1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xây dựng và quản lý các dân tộc ở đông nam á văn hóa, chính sách và phát triển

46 177 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 14,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như người của Nhà nước không hiểu được cách mà người dân các dân tộc gọi tên cho mình, thì có lẽ họ cũng không hiểu được các dân tộc đó sống ra sao, mức sống của họ như thế nào, họ c

Trang 1

2.3 Xây dựng và quản lý

các dân tộc ở Đông Nam Á:

văn hóa, chính sách và

phát triển

Christian Culas – CNRS, Grégoire Schlemmer – IRD,

Trần Hồng Hạnh – Viện Dân tộc học, Viện KHXH Việt Nam

(nội dung gỡ băng)

ngày học thứ nhất, sáng thứ hai

ngày 18/7

[christian culas]

Xin chào các bạn học viên đăng ký vào lớp

chuyên đề các nhóm dân tộc ở Đông Nam

Á Chúng ta sẽ bắt đầu bằng phần giới thiệu

học viên Lớp học của chúng ta được tổ chức

với mục đích chính là nhấn mạnh vào các nội

dung phương pháp luận và sư phạm, do đó

trong cả tuần này, chúng ta sẽ ưu tiên cho

trao đổi và thảo luận

Giới thiệu giảng viên và học viên (xem thêm

phần lý lịch giảng viên và danh sách học viên

ở cuối chương)

Chúng ta sẽ học những gì trong bốn ngày

rưỡi làm việc cùng nhau?

Ngày đầu tiên sẽ trao đổi về các cách chỉ định

và gọi tên các nhóm dân tộc, phương pháp

tiếp cận sẽ mang tính lý luận và phương pháp

luận: chúng tôi sẽ giải thích các phương pháp

tiếp cận theo thuyết xây dựng và thuyết tự nhiên Nội dung đầu tiên sẽ là câu hỏi: một dân tộc là gì? Làm thế nào và tại sao phải phân loại dân tộc? Buổi chiều, chúng ta sẽ tập trung vào các nghiên cứu trường hợp ở Việt Nam và Lào

Thứ ba sẽ nói tới nội dung liên quan đến những mối quan hệ giữa luật pháp và các nhóm dân tộc Chúng ta sẽ xuất phát từ thực tiễn pháp lý để nghiên cứu các mối quan hệ với những gì có thể quan sát được trên thực địa Các nhà xã hội học hay nhân học thường hiếm khi sử dụng luật pháp như một công cụ

để tìm hiểu Chúng ta sẽ thử tìm cách thiết lập quan hệ giữa luật pháp và nhân học Phần cuối cùng của ngày làm việc này sẽ dành cho các nghiên cứu trường hợp

Các vấn đề nhân học ứng dụng và nhân học phát triển sẽ được đề cập đến trong buổi sáng thứ tư Sau đó lớp học sẽ chia thành ba nhóm, mỗi nhóm sẽ nghiên cứu một chủ đề với sự hướng dẫn của một giảng viên Sáng thứ sáu, ba nhóm sẽ lần lượt trình bày; sau

đó chúng ta sẽ tổng hợp để làm báo cáo thu hoạch cho sáng thứ bảy

Trang 2

[Grégoire Schlemmer]

Nhân học trước hết là một cách nhìn, một

cách tiếp cận sự việc Mục đích của chúng

tôi là đồng thời vừa mang đến cho các bạn

những kiến thức mới vừa đặt câu hỏi về

những gì các bạn tin là mình đã biết Để đạt

được mục đích đó, chúng ta sẽ xuất phát từ

một câu hỏi trung tâm « Dân tộc là gì? », câu

hỏi này sẽ dẫn chúng ta tới rất nhiều các chủ

xã hội đều là những hiện tượng sự vật được xây dựng, nên chúng ta cũng có thể phá bỏ chúng: từ đó cho phép chúng ta hiểu được chúng đã được xây dựng như thế nào Trong bài giảng đầu tiên, chúng tôi sẽ giới thiệu và phân tích quá trình các dân tộc đã được xây dựng như thế nào về mặt xã hội và tư tưởng

- nh ngh a : ch ngh a « xây d ng » là h c thuy t cho r ng các hi n t ng xã h i không t n t i tr c và

không c l p v i công tác xã h i phân lo i theo ph m trù

B) Xây d ng các dân t c thông qua t tên

- t tên cho m t v t là m t trong các cách làm cho v t y t n t i v m t xã h i và ôi khi s h u v t ó

- Luôn t duy theo quan h hai chi u t ng h : Nhà n c t tên cho các dân t c / các dân t c t tên cho các nhân viên làm vi c trong b máy Nhà n c nh th nào?

C) Xây d ng các dân t c qua xây d ng các o lu t

- Vi c xây d ng các o lu t s t ra các h n ch v nh ngh a dân t c là gì và h n ch v nh ng i u h p pháp mà các dân t c s ng trong m t qu c gia có th làm

- Các o lu t c ng là m t cách giúp các dân t c hoà nh p vào h th ng nhà n c Nhà n c có tham kh o

ki n c a các dân t c v i m này không ?

D) Các u i m thu n l i cho công tác nghiên c u khoa h c c a ch ngh a « xây d ng »

- N u các hi n t ng xã h i u c xây d ng, ta có th tìm hi u xem chúng c xây d ng nh th nào, do

ai và nh m m c ích gì ?

- i u này cho phép t ra các câu h i v các quá trình, s trao i, s n ng ng và s thay i xã h i : « hi n

t ng này di n ra nh th nào ? »

Trang 3

Trục 1 Tên, cách gọi Đặt tên cho một sự vật,

dù đó là gì, là một cách để sự vật đó tồn tại về

mặt xã hội, và đôi khi để chiếm hữu nó, tức là

biến nó thành của riêng Điều này đúng cho

các dân tộc hay bất kỳ một thuật ngữ nào

khác Ý thứ hai liên quan đến cách gọi tên giữa

các nhóm khác nhau Nếu như người ta hay

quan tâm đến việc tìm hiểu cách các Nhà nước

gọi tên các dân tộc như thế nào, thì cũng cần

quan tâm cách các dân tộc thiểu số gọi các

dân tộc đa số, cách mà người của các dân tộc

gọi người của Nhà nước như thế nào?

Trục 2 Xây dựng các dân tộc thông qua việc

ban hành hoặc tạo ra các luật lệ Các dân tộc

là đối tượng điều chỉnh của luật, điều này có

ghi trong hiến pháp của Việt Nam và Lào Như vậy, Nhà nước đã tạo ra một khung pháp lý xung quanh các dân tộc Nhóm dân tộc là gì? Nhóm đó phải làm gì và có thể làm gì? Các nhóm đó được điều chỉnh như thế nào? Các dân tộc có được lấy ý kiến về những luật lệ đề

ra và áp dụng cho bản thân họ hay không?

Trục 3 Tác dụng của phương pháp tiếp cận theo thuyết xây dựng Các vấn đề như thể thức vận hành, nguồn gốc và mục đích của các thể thức đó là những vấn đề rút ra từ thuyết xây dựng Đặt các câu hỏi này tức là coi nó là một kết quả có được từ một tiến trình xây dựng

Xây dựng dân tộc (2)

Nguồn: tác giả.

