Thông qua bài viết này, tác giả muốn giới thiệu sơ lược tới bạn đọc về ba nhánh Kinh tế học tiến hoá, Kinh tế học hành vi và Kinh tế học phức hợp để cung cấp một cái nhìn tổng quan về c
Trang 1Sơ lược về Kinh tế học Tiến hoá, Kinh tế học Hành vi, và Kinh tế học Phức
hợp: Những luồng gió phi chính thống mới
Lê Anh Khánh Minh
Giữa lúc Kinh tế học chính thống vẫn còn đang thống trị, kể từ thế kỷ XIX, Karl Marx và Thorstein Veblen đã là những người tiên phong trong việc thách thức những tư tưởng của Kinh tế học chính thống Xuyên suốt hơn 150 năm, trải qua bao sự kiện lịch sử, kinh tế và khoa học, Kinh tế học chính thống vẫn tiếp tục thống trị, nhưng đã ít nhiều xuất hiện những lời phê bình về tính đơn giản hoá thực tế của nó Trong khi đó, những trường phái mới hơn, phi chính thống, cố gắng đưa ra những quan sát, phân tích xác thực hơn với thực tế, đang dần tìm được vị thế của mình Thông qua bài viết này, tác giả muốn giới thiệu sơ lược tới bạn đọc về ba nhánh Kinh tế học tiến hoá, Kinh tế học hành vi
và Kinh tế học phức hợp để cung cấp một cái nhìn tổng quan về cách các trường phái phi chính thống tiếp cận với phân tích kinh tế
Trang 2Table of Contents
1 Khung vi mô-trung dung-vĩ mô (Micro-meso-macro framework -
2 Cấp độ tầm trung và phân loại quy luật (meso level and rule taxonomy)
16
4 Nền kinh tế là hệ thống phức hợp (the economy as complex system) 22
5 Phân tích mạng lưới xã hội (Social network analysis – SNA) 23
6 Truyện ngụ ngôn về hai người thợ đồng hồ (The parable of two
7 Quá trình đồng tiến hoá (co-evolutionary process) 24
8 Sự phụ thuộc quá trình (path dependency) và hiện tượng an bài trong hệ
9 Sự phá huỷ sáng tạo (creative destruction), đổi mới căn nguyên và đổi mới tăng dần (radical versus incremental innovation) 26
10 Sự phổ biến của thói quen và quy luật (ubiquity of habits and rules) 27
11 Sự duy lý trong giới hạn (bounded rationality) 27
Trang 3I Giới thiệu
Trong ấn phẩm “Thế giới mới phức hợp – Diễn dịch tư tưởng kinh tế học mới vào chính sách công”1 của Viện Nghiên cứu Chính sách công IPPR2 ở Anh, nhà kinh tế học John Kay, trong lời mở đầu của ấn phẩm, đã khẳng định rằng,
Kinh tế học phức hợp (complexity economics), Kinh tế học tiến hoá (evolutionary economics) và Kinh tế học hành vi (behavioural economics) là
những lĩnh vực mới nổi, đồng thời cũng là tương lai của môn Khoa học Kinh
tế Khi thế giới trở nên hỗn mang (chaotic), bất trắc (uncertain), và biến động (turbulent), được đặc trưng bởi các rủi ro (risk) và khủng hoảng (crisis) tiềm ẩn đâu đó trong nền kinh tế, các lý thuyết kinh tế truyền thống (mainstream, orthodox) có vẻ thất thế trong việc giải thích và dự đoán hành vi con người và
chuyển động của nền kinh tế Thật khó để công nhận trong thực tế rằng con người luôn hành động hoàn toàn vị kỷ và lý tính, có đủ mọi thông tin và có khả năng tính toán chi phí – lợi ích một cách chính xác để đưa ra các quyết định nhằm tối đa hoá lợi ích của mình Trái lại, chúng ta là những sinh vật cảm tính
và vị tha ở một mức độ nào đó và tuỳ theo ngữ cảnh; không phải lúc nào ta cũng có đầy đủ thông tin – đôi khi cái giá người ta phải bỏ ra để sở hữu thông tin là rất đắt, như giá dịch vụ nghiên cứu thị trường hay thời gian bỏ ra để học đại học; đồng thời, ta cũng không xuất sắc trong việc tính toán lợi ích – chi phí của mỗi hành vi ta làm, nhất là khi các lợi ích và chi phí này tiềm ẩn hoặc chỉ được hiện thực hoá sau một thời gian nhất định, như khi ta quyết định có nên dành thời gian ăn kiêng - tập thể dục, bỏ thuốc lá, hay khấu trừ một phần thu nhập để tiết kiệm cho mai sau
Chính bởi tính phức tạp và khó dự đoán của hành vi con người mà các luồng tư tưởng truyền thống trong kinh tế học ngày nay thu hút nhiều sự quan tâm và tranh luận về tính ứng dụng của nó trong việc giải thích hành vi con người Từ đây, nhiều trường phái mới phát sinh và tạo thành bộ phận tư tưởng mới được
gọi dưới những cái tên như “phi truyền thống” (heterodox) hay “tư tưởng kinh
tế mới” (new economic thinking) Trong ấn phẩm “Thế giới mới phức hợp”,
kinh tế học phi truyền thống bao gồm nhiều nhánh khác nhau, có thể kể đến
như Kinh tế học phức hợp (complexity economics), Kinh tế học tiến hoá (evolutionary economics), Kinh tế học thể chế (institutional economics), Kinh
tế học nhiệt năng (thermoeconomics), Kinh tế học sinh thái (ecological economics), cùng nhiều nhánh khác Tựu chung lại, chúng đều có hai kết luận
1 Tên gốc: “Complex New World – Translating new economic thinking into public policy” (2012):
into-public-policy
