1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thuyet minh cheatomium 18 6 20011 kho tài liệu bách khoa

56 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 529,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cácnghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các BPSH phòng trừ sâu hại: Nghiên cứu khu hệthiên địch của sâu hại, đánh giá vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu hại;Nghiên cứu sin

Trang 1

Phụ lục II MẪU THUYẾT MINH NHIỆM VỤ NGHỊ ĐỊNH THƯ

(Ban hành kèm theo Quyết định số 14/2005/QĐ-BKHCN, ngày 08/9/2005

của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ)

THUYẾT MINH NHIỆM VỤ HỢP TÁC QUỐC TẾ VỀ KHOA HỌC

VÀ CÔNG NGHỆ THEO NGHỊ ĐỊNH THƯ (*)

I THÔNG TIN CHUNG VỀ NHIỆM VỤ

Nghiên cứu sản xuất chế phẩm Chaetomium trừ nấm gây

bệnh trên cây chè, cà phê và cao su

(Từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2014)

NN Bộ,Tỉnh

CS

5 Thuộc Chương trình, Đề tài độc lập cấp nhà nước (nếu có)

Chương trình Công nghệ sinh học Nông nghiệp

6 Thuộc Nghị định thư với (nước): Thái Lan

Khóa họp ngày tháng năm tại

7 Họ tên chủ nhiệm phía Việt Nam: Lê Quốc Doanh

• Học hàm, học vị, chuyên môn : PGS., TS., Nông nghiệp

• Chức danh khoa học: Nghiên cứu viên chính

• Điện thoại cơ quan: 02103 732288

• Điện thoại nhà riêng: 043.7843837

• Điện thoại di động: 0913.234754

• E mail: doanhlq@yahoo.com

• Địa chỉ cơ quan: Xã Phú Hộ - Thị xã Phú Thọ - Tỉnh Phú Thọ

• Địa chỉ nhà riêng: Số nhà 6 - Ngõ 204 – Đường Trần Duy Hưng – TP Hà Nội

8 Cơ quan chủ trì Việt Nam:

• Cơ quan chủ trì: Viện khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc

Trang 2

9 Họ và tên chủ nhiệm đối tác nước ngoài: Kasem Soytong.

• Điện thoại cơ quan:

• Điện thoại nhà riêng:

• Điện thoại di động: (66) 818304766

• Email: ajkasem@gmail.com

• Tóm tắt lý lịch khoa học của đối tác (có thể có phụ lục kèm theo):

10 Cơ quan đối tác nước ngoài: King’s Mongkut’s Institute of Technology, Thái

• Địa chỉ: Ladkrabang, Bangkok,Thailand

11 Xuất xứ thỏa thuận đã có với đối tác nước ngoài:

1 Thời gian ký kết thoả thuận: 23/05/2011

2 Cấp ký kết thoả thuận: Viện

3 Các nội dung thoả thuận chính:

3.1 Trao đổi kỹ thuật viên phòng thí nghiệm giữa hai bên

3.2 Đẩy mạnh sản xuất và chứng nhận nông nghiệp sạch và nông nghiệp hữu cơ 3.3 Trao đổi thông tin và các vật liệu mà hai bên quan tâm

3.4 Phụ cấp, phí đi lại và ăn ở sẽ được cung cấp thông qua hợp tác nghiên cứu cho các

tổ chức quốc tế và các quỹ liên quan Cả hai bên cam kết cùng nỗ lực tìm kiếm sự

hỗ trợ ở mỗi bên

II NỘI DUNG KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CỦA NHIỆM VỤ

12 Mục tiêu của Nhiệm vụ

1 - Sản xuất được chế phẩm sinh học Chaetomium cho Việt nam trên cơ sở côngnghệ Thái Lan phục vụ sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững

2 - Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật nắm vững và khai thác có hiệu quả công nghệđược chuyển giao

