyểngiao đã đạt được các tiêu chuẩn như trong hợp đồng chuyển giao đặt ra

Trang 14

-Nghiệm thu: Là quá trình kiểm tra, đánh giá, xác nhận kỹ thuật đã

được bệnh viện chuyển giao thành công cho bệnh viện nhận chuyển giao

-Cán bộ nhận chuyển giao: Là những cán bộ của bệnh viện nhận

chuyển giao, được các cán bộ bệnh viện tuyến trên trực tiếp hướng dẫn để cóthể triển khai kỹ thuật hoặc hoàn thiện kỹ thuật cho bệnh viện nhận chuyểngiao

-Cán bộ chuyển giao: là những cán bộ của bệnh viện tuyến trên, có

thực hiện chuyển giao kỹ thuật

-Chỉ tiêu thực hành cần đạt: Số lần ít nhất cán bộ nhận chuyển giao

cần thực hiện kỹ thuật thành thạo theo đúng hợp đồng ký kết chuyển giao

1.1.2 Phân loại bệnh viện

Theo Quy chế BV ban hành tại Quyết định số 1895/1997/QĐ - BYTngày 19 tháng 09 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Y tế, BVĐK được chia làm 4hạng [2]:

-BV hạng đặc biệt là cơ sở khám, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, vớicác chuyên khoa đầu ngành được trang bị các thiết bị y tế và các máy móchiện đại, với đội ngũ cán bộ chuyên khoa có trình độ chuyên môn sâu và cótrang bị thích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho BV hạng I

-BV hạng I là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế hoặc Ủyban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các Ngành, chữa bệnhcho nhân dân một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương BV có đội ngũcán bộ y tế có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, được trang bị hiện đại, cócác chuyên khoa sâu, cơ sở hạ tầng phù hợp

-BV hạng II là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh của tỉnh, thành phố trựcthuộc Trung ương hoặc khu vực các huyện trong tỉnh và các Ngành, có độingũ cán bộ chuyên khoa cơ bản có trình độ chuyên môn sâu và có trang bịthích hợp đủ khả năng hỗ trợ cho BV hạng III

Trang 15

BV hạng III là cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thuộc Sở Y tế tỉnh, thànhphố và các ngành có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho nhân dân mộthuyện hoặc một số huyện, quận trong tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

và các ngành BV có đội ngũ cán bộ chuyên môn, trang thiết bị và cơ sở hạtầng phù hợp

1.1.3 Danh mục kỹ thuật

Là danh mục các thủ thuật/kỹ thuật y tế được quy định tại Quyết định

số 23/2005/QĐ-BYT, ngày 30 tháng 8 năm 2005 [3]

Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT được Bộ trưởng Bộ Y tế ký ban hành

trên toàn quốc vào ngày 30/8/2005, Ban hành "Quy định Phân tuyến kỹ thuật

và Danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh" để áp dụng thực hiện tại các cơ

sở khám chữa bệnh công lập và ngoài công lập trong cả nước Trên cơ sở Quyđịnh Phân tuyến kỹ thuật và Danh mục kỹ thuật trong khám chữa bệnh này,Giám đốc Sở Y tế chịu trách nhiệm ra quyết định phê duyệt danh mục kỹthuật trong khám chữa bệnh cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập thuộc sựquản lý về chuyên môn của Sở và các bệnh viện, phòng khám ngoài công lập;phòng khám, trung tâm y tế có chức năng khám chữa bệnh của y tế ngànhđóng trên địa bàn; Bộ Y tế phê duyệt danh mục kỹ thuật khám chữa bệnh chocác cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Bộ Y tế, bệnh viện ngành Danh mục kỹthuật trong khám chữa bệnh được phê duyệt cho mỗi cơ sở khám chữa bệnh

sẽ là cơ sở để Bảo hiểm Y tế thanh toán và chuyển tuyến [3]

Danh mục kỹ thuật:

- Được sắp xếp theo các chuyên khoa, chuyên ngành; theo cấp độ trungbình, trong phạm vi chuyên môn kỹ thuật cho các tuyến từ xã, huyện, tỉnh đếntrung ương

- Một kỹ thuật có thể do nhiều chuyên khoa, chuyên ngành thực hiện

- Danh mục kỹ thuật sẽ được sửa đổi, bổ sung hàng năm cho phù hợpvới sự phát triển chuyên môn, kỹ thuật

Trang 16

- Quy định Phân tuyến kỹ thuật trong khám chữa bệnh kỹ thuật cho 4tuyến: tuyến trung ương, tuyến tỉnh, tuyến huyện, tuyến xã.

Tại các nước tiên tiến trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Đức…không cóphân tuyến kỹ thuật, các kỹ thuật được triển khai theo nhu cầu phát triển từngbệnh viện và đáp ứng nhu cầu của nhân dân [4]

Tại Việt Nam từ khi quyết định 23/2005/QĐ-BYT ra đời và áp dụngđồng bộ tại tất cả các tuyến, các vùng miền là cơ sở quan trọng trong việcphân loại bệnh viện cũng như xét duyệt định mức, quyền lợi trong việc thanhquyết toán với Bảo hiểm Y tế Tuy nhiên việc đánh giá, giám sát, hỗ trợ thựchiện quyết định 23 chưa đồng bộ dẫn đến việc nhiều cán bộ y tế chưa biết đếnquyết định này, việc phát triển các kỹ thuật tại các chuyên khoa chưa tậptrung theo quyết định, danh mục kỹ thuật thiếu và chưa được cập nhật thườngxuyên [5]

1.1.4 Quy trình chuyển giao kỹ thuật [6]

1.1.4.1 Cơ sở pháp lý

- Quyết định số 1816/QĐ-BYT ngày 26/5/2009 của Bộ trưởng Bộ Y tế về

việc phê duyệt đề án ‘Cử cán bộ chuyên môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên

về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh’

[7]

- Quyết định số 447/QĐ-BM ngày 1/8/2009 của Giám đốc Bệnh viện

Bạch Mai về việc thành lập Ban chỉ đạo thực hiện đề án ‘Cử cán bộ chuyên

môn luân phiên từ bệnh viện tuyến trên về hỗ trợ các bệnh viện tuyến dưới nhằm nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh’ của Bệnh viện Bạch Mai [8].

- Quyết định 43/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc phê duyệtdanh mục và phân tuyến kỹ thuật [9]

- Công văn 2950/BYT-KCB về việc hướng dẫn xây dựng quy trìnhchuyển giao kỹ thuật y tế trong thực hiện Đề án 1816 [6]

Trang 17

- Công văn số 754/KCB-CĐT về việc chứng nhận chuyển giao kỹ thuật

và chứng nhận hoàn thành nhiệm vụ luân phiên [10]

- Công văn số 7062/BYT-KH-TC hướng dẫn về việc dự toán kinh phíthực hiện Đề án1816 [11]

- Công văn số 5068/QĐ-BYT về việc quy định một số nội dung triểnkhai thực hiện đào tạo, chuyển giao kỹ thuật theo gói dịch vụ y tế theo Đề án

1816 từ năm 2013 [12]

- Các quy định về biểu mẫu báo cáo, tiêu chí khen thưởng của Vụ Tổchức cán bộ, Vụ Pháp chế, Cục Quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế

1.1.4.2 Quy trình chuyển giao kỹ thuật

Các kỹ thuật chuyển giao được áp dụng quy trình chuyển giao kỹ thuậtthực hiện thường quy tại Bệnh viện Bạch Mai, bao gồm 6 bước, sơ đồ ở phíadưới Đầu tiên, Bệnh viện Bạch Mai sẽ tiến hành khảo sát thực trạng, xác địnhnhu cầu của bệnh viện tuyến dưới, đồng thời đánh giá điều kiện tiếp nhận kỹthuật được chuyển giao Sau đó lần lượt từng bước được tiến hành theo quytrình Điều đặc biệt, tư vấn triển khai kỹ thuật tại cơ sở sẽ được thực hiện linhđộng từ bước 1 đến bước 3, không nhất định cần phải kết thúc đào tạo mới cóthể triển khai kỹ thuật