https://www.ippr.org/publications/complex-new-world-translating-new-economic-thinking-2 Tên gốc: Institute for Public Policy Research, là một think-tank cánh tả cấp tiến ở Anh, chuyên
nghiên cứu và tham mưu chính sách dựa trên ý tưởng về một thế giới bình đẳng, dân chủ và bền vững: https://www.ippr.org
Trang 4chung nhất: một, các chuyển động tầm vĩ mô không đơn giản là sự cộng gộp tất
cả các chuyển động ở tầm vi mô; khi phân tích một nền kinh tế, phải xem xét chủ thể đơn lẻ và cả những tương tác giữa chúng trong mạng lưới; hai, kinh tế học phi truyền thống không giả định một trạng thái cân bằng tĩnh; thay vào đó, nền kinh tế luôn luôn biến đổi do có các tương tác và cải tiến không dự đoán trước, nên sẽ có những thời kỳ biến động và bình ổn trong nền kinh tế (IPPR, 2012)
Bài viết này sẽ giới thiệu về ba nhánh tư tưởng được IPPR dự đoán là tương lai của Khoa học Kinh tế: Kinh tế học phức hợp, Kinh tế học tiến hoá, và Kinh tế học hành vi Trong đó, nhánh Kinh tế học tiến hoá sẽ được tập trung hơn vì đây
là nhánh đưa những luận giải quan trọng cho cả nền kinh tế nói chung Bố cục của bài viết được trình bày như sau: Đầu tiên, bài viết sẽ đi vào giới thiệu sơ lược nguồn gốc và quá trình phát triển của các nhánh đã đề cập Tiếp đến, bài viết tóm tắt các ý tưởng chính của các nhánh này, đồng thời so sánh với các giả định truyền thống và với thuyết tiến hoá trong sinh học Sau đó, bài viết xin được nêu ra một số lý thuyết tiêu biểu và những nhà tư tưởng đã có đóng góp quan trọng cho các nhánh này trong quá khứ và hiện tại Cuối cùng, bài viết sẽ điểm qua ý nghĩa của Kinh tế học phức hợp, - tiến hoá, và - hành vi trong đời sống và hoạch định chính sách
Trang 5II Nguồn gốc
Mặc dù những nhánh kinh tế học phi truyền thống có vẻ chỉ mới nổi lên trong những thập niên gần đây, các ý tưởng của chúng đã manh nha và rải rác xuyên suốt dòng chảy tư tưởng kinh tế Trong những buổi đầu của Khoa học Kinh tế, Adam Smith đã có những công trình khắc hoạ khía cạnh tâm lý, đạo đức và tư duy của con người, đồng thời trình bày và phân tích về các khái niệm công lý,
lề thói và xu hướng xã hội, tiêu biểu như trong “Lý thuyết về Cảm xúc Đạo
đức” (The theory of moral sentiments, 1759) và “Các bài giảng về Công lý, Cảnh sát, Doanh thu, và Quân đội” (Lectures on justice, police, revenue, and arms, 1763) Như vậy, từ giai đoạn khởi thủy của đã có một sự công nhận nhất
định rằng con người không đơn giản là sinh vật chỉ biết tính toán duy lý cho bản thân theo nhu cầu cá nhân, mà ở một mức độ nào đó, chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố tâm lý như cảm xúc, lòng tốt, tính vị tha, và bởi tác động từ xã hội dưới dạng các phong tục, lề thói, xu hướng
Trong suốt một thập kỷ sau đó, các trường phái truyền thống lần lượt ra đời và thống trị cách tư duy trong Kinh tế học, chủ yếu là bởi trường phái Cổ điển và Tân cổ điển Mãi đến giữa thế kỷ 19, mới xuất hiện một số luồng tư tưởng thoát ra khỏi các giả định cho rằng con người ích kỷ và duy lý – tiêu biểu là Karl Marx và Thorstein Veblen Karl Marx, trong ba quyển “Chủ nghĩa Tư bản
(Capitalism, 1867, 1885, 1894), đã phát biểu rằng sự vận động và phát triển
của xã hội là từ quá trình mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp để giành quyền sở hữu vật liệu và tư liệu sản xuất Sau khi các công trình của Marx ra đời được
độ hai thập kỷ, Thorstein Veblen, người được xem là tiên phong của trường phái Thể chế, đã viết nên các tác phẩm khắc hoạ và phê phán tầng lớp hưởng thụ trong xã hội tư bản, và chỉ ra rằng các hành vi của tầng lớp này bị chi phối nặng nề bởi những lề thói xã hội; các cá nhân trong xã hội thường chi tiêu để
phô trương (conspicuous consumption) cho những thú vui phô trương (conspicuous leisure) không chỉ nhằm mục đích mang lợi ích vật chất cho bản
thân mà còn là để chứng tỏ sự giàu có và địa vị xã hội của họ Nhìn kỹ vào bối cảnh lịch sử của hai nhà tư tưởng lớn này, ta có thể dễ dàng hiểu được vì đâu
họ có thể phát triển nên những tư tưởng đó Ở thời của Marx, chủ nghĩa tư bản
đã có hơn 300 năm tồn tại ở châu Âu, Cách mạng công nghiệp lần thứ nhất cũng đã diễn ra được nhiều thập kỷ, xã hội đã bắt đầu có sự phân tầng thành nhiều nhóm người với thu nhập và của cải khác nhau Diễn biến kinh tế - xã hội đương thời, cộng với gốc gác và nền giáo dục Đức chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội học Pháp, đã có tác động sâu sắc đến tư tưởng của Marx về giai cấp
Trang 6Ở bờ bên kia Đại Tây Dương, những thập kỷ sau của thế kỷ 19 chứng kiến nền kinh tế công nghiệp Hoa Kỳ phát triển sôi động trong sự manh nha của Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, xã hội từ đó cũng có của cải dư thừa, sự giàu có, và sự phân hoá giai cấp Từ đây, Veblen đã quan sát được một tầng lớp sung túc, không lao động, và thích tiêu khiển, được ông gọi là “tầng lớp nhàn