3 - Phòng trừ một số loài nấm bệnh hại chính từ đó góp phần tăng năng suất, chấtlượng đối với chè, cà phê và cao su phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu

13 Tình hình nghiên cứu ở trong nước

Trang 3

• Tình trạng nhiệm vụ Mới Kế tiếp nhiệm vụ đã kết thúc giai đoạn trước

Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước thuộc lĩnh vực của nhiệm vụ (thể hiện sự hiểu biếtcần thiết của tổ chức, của chủ nhiệm về lĩnh vực nghiên cứu, nắm được những công trình nghiêncứu có liên quan đến nhiệm vụ, những kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu củanhiệm vụ ở trong nước):

• Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan (theo trình tự thời gian mớinhất):

• Nêu và đánh giá về những khó khăn đang gặp phải trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vựcnghiên cứu của Nhiệm vụ ở trong nước (về bí quyết công nghệ, về trang thiết bị để phân tích mẫu,

về thời gian, ):

Ứng dụng các biện pháp sinh học (BPSH) trong sản xuất nông nghiệp nói chung vàphòng trừ dịch hại cây trồng nói riêng đang dần khẳng định vai trò và ưu thế bởi sản xuấtnông nghiệp hiện nay đang hướng tới nền sản xuất bền vững và an toàn, tạo ra các sảnphẩm sạch đảm bảo sức khỏe con người và môi trường

Trong ¼ thế kỷ qua việc nghiên cứu ứng dụng BPSH trừ hại dịch nông nghiệp nhậnđược sự quan tâm xúc tiến của nhiều nhà khoa học và nhiều cơ quan chức năng Cácnghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các BPSH phòng trừ sâu hại: Nghiên cứu khu hệthiên địch của sâu hại, đánh giá vai trò của thiên địch trong hạn chế số lượng sâu hại;Nghiên cứu sinh học, sinh thái học của một số loài thiên địch phổ biến; Nghiên cứu sửdụng ong mắt đỏ Nghiên cứu và sản xuất chế phẩm (Bt) để trừ sâu hại, các chế phẩm

phòng trừ virus, nấm, vi khuẩn còn rất hạn chế (Phạm Văn Lầm 1995; Trung tâm đấu tranh

sinh học, 1996) Các chế phẩm này chủ yếu được nhập nội từ Trung Quốc (Theo số liệudanh mục đăng ký thuốc BVTV- Cục BVTV 2004) [11]

Ở nước ta, Bacillus thuringiensis (Bt) được bắt đầu nghiên cứu từ những năm 80 Một

số cơ quan khoa học như như viện công nghệ sau thu hoạch, Viện Công nghệ sinh học,Viện công nghiệp thực phẩm, Viện Di truyền nông nghiệp đã tập trung phân lập các chủng

B thuringiensis (Bt) từ các nguồn tự nhiên và nhập nội Công trình nghiên cứu công nghệ lên men sản xuất một số chủng B thuringiensis (Bt) phân lập ở Việt Nam cho thấy: Phần lớn các chủng B thuringiensis (Bt) ở Việt Nam mang các gen cryl, cry2 và cry5 Đặc biệt

có chủng B thuringiensis mang bào tử, tinh thể hình quả trám nhưng lại không mang các nhóm gen Cry này, và cũng không có hoạt lực diệt sâu Cũng tác giả Nguyễn Thùy Châu (2004), đã nghiên cứu thành công công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học B thuringiensis

dạng bột để phòng trừ côn trùng bọ cánh cứng và cánh vảy hại nông sản bảo quản và nông

sản ngoài đồng Chế phẩm B thuringiensis đã được ứng dụng và có hiệu lực diệt từ

75-80% ở kho thóc và ngô của chi cục dự trữ quốc gia Bắc Thái Thái Bình Chế phẩm cũng đãđược áp dụng để phòng trừ côn trùng như sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh trên các loại rau,sâu bông trên cây bông, sâu cuốn lá trên cây lúa, sâu hàm nhai, rầy xanh và bọ cánh tơ trêncây chè Hiệu quả diệt sâu của chế phẩm đạt từ 80-95% đối với từng loại sâu khác nhau.Phạm Thị thùy (2001) ở Viện BVTV đã nghiên cứu và triển khai thành công chế phẩmtrừ côn trùng trên cây dừa, hiệu quả phòng trừ lên đến 90-95% Gần đây nhất cũng tác giả