Trang 18

Sơ đồ 1.1 Quy trình chuyển giao kỹ thuật

Khảo sát thực trạng, xác định nhu cầu CGKT

Căn cứ vào kế hoạch hàng năm hoặc phát sinh theo nhu cầu thực tiễn,TDC xác định kỹ thuật cần chuyển giao sau đó phối hợp cùng chuyên khoatiến hành khảo sát:

- Xác định thực trạng bệnh viện và chuyên khoa cần chuyển giao kỹthuật: cử đoàn công tác gồm các chuyên gia và cán bộ chỉ đạo tuyến về khảosát thực trạng trực tiếp tại bệnh viện hoặc thông qua phiếu khảo sát

- Xác định thực trạng và nhu cầu của cán bộ nhận CGKT

Trang 19

Triển khai hoạt động CGKT

-Tùy theo đặc thù của từng kỹ thuật mà địa điểm chuyển giao có thểthực hiện tại BV Bạch Mai hoặc BV tuyến trước hoặc cả hai

a Tại BV Bạch Mai:

- Tiếp nhận học viên:

+ Gửi giấy triệu tập cho học viên

+ Thu nhận hồ sơ của học viên: quyết định cử đi học của Bệnh viện,công chứng các văn bằng liên quan và chứng minh thư

- Tổ chức khai giảng lớp: Cung cấp các thông tin cơ bản về chươngtrình CGKT, vai trò của học viên trong quá trình tiếp nhận và triển khai kỹthuật Các biểu mẫu: Giấy mời khai giảng, Giấy mời giảng, chương trình khaigiảng

- Theo dõi giám sát: Phòng Chỉ đạo tuyến cử cán bộ chuyên trách quản

lý học viên, giảng viên thông qua Sổ điểm danh học viên và Sổ theo dõi giảng

lý thuyết và thực hành Cán bộ phụ trách (CBPT) thường xuyên trao đổi thôngtin, kiểm tra nắm bắt tình hình triển khai, kịp thời hỗ trợ khắc phục những khókhăn Học viên hoàn thành chỉ tiêu thực hành theo mẫu: Sổ tay thực hành

- Kiểm tra đánh giá: Sau khi học viên hoàn thành nội dung và hoàn thànhchỉ tiêu thực hành thì cán bộ phụ trách đào tạo của chuyên khoa có trách nhiệmphối hợp với cán bộ phụ trách của TDC bố trí kiểm tra chất lượng học tập củahọc viên, bao gồm kiểm tra lý thuyết và kiểm tra thực hành Kết quả kiểm tra thểhiện ở Bảng điểm

b Bệnh viện tuyến trước:

- Gửi công văn thông báo kế hoạch và chương trình cho bệnh việntuyến trước và chuyên khoa liên quan

- Tổ chức đoàn công tác trực tiếp xuống bệnh viện tuyến trước CGKT

- Bệnh viện tuyến trước chủ động chuẩn bị cơ sơ sở vật chất, trang thiết

bị, nhân lực, bệnh nhân để tiếp nhận kỹ thuật chuyển giao

Trang 20

- Phòng chỉ đạo tuyến cử cán bộ chuyên trách cùng cán bộ phụ tráchtuyến trước thường xuyên trao đổi thông tin, kiểm tra nắm bắt tình hình triểnkhai, kịp thời hỗ trợ khắc phục những khó khăn.

- Kiểm tra đánh giá: Sau khi học viên hoàn thành nội dung và chỉ tiêu

kỹ thuật CBPT tổ chức đoàn công tác xuống tuyến trước đánh giá kết quảCGKT

c Cấp chứng chỉ:

- CBPT đề xuất lãnh đạo BV Bạch Mai cấp chứng chỉ cho học viênhoàn thành khóa học và đủ điều kiện để nhận chứng chỉ theo thông tư22/2013/TT-BYT [13]

Tư vấn, hỗ trợ CGKT tại đơn vị

- Bệnh viện Bạch Mai thông báo kết quả sau thời gian đào tạo với Bệnhviện nhận chuyển giao kỹ thuật

- Thường xuyên tư vấn, giám sát, tư vấn hỗ trợ triển khai hiệu quả và antoàn kỹ thuật được chuyển giao

- Bệnh viện Bạch Mai sẽ cử đoàn cán bộ trực tiếp xuống đánh giá, rútkinh nghiệm và tư vấn phát triển kỹ thuật phù hợp với tình hình của đơn vị khi

có yêu cầu

- Bệnh viện tuyến trước định kỳ báo cáo việc triển khai kỹ thuật

- Phối hợp phương tiện thông tin đại chúng đưa tin bài nhằm quảng bá

và lưu giữ những hình ảnh về hoạt động CGKT

- Bước này có thể được thực hiện luôn trong giai đoạn CGKT

Đánh giá kết quả và nghiệm thu chuyển giao kỹ thuật

- Đánh giá: CBPT tổ chức đoàn công tác đánh giá khả năng thực hiệnđộc lập kỹ thuật được chuyển giao tại bệnh viện tuyến trước

- Thanh lý hợp đồng: sau khi đánh giá bệnh viện tuyến trước đã độc lậptriển khai được kỹ thuật thì CBPT phối hợp với bệnh viện tuyến trước tiếnhành thanh lý hợp đồng giữa hai bệnh viện

Trang 21

Giám sát, hỗ trợ sau chuyển giao kỹ thuật

BV Bạch Mai sẽ đồng hành và đôn đốc đơn vị tiếp nhận tiếp tục duy trì

và phát triển kỹ thuật đã được chuyển giao

1.2 Nguồn nhân lực y tế

1.2.1 Khái niệm

Có khá nhiều những định nghĩa khác nhau về “nguồn nhân lực” Nguồnnhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình,chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình pháttriển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của quốc gia, khu vực,thế giới Cách hiểu này về nguồn nhân lực xuất phát từ quan niệm coi nguồnnhân lực là nguồn lực với các yếu tố vật chất, tinh thần tạo nên năng lực, sứcmạnh phục vụ cho sự phát triển nói chung của các tổ chức [14], [15]

Năm 2006, WHO đã đưa ra định nghĩa: “Nhân lực y tế bao gồm tất cảnhững người tham gia chủ yếu vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khoẻ”.Theo đó, nhân lực y tế bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế, ngườilàm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấpcác dịch vụ y tế Nó bao gồm CBYT chính thức và cán bộ không chính thức(như tình nguyện viên xã hội, những người CSSK gia đình, lương y ); kể cảnhững người làm việc trong ngành y tế và trong những ngành khác (như quânđội, trường học hay các doanh nghiệp) [16] Theo định nghĩa nhân lực y tếcủa WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là “Nhân lực y tế” sẽbao gồm các cán bộ, nhân viên y tế thuộc biên chế và hợp đồng đang làmtrong hệ thống y tế công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiêncứu khoa học y/dược và tất cả những người khác đang tham gia vào các hoạtđộng quản lý và cung ứng dịch vụ CSSK nhân dân (nhân lực y tế tư nhân, các

Trang 22

cộng tác viên y tế, lang y và bà đỡ/mụ vườn) [16] Có hai khái niệm thườngđược sử dụng khi bàn luận về nguồn nhân lực y tế:

- Khái niệm Phát triển nguồn nhân lực liên quan đến cơ chế nhằm pháttriển kỹ năng, kiến thức và năng lực chuyên môn của cá nhân và về mặt tổchức công việc

- Khái niệm quản lý nguồn nhân lực: Theo WPRO (Tổ chức Y tế Thếgiới Tây Thái Bình Dương), “Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ramôi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt côngviệc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được

sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệuquả nhất Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vịtrí phù hợp, đúng thời điểm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ trợ chuyênmôn phù hợp với mức chi phí hợp lý”