Cách đặt tên cho các dân tộc thay đổi theo

từng nước và theo lịch sử dân tộc Ở nhiều

nước, các dân tộc được gọi bằng những cái

tên mà bản thân họ cũng không biết vì sao

Việc lựa chọn tên gọi thường mang tính chất

áp đặt, võ đoán Đối với nhà nhân học, điều

đó chứng tỏ rằng bộ máy quản lý hành chính

không có hiểu biết chính xác về các nhóm dân tộc khác nhau trên đất nước mình Nếu như người của Nhà nước không hiểu được cách mà người dân các dân tộc gọi tên cho mình, thì có lẽ họ cũng không hiểu được các dân tộc đó sống ra sao, mức sống của họ như thế nào, họ có những mối quan hệ gì, v.v

S a d ng trong cách g i tên các dân t c theo th i gian và t i các n c khác nhau ch ng minh

r ng:

- các cách g i tên ch là võ oán (do nhóm dân t c a s t ch n);

- các tên g i b bi n i theo th i gian (không có tên g i nào là tr ng t n);

- vi c l a ch n tên g i mang tính chính tr

Trang 4

Để hiểu biết về các dân tộc, chúng ta xem xét

tình hình ở một số nước có các dân tộc thiểu

số hoặc các nhóm dân tộc Bảng tổng hợp

này cho chúng ta thấy vấn đề của các dân

tộc thiểu số và của việc quản lý các dân tộc

đó bằng luật pháp không phải là vấn đề của

riêng Việt Nam, rất nhiều nước trên thế giới

cũng gặp phải các vấn đề tương tự

Lấy trường hợp của nước Mỹ Tất các nhóm

xã hội được coi là thiểu số đều được gọi

chung là « minorities », trong đó có cả phụ

nữ, người da đen, người châu Á, người Mỹ

da đỏ, người thuộc cộng đồng nói tiếng Tây

Ban Nha; nhưng còn có cả người đồng tính,

tức là những người bị coi là thiểu số do xu

hướng tình dục cùng giới tính chứ không

phải do nguồn gốc xã hội Việc ra đời cách

phân loại « minorities » này có từ những năm

1960 Đây là một dự án mang tính xã hội - chính trị của tổng thống Kennedy: để chống lại tình trạng bất bình đẳng giữa người da trắng và người da đen, giữa các nhóm yếu thế, bị trị thì cần phải có một cách phân loại chính xác Việc đặt ra cách phân loại này có hai mục đích: quản lý người dân tốt hơn, chống phân biệt đối xử giữa các nhóm Hệ quả trực tiếp của chính sách này là sự ra đời của các luật quy định vào những năm 1960-1970 Ví dụ, nếu người da đen chiếm

tỷ lệ 15% dân số cả nước, tỷ lệ đại diện của người da đen trong các cơ quan hành chính cũng phải tương ứng với con số đó Cần phải tính toán tỷ lệ đại diện trong mỗi cơ quan hành chính của các sắc dân khác nhau – đây chính là chính sách quota (hạn ngạch)

So sánh các thuật ngữ sử dụng ở một số quốc gia

THU T NG D NG NHÓM L CH S CÁC O LU T

HOA K Minorities (Ng i thi u s ) Ph n , da màu, châu Á,

da M , Tây Ban Nha,

T ch c v n hóa Nga 128 dân t c, Trung Qu c 56,

c p, v.v.) C nh ng yêu c u b t bu c v

v n hoá

PHÁP

Nhóm v n hóa, C ng

ng v n hóa (thu t ng

« ethnie » (dân t c) chính th c b c m s

d ng t i Pháp)

Tr c ây : hàng ch c nhóm v n hóa Nay còn có 5 nhóm ? (Ng i vùng Alsace, Basque, Breton, Catalan, Corse) + Ng i Rom

1539 Ch d Cotterêts : ti ng Pháp c

Villers-ch n là ngôn ng qu c gia + lu t tri u ình áp d ng trên toàn qu c

1789 Kh i ngh a : nh ngh a v các dân t c c a Pháp

Gi a th k XX : M t vài o lu t c bi t

v các tr ng h c song ng , các s n

ph m v n hoá, thu khoá (t i Corse)

AUSTRALIA

Aborigènes (th dân) (không bao gi s

d ng t « dân t c»

mà dùng t « b

l c »)

H n 1000 nhóm v n hóa riêng bi t N m 1838 b n báo cáo u tiên v vi c b o v th dân

Trang 5

Việc phân loại các dân tộc dưới thời Liên Xô

cũ, ở Trung Quốc hay ở Việt Nam cũng có

những đặc điểm tương tự Ở Việt Nam, việc

phân chia thành khoảng 50 nhóm dân tộc

được thực hiện từ những năm 1950-1960

Lào cũng thực hiện cùng thời điểm Các dân

tộc nhìn chung được coi là những người cần

giúp đỡ, chính quyền trung ương cần giúp

họ phát triển Điều ngạc nhiên là trong hiến

pháp của Lào và Việt Nam, Nhà nước trung

ương cam kết giúp đỡ các dân tộc phát triển,

nhưng lại không cam kết hỗ trợ cho người

nghèo – người dân tộc Kinh cực nghèo

không được chính thức nhắc đến trong Hiến

pháp Một nhà nghiên cứu cần phải đặt câu

hỏi tại sao Hiến pháp lại chỉ đề cập tới việc

giúp đỡ các nhóm dân tộc chứ không phải là

giúp đỡ toàn dân

Nước Pháp là một trường hợp rất đặc biệt

vì việc sử dụng thuật ngữ « dân tộc » bị cấm

trong các văn bản chính thức Thậm chí nếu

các công trình nghiên cứu sử dụng thuật ngữ

này còn bị phạt Các nhà nghiên cứu không

thể gọi người xứ Basque, người đảo Corses

hoặc người xứ Bretagne là các dân tộc, điều

này sẽ không được chấp nhận trong các ấn

phẩm xuất bản chính thức Về lịch sử, mỗi

vùng của Pháp đều có các sắc dân sinh sống

nhưng không nói tiếng Pháp Họ có văn hóa

và truyền thống riêng Hệ thống hành chính

tập trung của Pháp xét về một mặt nào đó

đã loại bỏ sự đa dạng văn hóa này Vào thế

kỷ 16, một chỉ dụ của triều đình đã ra lệnh

bắt buộc sử dụng tiếng Pháp trong tất cả các

cấp hành chính Nếu so sánh với Việt Nam, ta

thấy trong Hiến pháp có một điều quy định

là các cơ quan xét xử và tòa án nhân dân các

cấp có thể xét xử bằng tiếng quốc ngữ hoặc

bất kỳ một ngôn ngữ dân tộc nào Tuy nhiên,

theo tôi được biết, không có phiên xét xử nào

sử dụng một ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Việt là tiếng quốc ngữ

Australia lại có đặc thù là lục địa này có hơn một nghìn nhóm dân tộc Rồi đất nước này

bị người Anh đô hộ Vào thời điểm đó, ở đây chưa có người da trắng Trong nhiều thế kỷ, quan hệ thống trị - bị trị phát triển với một bên là người da trắng nắm trong tay quyền lực kinh tế, vũ khí, tổ chức xã hội vững mạnh

và một bên là các nhóm dân tộc không phải

là những chiến binh, sống rải rác theo bộ tộc

và sau đó thường bị triệt hạ

Như vậy bảng này cho chúng ta thấy một bức tranh toàn cảnh về thực tế mối quan hệ giữa các nhà nước còn đang trong quá trình xây dựng và các sắc dân thiểu số, dù họ có phải là dân tộc hay, như ở Mỹ, phụ nữ hoặc người đồng tính Tôi muốn qua đây vừa mở rộng thêm ý tưởng vừa chứng minh rằng tồn tại nhiều tình hình khác nhau và không giống với tình hình trong khu vực Đông Nam Á, không giống với ở Việt Nam, Lào hay Trung Quốc

2.3.2 Xác định và phân loại các dân tộc

[Grégoire Schlemmer]

Chúng ta có biết rõ dân tộc là gì không? Một trong các nguyên tắc về phương pháp luận trong nghiên cứu nhân học là tư duy về từ ngữ và các thuật ngữ khoa học mà chúng ta

sử dụng Chính từ một định nghĩa chính xác

và cách sử dụng nghiêm ngặt mà các từ ngữ đơn thuần đó mới trở thành các khái niệm Dân tộc là một khái niệm phức tạp Đến cuối khóa học này, nếu như các bạn thấy rằng mức độ hiểu của các bạn với những gì chúng

ta đề cập có giảm đi thì như thế có nghĩa là

Trang 6

chúng ta đã đạt được một phần các mục tiêu

đã đặt ra!