Phạm Thị Thùy (2005) đã đưa ra một chế phẩm vi nấm Metarhizium để phòng trừ mối,

hiệu quả cao tới 90-95%

Cho đến nay, tác nhân sinh học trừ bênh hại được nghiên cứu nhiều hơn cả là nhóm

nấm đối kháng (NĐK) Trichoderma Việc nghiên cứu nấm Trichoderma được bắt đầu từ

Trang 4

năm 1988 tại Viện Bảo vệ thực vật Kết quả của một số thí nghiệm trong phòng và thí

nghiệm chậu vại cho thấy có thể sản xuất nấm Trichoderma để sử dụng trong phòng trừ nấm Corticium sakii gây bệnh khô vằn hại lúa và nầm S rofsii gây nên bệnh héo lạc (Lê

Minh Thi và cs, 1989) [16] Năm 1990, với sự tài trợ của chương trình VNM 8910-030(của tổ chức Bánh mỳ thế giới) Viện BVTV đã triển khai đề tài nghiên cứu sử dụng nấm

Trichoderma để phòng trừ một số loài nấm bệnh hại cây trồng nông nghiệp Trần Thị Thuần đã điều tra thu thập được 10 nguồn nấm Trichoderma và cũng chính tác giả đã đề xuất quy trình sản xuất và sử dụng chế phẩm nấm Trichoderma để phòng trừ một số loài

nấm bệnh hại cây trồng ở quy mô thủ công, sừ dụng các loại phế liệu như bã mía, cám gạo

bã đậu phụ [18], Chế phẩm sản xuất được vừa là chế phẩm sinh học trừ nấm, vừa lànguồn phân bón sinh học, liều lượng bón 80 kg/ha Thời gian bảo quản tối đa không đượcquá 9 tháng (1999) Về sau, chế phẩm này cũng đã được Trần Thị Thuần và cs cải tiến quytrình sản xuất cho chất lượng và khả năng phòng chống cao hơn (2004) Chế phẩm này đãđược ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, có khả năng phòng trừ một số bệnh như khô vằn hạingô (giảm được 51,3 - 59,8% bệnh), những nơi sử dụng chế phẩm đã giảm được lượngthuốc BVTV hóa học, đã giảm được đầu vào của sản xuất góp phần bảo vệ môi trường vàsức khỏe của người sản xuất [8]

Chế phẩm sinh học trừ nấm Ketomium của Thái Lan được sản xuất từ các chủng Chaetomium globosum và Chaetomium cupreum tỏ ra có hiệu lực rất cao trong phòng trừ

nhiều loại nấm bệnh hại cây trồng trong đất (Soilborn disease) và có hiệu quả cả với một sốloại nấm bệnh hại lan truyền qua không khí (airborn disease)

Ở Việt Nam, nấm đối kháng Chaetomium lần đầu tiên được nghiên cứu ở Viện Di

truyền nông nghiệp vào năm 1999 Các nghiên cứu, tìm kiếm, định danh các loài

Chaetomium đã được thực hiện Sau khi đã phân lập và định danh được 4 loài Chaetomium, các nghiên cứu thử khả năng đối kháng của 2 loài Chaetomium globosum và Chaetomium cupreum đã được thực hiện trong phòng thí nghiệm, chúng tỏ ra có khả năng đối kháng cao với với nhiều loại nấm bệnh hại như: Curvularia lunata, Fusarium olucopersici, Sclerotium rolfsii, Pyricularia oryzae, P palmyvora, P Parasitica, Colletotrichum gloeosporioides [8].