rỗi” (leisure class) trong cuốn “Lý thuyết về Tầng lớp Nhàn rỗi” (The theory of the leisure class, 1899) Tầng lớp này được xem là không tạo ra giá trị thông
qua lao động, nhưng việc tiêu dùng của họ tạo ra nhu cầu đối với hàng hoá xa
xỉ và nhu cầu về lao động là những người phục vụ trong gia đình Hành động tổ chức những buổi tiệc và thú vui xa hoa, và mời nhiều bạn bè đến tham gia được Veblen xem là bị ảnh hưởng bởi mong muốn được công nhận về sự giàu có và địa vị xã hội của họ, chứ không nhằm thoả mãn lợi ích cá nhân như trường phái Tân cổ điển dự đoán Như vậy, kể từ Marx và Veblen, Kinh tế học mới có sự nhìn nhận nghiêm túc hơn đối với các yếu tố ngoài phạm vi cá nhân của chủ thể kinh tế Nói cách khác, giai cấp, lề thói, quan niệm, xu hướng, văn hoá, lịch
sử và nhiều yếu tố xã hội khác, đều có ảnh hưởng đến quyết định và hành vi kinh tế của con người
Có thể nói, Marx và Veblen là những tiếng nói mạnh mẽ phê phán giả định cho rằng con người ích kỷ và duy lý của trường phái truyền thống, mở đường cho
tư tưởng con người bị chi phối bởi cảm xúc, giới hạn nhận thức, ngoại cảnh và tình trạng thiếu thông tin trong những trường phái sau này Kế thừa sự tách rời khỏi tư tưởng truyền thống như Marx và Veblen, Kinh tế học hành vi, Kinh tế học tiến hoá và Kinh tế học phức hợp đều có cùng những giả định và kết luận
về chủ thể kinh tế và nền kinh tế Trong những năm 1870, lý thuyết về nguồn gốc các loài, đặc biệt là ý tưởng chọn lọc tự nhiên của Charles Darwin nhận được nhiều sự chú ý và chấp nhận của cộng đồng khoa học Đây cũng là bước ngoặt tạo tiền đề cho Veblen viết nên “Vì sao Kinh tế học không là một môn
Khoa học tiến hoá?” (Why is Economics not an Evolutionary Science?) vào
năm 1898, là tác phẩm lần đầu tiên giới thiệu ý tưởng tiến hoá và chọn lọc vào Khoa học Kinh tế Trong thế kỷ nối tiếp, nhiều cái tên và tư tưởng ra đời, mang đến những quan sát và kết luận không thống nhất với những nhánh truyền thống hơn, có thể kể đến một số trường phái tiêu biểu là trường phái
Schumpeter (Schumpetarianism), Keynes3 (Keynesianism), và Hành vi lần lượt
ra đời Nếu như Schumpetarianism xuất hiện vào năm 1919 giữa quá trình
Cách mạng công nghiệp lần thứ hai, dẫn tới khái niệm “sự phá huỷ sáng tạo”
(creative destruction) bởi tiến bộ khoa học, thì Keynesianism sinh ra từ cuộc
3 Mặc dù tư tưởng của Keynes vẫn thường được nhắc đến như một bộ phận trong Kinh tế học chính thống, John Foster cho rằng Keynes mang hơi hướm phi chính thống nhiều hơn, hoặc ít ra
là “tích hợp tân cổ điển” Đọc thêm bài nghiên cứu “Vì sao Kinh tế học không là một môn Khoa học
Trang 7Đại khủng hoảng 1929 – 1932 và thất bại của niềm tin truyền thống về một thị trường có tự thể điều chỉnh, còn Kinh tế học hành vi ra đời giữa những năm
1960 khi tâm lý học nhận thức bắt đầu khởi sắc và nhận được nhiều sự chú ý
Vào cuối thế kỷ 20 và những thập niên đầu thế kỷ 21 đến nay, thế giới chứng kiến nhiều phát minh và cải tiến công nghệ lớn, có khả năng thay đổi diện mạo nền sản xuất và cách tổ chức trong nền kinh tế, đồng thời trải qua Khủng hoảng toàn cầu 2008 và nhiều cuộc khủng hoảng ở quy mô khu vực hoặc có hệ quả yếu hơn (Khủng hoảng tài chính châu Á 1997, Bong bóng Y2K năm 2000, Khủng hoảng nợ công châu Âu 2010-2014) Công nghệ có thể khiến những ngành công nghiệp từng rất đồ sộ như bưu tín bị thu nhỏ lại, các đại lý du lịch mất khách hàng, hay vô số taxi truyền thống phải điêu đứng Công nghệ có thể đẩy nhanh và tối ưu hoá chi phí của quá trình sản xuất, đồng thời hỗ trợ quản lý thông tin hàng hoá, con người trong công ty, và cung cấp công cụ để tiếp thị ít chi phí Bên cạnh hệ quả lạc quan của việc tăng năng suất và thu nhập, giảm chi phí sản xuất và vận hành, phát triển công nghệ và kinh tế còn mang đến nhiều thách thức mới đối với con người như các vấn đề môi trường, công bằng
xã hội, an ninh mạng và bảo mật, và sự tiềm ẩn, khó đoán của những cuộc khủng hoảng ở mọi cấp độ Trong bối cảnh một thế giới có quá nhiều biến thay đổi và ít hằng số cố định như hiện nay, thế giới mang đặc tính phức tạp, hỗn mang và khó dự đoán, nhiều nhánh kinh tế học mới cũng ra đời để phục vụ mục đích đưa ra lời giải thoả đáng cho hành vi con người, tìm hướng giải quyết cho các vấn đề tồn đọng, và dự đoán hành vi con người và nền kinh tế nhằm đưa ra những động thái chính sách phù hợp Các nhánh kinh tế nhận được nhiều sự chú ý trong những năm gần đây (mặc dù đã được ra đời trước đó) có