Tính dân tộc là một hình thức thuộc về một

tập hợp nào đó Các hình thức này có nhiều

và biến đổi tùy theo người tiếp chuyện Nếu

trò chuyện với một phụ nữ, tôi sẽ giới thiệu

mình là nam giới; nếu tôi nói chuyện với một

người châu Á, tôi sẽ giới thiệu mình là người

châu Âu; nếu tôi nói chuyện với một người

Đức, tôi sẽ giới thiệu mình là người Pháp, v.v

Ngoài ra còn có các tập hợp khác về tôn giáo

hoặc về ngôn ngữ Và tính dân tộc chỉ là một

trong số các tập hợp đó So với các tập hợp

về xu hướng giới tính hoặc xu hướng chính

trị, một trong các đặc thù của tập hợp dân

tộc là nó mang tính phổ quát: nếu tôi nói là

tôi thuộc về một dân tộc nào đó, người ta sẽ

hiểu ngay rằng tôi nói ngôn ngữ đó, có các

tập quán thói quen đó và tôi sống ở vùng đó

đó Nhưng vấn đề là một quốc gia lại là tập hợp của nhiều dân tộc, như trường hợp của Việt Nam Như vậy, sẽ có thể tồn tại một sự phân chia thứ bậc giữa các hình thức thuộc

về tập hợp dân tộc và tập hợp quốc gia Ở đây sẽ nảy sinh một câu hỏi trung tâm: một Nhà nước, một chính phủ sẽ quản lý sự đa dạng về thành phần dân tộc như thế nào? Để quản lý được thì phải xác định được những dân tộc đó là dân tộc nào Vậy làm thế nào để xác định được một dân tộc là gì?

Dân tộc là gì?

Nguồn: tác giả.

M t nhóm có nh ng c i m riêng ?

– v ngôn ng – v lãnh th

– v v n hoá, v.v

M t nhóm t xác nh mình là m t nhóm riêng ?

– b i m t tên g i riêng bi t – b i m t tình c m chung thu c v nhóm Theo cách nh ngh a này, b t k nhóm nào c ng u thu c v m t dân t c nào ó

M t nhóm c xác nh là m t nhóm riêng b i nh ng ng i ngoài không thu c nhóm ?

– b nhóm dân t c chi m a s – b x p vào m t nhóm dân t c thi u s riêng bi t theo các h th ng phân lo i chính th c (c a Nhà n c)

Theo cách nh ngh a này, ôi khi ch có các nhóm thi u s c u thành các dân t c

Dân t c là gì?

Trang 7

Cách định nghĩa cổ điển dựa trên các tiêu chí

khách quan như ngôn ngữ, lãnh thổ, văn hóa

Thực tế, việc một cá nhân được xác định là

thuộc về một tập hợp nào đó thường là từ

di sản để lại Ví dụ, bạn sinh ra trong một bản

người Hmong, bạn là người Hmong; bạn sinh

trong làng người Kinh, bạn sẽ là người Kinh

Các nhà nước cũng lựa chọn các tiêu chí này

để phân loại Nhưng trên thực tế, chuyện lại

không đơn giản như vậy Lấy hai ví dụ:

- Người ta chấp nhận rằng người Hmong

tạo thành một nhóm dân tộc, nhưng dân

tộc Hmong không có lãnh thổ xác định:

họ sống ở Lào, ở Thái Lan, Trung Quốc và ở

nhiều tỉnh của Việt Nam, v.v

- Ở Lào, người ta phân biệt các tộc người

Thái, có Thái Dam, Thái Deng, Thái Khao

Đây là các tộc người Thái khác nhau nhưng

lại nói cùng một ngôn ngữ

Một tiêu chí khác, tưởng như đơn giản, là hỏi

mỗi người xem họ tự nhận mình thuộc về

dân tộc nào Tiêu chí này gắn với một tiêu chí

khác là ý thức cội nguồn của cá nhân được

hỏi Nhưng bạn có thể sinh ra tại một làng,

nói ngôn ngữ của làng nhưng lại không có

cảm giác thuộc về cộng đồng ở làng đó vì lối sống đã thay đổi, chẳng hạn bạn ra thành phố hoặc nước ngoài sinh sống

Như vậy chúng ta có hai loại tiêu chí: các tiêu chí khách quan thường do lịch sử để lại

và ý thức cội nguồn của các cá nhân, nhưng không phải lúc nào cũng đúng Hơn nữa, hai loại tiêu chí này không phải lúc nào cũng gắn với nhau Đơn cử như trường hợp một người

có bố mẹ là người Việt Nam nhưng lại lớn lên ở Pháp Có thể người này không còn nói tiếng Việt nữa, cũng như không thờ cúng ông

bà tổ tiên? Anh ta ăn mặc như người Pháp Như vậy, anh ta không có tiêu chí khách quan nào nhưng lại hoàn toàn có thể nói « Tôi là người Việt Nam! » Với các bạn, người đó có phải là người Việt Nam hay không? Biết được điều này là rất quan trọng vì khi phân loại, cần phải xác định tất cả các thành phần cư dân Hãy hình dung chúng ta đặt câu hỏi này cho trường hợp của đất nước các bạn Làm thế nào để phân loại được toàn bộ hơn 80 triệu người dân Việt Nam? Hoặc người dân của Lào hay Campuchia?

Trang 8

Các tộc người Akha ở tỉnh Phongsaly Các nhóm Akha Phongsaly

Trang ph c (t cao/ph i n

Trong số các bức ảnh này, người đầu tiên

phía dưới ở bên phải nói ngôn ngữ rất gần

với người ở trong bức ảnh bên tay phải của

anh ta Các bản chỉ cách nhau vài cây số Nhìn

từ ngoài vào, họ có tập tục văn hóa giống

nhau Tuy nhiên, trên thực tế đó là hai nhóm

dân tộc riêng rẽ, Nouheu và Eupa Người của

hai dân tộc này không lấy lẫn nhau Khi hỏi tại

sao, họ trả lời là do hai dân tộc không có cùng

truyền thống Khi tôi yêu cầu nêu ví dụ, họ trả

lời: « Khi cúng, chúng tôi đặt hai chén rượu

lên bàn thờ còn họ đặt ba chén » Với chúng

tôi, tiêu chí phân biệt truyền thống này của

họ lại chỉ là một tiểu tiết Như vậy, các tiêu chí

khách quan nhắc đến ở trên đều có, nhưng

cảm giác thuộc về một tập hợp chung không

tồn tại

Nếu phân tích như ở trên, ta có thể nghĩ rằng

mỗi người trong tất cả mọi người đều có một

gốc gác dân tộc, vì ai cũng có cảm giác thuộc

Đối với nhiều người, khái niệm dân tộc ít nhiều mang ý tiêu cực, để phân biệt giữa thiểu số với đa số Vậy có thể có hai cách định nghĩa cho khái niệm này Định nghĩa thứ nhất chỉ tính dân tộc mà một người tự nhận cho mình Theo cách định nghĩa này thì mỗi cá nhân đều phải thuộc về một dân tộc, nhưng thực tế không phải như vậy Định nghĩa thứ Ảnh

Trang 9

hai là do đa số đưa ra và theo đó, dân tộc gắn

với việc thuộc về một văn hóa thiểu số

Với một người thuộc bộ tộc Lào, những người thuộc hai bộ tộc trên đều được gọi bằng một tên gọi chung là người Ko hoặc người Akha

Để thống kê các dân tộc, Nhà nước buộc phải

phân loại theo nhóm Vì không thể phân loại

được tất cả 300 bộ tộc, và những người làm

trong chính phủ đều thuộc bộ tộc đa số nên

Nhà nước đã gộp nhiều bộ tộc vào các nhóm,

nhất là các bộ tộc khác xa về văn hóa với bộ

tộc Lào chiếm đa số và cũng là bộ tộc có

nhiều thành viên làm việc trong các cơ quan

chính quyền

Ví dụ, trong bộ tộc Lào có nhiều bộ tộc Thái:

Tai Yang, Tai Lao, Tai Neua, Tai Lue, v.v Các bộ

tộc này đều ít nhiều khác nhau về tập quán

văn hóa, trang phục, ngôn ngữ, cũng giống

như sự khác nhau giữa các bộ tộc Akha Tuy nhiên, các bộ tộc này lại không bị gộp chung vào một nhóm mà lại được công nhận là bộ tộc riêng rẽ trong danh sách phân loại chính thức Ta có thể nghĩ rằng, lý do có lẽ là bởi các

bộ tộc này gần gũi hơn về văn hóa xã hội với

bộ tộc Lào đa số nên được biết đến rõ hơn Hãy hình dung là nếu người Akha quản lý đất nước Lào, chắc các bộ tộc Thái sẽ được gọi chung bằng cái tên XYZ nào đó trong danh sách phân loại chính thức, còn mỗi bộ tộc Akha sẽ được mang tên riêng rẽ Kết quả phân loại sẽ phụ thuộc vào việc ai là người thực hiện việc phân loại

Tính tương đối trong các tên gọi: cách nhìn của người Thái, cách nhìn của người Akha

AKHA

Kheu

Hagni Kado

Trang 10

Các Nhà nước đều cần phải phân loại, không

chỉ để xác định ai là ai mà còn phải đặt ra các

quy chuẩn Phải nói ngay đây không phải là

để lên án chỉ trích Đúng là trên thực tế những

gì mà các nhà nhân học nói thường hay bị coi

là chống Nhà nước Với chúng tôi, phê bình

tức là tìm hiểu, suy nghĩ về nguyên do của

vấn đề, để làm tốt hơn và để đi được xa hơn

Hãy lấy hai ví dụ cụ thể để minh họa cho mục

đích để làm tốt hơn:

- Khi người Pháp đô hộ miền Bắc Việt Nam,

họ cho là rất quan trọng việc xác định các

nhóm dân tộc và một người đối thoại, tức

là người đứng đầu, để họ áp đặt và thực

hiện hệ thống thuế khóa phù hợp với cách

sống tập tục của từng nhóm;

- Ở một số nước, như Ấn Độ, mỗi cộng đồng

đều có đại diện chính thức tại Nghị viện, và

có các cơ quan chuyên trách quản lý các

nhóm dân tộc Để có thể chỉ định được đại

diện cho từng cộng đồng thì cần phải xác

Cần phải lựa chọn tên gọi và đôi khi tên gọi cũng có nhiều Có tên các nhóm tự đặt cho mình, tên do nhóm láng giềng gọi, v.v và các tiêu chí để xếp loại một cách đồng nhất Tuy nhiên các tiêu chí này không phải lúc nào cũng khớp với nhau và có khả năng xảy ra trường hợp một người được xếp vào nhiều nhóm dân tộc khác nhau

Chẳng hạn, dưới thời buôn bán xe ngựa, một

số người thuộc bộ tộc Akha là thương nhân

tự nhận là người Hán, vốn là nhóm người gần như độc quyền trong hoạt động buôn bán này Nhưng khi quay về làng, họ lại trở lại là người Akha Phân tích lịch đại sẽ giúp chúng

ta đánh giá tốt hơn đặc điểm dễ thay đổi của các phương pháp phân loại như trường hợp của Lào dưới đây:

Tại sao phải phân loại các dân tộc và phân loại như thế nào?

M c ích : - mô t (mô t l i tình hình th c t )

- theo tiêu chí ( c xác nh b i các m c tiêu ra)?

Các m c ích theo tiêu chí c a vi c phân lo i ?

Thành l p danh sách c nh v các nhóm (bao g m toàn b dân s ) nh m t o i u ki n thu n

l i cho vi c xác nh nhóm dân s và th hi n tính i di n c a nhóm dân s ó, c bi t c n thi t m b o s g n k t qu c gia

• m i nhóm s ch thu c m t dân t c duy nh t và c nh

• ph n ánh quan i m cá nhân c a ng i ti n hành phân lo i

T i sao ph i phân lo i các dân t c và phân lo i nh th nào?

Nguồn: tác giả.

11 khung

Trang 11

[christian culas]

Những thông tin làm rõ tình hình các bộ tộc

Lào có nguồn gốc lịch sử từ Thái Lan Trước

đây, tất cả các nhóm dân tộc sinh sống ở

phía Bắc Thái Lan đều được gọi là Chao Khao,

trong tiếng Thái có nghĩa là «  Người miền

núi » Từ 20 năm trở lại đây, tên gọi chính thức

của các nhóm này là Thai Phu Khao, có nghĩa

là « người Thái miền núi » Các nhóm dân tộc

sinh sống ở các vùng ven biển, thường có

tập quán du canh du cư, dù có tên gọi khác

nhau nhưng đều được gọi chung là « người

Thái miền biển » Tên gọi chung « Thái » được

sử dụng ở đây với ý chỉ sự hòa nhập vào Nhà

nước Thái, nhưng xét trên quan điểm văn

hóa, ngôn ngữ, lịch sử và tôn giáo, không dân

tộc nào trong số các nhóm dân tộc đó có đặc

điểm tương đồng với dân tộc Thái đa số còn

được gọi là người Siam

Srey Sophorvny

Ở Campuchia, các nhóm dân tộc sinh sống

ở các vùng núi phía Đông Bắc Nhưng cũng

có người Việt, người Chăm, người theo đạo Hồi, người Hoa sống ở các vùng đồng bằng, nhưng họ không bị coi là thiểu số

[Grégoire Schlemmer]

Họ được coi là thiểu số nhưng không phải là dân tộc thiểu số Hơn nữa, ở Campuchia, các dân tộc thiểu số có cùng nguồn gốc về lịch

sử và ngôn ngữ với dân tộc đa số Ở nhiều nước, người ta gắn các dân tộc thiểu số với người bản xứ, những người đầu tiên đặt chân đến vùng đất đó Ở Campuchia, các dân tộc này đặt chân đến cùng một lúc Ở Lào, những người đầu tiên đặt chân đến là những nhóm dân tộc được gọi là người Kha, nên nhóm đa

số không muốn nhắc tới điều này Tiêu chí phân loại, định danh các nhóm dân tộc hiện nay ở Lào là ngôn ngữ Nhưng nói một ngôn

Tình hình phân loại các bộ tộc ở Lào

Tình hình phân lo i các dân t c Lào

• Tr c n m 1960, phân lo i theo th b c d a trên c s chính tr :

• Ng i Tai (« nh ng ng i t do »

• Ng i Kha (« nh ng ng i l thu c »)

• 1960-1986 : phân lo i t ng h p y d a trên c s a l :

• Lao loum (Ng i Lào khu v c ng b ng)

• Lao theung (Ng i Lào khu v c s n núi)

• Lao soung (Ng i Lào khu v c nh núi)

• 1986-2011 : phân lo i « khoa h c » d a trên c s ngôn ng :

Trang 12

ngữ thuộc cùng một họ ngôn ngữ không có

nghĩa là nói cùng một ngôn ngữ bởi ngay

trong một họ ngôn ngữ cũng có nhiều sự

khác nhau, cũng không phải là chia sẻ cùng

một văn hóa, hay một nền tảng văn hóa Các

nhóm gần gũi về ngôn ngữ có thể có lối

sống rất khác nhau Các nhóm thuộc hai họ

ngôn ngữ khác nhau lại có thể có lối sống khá

tương đồng – chẳng hạn như trường hợp của

người Mường và người Thái hoặc người Thái

Nùng và người Dao ở Việt Nam Các ví dụ trên

minh họa rất rõ thực tế là khái niệm dân tộc

là một khái niệm phức tạp và việc phân loại

định danh các dân tộc luôn có một phần áp

đặt Khi nói về các nhóm thiểu số chỉ có nghĩa

khi đặt trong mối quan hệ với Nhà nước và

với nhóm đa số

Jimreivat pattiya

Có người Nam Đảo ở các vùng biên giới giữa

Việt Nam và Lào hay không?