Năm 2002-2003 Viện Di truyền nông nghiệp đã sản xuất thử thành công chế phẩm trừ

nấm sinh học từ các chủng Chaetomium được tìm thấy ở Việt Nam, với tên là Chae VDT

và đã tiến hành thử hiệu lực chế phẩm trừ nấm sinh học này lên một số loài cây trồng như:Cam Canh, Thông, hoa Hồng và hoa Cúc, Cà Chua [8]

Khi nghiên cứu ứng dụng nấm Chaetomium để sản xuất chế phẩm vi sinh Bảo vệ thực

vật phòng chống các bệnh nấm hại, Lê Ánh Hồng (2005) cho biết, ngoài Chaetomium và Trichoderma còn có những loài NĐK khác cũng có hiệu quả phòng trừ nhiều loại nấm

bệnh hại trên cây trồng nông nghiệp Việc tìm và phân loại chúng rất cần thiết để làm tăngthêm bộ sưu tầm và hiểu biết hơn về sự đa dạng của vi sinh vật đối kháng (VSVĐK) ở ViệtNam để có thể sử dụng sự đa dạng của VSVĐK trong sản xuất các chế phẩm sinh học bềnvững trong phòng chống bệnh hại cây trồng [8]

Nghiên cứu về nấm bệnh gây hại trên cây Cao su:

Cây cao su được du nhập vào Việt Nam từ năm 1897 bằng giống nhập từ Indonesia vềtrồng tại Bến Cát - Bình Dương, Diên Khánh - Khánh Hoà và vườn thực vật Huế, sau thờigian thử nghiệm, năm 1906 – 1907 hình thành các đồn điền có quy mô ở Đông Nam Bộ,

Trang 5

đánh dấu giai đoạn sản suất lớn của ngành cao su Việt Nam Cao su đến Tây Nguyên năm

1923 và phát triển mạnh trong giai đoạn 1960- 1962 [6]

Hiện nay, ở nước ta, chính phủ có chủ trương phát triển nhanh cây cao su ra các vùng

ít thuận lợi (Tây Nguyên, miền Trung, miền Bắc) và tập trung ở khu vực tiểu điền như mộtloại cây trồng đa mục tiêu Từ 1976, Viện Nghiên cứu Cao su đã bắt đầu chương trình cảitiến giống cao su, từ năm 1981 đến nay đã liên tục đưa ra các giống mới cải tiến và khuyếncáo cơ cấu giống tiến bộ trong sản xuất Các tiến bộ về giống cao su đã đóng vai trò chủlực trong việc rút ngắn thời gian KTCB từ 7 – 9 năm xuống còn 6 – 7 năm và đưa năngsuất mủ bình quân từ 800kg/ha ở thập niên 1980 lên năng suất bình quân cả nước đạtkhoảng 1.4 – 1.5 tấn/ha (2005); năng suất bình quân của Tập đoàn Cao su Việt Nam đạt 1.7tấn/ha trong đó có 78.000 ha đạt năng suất ≥ 2 tấn/ha (2005) Theo thông tấn xã Việt Nam

ra ngày 25/ 08/ 2007: tổng diện tích cao su trong cả nước chiếm khoảng hơn 500.000 ha,trong đó các tỉnh Đông Nam Bộ có diện tích: 339.000 ha, các tỉnh Tây Nguyên là: 113.000

ha, các tỉnh Bắc Trung Bộ có diện tích là: 41.000 ha, vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ là:6.500 ha [6]

Những bệnh liên quan đến cây cao su ở Việt Nam bắt đầu được nghiên cứu vào năm

1960 Có khoảng 19 loại bệnh ảnh hưởng đến cao su của Việt Nam trong đó một số bệnhhại phổ biến, có ý nghĩa kinh tế như các bệnh:

- Bệnh xì mủ và loét sọc miệng cạo (Do nấm Phytophthora sp.)