thể điểm qua là Kinh tế học xanh (Green economics), Kinh tế học cải tiến (Innovation economics), Kinh tế học chia sẻ (Sharing economics), Kinh tế học sinh thái (Ecological economics), Kinh tế học thông tin (Information economics) và Kinh tế học nhiệt năng (Thermoeconomics) Tất cả những nhánh
mới này đều phản ánh con người và xã hội thực tế bây giờ, cùng với những vấn
đề đương đại, một cách chính xác và thực hơn
Trang 8III Ý tưởng chính
Trong ấn phẩm “Thế giới mới phức hợp – Diễn dịch tư tưởng kinh tế học mới vào chính sách công”, Geoffrey Hodgson đã khẳng định rằng mặc dù các nhánh phi truyền thống như Kinh tế học tiến hoá thiếu một định nghĩa lý thuyết nhất quán, chúng đã và đang là một luồng suy nghĩ mạnh mẽ trong Khoa học Kinh tế, thu hút vô số các nhà nghiên cứu khắp thế giới và tạo nên một thách thức lớn đối với những trường phái truyền thống
Những nhánh phi truyền thống có sự khác biệt cơ bản so với các nhánh chính thống trên nhiều bình diện Đầu tiên, hai trường phái truyền thống và phi truyền thống có cách nhìn đối lập nhau về bản chất con người chủ thể kinh tế
Trường phái truyền thống khắc hoạ con người kinh tế (homo economicus) sở hữu sự duy lý và khả năng tính toán hoàn hảo (perfect rationality and computational ability) – đó là những sinh vật vị kỷ (self-interested) và luôn tìm kiếm sự tối ưu hoá lợi ích cá nhân (utility-maximising) Hành vi của họ là tìm
cách tối ưu hoá phúc lợi cá nhân, dưới sự giới hạn nguồn lực nhất định Ngược lại, trường phái phi truyền thống cho rằng, con người còn là sản phẩm của sự cảm tính, của quá trình, và của ngữ cảnh Ý tưởng này tương thích với góc nhìn của Veblen rằng con người là sinh vật của thói quen, tuân theo những quy luật
và lề thói tiềm ẩn trong xã hội (socially embedded rules and habits) một cách
vô thức Trong Veblen và Kinh tế học tiến hoá, chúng ta không đơn giản tiến hành một quá trình quy củ và có hệ thống, bắt đầu bằng việc tìm kiếm thu thập thông tin từ môi trường, tính toán và so sánh lợi ích – chi phí của từng lựa chọn hay viễn cảnh, rồi đưa ra quyết định Những hành động của chúng ta thường được rút ra từ một tập hợp các thói quen và trải nghiệm sẵn có Khi một thói quen hay trải nghiệm trong quá khứ được sử dụng để hỗ trợ cho việc ra quyết định ở hiện tại, thì thói quen/trải nghiệm đó càng có xác suất cao hơn được sử dụng lại cho tương lai Việc bây giờ sử dụng một kiến thức đã học được trong quá khứ sẽ củng cố khả năng chúng ta dùng lại nó trong tương lai Như vậy, Veblen cho rằng, con người không đưa ra một danh sách các lựa chọn được sắp
xếp theo ưu tiên (ranked preference), mà hành động dựa trên một tập hợp các
thói quen/trải nghiệm gặt hái trong cuộc sống, với xác suất khác nhau (Veblen, 1898)
Thứ hai, các nhánh kinh tế học phi truyền thống còn có quan điểm khác về thông tin trong nền kinh tế Trong phân tích kinh tế truyền thống, môi trường được giả định là đạt trạng thái thông tin hoàn hảo, nghĩa là tất cả mọi chủ thể kinh tế đều nắm rõ tất cả các thông tin về mọi thứ trong thị trường để đưa ra quyết định sao cho tốt nhất cho lợi ích của họ Như vậy, trong nền kinh tế, tất
cả thông tin, dữ liệu như giá cả, số lượng cầu, số lượng cung, số người bán, số
Trang 9người mua, mức giá nào sẽ giúp nhà sản xuất thu hồi vốn, mức giá nào sẽ làm cho người tiêu dùng mua nhiều nhất, đều có sẵn trong thị trường, mặc định là tất cả mọi cá nhân tham gia thị trường đều biết rõ Tuy nhiên, trạng thái này không tiệm cận với trạng thái thực tế khi thông tin trong thị trường không phải lúc nào cũng có sẵn Hầu như trong tất cả các quyết định, khâu tìm kiếm thông tin đều có chi phí của nó, dù là ở dạng nguồn lực tài chính hay thời gian, công sức Trong tình trạng thiếu thông tin, Herbert Simon (1972) đã chỉ ra rằng, con
người chỉ sở hữu một sự duy lý giới hạn (bounded rationality) và một tập hợp
thông tin có sẵn nhất định Vì lẽ đó, thế giới thực sẽ tồn tại chi phí trao đổi
(transaction cost), chi phí tìm kiếm (search cost), chi phí thay đổi lựa chọn (switching cost), chi phí điều chỉnh quan điểm và hành vi (cost of changing mindset and behaviour), chi phí tiếp thị để đưa sản phẩm đến khách hàng tiềm năng (marketing cost), và rào cản gia nhập và rời khỏi thị trường (barriers to entry and exit) Tất cả những chi phí trên dược Kinh tế học tiến hoá gọi là vấn
đề về kiến thức (problems of knowledge)
Thứ ba, các nhánh kinh tế học phi truyền thống không kết luận rằng nền kinh tế