[Grégoire Schlemmer]

Với tôi, không có người gọi là người Nam

Đảo (austronésien), không có các dân tộc nói

ngôn ngữ thuộc ngữ hệ Nam Đảo Đó chỉ là

các họ ngôn ngữ chứ không phải là nhóm

xã hội hay văn hóa Nhiều người đã nhầm

lẫn khi coi đó là các nhóm phân loại về văn

hóa, hay còn gọi là « dân tộc - ngôn ngữ »

Hơn nữa, các nhóm ngôn ngữ này được các

nhà nghiên cứu dần dần định ra, đó không

phải là các dữ liệu Ngoài ra, đôi khi cũng có

những chủ ý chính trị trong việc phân định

các loại nhóm Ở Trung Quốc, người Tạng -

Miến được coi là gần với người nói tiếng Hoa

Một số nhà ngôn ngữ của Trung Quốc và Việt

Nam cho rằng người Tạng-Miến, người Hoa,

người thuộc ngữ hệ Nam Á và người tai-kadai cùng thuộc về cùng một hệ ngôn ngữ duy nhất Nếu hiểu theo cách này, trong cùng một quốc gia, tất cả mọi người đều có chung một nguồn gốc

[christian culas]

Ở Việt Nam, từ lâu đã có tranh luận về quan

hệ giữa người Mường và người Kinh Đôi khi, khó tách bạch được nghiên cứu khoa học với quan điểm về tư tưởng

[Grégoire Schlemmer]

Như vậy, ta luôn phải tự hỏi là xem xét vấn đề trên quan điểm nào Bạn là ai khi bạn nghiên cứu một nhóm dân tộc, những hiểu biết và quan điểm của bạn là gì? Tức là cần phải có một cái nhìn phản biện đối với chính bản thân với tư cách là nhà nghiên cứu

[christian culas]

Hiện nay, số người thuộc bộ tộc Lào (về văn hóa và ngôn ngữ) sinh sống ở Thái Lan còn nhiều hơn cả ở Lào Những người này gọi là Issan, « người Đông Bắc » Lý do rất đơn giản: vào các thế kỷ 17, 18, khi có các cuộc xung đột giữa các Nhà nước Lào, Thái Lan, Campuchia với mục tiêu của các bên là bắt dân Khi Thái Lan xâm lược Lào, hàng triệu người đã bị bắt

về Thái Lan và sau đó đã ở lại nước này

Trang 13

ngày học thứ nhất, chiều thứ hai

ngày 18/7

2.3.3 tên gọi của các dân tộc ở

Việt nam

[christian culas]

Để bổ sung cho nội dung sáng nay, tôi sẽ

trình bày về cách tiếp cận phân tích tên

gọi các dân tộc Chúng ta thấy là khởi thủy, những tên gọi đầu tiên thường là các tên gọi chung, chỉ các nhóm xã hội lớn, thường hiếm khi có liên quan đến các khái niệm về bản sắc của bản thân các nhóm dân tộc Vậy ai đã đặt

ra và sử dụng các tên gọi dân tộc? Các tên gọi

đó đã được đặt như thế nào, vào thời điểm nào trong lịch sử và nhằm mục đích gì?

« Tên gọi chung  » thường dễ hiểu, nó chỉ

một tập hợp các hiện tượng sự vật có hoặc

được cho là có các yếu tố tương đồng, gần

gũi, tức là thuộc cùng một nhóm Vậy thuật

ngữ chung nhất, tên gọi chung nhất mà

chúng ta đã nói đến sáng nay là « nhóm dân

tộc » hoặc « dân tộc thiểu số » Chẳng hạn,

thầy Grégoire đã nhắc tới trường hợp tên gọi

Akha mà người Lào sử dụng để gọi chung

cho khoảng 20 nhóm nhỏ khác nhau Ta thấy

là tên gọi chung thường rất mơ hồ: người ta

gộp chung vào một tập hợp những người

nhiều khi rất khác nhau

Đối với các nhà nhân học, phân biệt emic/etic

là một công cụ phân tích rất có ích[9] Emic

chỉ tất cả các cách nghĩ, cách làm được chính bản thân các cá nhân mô tả Ngược lại, etic chỉ cách nghĩ, cách mô tả hiện tượng sự vật của những người khác về bản thân các cá nhân đối tượng nghiên cứu

Ví dụ: Trước đây, tên gọi « người Mèo » được

sử dụng ở Việt Nam để chỉ người Hmong và

đây là tên gọi etic do người ngoài đặt ra Ở

đây người ngoài chính là người Việt Còn bản thân họ gọi họ là Hmong và đây là tên gọi

emic Nghiên cứu lịch sử tên gọi các nhóm

dân tộc, đặc biệt trong các tài liệu lưu trữ, cho thấy trước đây thường sử dụng các tên gọi rất chung chung Dần dần, các tên gọi trở nên cụ

[9] Để tìm hiểu lịch sử ra đời của hai thuật ngữ emic/etic, xin mời tham khảo tài liệu sau: Olivier de Sardan, J-P (1998), Emique, L’Homme, 147: 151-166 (http://www.percee.fr)

Từ các tên gọi chung đến các tên gọi emic

Nguồn: tác giả.

T tên ch ng lo i n tên “t g i”

- « Tên ch ng lo i » là tên g i ch m t nhóm v t c cho là có nh ng i m chung

Ví d : tên g i « các nhóm dân t c » là tên g i ch ng lo i, nó ch nhi u nhóm dân khác nhau nh ng

t t c u là « ng i dân t c »

- « Tên t g i» là tên mà chính các dân t c dùng g i mình Ta phân bi t thu t ng Emic (t )

ngh a là các cách mà nh ng ng i dân ngh ho c nói v chính b n thân h Và thu t ng Etic ( c)

là cách mà nh ng ng i ngoài (các nhà nghiên c u, Nhà n c, các d án phát tri n, các dân t c lân

c n…) ngh ho c nói v m t nhóm ng i ang c nghiên c u

• Ví d : « Mèo » = tên c g i (etic), « Hmong » = tên t g i (emic)

khung 13

Trang 14

thể hơn Người ta chuyển từ những tên gọi

chung rất rộng sang các tên gọi emic.

Hãy thử tiếp cận theo lịch đại Tôi sẽ so sánh

dân cư ở cùng một vùng nhưng ở các thời

điểm lịch sử khác nhau Biến số sử dụng ở đây

là mốc thời gian

Tình hình ở các tỉnh miền núi của Việt Nam

rất điển hình, người Kinh, hay còn gọi là người

Việt mới chỉ có mặt ở các vùng này trong những năm gần đây Vào thế kỷ 19, gần như không có người Việt ở thủ phủ các tỉnh miền núi phía Bắc Những người Kinh duy nhất

có mặt, và trong khoảng thời gian ngắn, là các quan lại, đại diện cho chính quyền hành chính có nhiệm vụ giám sát khu vực Đây là lý

do tại sao người Kinh hiểu biết rất ít về người miền núi

Bảng này tổng hợp tên gọi của các nhóm dân

tộc khác nhau mà chúng tôi tìm thấy trong

các tài liệu lưu trữ của Việt Nam Các bạn thấy

là hệ thống các tên gọi này bắt đầu có từ thế

kỷ 18 vì có rất ít thông tin về tên gọi của họ

trước mốc thời gian này

Trong tiếng Việt, Mọi có nghĩa là «  hoang

dã », « chưa được khai sáng văn minh » Đây

là cách gọi hay được dùng ở miền Nam Việt

Nam Cách gọi này đã được dùng trong gần

hai thế kỷ, sau đó đến đầu thế kỷ 20, tên gọi

của các dân tộc được rõ ràng hơn và dần tiến tới tên gọi emic Một trường hợp tương tự khác là người Mán Tên gọi này cũng có nghĩa

là chỉ những người « hoang dã » sinh sống ở các vùng phía Bắc của Việt Nam Đây là một

từ Hán Việt Đồng nghiệp của tôi, chị Hạnh sẽ trình bày chi tiết hơn về chủ đề này – xem thêm phần đóng khung trong bảng

Người Thổ cũng là một cộng đồng đa thành phần Ở một số vùng, người Mường cũng được gộp vào nhóm dân tộc Thổ Đây là một

Quá trình phát triển của các tộc danh ở Việt Nam

Quá trình phát tri n c a các t c danh Vi t Nam

Th k 18-19

Tày, Nùng, Giáy Hmong en Hmong Shi

Hmong Peb… Kinh ?