Nấm Phytophthora sp Còn là nguyên nhân gây các bệnh rụng lá, loét sọc miệng cạo

và sùi thân làm mất mủ cao su

Giá mủ cao su trên thế giới thường dao động, những thời kỳ giá tăng cao làm cho thịtrường cao su trong nước và xuất khẩu sôi động, vì vậy việc gia tăng cường độ cạo ở cácvườn cao su trong thời kỳ khai thác là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm phát sinhkhông ít các loại bệnh hại từ đó làm giảm sản lượng mủ, giảm tuổi khai thác của cây [22]

Bệnh loét sọc miệng cạo là bệnh phổ biến ở hầu hết các vùng trồng cao su ở nước ta:Báo cáo của Sở Nông nghiệp và PTNT Tỉnh Thừa Thiên Huế trên trang web ra ngày24/ 11/ 2008 đã đăng tin: “Trong thời gian qua thời tiết ẩm ướt, thuận lợi cho bệnh loét sọcmiệng cạo phát triển và lây lan, tỷ lệ bệnh phổ biến 3-10%, nơi cao 30% ( Hương Bình-

Hương Trà, Hương Hoà-Nam Đông).

Theo báo cáo của Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh Bình Phước năm 2008, bệnh loét sọcmiệng cạo gây mất mủ cao su gây hại phổ biến ở tất cả các vùng trồng cao su trong tỉnh,bệnh gây hại nặng nhất ở các huyện Đồng Phú, Bù Đăng, các vườn bị bệnh nặng tỷ lệnhiễm bệnh lên đến 65%, làm giảm 40% năng suất mủ so với các năm trước

Thông tin của Trung tâm khuyến nông tỉnh Bình Dương (2009) cho biết bệnh loétsọc miệng cạo xảy ra phổ biến ở vùng mưa nhiều, ẩm độ cao, nhiệt độ thấp Những khuvực bị bệnh nặng tỷ lệ nhiễm bệnh lên tới 45 - 50%, vết bệnh xuất hiện trên vết thương vàđường cạo mới của cây cao su khai thác trong mùa mưa Ban đầu là những sọc đen nhỏ,thẳng đứng trên mặt cạo, các vết bệnh sẽ liên kết thành sọc lớn, vỏ thối nhủn, mủ và nướcvàng chảy ra có mùi hôi thối Bên dưới vỏ bệnh có đệm mủ Bệnh nặng có thể gây chếtmột phần hoặc cả mặt cạo Các giống dễ nhiễm bệnh là: RRIM600, PB 310, PB 255 Biệnpháp phòng trừ là vệ sinh vườn cây sạch cỏ, thông thoáng, làm vệ sinh mặt cạo Khi cây đãnhiễm bệnh, xử lý bằng metalaxyl + mancozeb pha ở nồng độ 2%, quét băng rộng 1- 1,5cm

Trang 6

trên miệng cạo sau khi thu mủ Các cây bị bệnh nặng phải cho nghỉ cạo để trừ bệnh

Theo Phan Thành Dũng (2006), hiện nay ở Việt Nam chưa có dòng cao su vô tính nào

hoàn toàn miễn dịch với các bệnh Phytophthora, một số dòng có khả năng kháng bệnh

như: PB 235, PB 5/51 và một số dòng vô tính RRIC, một số dòng vô tính nhiễm bệnh nặngnhư: PB 86, GT 1, PB 310, RRIM 600 [4]

- Bệnh rụng lá mùa mưa (Do nấm Phytophthora sp.)