có xu hướng tiệm cận về một trạng thái cân bằng Kinh tế học chính thống sẽ phát biểu rằng, sau một thay đổi trong nền kinh tế, như là thay đổi về giá, nền kinh tế sẽ dần tự sắp xếp, điều chỉnh để trở về trạng thái ban đầu trước khi biến động đó xảy ra Quan điểm này phản ánh cách nhìn về thời gian là lô-gic và có thể tái lặp (Robinson, 1980) Theo nghĩa này, bất kỳ một sự kiện tương lai nào cũng có thể được dự đoán dựa trên một xác suất có sẵn Tuy nhiên, các nhánh phi chính thống gần đây phủ nhận cách nhìn này, và xem dòng chảy thời gian
là không thể quay lại được Như thế, bất kỳ biến động nào trong hệ thống kinh
tế không thể dẫn ngược về trạng thái trước đó, mà đến một trạng thái mới với các thói quen mới và xác suất mới Như Bausor (1982, 1984) và Shackle (2010) đã nhấn mạnh, một lựa chọn cụ thể có thể tạo ra những thông tin mới, kết quả này sau đó sẽ thay đổi nhận định và cái nhìn của người đưa ra quyết định, khiến họ thay đổi lựa chọn trong những giai đoạn sau đó, tạo ra một vòng lặp không hồi kết Kinh tế học tiến hoá cũng đề cao vai trò của lịch sử và thể
chế trong tiến trình phát triển kinh tế, gọi là sự phụ thuộc quá trình (path dependency) Những cú sốc nhỏ trên nền kinh tế có thể dẫn đến sự thay đổi lớn trong dài hạn, tạo ra những sự “an bài” trong hệ thống (system lock-in) khiến
cho việc quay trở lại và thay đổi quyết định trở nên bất khả thi Vì vậy, Kinh tế học tiến hoá không phân tích nền kinh tế bằng cách tiếp cận trạng thái cân bằng Thay vào đó, các trường phái này khắc hoạ hệ thống kinh tế là những tương tác và quá trình lựa chọn các quy luật, lề thói trong những quyết định và
hành vi, là một quá trình đồng tiến hoá của những quy luật (co-evolutionary
Trang 10process) Theo lẽ đó, tiến trình phát triển kinh tế về bản chất là sự tiến hoá về
tri thức, tồn tại ngầm trong nền kinh tế và xã hội
Bảng 1 So sánh Kinh tế học chính thống và Kinh tế học phi chính thống
Kinh tế học chính thống
Kinh tế học tiến hoá và các nhánh phi chính thống khác
Về bản chất con người Con người là những sinh
vật vị kỷ và tối ưu hoá dụng ích cá nhân, sở hữu
sự duy lý tuyệt đối và khả năng tính toán hoàn hảo
Con người là sản phẩm của ngữ cảnh, thói quen
và sự duy lý có giới hạn; hành vi con người được rút ra từ một tập hợp các thói quen, dựa trên xác suất các thói quen đó đã được chọn trong quá khứ
Về thông tin Thông tin hoàn hảo, cân
xứng giữa mọi đối tượng trong nền kinh tế, không tốn chi phí thu thập thông tin hay thay đổi quyết định
Chỉ có một số thông tin
là có sẵn; tồn tại các vấn
đề của thông tin như chi phí giao dịch, tìm kiếm, thay đổi lối sống, tiếp thị, và rào cản gia nhập, rời khỏi
Về thời gian Thời gian có thể quay
ngược lại được; các sự kiện tương lai diễn ra dựa trên xác suất đã định sẵn; lịch sử và quá trình không liên quan
Thời gian lịch sử, không thể đảo ngược; một số
cú sốc nhỏ trong nền kinh tế có thể dẫn đến thay đổi lớn hay những
an bài trong hệ thống; lịch sử và thể chế có liên quan; các thông tin mới
có thể dẫn đến quyết định khác
Về nền kinh tế Nền kinh tế có xu hướng
tiệm cận về lại trạng thái cân bằng sau các cú sốc
Không có trạng thái cân bằng; nền kinh tế không thể trở lại chính xác trạng thái ban đầu trước
cú sốc; quá trình đồng tiến hoá của thông tin, quy luật và lề thói là yếu
Trang 11tố khiến nền kinh tế thay đổi
Nói về Kinh tế học tiến hoá, về bản chất, ý tưởng của nhánh này được lấy cảm hứng từ Học thuyết Darwin trong sinh học, lấy đó làm nền tảng cho các tư tưởng sau này Có sự tương quan trong các hiện tượng và quá trình giữa Sinh học tiến hoá và Kinh tế học tiến hoá Nếu như đơn vị phân tích cơ bản của sinh học là gen và vật liệu di truyền, thì đổi tượng phân tích của Kinh tế học tiến hoá là các quy luật và thói quen (Boulding, 1983) Theo định nghĩa của Dopfer
và Potts (2015), quy luật là một ý tưởng chi phối và sắp xếp các hành vi và nguồn lực trong nền kinh tế, nghĩa là các hành vi và nguồn lực kinh tế là sản phẩm của các quy luật Không nên hiểu quy luật là những điều mang tính bắt
buộc, quy định hành vi con người Ở đây, quy luật (rules) cần được hiểu như
một cách thức vận hành và một cách sắp xếp các chủ thể, vật thể trong hệ thống với nhau Quy luật có thể ở dạng quy luật về nhận thức, hành vi, tập thể hay kỹ thuật, được giải thích rõ hơn ở phần sau
Ví dụ, ở mức độ cá nhân, quy luật và thói quen là những kiến thức, thông tin trong ngữ cảnh kinh tế-xã hội mà có khả năng định hình nhận thức, hành vi, tục
lệ tập quán, và lề thói Ở mức độ doanh nghiệp, quy luật và thói quen là những thứ quyết định cấu trúc doanh nghiệp, văn hoá tổ chức, trình độ công nghệ và