1.2.2 Mối liên quan giữa nguồn nhân lực và các thành phần khác của hệ thống y tế

Theo WHO, hệ thống y tế có 6 thành phần cơ bản [18]:

- Nguồn nhân lực y tế được coi là một trong những thành phần cơ bản vàquan trọng nhất của hệ thống Nguồn nhân lực có mối liên hệ rất chặt chẽ vàkhông thể thiếu đối với các thành phần khác của hệ thống y tế

- Phát triển nguồn nhân lực không chỉ thông qua đào tạo, mà còn phải sửdụng, quản lý một cách phù hợp để cung cấp hiệu quả các dịch vụ y tế đếnngười dân

- Cần có một mô hình tổ chức và chức năng của các thành phần của hệthống cung ứng dịch vụ để biết được nhu cầu về quy mô và cơ cấu nhân lực y

Trang 23

tế như thế nào, ngược lại, hệ thống cung ứng dịch vụ y tế phụ thuộc mật thiếtvào mô hình tổ chức và cơ cấu nhân lực y tế.

- Hệ thống thông tin y tế cũng phải cung cấp đầy đủ các thông tin cầnthiết, tin cậy cho việc lập kế hoạch và sử dụng nhân lực đáp ứng nhu cầuCSSK của nhân dân, đồng thời giúp phát hiện những vấn đề của nguồn nhânlực như phân bổ không hợp lý, năng lực không phù hợp để đáp ứng yêu cầuCSSK từ phía người dân và cộng đồng, hoặc phát hiện và phân tích tần suấtsai sót chuyên môn để khắc phục

- Cấp tài chính cho nhân lực y tế cũng phải đảm bảo cho công tác đào tạomới và đào tạo liên tục CBYT, đủ để trả lương và chính sách khuyến khích ởmức đảm bảo được cuộc sống cho CBYT, tạo ra động lực khuyến khíchCBYT làm việc có chất lượng và sẵn sàng làm việc ở các miền núi, vùng sâu,vùng xa, hoặc trong các môi trường, chuyên ngành độc hại, nguy hiểm

- Các sản phẩm y tế, vaccin, dược phẩm

1.2.3 Thực trạng nhân lực y tế và phát triển nguồn nhân lực y tế

Số lượng nhân lực y tế các loại tăng qua các năm, bao gồm cả số lượngbác sĩ, dược sĩ đại học và điều dưỡng Năm 2013 đã đạt 7,5 bác sĩ/vạn dân và2,01 dược sĩ đại học/vạn dân [19] Đối chiếu với chỉ tiêu 8 bác sĩ/vạn dân và1,8 dược sĩ đại học/vạn dân trong Kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 của ngành y

tế thì chỉ tiêu về dược sĩ đại học đã đạt được Tỷ số bác sĩ trên vạn dân vẫncòn một khoảng cách khá lớn so với chỉ tiêu đặt ra [20]

Nguồn bổ sung cho đội ngũ nhân lực y tế khá dồi dào Số lượng cơ sởđào tạo và quy mô đào tạo của các trường tiếp tục tăng, tuy không còn tăngnhiều như trước đây Số lượng sinh viên đại học ra trường tiếp tục tăngnhanh, năm 2014 có trên 7000 bác sĩ ra trường, tăng hơn 1000 so với năm

2013 Ước tính trong 3 năm tiếp theo con số này sẽ tiếp tục tăng với tốc độ

Trang 24

như vậy Số lượng dược sĩ đại học tốt nghiệp tăng từ 1000 năm 2009 lên hơn

2000 năm 2012 và vào khoảng 3000 năm 2013 Nguồn nhân lực điều dưỡngbao gồm bậc đại học, cao đẳng, trung cấp rất lớn Với chỉ tiêu tuyển sinhtrung cấp điều dưỡng từ khoảng trên 10.000 năm 2006 và tăng dần đến trên20.000 vào 2014, chỉ tiêu tuyển sinh cao đẳng tăng nhanh từ hơn 1000 năm

2006 lên gần 15.000 năm 2013, chỉ tiêu tuyển sinh điều dưỡng đại học cũngtăng đều đặn từ hơn 1500 năm 2006 lên gần 5000 năm 2013, nguồn cung củađối tượng này đang vượt quá nhiều so với nhu cầu của hệ thống y tế Tìnhtrạng cung nhiều hơn cầu cũng xảy ra với y sĩ, dược trung cấp và tương laikhông xa là dược cao đẳng [21]

Phân bổ nhân lực y tế vẫn chưa đồng đều, nhân lực y tế có trình độ đạihọc trở lên tập trung chủ yếu ở các thành phố và khu vực kinh tế phát triển.Năm 2010, số lượng dược sĩ đại học ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minhchiếm hơn 48% tổng số dược sĩ của cả nước Chủ yếu (92%) các dược sĩ nàylàm việc trong khu vực tư nhân, chiếm hơn một nửa số dược sĩ thuộc khối tưnhân của cả nước [22]

Bộ Y tế tiếp tục triển khai các giải pháp cải thiện chất lượng nhân lực,tăng cường năng lực cho tuyến thông qua một số đề án Đề án 1816 tiếp tụcđược thực hiện nhưng chuyển từ chỗ hỗ trợ nhân lực cho tuyến dưới sang đàotạo, chuyển giao gói kỹ thuật Đề án Bệnh viện vệ tinh giai đoạn 2013 – 2020bắt đầu được triển khai Giai đoạn 1 từ 2013 đến 2015, 14 bệnh viện hạt nhânđược giao nhiệm vụ xây dựng và phát triển cho 45 bệnh viện vệ tinh ở 32 tỉnh[23] Các hoạt động chủ yếu của đề án là các bệnh viện hạt nhân đào tạo nhânlực y tế, chuyển giao kỹ thuật, cung cấp trang thiết bị y tế, tư vấn khám chữabệnh từ xa qua mạng internet cho các bệnh viện vệ tinh Đề án xây dựng vàphát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình giai đoạn 2013 – 2020 được

Bộ trưởng Bộ y tế phê duyệt tại quyết định 935/QĐ-BYT ngày 22/3/2013, với

Trang 25

mục tiêu xây dựng và phát triển mô hình phòng khám bác sĩ gia đình trong hệthống y tế của cả nước nhằm cung cấp dịch vụ CSSK cơ bản, toàn diện, liêntục cho cá nhân, gia đình và cộng đồng, góp phần giảm quá tải bệnh viện.Trong cả nước, thành phố Hồ Chí Minh là địa phương đi đầu trong triển khai

mô hình phòng khám bác sĩ gia đình Đến cuối năm 2013, thành phố cókhoảng 200 bác sĩ được đào tạo chuyên về y học gia đình Mô hình này đượcđánh giá là góp phần giảm tải bệnh viện tuyến trên và từng bước tăng cườngchất lượng y tế cơ sở [24] Ngành y tế cũng có các chương trình, dự án vàhoạt động hỗ trợ kỹ thuật mà đa số tập trung ở tuyến tỉnh (chiếm hơn 50%),sau đó là tuyến huyện (36 – 38%) [25]

1.3 Tổng quan về hoạt động chuyển giao kỹ thuật

Hiện nay, Bộ y tế ban hành Thông tư 22/2013/TT-BYT ngày09/08/2013 của Bộ trưởng Bộ y tế về hướng dẫn công tác đào tạo liên tục đối

với cán bộ y tế, trong đó nêu rõ: Đào tạo liên tục là các khóa đào tạo ngắn

hạn, bao gồm: đào tạo bồi dưỡng để cập nhật kiến thức, kỹ năng, thái độthuộc lĩnh vực chuyên môn đang đảm nhận; đào tạo lại, đào tạo theo nhiệm vụchỉ đạo tuyến, chuyển giao kỹ thuật và các khóa đào tạo chuyên môn nghiệp

vụ khác của ngành y tế mà không thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân[26]