Nguồn: tác giả.

Trang 15

tên gọi rất thú vị bởi nó chỉ những người dân

địa phương, người bản địa (thổ dân), tức là

« những người sinh sống tại chỗ »

Cột 4 trong bảng liên quan đến tên gọi người

Mèo, tên gọi này được biến âm từ một từ

tiếng Hán «  miao  » Dưới thời Pháp thuộc,

người ta sử dụng tên gọi người Mèo và cả

tên gọi người Hmong Sau đó, tên gọi này

dần biến mất mặc dù vẫn còn vùng Tài-Mèo

với những đặc thù riêng như Hmong Trắng,

Hmong Đen, v.v

2.3.4 Định nghĩa và phân loại các

nhóm dân tộc ở Việt nam

[trần hồng hạnh]

Nhắc lại ba tiêu chí xác định các nhóm dân

tộc được chính thức sử dụng ở Việt Nam Các

tiêu chí này đã được giới thiệu vào phiên học

buổi sáng – xem thêm phần 2.3.2 Xác định

và phân loại các dân tộc:

- ngôn ngữ chung - Viện Dân tộc học xếp các

hệ ngôn ngữ vào ba nhóm riêng rẽ: ngữ hệ

Nam Á, ngữ hệ Hán - Tạng và ngữ hệ Nam

Đảo;

- các tập tục văn hóa – tiêu chí này được đánh

giá là mơ hồ và khó xác định (xem thêm Tập

tục thờ cúng tổ tiên do Grégoire Schlemmer

trình bày vào phiên học buổi sáng);

- ý thức cội nguồn – tiêu chí tham chiếu để

công bố danh sách các dân tộc Việt Nam

(xem thêm Quyết định số 121TCBKTCPB

ngày 2 tháng 3 năm 1979)

Trường hợp của người Dao

Người Dao ở Việt Nam gọi mình là Kiềm miền

(Kìm mùn), Dìu miền, Yù miền, Ìn miền, Bièo

miền Đây là các tên gọi tự nhận (tự danh),

tức là tên gọi mà mỗi cộng đồng tự nhận cho mình Các tên gọi « Kiềm, Kìm, Dìu, Yù, Ìn » đều

có nghĩa là « rừng », « Miền, Mùn » có nghĩa

là người

Tuy nhiên các tên gọi Kìm miền, Kìm mùn không rõ ràng vì người Dao không phải là nhóm dân tộc duy nhất sinh sống ở miền rừng; Dìu miền, Yù miền, Ìn miền, Bièo miền là các tên gọi Hán - Việt của người Dao

Đặt danh – tên gọi do một cộng đồng đặt cho một cộng đồng khác – rất khác nhau khi gọi tên người Dao – Động, Dạo, Dào, Xá, Mán, Trại, v.v.:

- Động: tên gọi phổ biến ở vùng Việt Bắc trước đây, đơn vị lãnh thổ có nghĩa là làng, thôn;

- Dạo hay Dào là các biến thể từ Dao, giống như trường hợp gọi người Hmong được gọi là Mèo, Mẹo;

- Xá thường được sử dụng ở các tỉnh Yên Bái

và Lào Cai, là tên gọi chung cho nhiều dân tộc ở vùng Tây Bắc, thường mang hàm ý coi thường, phân biệt chủng tộc;

- Mán chỉ một dân tộc « dã man » sinh sống

ở các vùng nằm ngoài lãnh thổ của dân tộc Hán – tên gọi mang tính phân biệt chủng tộc

Giống như nhiều nhóm dân tộc khác, tên gọi của mỗi nhóm thường gắn liền với lịch sử của nhóm đó: nhóm gốc Hoa, tranh luận về việc

họ đến Việt Nam vẫn còn để mở – từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13 theo một số tác giả Các dòng

di cư được quyết định theo vùng lựa chọn để lập cư: vùng Tây Bắc của Việt Nam – vào thế kỷ

12, theo đường bộ –; vùng Đông Bắc và một

số tỉnh miền Trung – từ thế kỷ 12 đến đầu thế

kỷ 20, chủ yếu bằng đường thủy

- Thế kỷ 13: người Dao quần trắng đến từ tỉnh Phúc Kiến đã di cư đến các tỉnh Quảng Yên, Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên

Trang 16

Quang; một số nhỏ di cư đến tỉnh Vĩnh Phú

hoặc các tỉnh Yên Bái và Lào Cai và có tên

gọi là Dao họ;

- Trong khoảng từ thế kỷ 15 đến thế kỷ

18: người Dao quần chẹt và Dao tiền di

cư từ Quảng Đông đến các tỉnh Quảng

Yên, Vĩnh Phú, Hà Tây, Hòa Bình, Yên Bái và

Tuyên Quang;

- Thế kỷ 17: người Dao thanh y từ tỉnh Quảng

Đông di cư đến Móng Cái, sau đó đi qua

Lục Ngạn, vượt sông Đuống để lập cư ở

Tuyên Quang; một phần di cư đến Yên Bái

và Lào Cai và mang tên Dao tuyển;

- Thế kỷ 17: người Dao đỏ và Dao tiền từ

Quảng Đông, Quảng Tây di cư đến Cao

Bằng, Bắc Kạn, Hà Giang và Tuyên Quang;

- Thế kỷ 18: người Dao đỏ di cư đến Lào Cai;

- Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20: người Dao lô

gang đến lập cư ở nhiều tỉnh của Việt Nam

Các bạn có thể thấy, trong các tên gọi này, từ

đầu tiên là tên gọi chung, là tự danh, từ thứ

hai chỉ phục trang của từng dân tộc

Hiện nay có khoảng 30 nhóm người Dao

đã được xác định ở Việt Nam Những nhóm

đông nhất gồm: Dao tiền, Dao đỏ, Dao quần

chẹt, Dao quần trắng, Dao thanh y, Dao cóc

ngáng, Dao cóc mùn, Dao làn tẻn Từ 30 năm

trở lại đây, có sự xuất hiện của người Dao ở

các tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh miền Đông

Nam Bộ Các dịch chuyển dân cư như vậy

đã làm phong phú thêm cho văn hóa của

người Dao

Jimreivat pattiya

Người Dao sinh sống ở nhiều vùng, từ vùng

núi phía Bắc đến các tỉnh Tây Nguyên, liệu đây

có phải là do chính sách của Nhà nước hay là

do di cư tự phát?

[trần hồng hạnh]

Khác với người Hmong, người Dao không di

cư có tổ chức Người Dao di cư chủ yếu vì lý

do kinh tế

Jimreivat pattiya

Tại Lào, chính phủ đã di người Hmong và người Dao sinh sống tại các khu rừng và vườn quốc gia ra khỏi khu vực sinh sống của họ Điều này đã gây nhiều tác hại tới lối sống của người dân thuộc hai dân tộc này

Lê hải Đăng

Viện Dân tộc học xác định có ba ngữ hệ trong khi Bảo tàng Dân tộc học cho rằng có năm ngữ hệ, tại sao lại có hiện tượng này?