cả các tính năng của hàng hoá, dịch vụ mà công ty cung cấp cho thị trường Ở mức độ cộng đồng, quy luật là các quan điểm, văn hoá, thuần phong mỹ tục trong xã hội, quy định những điều nào nên làm hay không, hoặc trình độ công nghệ, hiểu biết của cả xã hội Những quy luật, thói quen này ban đầu là những
hiện tượng nổi lên (emergent phenomena) và được sinh ra từ xã hội (socially sourced), mặc dù trước đó chúng có thể bắt nguồn từ những thử nghiệm ở cấp
độ cá nhân (individual experimentation) (Earl, 2017) Song song với quá trình
truyền gen tới các thế hệ sau, Kinh tế học tiến hoá cũng có sự truyền đi các quy luật và lề thói trong nền kinh tế theo thời gian Các đột biến được nhìn tương tự như các đổi mới cải tiến, là sự ra đời của các quy luật và lề thói mới trong hệ thống kinh tế phức hợp Cải tiến làm thay đổi cục diện thích ứng và cạnh tranh của những quy luật mâu thuẫn nhau Điều này khiến cho bất kỳ quy luật hay lề thói nào có thể thích ứng và cạnh tranh tốt nhất sẽ được giữ lại trong hệ thống
và được nhân lên bởi những cá thể mang quy luật (rule carrier), giúp việc
khuếch tán các quy luật này ra rộng hơn Quá trình thay đổi các quy luật này cũng chính là quá trình phát triển tri thức, và là động cơ cho phát triển kinh tế
Bảng 2 So sánh Thuyết tiến hoá và Kinh tế học tiến hoá
Học thuyết tiến hoá Kinh tế học tiến hoá
Trang 12sinh học Darwin Đơn vị phân tích là Gen và vật chất di truyền Quy luật như là những
hiện tượng ngầm trong
xã hội
Quá trình, vận động
là
Sự chọn lọc và di truyền các gen có thể thích nghi tốt nhất với các thay đổi ngoại cảnh
Sự cạnh tranh, chọn lọc,
và khuếch tán các quy luật tương thích tốt nhất với hệ thống
Thay đổi và phát triển
đến từ
Đột biến Cải tiến, sự phát triển tri
thức, sự ra đời của các quy luật mới
Veblen đã chỉ ra rằng, Kinh tế học tiến hoá chú trọng vào các đặc tính như sự
phụ thuộc quá trình (path dependency), quá trình đồng tiến hoá evolutionary process) và các thể chế (institution) khi phân tích kinh tế Nói
(co-cách khác, Kinh tế học không đơn thuần là phân tích chi phí – lợi ích máy móc,
mà còn là sự du nhập các hiểu biết từ những môn khoa học khác, cũng nghiên cứu về bản chất và hành vi con người, như xã hội học, lịch sử, triết học, và khoa học đạo đức Mọi chuyển động trong không gian kinh tế, bao gồm các hành vi, quyết định, suy nghĩ và sự phát triển, đều là sản phẩm của các tương tác giữa các quy luật và lề thói trong hệ thống kinh tế phức hợp, qua thời gian
bởi tính duy lý giới hạn (bounded rationality), sự vị kỷ giới hạn (bounded interest) và ý chí giới hạn (bounded willpower)
self-Trong cuốn “Cẩm nang Kinh tế học cho người dùng” (Economics: The user’s guide, 2014), Ha-Joon Chang đã tóm tắt rằng, con người trong thực tế, thay vì
sở hữu những khả năng siêu phàm như trong những lý thuyết truyền thống, thật
ra là những thực thể kém hoàn hảo với 5 đặc tính sau:
• Con người là đa chiều (divided): Chúng ta có nhiều bản thể khác nhau
trong cùng một con người Mỗi bản thể sẽ hành xử khác nhau trong các tình huống khác nhau, như hôm nay chúng ta quyết tâm sẽ giữ chế độ ăn
Trang 13lành mạnh, nhưng hôm sau lại bị cám dỗ bởi những món đồ ngọt hấp dẫn
• Con người bị ảnh hưởng bởi xã hội (embedded): Chúng ta bị ảnh hưởng
bởi những cá thể xung quanh, như gia đình, láng giềng, bạn bè, tầng lớp
• Con người dễ bị ấn tượng (impressionable): Chúng ta dễ bị điều khiển
trong cách suy nghĩ và hành động bởi người khác Một số thứ đang điều khiển chúng ta, ở một mức độ nào đó, bao gồm các tuyên truyền chính trị, truyền thông đại chúng, quảng cáo, và giáo dục
• Con người mang tính phức tạp (complicated): Chúng ta không chỉ vị kỷ;
trong nhiều trường hợp, con người có thể hành động đi ngược với lợi ích bản thân Một số hiện tượng tâm lý như vậy là lòng yêu nước, đoàn kết, lòng trắc ẩn, công lý, tinh thần trách nhiệm, tình bạn, tình yêu, đam mê cái đẹp, và nhiều hiện tượng khác
• Con người dễ bị lúng túng (bumbling): Con người cũng không duy lý
cho lắm Đôi khi quyết định của chúng ta bị ảnh hưởng bởi nỗi sợ, tâm
lý bầy đàn, hay cách vấn đề dẫn dắt Vì vậy nên chúng ta thường hành động dựa trên bản năng hay phỏng đoán nhiều hơn là suy nghĩ lô-gic
Chính bởi những thiếu sót trong khả năng nhận thức và tính toán, Thaler và Sunstein cho rằng, con người thường bị phụ thuộc một số phương pháp, quy tắc khi ra quyết định, chứ không thông qua cách tính toán – lựa chọn như truyền thống đã giả định Những phương pháp và quy tắc đó bao gồm phỏng
đoán (heuristics), dẫn dắt (framing) và ác cảm mất mát (loss aversion) Trong