1.3.1 Khung lý thuyết chuyển giao

Trang 26

Các bước BV tuyến trên BV tuyến dưới

Bước 6 Giám sát hỗ trợ CGKT tạiBV tuyến dưới (Phase 3) CGKT tại BV tuyến dướiTiếp nhận hỗ trợ sau

Bước 5 CGKT tại BV tuyến dưới

(Phase 2)

Tiếp nhận CGKT tại BV tuyến dưới

Bước 4 Tổ chức CGKT tại BV tuyếntrên (Phase 1) Cử cán bộ tham gia CGKTtại BV tuyến trên

Bước 3 Xem xét KHCGKT của BVtuyến dưới và ký hợp đồng

Trang 27

Phân bố nhân lực y tế không đồng đều giữa các vùng, các miền, giữathành thị và nông thôn, đặc biệt là với các chức danh chuyên môn cao hiệnđang là vấn đề nổi cộm tại nhiều quốc gia trên thế giới không phân biệt thểchế chính trị hay trình độ phát triển kinh tế xã hội Theo báo cáo của Tổ chức

Y tế thế giới năm 2006, trên phạm vi toàn cầu chỉ có chưa đến 55% dân sốsống ở thành thị nhưng đã có tới 75% bác sỹ, 60% điều dưỡng và 58% cán bộ

y tế ở các chức danh chuyên môn khác [27] Nguồn nhân lực y tế vốn không

đủ về số lượng lại đang có sự dịch chuyển bất hợp lý theo 3 xu hướng: từvùng khó khăn sang vùng có điều kiện kinh tế - xã hội phát triển hơn, từ các

cơ sở y tế công lập sang các cơ sở y tế tư nhân, từ trong nước racác nướctrong khu vực và thế giới [28], [29] Bởi vậy thiếu nhân lực y tế là tình trạngphổ biến tại các cơ sở y tế tuyến dưới, nhất là ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa

Trong nhiều thập kỷ qua Chính phủ các nước đều đã và đang nỗ lực tìmkiếm hoặc thực thi các giải pháp nhằm khắc phục tình trạng trên Theo Grob-ler, có 4 nhóm giải pháp mà các nước đã triển khai can thiệp; bao gồm: nhómgiải pháp về giáo dục và đào tạo; nhóm giải pháp về tài chính, nhóm giải pháp

về quy chế và nhóm giải pháp mang tính hỗ trợ

Chính sách cử nhân lực y tế có trình độ chuyên môn cao luân phiên vềcông tác ở tuyến dưới, ở vùng đô thị nhưng ít có dịch vụ (underserved urbanarea), vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa… đã được nhiều quốc gia trên thếgiới vận dụng Theo cách phân loại của Grobler [28], chính sách này có thể

thuộc nhóm giải pháp thứ ba nếu được quy định dưới dạng chủ trương tăng

cường ngắn hạn của Chính phủ hay được luật hóa là trách nhiệm dân sự/xã

hội của thầy thuốc song cũng có thể thuộc nhóm giải pháp thứ nhất nếu làchính sách của một số trường y nhằm mục đích tạo môi trường thực hành gầngũi, tạo sự quan tâm và định hướng về vùng sâu vùng xa công tác cho sinhviên

Trang 28

Kinh nghiệm luân phiên nguồn nhân lực y tế về tăng cường cho tuyếndưới của các nước trên thế giới đã được tổng kết và giới thiệu trong 3 tài liệutổng quan gồm: Tổng quan hệ thống (thuộc Cochrane database of systematic re-view) do Grobler và cộng sự tiến hành có tên gọi “Giải pháp nhằm tăng tỷ lệcán bộ y tế làm việc ở nông thôn và vùng ít có dịch vụ y tế” [28]; đã chọn lựa

và sử dụng các nghiên cứu có liên quan phát hành từ năm 1966 đến tháng 7năm 2007; tổng quan của tổ chức Aus AIDS do Henderson và Tulloch tiến hành

có tên gọi “Các chính sách nhằm khuyến khích và giữ chân cán bộ y tế ở cácnước châu Á và Thái Bình Dương”; đã sử dụng thông tin phát hành trên các cơ

sở dữ liệu, các trang web, báo cáo của một số quốc gia, các cơ quan của LiênHợp quốc và các tổ chức phi chính phủ từ năm 1998 đến 2007 và tổng quankinh nghiệm tại các nước đang phát triển (narrative review) do Lehmann vàcộng sự tiến hành có tên gọi “Các chính sách nhằm thu hút cán bộ y tế công tác

ở nông thôn thuộc vùng xa tại các nước thu nhập thấp và trung bình” [30]

Một nghiên cứu đánh giá tính hiệu quả của đào tạo liên tục y khoa thuthập kết quả trên 248 bài báo đánh giá về đào tạo liên tục, trong đó 13% cácbài báo mô tả thử nghiệm ngẫu nhiên, nhưng chỉ có 7% tất cả các bài báo và20% các thử nghiệm ngẫu nhiên đánh giá tác động của đào tạo liên tục trênbệnh nhân Những nghiên cứu này đưa ra bằng chứng thuyết phục rằng đàotạo liên tục có thể cải thiện khả năng điều trị của bác sĩ [31]

Theo nghiên cứu đánh giá hiệu quả chiến lược đào tạo liên tục y khoatrong việc thay đổi hiệu quả làm việc của bác sĩ thực hiện bởi David A Davis

và cộng sự cho thấy trên 99 cuộc thử nghiệm với 160 can thiệp theo tiêu chuẩncủa nghiên cứu Gần hai phần ba trong số những can thiệp (101/160) thể hiện

sự cải thiện: 70% biểu hiện sự thay đổi trong hoạt động của bác sĩ và 48% cáccan thiệp cho thấy có sự thay đổi tích cực trong chăm sóc sức khỏe [32] Bêncạnh đó cũng có nhiều nghiên cứu chỉ ra hiệu quả tích cực của đào tạo liên tục

Trang 29

trong chăm sóc sức khỏe, nhưng nếu không thực hiện đúng lại làm giảm chấtlượng chăm sóc bệnh nhân và tăng chi phí [33], [34], [35], [36], [37], [38].

Theo WHO, các chương trình đào tạo liên tục (CME) được tổ chức tạiBelgaum, Mangalore, Madurai, Manipal, Tirunelveli ở phía Nam, Dharamshala,Aligarh và Muzaffarnagar ở phía Bắc, Bhopal, Nagpur và Jaipur ở phía tây vàCuttack, Patna và Guwahati ở phía Đông, tuy nhiên các bác sĩ ở nhiều khu vựcnông thôn vẫn còn đang bỏ lỡ các khóa học do họ ít hoặc không có khả năngtiếp cận với các khóa học này Theo một nghiên cứu “Thúc đẩy tỷ lệ sử dụngthuốc” công bố vào tháng 9 năm 2002 của danh mục các thuốc thiết yếu củaWHO và Vụ chính sách thuốc cho thấy CME là một yêu cầu cho việc đăng kýcủa các chuyên gia y tế tại nhiều nước phát triển như Hoa Kỳ, nhưng các cơhội đào tạo liên tục lại bị giới hạn tại các nước đang phát triển vì còn thiếu cácvăn bản quy phạm pháp luật, các biện pháp khuyến khích Hội đồng Y khoacủa Ấn Độ thành lập một quy định rằng các thành viên phải hoàn thành 30 giờđào tạo liên tục mỗi năm để nhận được chứng chỉ hành nghề như bác sĩ,nhưng chỉ có 20% bác sĩ của Ấn Độ làm theo vì quy định này không mangtính ràng buộc về mặt pháp lý [39]