Trang 17

nguyễn thị hà nhung 

Tôi thấy hình như tên gọi Dao là do người

Trung Quốc đặt ra

[trần hồng hạnh]

Các tên gọi Kim mun, Yu mien, v.v, cũng là các

tự danh – emic Các tên gọi này đều mang ý

nghĩa chung, chỉ « người sống ở miền rừng »

Các tên gọi này đều được phát âm là Dao

theo tiếng Hán-Việt

[christian culas]

Tôi xin kể một chuyện về tên gọi người Yao ở

Việt Nam Trong tài liệu « Đồng Khánh dư địa

chí », viết bằng chữ Hán, khi nói về người Dao

(Yao), người ta sử dụng chữ Hán Yao nhưng

đổi nét Nguyên trong tiếng Hoa, từ này được

viết với nét tị, nhưng sang tài liệu Việt Nam,

từ này được viết với nét nhân Người Việt đã

mượn chữ viết từ tiếng Hán nhưng không đọc

là Yao mà đọc là Dao và nét cũng bị thay đổi

Chúng ta thấy đây là logic của người ngoài:

chữ Hán được đưa vào Việt Nam, nhưng

không có quan hệ với bản thân người được

gọi, đây chỉ là cách chơi chữ của các nhà nho

người Trung Quốc và Việt Nam Đó là các tên

gọi thuần túy mang tính etic. 

[Grégoire Schlemmer]

Yao là một từ tiếng Hán, đây là một từ thú vị

vì nó chỉ một nhóm được xếp loại mang tính

chính trị hơn là dân tộc Ở đây là những nhóm

được miễn lao dịch cho nhà vua Thứ hai, mặc

dù đây không phải là tự danh, nhưng vì nó

còn mang một vị thế chính trị, nên xảy ra hiện

tượng có các nhóm dân, vào các thời điểm

nhất định, tự nhận mình là người Yao Thực tế

là ở cả Trung Quốc và Việt Nam, có các nhóm

thuộc ngôn ngữ Thái cũng được gộp vào

từ tỉnh Phongsaly

Định kiến thứ nhất: các dân tộc thiểu số là một tập hợp chung, ngầm hiểu là họ có các điểm chung kết nối họ với nhau, và phân biệt

họ với nhóm đa số

Theo phân loại chính thức của Lào, tỉnh Phongsaly có 13 nhóm dân tộc Theo các điều tra đã được thực hiện, với yêu cầu các cá nhân

tự nhận, tôi đếm được khoảng 40 tên gọi khác nhau từ các phỏng vấn thực hiện trong khoảng 150/600 thôn bản của tỉnh Phải lưu

ý là người Lào, bộ tộc đa số ở Lào, chỉ chiếm 3% dân số của tỉnh, tức là một nhóm thiểu

số rất nhỏ! Trong số vô số các nhóm đã được xác định, chúng ta sẽ xem xét trường hợp của người Tai Lue Người Tai Lue tạo thành một nhóm rất gần với bộ tộc Lào đa số xét trên tất

cả các điểm Để đơn giản, có thể nói tiêu chí phân biệt hai nhóm này là nguồn gốc chính trị của họ: người Tai Lue trước đây là thần dân dưới triều Sip Song Panna (Xishuanbanna theo tiếng Hán – hiện nay được gộp vào tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, sát biên giới với tỉnh Phongsaly) trong khi người Lào là thần dân của vương quốc Lan Xang, tên gọi cổ của Lào Như vậy, việc phân định các dân tộc chủ yếu dựa trên căn cứ mang tính chính trị Ngày nay, người Lào ở tỉnh Phongsaly gần với người Tai Lue sinh sống ở tỉnh này hơn là người Lào

Trang 18

ở các tỉnh phía Nam đất nước Cách ở, cách

mặc và ngôn ngữ giống nhau, họ sống cạnh

nhau và giao tiếp cùng nhau Tuy nhiên, trong

phân loại chính thức, có sự phân biệt rõ ràng

giữa hai nhóm này, người Lào là dân tộc đa số

và người Tai Lue là dân tộc thiểu số

Một ví dụ khác về những mập mờ trong cách

phân loại chính thức, trường hợp của bộ tộc

Ho (hoặc Haw) ở tỉnh Phongsaly Bộ tộc này

gần với người Hoa ở Việt Nam hơn người Ho

ở Thái Lan, vì họ thường là những người đi

xe ngựa từ Trung Quốc qua buôn bán, lại là

người theo đạo Hồi Ở Trung Quốc, họ được

gọi là người Hui, nhóm này tạo thành một bộ

tộc theo tín ngưỡng của họ Còn người Ho ở

Phongsaly thì sao? Chính thức thì họ là một

nhóm dân tộc Họ chấp nhận và tự nhận tên

gọi Ho, vì tên gọi này là đảm bảo cho nguồn

gốc Lào của họ, trên hết là phân biệt họ với

những người di cư người Hoa mới đến vùng

này Nhưng trong cộng đồng và trong ngôn

ngữ của họ, họ coi mình là người Hán, dân

tộc lớn thống trị ở Trung Quốc Như vậy,

người Ho, với số lượng rất nhỏ ở Lào, tự nhận

mình thuộc về một dân tộc có số lượng bằng

1/3 số người của cả nhân loại Qua hai ví dụ

trên có thể đặt câu hỏi đâu là tiêu chí để xác

định các nhóm dân tộc và các nhóm thiểu số

ở Lào? Nước này gộp vào một tập hợp các

nhóm trước đây được hình thành trên cơ

sở chính trị (Tai Lue), các nhóm hình thành

từ các luồng di cư nhưng lại tự nhận mình

thuộc về một dân tộc thống trị ở Trung Hoa

(Ho) và cả các nhóm như trường hợp của dân

tộc Akha/Ko?

Định kiến thứ hai: mỗi nhóm dân tộc lại tự tạo

thành một tập hợp đặc thù và riêng rẽ

Với một tỉnh như tỉnh Phongsaly, điểm mạnh

là dù diện tích nhỏ nhưng tỉnh này lại có

thành phần dân tộc rất đa dạng Tuy nhiên,

nghiên cứu các nhóm dân tộc ở tỉnh này cho thấy tất cả các nhóm có nhiều tập tục giống nhau – kể cả bộ tộc Lào, là bộ tộc đa số và không được xếp vào nhóm dân tộc thiểu số Như vậy, có những điểm tương đồng nằm ngoài nguồn gốc dân tộc Chẳng hạn, tất cả các nhóm dân tộc sinh sống ở tỉnh này có cùng một truyền thống tín ngưỡng liên quan đến tập tục vì họ sống trên cùng một lãnh thổ Các nhóm đều có ảnh hưởng lẫn nhau,

kể cả về kỹ thuật, cách mặc, cách ăn ở, v.v Như vậy, chúng ta đều hiểu là nghiên cứu từng dân tộc là quan trọng nhưng cần phải

có các nghiên cứu bổ sung về quan hệ giữa các dân tộc đó

Định kiến thứ 3: các dân tộc là các nhóm tồn tại vĩnh viễn, ít thay đổi

Nhưng thực tế, các dân tộc đều được sinh

ra, phát triển rồi mất đi Nghiên cứu sự vận động này của các dân tộc ở tỉnh Phongsaly

có những kết quả đặc biệt thú vị vì cách đây

2 thế kỷ, gần 3/4 dân số chưa đến lập cư tại tỉnh này: một lượng lớn đã di cư đến đây sau những cuộc nổi dậy đẫm máu của dân tộc Hui và dân tộc Taiping ở miền Nam Trung Quốc vào nửa sau thế kỷ 19 Các dòng di cư này đôi khi dẫn đến tình trạng thất lạc, mất liên lạc giữa các thành viên trong một nhóm,

vì họ đi theo nhiều hướng khác nhau, và do

đó dẫn tới hình thành các nhóm dân tộc mới Những người trước đây sống ở các vùng đồng bằng, định cư và trồng lúa nước nay cảm thấy bị sống cô lập ở miền rừng Như vậy, không nên cho rằng các nhóm dân tộc này không có lịch sử, chỉ có điều lịch sử đó không được viết ra Cũng không nên nghĩ rằng các nhóm này không thể thay đổi lối sống Lấy

ví dụ trường hợp người Hmong Dân tộc này

đa số sinh sống ở Trung Quốc Họ sống định canh định cư ở những ngôi làng lớn và từ lâu