những trường hợp đặc biệt như khi tồn tại trạng thái bất định hay không có khả năng thu thập thông tin đầu đủ, con người thường sử dụng bản năng, các trải nghiệm trong quá khứ hay các quy tắc phổ biến để phỏng đoán và hành động Con người cũng sẽ phản hồi khác nhau khi cùng một vấn đề được dẫn dắt theo các cách khác nhau Cuối cùng, con người thường tránh đưa ra những quyết định có khả năng gây ra mất mát
Bàn về quá trình phát triển và cấu trúc nền kinh tế, Kinh tế học phức hợp chia
sẻ với Kinh tế học tiến hoá ở quan điểm về một nền kinh tế ở dạng hệ thống phức hợp Các tác giả Brian Arthur, Steven Durlauf và David Lane (1997) đã
mô tả sự phức hợp có nghĩa bao gồm những tương tác rải rác giữa nhiều thành phần trong nền kinh tế mà không cần có một sự quản lý, chi phối từ một chủ thể đơn nhất nào Nền kinh tế được xem như một hệ thống mạng lưới chằng chịt các mối quan hệ cắt ngang qua nhiều tầng trong hệ thống chứ không gói gọn trong tầng đang xem xét của chủ thể Hệ thống này được khắc hoạ là tự thích ứng theo các chuyển động của những chủ thể bên trong nó, và các chuyển
Trang 14động này diễn ra không ngừng Như vậy, kinh tế không thể đạt trạng thái cân bằng được, mà luôn luôn biến đổi
Tương tác giữa các chủ thể trong hệ thống cũng là một mối quan tâm lớn của Kinh tế học phức hợp Trường phái không chỉ xem xét con người trên bình diện những tố chất nội tâm như khả năng nhận thức hay tâm lý, mà còn nghiên cứu cách môi trường xã hội ảnh hưởng đến con người Như vậy, phân tích vĩ
mô không được tiến hành chỉ bằng việc cộng gộp các cá thể vi mô lại với nhau,
mà còn phải phân tích cách các cá thể này tác động lẫn nhau trong hành vi và quyết định Các ý tưởng này sẽ được triển khai rõ hơn trong phần sau của bài viết
Trang 15IV Một số lý thuyết tiêu biểu
1 Khung lý thuyết vi mô-trung dung-vĩ mô (Micro-meso-macro framework
- MMM)
Một ý tưởng phổ biến trong Kinh tế học tiến hoá là khung lý thuyết vi trung dung-vĩ mô Khung MMM đã được ba nhà Kinh tế học tiến hoá Kurt Dopfer, John Foster và Jason Potts đưa ra vào năm 2004 trong bài báo “Micro-
mô-meso-macro” trên Tạp chí Kinh tế học tiến hoá (Journal of Evolutionary Eocnomics) Theo đó, MMM, dựa trên ý niệm chính của Kinh tế học tiến hoá
rằng bản chất của nền kinh tế là “một dân số tuân theo các quy luật, một cấu
trúc các quy luật, và một quá trình các quy luật (“a population of rules, a structure of rules, and a process of rules”), các tác giả cho rằng cách phân chia
nền kinh tế thành hai tầng vi mô và vĩ mô là quá đơn giản trong phân tích kinh
tế Từ góc nhìn tiến hoá, người ta không thể trực tiếp gộp tất cả vi mô để trở thành vĩ mô Nền kinh tế không chỉ được định nghĩa bởi những quyết định và hành vi của cá nhân và doanh nghiệp, mà còn phải được xem xét đến lịch sử, quá trình, thể chế, các quy luật, tiêu chuẩn, lề thói trong xã hội Không thể đi trực tiếp từ tầng vi mô đến vĩ mô bằng cách gộp các đơn vị vi mô đơn lẻ với nhau để tạo thành một hình thể chung ở vĩ mô Thay vào đó, phân tích kinh tế cần có một cấp độ ở giữa để miêu tả những yếu tố quy luật ngầm chi phối cách suy nghĩ và hành động của các cá thể trong xã hội Đó chính là tầng trung dung
(meso) nằm giữa trục vi mô-vĩ mô
Bảng 3 Đơn vị phân tích của cấp độ vi mô, trung dung và vĩ mô
Quy luật phổ quát
(Generic rule)
Chuyển động chung
(Aggregate movement)
Dopfer, Foster và Potts đã mô tả nền kinh tế là một hệ thống phức hợp các quy luật tương quan lẫn nhau và thay đổi theo thời gian Sự tương tác và tiến hoá các quy luật sẽ dẫn đến sự hình thành các quy luật mới, đồng thời củng cố những quy luật hiện tại, dẫn đến sự tiến hoá của nền kinh tế Những động lực này xảy ra ở cấp độ tầm trung của nền kinh tế, là quá trình khởi tạo, thích ứng
và duy trì các quy luật phù hợp
Một đơn vị trung dung (meso unit) bao gồm một quy luật phổ quát (generic rule) và dân số của quy luật đó (rule population), túc là các chủ thể cá nhân
hay doanh nghiệp tuân thủ và mang theo quy luật đó Nếu nhìn từ tầm vi mô,
Trang 16các chủ thể kinh tế là những “sinh vật sử dụng và tạo tác quy luật” (“a rule using and rule-making animal”) Điều này có nghĩa là con người là sản phẩm
của thể chế, của kỳ vọng, của môi trường; chúng ta tạo ra và tuân theo các quy luật một cách đồng thời và vô thức Những quy luật như thế định hình nhận thức, tư duy và hành vi của chủ thể kinh tế, như là cách nhìn về việc làm, văn hoá công ty hay cách phân công công việc trong tổ chức Còn nhìn từ tầm vĩ
mô, nhiều đơn vị trung dung (bao gồm quy luật và dân số của quy luật) hợp thành một hệ thống, cấu trúc hoàn chỉnh Các quy luật này đến từ nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ, chính trị, môi trường, đức tin, và nhiều lĩnh vực khác, tất cả cùng tương quan sinh động với nhau tạo nên một bức tranh tổng thể trong ngành hoặc trong cả nền kinh tế Thật khó để đưa ra một phân tích đầy đủ và hoàn chỉnh về những đơn vị vĩ mô như một ngành công nghiệp, một nền kinh tế hay một xã hội, nếu chúng ta lược