1.3.3 Tại Việt Nam

Từ những năm 60 của thế kỷ trước, việc bắt buộc thực hiện nghĩa vụ xãhội về công tác tại địa bàn miền núi, vùng khó khăn ngay sau khi sinh viên tốtnghiệp đã được áp dụng đối với một số ngành như: giáo dục, y tế, giao thông,bưu điện… Cũng vào thời điểm này, ngành y tế đã ban hành những quy định

về chỉ đạo tuyến với sự trợ giúp thường xuyên của các cơ sở y tế tuyến trênđối với các cơ sở y tế tuyến dưới [40]

Trước những khó khăn, bất cập của các cơ sở y tế tuyến dưới, đặc biệt

là ở vùng sâu, vùng xa; từ năm 2000, tại lễ kỷ niệm 45 năm ngày Thầy thuốc

Việt Nam, Bộ trưởng Bộ Y tế đã phát động cuộc vận động “Tăng cường cán

bộ y tế về cơ sở công tác” Đây là cuộc vận động lớn trong toàn Ngành kéo

Trang 30

dài từ năm 2000 đến năm 2005 Cán bộ tăng cường về cơ sở phần đông là bác

sỹ theo chế độ biệt phái Thời gian công tác tại cơ sở trung bình 6 tháng/người/đợt Nhiệm vụ chủ yếu của cán bộ tăng cường là đào tạo cho tuyến cơ

sở theo phương thức cầm tay chỉ việc và trực tiếp đảm nhận vị trí then chốttrong khám chữa bệnh [41] Đầu năm 2002, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị sơkết 2 năm thực hiện cuộc vận động Kết quả thu được cho thấy, hầu hết cácđơn vị trong toàn Ngành đã tích cực hưởng ứng và nhiệt tình tham gia Trong

2 năm đã có 2.754 lượt cán bộ tăng cường về cơ sở trong đó có 942 lượt cán

bộ tuyến TƯ tăng cường về tuyến tỉnh; 710 lượt cán bộ tuyến tỉnh tăng cườngcho 115 huyện; 1.102 cán bộ tuyến huyện tăng cường cho 977 xã góp phầntăng tỷ lệ số xã có bác sỹ từ 33,86% (tháng 12/1999) lên 52,68% (tháng6/2001) [41]

1.3.4 Thực trạng hiệu quả Chuyển giao kỹ thuật

Bệnh viện Bạch Mai hỗ trợ y tế các tỉnh thông qua các Đề án, Dự án,chương trình như: Chương trình chỉ đạo tuyến, Chương trình Tăng cường cán

bộ về cơ sở; Đề án 1816, Đề án Bệnh viện vệ tinh, Đề án 47/930, Dự án Hỗtrợ Y tế các tỉnh Đông Bắc Bộ và đồng bằng Sông Hồng (NORRED), Dự án

Hỗ trợ Y tế các tỉnh miền núi phía Bắc (NUP), Dự án Hỗ trợ Y tế các tỉnh BắcTrung bộ, Dự án Hỗ trợ Y tế các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, Các Dự ánhợp tác với JICA/JBIC: DA tăng cường năng lực BVBM; DA BSP; DA tăngcường chất lượng nguồn nhân lực khám chữa bệnh giai đoạn 2010-2015; Dự

án Hỗ trợ Y tế các tỉnh Tây Bắc; Dự án hỗ trợ các BV tỉnh/ vùng, Các chươngtrình mục tiêu Quốc gia…

Với chức năng là tuyến kỹ thuật cao nhất, BV Bạch Mai có vai trò đặcbiệt quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực y tế Đặc biệt, trong nhiều nămqua, bệnh viện đã chú trọng và phát triển loại hình đào tạo liên tục gắn liềnvới công tác chỉ đạo tuyến nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và hòanhập với các nước trong khu vực và trên thế giới Địa bàn đào tạo của BVBạch Mai tại hầu hết các tỉnh thành trong cả nước với trên 500 cơ sở khám

Trang 31

chữa bệnh từ tuyến trung ương đến cơ sở, trọng tâm là các BVĐK tỉnh thànhphía Bắc; gồm các BV tuyến TW, BVĐK tỉnh thành, BV chuyên khoa, BVngành, BVĐK khu vực, BV huyện, phòng khám với các đối tượng học viên làcán bộ y tế các trình độ từ điều dưỡng, kỹ thuật viên y, bác sĩ, bác sĩ chuyênkhoa 1, thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa 2, tiến sĩ y khoa hiện đang trực tiếp làmcông tác khám chữa bệnh, quản lý bệnh viện tại các cơ sở y tế trong cả nước,trọng tâm là cán bộ thuộc BV Bạch Mai và các BVĐK tỉnh/thành phía Bắc.

Số liệu tổng hợp về đào tạo nhân lực y tế của Bệnh viện Bạch Mai đãthực hiện từ năm 1999 đến nay đã cho thấy thành quả và vị thế của Bệnh việntrong công tác đào tạo cũng như nhu cầu cần đào tạo quá lớn

Bảng 1.1 Số liệu tổng hợp về đào tạo của Bệnh viện Bạch Mai

(Giai đoạn 1999 -2016)

1. Tổ chức 2.762 khoá đào tạo liên tục 127.573

2 Tổ chức đào tạo chính quy sau đại học hệ thực hành (BS nội

trú, BSCK I, BSCK II)

194

4 Quản lý học viên chính quy từ Trường Đại học Y Hà Nội và

các cơ sở đào tạo khác gửi đến thực tập tại BV Bạch Mai:

Sinh viên y, BS nội trú, BS chuyên khoa định hướng, CKI,

CKII, cao học, tiến sỹ

35.804

Quyết định 1816/QĐ-BYT ngày 26 tháng 5 năm 2008 của Bộ trưởng

Bộ Y tế [7] thực chất là sự tiếp nối của cuộc vận động lớn trong toàn ngànhtrước đây, song đã được nâng lên một tầm cao mới bằng một văn bản chỉ đạothống nhất trong toàn Ngành, trong đó xác định rõ cách thức triển khai thựchiện và các điều kiện hỗ trợ kèm theo Với mục đích cử cán bộ có trình độchuyên môn cao từ tuyến trên xuống tăng cường tại tuyến dưới theo nguyêntắc bệnh viện Trung ương tăng cường xuống tuyến tỉnh, tỉnh xuống huyện,huyện xuống xã Sau 9 tháng triển khai, Viện Chiến lược và Chính sách y tế

đã tiến hành “Đánh giá 9 tháng triển khai thực hiện Đề án 1816 và đề xuất các

Trang 32

giải pháp hoàn thiện” [42] Kết quả cho thấy: nhìn chung các bệnh viện đã cửcán bộ đi luân phiên ở cả 3 tuyến đều có khả năng đáp ứng về dịch vụ lâmsàng theo phân tuyến kỹ thuật cao hơn so với dịch vụ cận lâm sàng: 93% và91% tại tuyến trung ương; 85,9% và 78,1% tại tuyến tỉnh; 75% và 71% tạituyến huyện, 1.794 CB có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao được luân phiên

từ BV tuyến trên về làm việc tại BV tuyến dưới, các bệnh viện tuyến trungương đã chuyển giao cho tuyến dưới 80 kỹ thuật lâm sàng và cận lâm sàng

Số liệu tương ứng đối với bệnh viện tuyến tỉnh và bệnh viện tuyến huyện là:

110 và 90, số lượng bệnh nhân bình quân/ngày/bệnh viện tuyến tỉnh tăng từ

404 lên 416, tuyến huyện cũng tăng từ 201 lên 234, số ngày điều trị bìnhquân/bệnh nhân của bệnh viện tuyến tỉnh giảm từ 7,6 xuống 7,2; của bệnh việntuyến huyện giảm từ 14,1 xuống 13,9 [42]

Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế phối hợp vớiCục Quản lý Khám chữa bệnh tiến hành nghiên cứu "Đánh giá kết quả triển khaithực hiện Đề án 1816 giai đoạn 2008 - 2011" [40], kết quả cho thấy: Sau 3 nămtriển khai Đề án có 5.101 kỹ thuật thuộc 26 chuyên ngành đã được cán bộ y tếcủa các bệnh viện tuyến trung ương chuyển giao cho tuyến dưới, 1.702 kỹ thuậtđược cán bộ y tế bệnh viện tuyến tỉnh chuyển giao cho tuyến huyện Có tới 90%

số kỹ thuật được chuyển giao đã được tuyến dưới vận hành và duy trì ổn định,7,4% cần tiếp tục hỗ trợ và 2,6% tuyến dưới không thực hiện được Số lượt bệnhnhân vượt tuyến bình quân/tháng đối với bệnh viện tỉnh đã giảm được 20% sovới trước khi triển khai thực hiện Đề án, tỷ lệ tương ứng với bệnh viện huyện là40%, một số bệnh viện tuyến trên còn thụ động trong khảo sát, lập kế hoạch hỗtrợ cho tuyến dưới còn thiếu sát sao, chưa phù hợp với nhu cầu thực tế và đơn vịnhận chuyển giao còn thụ động, chưa chủ động chuẩn bị cơ sở vật chất, trangthiết bị để tiếp nhận các kỹ thuật chuyển giao…[40]

Nghiên cứu của Bệnh viện Bạch Mai tiến hành nghiên cứu "Đánh giákết quả chuyển giao kỹ thuật cho các bệnh viện trong phạm vi Đề án 1816 của

Trang 33

Bệnh viện Bạch Mai năm 2010", kết quả cho thấy: Có 217 kỹ thuật được kýkết chuyển giao trong đó có 178 kỹ thuật (chiếm 82,3%) được ký thanh lý hợpđồng, 33 kỹ thuật vượt tuyến, 28 kỹ thuật mới, 1054 lượt cán bộ của bệnhviện tỉnh được nhận kỹ thuật chuyển giao (tỷ lệ bác sĩ chiếm 33,7% và tỷ lệđiều dưỡng/kỹ thuật viên là 66,3%); khó khăn chủ yếu dẫn đến không triểnkhai được kỹ thuật chuyển giao là không có bệnh nhân hoặc ít bệnh nhân hoặc

cơ sở vật chất không đáp ứng…[43]

1.4 Tổng quan về khó khăn, thuận lợi

Nguồn nhân lực, cơ sở vật chất, trang thiết bị ở hầu hết các bệnh việntuyến huyện thiếu và yếu là nguyên nhân quan trọng gây khó khăn trong côngtác chuyển giao kỹ thuật từ bệnh viện tuyến trên Bác sỹ Lê Trọng Sanh, PhóGiám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh, cho biết: Trên cả lĩnh vực nội khoa vàngoại khoa, việc chuyển giao kỹ thuật hết sức khó khăn Đối với lĩnh vực nộikhoa, việc chuyển giao chủ yếu là giúp các y, bác sĩ trau dồi chuyên môn,truyền kinh nghiệm chẩn đoán bệnh và hướng dẫn, đào tạo sử dụng các trangthiết bị hỗ trợ để chẩn đoán đúng bệnh Từ đó, đưa ra phác đồ điều trị, kê đơnthuốc phù hợp, điều trị hiệu quả Tuy nhiên, để đào tạo được bác sĩ đạt đượcchuyên môn tốt, đọc chuẩn kết quả chẩn đoán là việc làm không phải mộtsớm một chiều Còn với lĩnh vực ngoại khoa, công việc lại phức tạp hơnnhiều vì ngoài đòi hỏi chẩn đoán đúng bệnh, việc điều trị còn phải thông quaphẫu thuật Để thực hiện được một ca phẫu thuật đòi hỏi phải đào tạo cho cảmột êkip ít nhất 5 người trở lên Ngoài ra, phải có trang thiết bị, dụng cụ phẫuthuật phù hợp, đặc biệt yêu cầu bác sĩ đáp ứng tốt chuyên môn, tay nghề Tuynhiên, hầu hết các bệnh viện tuyến huyện chưa đáp ứng tốt các yêu cầu [41]

Việc chuyển giao đã khó, điều đáng nói là sau khi được chuyển giao, vì

lý do thiếu nhân lực, nhiều bệnh viện đã không thể duy trì thực hiện được cácgói kỹ thuật, lãng phí cả về thời gian, công sức đào tạo, điển hình như tại

Trang 34

Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Phước Nhằm góp phần nâng cao trình độ,tay nghề cho đội ngũ y, bác sĩ, cũng như chất lượng khám, điều trị, năm 2009,Bệnh viện Đa khoa Ninh Phước cử 2 bác sĩ đi đào tạo, học tập kinh nghiệm

mổ bắt con tại Bệnh viện Từ Dũ TP Hồ Chí Minh và Bệnh viện Đa khoa tỉnh

Để giúp các bác sĩ được đào tạo phát huy năng lực chuyên môn, năm 2010,Bệnh biện Đa khoa tỉnh đã cử bác sĩ trực tiếp xuống cơ sở chuyển giao, đàotạo êkip mổ gồm 5 y, bác sĩ thực hiện gói kỹ thuật mổ bắt con… Với sự hỗ trợcủa bác sỹ tuyến trên, Bệnh viện Đa khoa Ninh Phước đã thực hiện được 10

ca phẫu thuật Tuy nhiên, đến năm 2012, một bác sỹ gây mê hồi sức của bệnhviện được luân chuyển về công tác nơi khác Thiếu bác sỹ gây mê, không cóngười thay thế, từ đó đến nay, bệnh viện không thể thực hiện thêm bất cứ caphẫu thuật nào [41]

Tương tự, năm 2010, Bệnh viện Đa khoa khu vực Ninh Sơn cũng đượcBệnh viện Đa khoa tỉnh chuyển giao thành công gói kỹ thuật mổ bắt con Sauchuyển giao, bệnh viện đã tự phẫu thuật được 8 trường hợp Tuy nhiên, saumột thời gian ngắn [44], cũng vì lý do bác sĩ gây mê được luân chuyển côngtác nên bệnh viện cũng không duy trì được thực hiện gói kỹ thuật này Đểthực hiện tốt Đề án 1816, dự kiến từ nay đến cuối năm, Bệnh viện Đa khoatỉnh sẽ tổ chức khảo sát nhu cầu và tiến hành chuyển giao một số gói kỹ thuậtcho Bệnh viện Đa khoa Ninh Phước Tuy nhiên, để việc chuyển giao các gói

kỹ thuật đạt hiệu quả cao, lâu dài, điều quan trọng nhất là các bệnh viện tuyếnhuyện cần được đầu tư, hoàn thiện cả về nhân lực, cơ sở vật chất, có thể tiếpnhận được nhiều gói kỹ thuật cao, phức tạp, qua đó từng bước nâng cao chấtlượng, giúp giảm tải cho bệnh viện tuyến trên và đáp ứng nhu cầu khám vàđiều trị của người dân ngay tại cơ sở [41]

Hỗ trợ chuyên môn, chuyển giao kỹ thuật cho y tế tuyến dưới đangđược các đơn vị y tế của tỉnh Quảng Ninh tích cực thực hiện Việc làm này