đã canh tác lúa nước Ở Việt Nam, Thái Lan

Trang 19

và Lào, họ lại chủ yếu làm nương rẫy và sinh

sống ở các thôn bản trên núi cao Vì để trốn

khỏi những rối ren xảy ra ở vùng miền Nam

Trung Quốc, họ phải tìm cách thích nghi với

môi trường sống hoàn toàn mới là núi non và

lối sống mới để di chuyển và chạy trốn nhanh

nhất có thể Trong một vài thập kỷ, họ đã thu

nhập những thay đổi lớn vào lối sống Hơn

nữa, người ta vẫn luôn nghĩ rằng các nhóm

dân tộc sống theo kiểu tự cung tự cấp, khép

kín về kinh tế Tuy nhiên, nhìn lại biên niên

sử của Thái Lan và Trung Hoa, có thể thấy là

những người dân miền núi đã từng tham gia

vào các mạng lưới kinh tế quốc tế, qua việc

sản xuất bông vải, thuốc phiện, lâm sản, v.v

Để kết luận, xin nhớ rằng dân tộc là một khái

niệm mơ hồ, có nhiều tiêu chí, và các tiêu chí

không phải lúc nào cũng đi cùng với nhau Đó

có thể là một hình thức tập hợp ít nhiều mang

tính mục đích – dựa trên cơ sở di sản văn hóa

chung – nhưng cũng từ ý thức cội nguồn –

tức là có một phần chủ quan – và một vị thế tự

nhận hoặc được xây dựng thông qua quan hệ

với các nhóm lân cận Tính dân tộc được đặc

trưng bởi hiện tượng đa thực tế, luôn thay đổi,

cả về xã hội, chính trị và văn hóa

Vậy điều này sẽ có tác động thế nào về mặt

phương pháp luận khi nghiên cứu các nhóm

> Cần phải chú ý tránh nghiên cứu riêng rẽ các dân tộc Thay vào đó phải nghiên cứu đặt trong mối quan hệ với các dân tộc lân cận, coi các quan hệ đó như là yếu tố cấu thành tạo nên bản sắc của họ

ngày thứ 2, thứ ba ngày 19/7 2.3.6 Bản đồ các vương quốc vào thế kỷ 19 và phân vùng các họ ngôn ngữ

[Grégoire Schlemmer]

Hãy quan sát các bản đồ lịch sử và bản đồ phân bổ dân cư và xem xem các bản đồ này

sẽ giúp chúng ta như thế nào trong việc tìm hiểu các hình thức tập hợp nhóm dân tộc Các bản đồ này tập trung vào tỉnh Phongsaly của Lào Đây là bản đồ cư trú, trên toàn châu

Á, của các nhóm dân tộc hiện diện trong tỉnh

và của những người thuộc các họ ngôn ngữ khác nhau

Trang 20

Trên bản đồ của tỉnh Phongsaly, các bạn có

thể thấy phía Tây giáp tỉnh Xishuanbanna của

Trung Quốc – trước đây là vương quốc của

người Tai Lue, phía Đông giáp tỉnh Lai Châu

của Việt Nam được người Thái gọi là Mường Lay, xa hơn về phía Nam giáp Điện Biên Phủ Đây là vùng có địa hình núi cao, diện tích ruộng lúa rất ít

Trang 21

Đây là bản đồ các vương quốc đã được nhắc

tới ở trên: Sip Song Panna (vương quốc Lue),

Muang Lai và Muang Then – thuộc Sip Song

Chau Tai, 12 huyện đặt dưới quyền của dân

tộc Thái Trên bản đồ này chưa có Thái Lan, chưa có Lào hiện nay mà chỉ là một tập hợp các vương quốc không có biên giới rõ ràng

Phân định chính trị của nước Lào ngày nay vào thế kỷ 19

Chiang Mai, tiếp đó là xứ Nan, ở Myanmar, có

xứ Chiang Kaeng, ở Lào, là Luang Prabang và

Vientiane về phía Nam và Champassak

[Grégoire Schlemmer]

Ở đây, các trung tâm chính trị rất quan trọng, còn biên giới thường không rõ ràng, nhiều khi còn chồng lên nhau Chẳng hạn, xứ Tran Ninh – hay còn gọi là Xieng Khouang – phải cống nạp cho cả Hà Nội và Luang Prabang; Luang Prabang lại phải cống nạp cho Hà Nội, còn

Trang 22

Hà Nội lại phải cống nạp cho Trung Hoa hoặc

Siam Như vậy, có thể dễ dàng hình dung

những khó khăn trong việc đặt ra những biên

giới cố định vĩnh viễn để xác định các thực

thể chính trị sẽ thuộc vào đâu

[christian culas]

Việc phân định bằng bản đồ, có cột mốc biên

giới mới có ở khu vực Đông Nam Á lục địa

Các nhà nước kiểm soát các vùng gần kinh

đô, các vùng đồng bằng trồng lúa, còn ít kiểm

soát các vùng trung du, miền núi – ngoại trừ

việc gửi quan thái thú Biên giới đầu tiên giữa

Việt Nam và Trung Quốc được phân định vào

thế kỷ 19 Biên giới giữa Thái Lan và Lào cũng

được phân định vào thời kỳ này Có các khu

kiểm soát bởi người Siam, người Pháp, người

Lào, người Anh Như vậy, trong suốt một thời

gian dài, người dân sinh sống ở các vùng này

rất ít bị kiểm soát Sau đó, việc phân định biên giới đã khiến người dân bị đẩy sang Lào hoặc sang Thái Lan, v.v

[Grégoire Schlemmer]

Tiếp cận lịch sử là phương pháp chính yếu khi nghiên cứu về các nhóm dân tộc Cần phải nhớ là các nhà nước hiện nay là các hình thái mới có Vào thế kỷ 19, việc kiểm soát lãnh thổ

và dân cư không quan trọng bằng kiểm soát sưu thuế Điều này cũng góp phần giải thích tại sao khu vực này lại có thành phần dân tộc

đa dạng như vậy: vào thời kỳ đó, không có ý định thống nhất dân cư để quản lý hoặc để lao động chung Hơn nữa, sự đa dạng về văn hóa và ngôn ngữ có thể là căn cứ để duy trì

sự phân biệt về chính trị và kinh tế – văn hóa của dân tộc và tầng lớp tinh hoa thống trị sẽ trở nên nổi trội

Trang 23

Phân bổ dân cư thuộc hệ ngôn ngữ Môn-Khmer

LAOS THAILAND

CAMPUCHEA CAMBODGIA

LAOS THAILAND

CAMPUCHEA CAMBODGIA

Đây là bản đồ phân bổ dân cư thuộc ngữ hệ Nam Á, bao gồm Campuchia, Việt Nam, một nửa của Lào, một phần của Myanmar và trải dài tới Ấn Độ Ta có thể thấy đây là địa bàn

cư trú liên tục hoặc chia theo khối, tạo cảm giác có một mức độ đồng nhất về văn hóa

Bản đồ này cho thấy chúng ta phải thận trọng khi nghiên cứu các họ ngôn ngữ trên góc độ văn hóa xã hội: không phải vì người ta nói các

thứ tiếng thuộc về cùng một họ ngôn ngữ

mà người ta có những điểm chung Xét trên bình diện xã hội và văn hóa, các dân tộc này

có mức độ đa dạng rất lớn, có dân miền xuôi, dân miền núi, lập nên những vương quốc lớn hay tập hợp thành những nhóm nhỏ đơn lẻ,

bị ảnh hưởng bởi văn hóa Trung Hoa hoặc Ấn

Độ, có các tôn giáo khác nhau, v.v

Ngày đăng: 08/11/2019, 19:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w