bỏ một số quy luật phổ quát như cách tổ chức ngành, cấu trúc thị trường, thể chế chính trị, khung pháp lý, văn hoá và quan niệm đạo đức, hiếu biết và trình
độ công nghệ, nguồn tài nguyên và tình hình sinh thái của đơn vị vĩ mô đó Cũng như hai cá thể có thể có cùng hiểu biết công nghệ nhưng khác nhau về quan niệm đạo đức hay quan điểm chính trị, các đơn vị vi mô không thể được cộng gộp lại để tạo nên bức tranh vĩ mô được, mà phải thông qua một tầng trung dung hàm chứa các quy luật phổ quát và dân số của các quy luật đó, định hình các đặc tính của một hệ thống vĩ mô
Bất kỳ một thay đổi nào trong các quy luật phổ quát ở tầm trung đều kích hoạt thay đổi ở những cấp độ khác Trong miền vi mô, đó là những thay đổi trong nhận thức và hành vi của những cá thể mang quy luật và trong cách họ tương tác với nhau Ở miền vĩ mô, đó là những thay đổi trong sự phối hợp, điều hoà giữa các đơn vị trung dung với nhau trong hệ thống
2 Cấp độ tầm trung và phân loại quy luật (meso level and taxonomy of
rules)
Như đã đề cập ở trên, đối tượng phân tích của miền trung dung là đơn vị trung
dung (meso unit), bao gồm một quy luật phổ quát và dân số những cá thể mang
quy luật đó
Một cách để phân loại các quy luật phổ quát là sử dụng cách phân loại của
Dopfer và Potts (2015) (taxonomy of rules) Theo đó, các quy luật được chia ra thành quy luật chủ thể (subject rules) và quy luật vật thể (object rules) Quy
luật chủ thể là những quy luật về chủ thể, định hình suy nghĩ bên trong và cách tương tác với các những chủ thể khác, được phân loại thành quy luật nhận thức
(cognitive rules) và quy luật hành vi (behavioural rules) Quy luật vật thể xoay
Trang 17quanh cách sắp xếp nhiều chủ thể hay vật thể trong hệ thống, bao gồm quy luật
tập thể (social rules) và quy luật kỹ thuật (technical rules)
• Quy luật nhận thức (cognitive rules): một dạng quy luật chủ thể, diễn ra
trong nội tâm của chủ thể, định hình cách suy nghĩ và nhìn nhận thế giới
• Quy luật hành vi (behavioural rules): một dạng quy luật chủ thể, diễn ra
trong nội tâm của chủ thể, chi phối cách chủ thể tương tác với môi trường
• Quy luật tập thể (social rules): một dạng quy luật vật thể, quy định cách
nhiều chủ thể con người được sắp xếp với nhau vào những tập thể
• Quy luật kỹ thuật (technical rules): một dạng quy luật vật thể, quy định
cách sắp xếp của vật chất, tri thức và công nghệ
Bảng bên dưới thể hiện sự phân chia các quy luật phổ quát, đồng thời vận dụng vào phân tích các quy luật ảnh hưởng đến lao động và nghề nghiệp thời hiện đại
Bảng 4 Phân loại quy luật và minh hoạ bức tranh lao động, nghề nghiệp thời hiện đại
Phân loại
quy luật
Quy luật phổ quát Quy luật chủ thể Quy luật vật thể Quy luật
nhận thức
Quy luật hành vi
Quy luật tập thể
Quy luật
kỹ thuật Định
nghĩa
Định hình cách suy nghĩ
và nhìn nhận bản thân và thế giới
Chi phối cách chủ thể tương tác với môi trường bên ngoài
Quy định cách nhiều chủ thể con người được tổ chức vào hệ thống
Ảnh hưởng đến cách sắp xếp của vật chất, tri thức
• Chấp nhận thời gian làm việc linh hoạt, có thể làm việc từ
• Tâm thế hợp tác, hỗ trợ, hơn là cạnh tranh, đối đầu trực tiếp
• Có sự phối hợp lẫn nhau giữa các chức năng, phòng ban,
• Ít rạch ròi hơn giữa các chức năng trong công
ty, giảm sự phân tầng các cấp quản
lý
• Cấu trúc công ty linh
• Công nghệ mới như mạng không dây, định vị, chia sẻ trực tuyến
• Thiết bị mới: laptop, điện thoại thông minh hỗ trợ
Trang 18xa, ngoài văn phòng
• Coi nhảy việc là bình thường, bớt chú trọng đến việc trung thành với một chỗ làm duy nhất
nhất là trong các doanh nghiệp nhỏ
• “Bản năng
sư phạm”
(natural pedagogy)
giúp các chủ thể chia sẻ thông tin với nhau
hoạt, giảm
sự quan liêu, tầng lớp
• Xuất hiện các mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ lẫn nhau
• Lòng tin là nền tảng cho hợp tác và trao đổi
làm việc từ
xa, trao đổi công việc
• Ứng dụng mới: các nền tảng trực tuyến cho làm việc nhóm và quản lý dự
án, quản lý con người, hàng hoá, giúp điều phối nguồn nhân lực và tài nguyên tốt hơn
• Cách thức kinh doanh mới: học trực tuyến, kinh doanh trực tuyến, tiếp thị trực tuyến
• Văn phòng trở nên mở hơn, phát sinh nhiều không gian làm việc chung cho nhiều công
ty
3 Quỹ đạo tầm trung (meso trajectory)
Như đã nhắc trong khung lý thuyết MMM ở trên, không có một mối liên hệ trực tiếp từ miền vi mô đến vĩ mô, mà phải thông qua một tầng trung dung ở