Trang 35

giúp nâng cao năng lực chuyên môn cho y tế tuyến huyện, giảm tải cho cácbệnh viện tuyến tỉnh, còn người dân được hưởng lợi vì được sử dụng dịch vụ

y tế tốt hơn ở ngay gần nhà

Với chủ trương đưa kỹ thuật cao mà tuyến dưới còn yếu hoặc thiếu, cácbệnh viện tuyến tỉnh của Quảng Ninh đang rất nỗ lực để chuyển giao hiệu quảcho tuyến dưới Theo đó, năm 2017, Bệnh viện Bãi Cháy, Bệnh viện đa khoatỉnh Quảng Ninh, Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đã xây dựng kế hoạchchuyển giao kỹ thuật, cử chuyên gia hỗ trợ chuyên môn cho các Trung tâm y

tế huyện Những kỹ thuật được chuyển giao như phẫu thuật nội soi, gây mê,hồi sức cấp cứu, ngoại ổ bụng, chấn thương tại các trung tâm y tế Để việcchuyển giao đạt hiệu quả, các bệnh viện tiếp nhận các bác sĩ, kỹ thuật viên,điều dưỡng từ tuyến dưới về bệnh viện đào tạo “cầm tay, chỉ việc” từ 3 đến 9tháng tùy theo chuyên ngành Thông qua các đợt chuyển giao, nhiều trungtâm y tế đã đưa vào ứng dụng những kỹ thuật cao Đơn cử như TTYT huyệnHải Hà với sự trợ giúp của các bác sĩ của Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh,TTYT huyện Hải Hà đã mổ nội soi thành công cho 5 bệnh nhân bị u xơ tửcung, u nang buồng trứng, chửa ngoài tử cung bị vỡ và bệnh nhân bị sỏi túimật Đây là bước tiến quan trọng trong việc ứng dụng thành tựu y học hiệnđại vào hoạt động điều trị, chữa bệnh cho bệnh nhân tại tuyến huyện ViệcTTYT huyện Hải Hà đưa hệ thống mổ nội soi hiện đại có chức năng phẫuthuật nội soi ổ bụng và phẫu thuật nội soi sản khoa nhằm giúp cho các bệnhnhân được chữa trị ngay tại cơ sở Qua đó góp phần giảm chi phí đi lại, ăn ởcho bệnh nhân và giảm quá tải cho bệnh viện tuyến trên BS Nguyễn ĐôngThanh - Giám đốc TTYT huyện Hải Hà cho biết, nhiều năm nay, TTYThuyện Hải Hà đã triển khai nhiều kỹ thuật mới như: điều trị cho bệnh nhânsuy thận, mổ nội soi, chụp cắt lớp tại đơn vị, qua đó giảm thiểu được bệnhnhân chuyển tuyến và giảm tải cho bệnh viện tuyến trên Còn tại TTYT huyện

Trang 36

Vân Đồn, người dân ở đây cũng rất phấn khởi khi được các bác sĩ với trình độcao và máy móc hiện đại điều trị mà không phải chuyển đi xa Chị N.T.N (ở

xã Hạ Long, Vân Đồn) - người được các bác sĩ TTYT huyện Vân Đồn cứusống một cách ngoạn mục cho biết, chị nhập viện do bị ngã rách đầu và đaubụng, với hiện tượng đó thì cũng không phải ca nặng Tuy nhiên, sau khi thămkhám, các bác sĩ đánh giá tình trạng của chị khá nặng, da xanh, niêm mạcnhợt nhạt, mạch nhanh, nhỏ và khó bắt thì ngay lập tức các bác sĩ cho bệnhnhân đi siêu âm và phát hiện ra khối chửa ngoài tử cung đã bị vỡ Chỉ trongvòng 10 phút từ khi nhập viện, bệnh nhân được đưa vào phòng phẫu thuật để

mổ cầm máu Tuy nhiên, vừa đẩy vào phòng mổ thì tim bệnh nhân ngừngđập Nhờ sự quyết đoán nhanh nhạy của các bác sĩ và huy động máu hiến kịpthời của các nhân viên y tế trung tâm mà chị N đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần[44]

1.5 Giới thiệu về địa điểm nghiên cứu

Bệnh viện Bạch Mai là một bệnh viện đa khoa hoàn chỉnh hạng đặcbiệt, tuyến cao nhất trong hệ thống khám chữa bệnh, có bề dày hoạt động hơn

105 năm, với nhiều chuyên khoa đầu ngành cùng đội ngũ cán bộ có trình độchuyên môn cao, Bệnh viện là cơ sở thực hành chính của Trường Đại học Y

Hà Nội trong việc đào tạo bác sĩ, bác sỹ nội trú, BSCKI, BSCKII, thạc sĩ, tiến

sĩ và các chuyên khoa sâu Bệnh viện đã khẳng định được vai trò và vị thếtrong mọi mặt hoạt động chuyên môn, đặc biệt công tác đào tạo nguồn nhânlực, là địa chỉ tin cậy để các cơ sở y tế cùng các đồng nghiệp trong cả nước tínnhiệm lựa chọn [4]

Nhiệm vụ đào tạo và chỉ đạo tuyến là 2 trong 9 nhiệm vụ quan trọngcủa các BV, công tác đào tạo, chỉ đạo tuyến của BV Bạch Mai được đánh giá

là rất có hiệu quả trong việc nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ y tế.Đến nay, hoạt động chỉ đạo tuyến, đào tạo liên tục của BV Bạch Mai đã và

Trang 37

đang được triển khai sâu rộng với chất lượng tốt nhất tới hầu hết các tỉnhthành phía Bắc và cả nước mặc dù gặp không ít khó khăn thách thức dothiếu nguồn lực, đặc biệt thiếu cán bộ chuyên trách.

Công tác đào tạo, chỉ đạo tuyến của Bệnh viện Bạch Mai với đầu mối làTrung tâm Đào tạo và Chỉ đạo tuyến (TDC) được đánh giá là rất có hiệu quảtrong việc nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ y tế, góp phần quantrọng cải thiện chất lượng khám chữa bệnh tại các tuyến Đến nay, hoạt độngđào tạo, chỉ đạo tuyến của Bệnh viện Bạch Mai đã và đang được triển khaisâu rộng với chất lượng tốt nhất tới hầu hết các tỉnh thành phía Bắc và cảnước Từ năm 2009, TDC bắt đầu triển khai tiếp theo mô hình đào tạo chínhquy sau đại học hệ thực hành và mô hình Bệnh viện vệ tinh Đặc biệt đã ápdụng hiệu quả hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 - 2008với lĩnh vực đào tạo y học và chỉ đạo tuyến [43]

Kết quả nghiên cứu đánh giá hiệu quả chương trình ĐT, CĐT, 1816,BVVT của BVBM khẳng định: Chương trình rất hiệu quả, đáp ứng kịp thờiyêu cầu thực tế giai đoạn hiện tại, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chấtlượng khám chữa bệnh, CSSK cho người dân tại các tuyến

Trình độ chuyên môn, quản lý của cán bộ y tế được nâng lên một cách rõ rệt

Nhiều kỹ thuật mới chuyển giao đã được triển khai tốt tại cơ sở

Trang thiết bị y tế được sử dụng hiệu quả

Mức độ sai lệch trong chẩn đoán được rút ngắn

Nhiều bệnh nhân cấp cứu, nặng được xử trí ngay tại tuyến dưới,không phải chuyển lên tuyến trên

Tăng cường sự phối hợp giữa tuyến trên và tuyến dưới trong quan hệcông tác và cập nhật thông tin y học mới

Dựa trên tổng quan các tài liệu, chúng tôi tiến hành xây dựng sơ đồnghiên cứu sau:

Trang 38

Sơ đồ nghiên cứu

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Bệnh viện Bạch Mai

Quy trình CGKT tại Bệnh viện

Mức độ hài lòng về các hoạt động hỗ trợ do BVBM tổ chức

Đánh giá của học viên về các

hỗ trợ của TDC

Đánh giá của học viên về công tác quản lý của TDC

Trang 39

2.2 Thời gian nghiên cứu:

Thời gian nghiên cứu từ tháng 01/2018 đến tháng 05/2019

Thời gian thu thập, phân tích số liệu từ 07/2018 đến tháng 03/2019

2.3 Đối tượng nghiên cứu: Là các cán bộ nhận chuyển giao kỹ thuật tại

Bệnh viện Bạch Mai năm 2017 - 2018

2.3.1 Tiêu chuẩn lựa chọn

Là những cán bộ nhận chuyển giao kỹ thuật tại Bệnh viện Bạch Mai cụ thểbao gồm:

+ Cán bộ nhận chuyển giao kỹ thuật trong hai năm 2017 - 2018

+ Đối tượng tự nguyện tham gia nghiên cứu

2.3.2 Tiêu chuẩn loại trừ

-Những cán bộ tham gia chuyển giao và nhận kỹ thuật chuyển giao nằmngoài giai đoạn nghiên cứu

-Đối tượng có tự nguyện nhưng không hợp tác trong quá trình nghiên cứu

2.4 Thiết kế nghiên cứu

Mô tả cắt ngang (Cross-Sectional surveys)

2.5 Cỡ mẫu và chọn mẫu

Trang 40

2.6 Biến số, chỉ số, kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu

Kỹ thuật thu thập

Công cụ Mục tiêu 1 Mô tả thực trạng thực hiện quy trình CGKT

Mã người

tham gia

Phiếu điều tra

Điền phiếu Phân loại

Phiếu điều tra

Điền phiếu

về kỹ thuật chuyển giao

Phiếu điều tra

Điền phiếu

1 Tài liệu phát tay

2 Thầy cô hướng dẫn

3 Đồng nghiệp trao đổi

4 Tự tìm hiểu

Tỷ lệ phần trăm kênh thông tin học viên được tiếp cận về kỹ thuật chuyển giao

Phiếu điều tra

Điền phiếu

5 Hội nghị, hội thảo tại

Tỷ lệ phần trăm học viên được tham gia các hình thức được đào tạo

Phiếu điều tra

Điền phiếu

Ngày đăng: 08/11/2019, 20:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. George T.Milkovich và John W.Boudreau "Human resourses management", tr. 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human resoursesmanagement
16. WHO (2006), The World Health report: Working together for health, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Health report: Working together for health
Tác giả: WHO
Năm: 2006
17. WHO – SEA (2006), "Regional Strategy Plan for Human Resources Development (SEA/RC59/16)", tr. 32 - 34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regional Strategy Plan for Human ResourcesDevelopment (SEA/RC59/16)
Tác giả: WHO – SEA
Năm: 2006
18. WHO (2007), Everybody’s business: Strengthening health systems to improve health outcomes: WHO’s framework for action, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Everybody’s business: Strengthening health systems toimprove health outcomes: WHO’s framework for action
Tác giả: WHO
Năm: 2007
22. Nguyễn Thanh Bình và Trần Bá Kiên (2014), "Phân tích thực trạng phân bố nguồn nhân lực dược Việt Nam", Tạp chí Dược học. 437, tr. 2 - 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích thực trạngphân bố nguồn nhân lực dược Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình và Trần Bá Kiên
Năm: 2014
25. Trần Thị Minh Thi và Trần Thị Giáng Hương (2013), "Hỗ trợ kỹ thuật ngành y tế tuyến tỉnh: Thực trạng, khó khăn, thuận lợi và một số tác động chính sách", Tạp chí Y học thực hành. 9(879), tr. 6 - 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỗ trợ kỹthuật ngành y tế tuyến tỉnh: Thực trạng, khó khăn, thuận lợi và một sốtác động chính sách
Tác giả: Trần Thị Minh Thi và Trần Thị Giáng Hương
Năm: 2013
26. Bộ Y tế (2013), Thông tư 22 Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vực y tế, Nhà xuất bản Y học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư 22 Hướng dẫn đào tạo liên tục trong lĩnh vựcy tế
Tác giả: Bộ Y tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Y học
Năm: 2013
29. Henderson and Tulloch (2008), "Incentives for retaining and motivating health workers in Pacific and Asian countries, Human Resource Health". 6:18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Incentives for retaining andmotivating health workers in Pacific and Asian countries, HumanResource Health
Tác giả: Henderson and Tulloch
Năm: 2008
30. Lehmann U, Dieleman M và Martineau T (2008), "Staffing remote rural areas in middle- and low-income countries: A literature review of attraction and retention. BMC Health Services Research", tr. 8:19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Staffing remoterural areas in middle- and low-income countries: A literature review ofattraction and retention. BMC Health Services Research
Tác giả: Lehmann U, Dieleman M và Martineau T
Năm: 2008
32. MD. David A. Davis và các cộng sự. (1995), "Changing Physician Performance A Systematic Review of the Effect of Continuing Medical Education Strategies", JAMA. 9(274), tr. 700-705 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Changing PhysicianPerformance A Systematic Review of the Effect of Continuing MedicalEducation Strategies
Tác giả: MD. David A. Davis và các cộng sự
Năm: 1995
33. P B A Smits, J H A M Verbeek và C D de Buisonjé (2002), "Problem based learning in continuing medical education: a review of controlled evaluation studies", BMJ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Problembased learning in continuing medical education: a review of controlledevaluation studies
Tác giả: P B A Smits, J H A M Verbeek và C D de Buisonjé
Năm: 2002
34. PHD. Paul E. Mazmanian và MD. David A. Davis (2002),"Continuing Medical Education and the Physician as a Learner Guide to the Evidence", JAMA. 9(288), tr. 1057-1060 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Continuing Medical Education and the Physician as a Learner Guideto the Evidence
Tác giả: PHD. Paul E. Mazmanian và MD. David A. Davis
Năm: 2002
35. Bernard S. Bloom (2005), "International Journal of Technology Assessment in Health Care", Cambridge Journal. 21(3), tr. 380 - 385 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of TechnologyAssessment in Health Care
Tác giả: Bernard S. Bloom
Năm: 2005
36. Peter Cantillon và Roger Jones (1999), "Does continuing medical education in general practice make a difference?", BMJ. 318(7193), tr.1276-1279 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Does continuing medicaleducation in general practice make a difference
Tác giả: Peter Cantillon và Roger Jones
Năm: 1999
38. MD.Wayne F. Larrabee Jr và MD. Arlen D. Meyers (2000),"Continuing Medical Education", Arch Facial Plast Surg. 2(2), tr. 154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Continuing Medical Education
Tác giả: MD.Wayne F. Larrabee Jr và MD. Arlen D. Meyers
Năm: 2000
45. Đào Xuân Lân (2015), Luận văn Thạc sĩ "Đánh giá hoat động đào tạo liên tục tại bệnh viện Bạch Mai 2015", Đại học Y Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hoat động đào tạoliên tục tại bệnh viện Bạch Mai 2015
Tác giả: Đào Xuân Lân
Năm: 2015
47. Trịnh Yên Bình (2013), "Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liên tục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp", Luận án tiến sĩ y học, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng nhân lực, nhu cầu đào tạo liêntục cho cán bộ y dược cổ truyền và đánh giá hiệu quả một số giải phápcan thiệp
Tác giả: Trịnh Yên Bình
Năm: 2013
52. Phạm Thị Bích Mận (2008), "Đánh giá nhu cầu và chất lượng đào tạo tại các bệnh viện tuyến trước năm 2007", Đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở, Bệnh viện Bạch Mai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá nhu cầu và chất lượng đàotạo tại các bệnh viện tuyến trước năm 2007
Tác giả: Phạm Thị Bích Mận
Năm: 2008
53. Trường Đại học Y tế công cộng (2012), Báo cáo đánh giá hiện trạng đào tạo nhân lực y tế tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá hiện trạngđào tạo nhân lực y tế tại Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Y tế công cộng
Năm: 2012
54. Trần Thanh Bình và Nguyễn Thanh Hương (2014), "Thực trạng nhân lực của bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông và một số yếu tố liên quan", Tạp chí Y học thực hành. 3(909), tr. 74 - 77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạngnhân lực của bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông và một số yếu tố liênquan
Tác giả: Trần Thanh Bình và Nguyễn Thanh Hương
Năm: 2014

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w