Theo Chi cục Bảo vệ thực vật Tỉnh Đăk Lăk, năm 2008 bệnh rụng lá mùa mưa gâyhại thành dịch ở một số vùng ở Tây Nguyên, bệnh thường xuất hiện vào mùa mưa Độ caocũng ảnh hưởng đến mức độ nhiễm bệnh, Mang Yang có độ cao trên 650m là nơi bệnh gâyhại nặng hơn các vùng khác Đây là bệnh chủ yếu gây hại cho cây cao su ở các vùng củaTây Nguyên

Triệu chứng đặc trưng nhất là cuống lá có cục mủ màu đen hoặc trắng tại trung tâmvết bệnh mầu nâu hoặc xám và lá bị bệnh rụng khi còn xanh Tán lá rụng không ra lại màphải đến mùa ra lá sinh lý hàng năm, điều này ảnh hưởng lớn đến quang hợp làm giảm sảnlượng mủ trầm trọng [4]

Theo Đặng Vũ Thị Thanh, Ngô Vĩnh Viễn (2004), ở vùng cao nguyên Nam Trung

Bộ, tỷ lệ bệnh rụng lá khá cao 45% và của bệnh sọc đen là 34% Bệnh gây hại trong mùamưa, bệnh rụng lá ở Đồng Nai và Bình Long thường nguy hiểm hơn so với ở Dầu Tiếng

và Tây Ninh Sự kết hợp của 2 loại bệnh này hàng năm có thể làm giảm sản lượng cao su

từ 23 - 36,8% Sử dụng thuốc Ridomil 72 WP và Difolatan có hiệu quả trong phòng trừbệnh

Theo kết quả nghiên cứu của Viện nghiên cứu cao su một số dòng cao su vô tính cókhả năng nhiễm bệnh cao như: GT1, RRIM 600, PR 107, PB 86 Sử dụng dung dịchBordeaux 1% (2000-3000lít/ ha), phải xử lý 2 – 4 tuần trước mùa bệnh mới có hiệu quảgiảm bệnh

- Một số kết quả nghiên cứu chế phẩm sinh học trong phòng trừ bệnh do nấm

Phytophthora gây ra.

Trong những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu thành công trong sử

dụng nấm đối kháng Trichoderma để phòng trừ một số bệnh hại cây trồng như: chế phẩm Trichoderma thử nghiệm trên cây rau tại huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh của Viện Sinh học Nhiệt đới, chế phẩm Trichoderma thử nghiệm trên cây xà lách xoong ở Vĩnh Long của Trường Đại học Cần Thơ, chế phẩm Trichoderma sử dụng trên cây rau của Trường Đại học Nông Lâm TP HCM Chế phẩm Trichoderma hazianum của Viện Bảo vệ thực vật ứng dụng trong phòng trừ bệnh chết nhanh hồ tiêu do nấm Phytophthora capsici; chế phẩm Trichoderma spp phòng trừ bệnh thối quả ca cao do nấm Phytophthora palmivora của

Viện Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên [35, 39]

Theo Dương Minh và cộng sự (2003) các chủng nấm Trichoderma spp được phân

lập từ các vườn trồng cam quýt tại Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Cần Thơ có khả

năng khống chế sự phát triển của nấm Fusarium solani gây bệnh thối rễ cam quýt Các chủng Trichoderma spp có khả năng tiết chitinase (chitinolytic enzym) cao đều đối kháng tốt với nấm bệnh Fusarium solani gây bệnh thối rễ trên cam quýt

Phạm Thị Ánh Hồng và cộng sự (2005) đã phân lập được 18 dòng nấm

Trichoderma từ đất trồng các cây lương thực, cây công nghiệp và cây ăn quả của các tỉnh

Trang 7

Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bà Rịa - Vũng Tàu và TP.Hồ Chí Minh.Nhóm tác giả cũng đã xác định khả năng sinh tổng hợp enzym của 18 dòng nấm này bằngphương pháp định tính[8]

Nguyễn Văn Tuất và Lê Văn Thuyết (2001) đã phát hiện những điểm kí sinh hoặc sựquấn của sợi nấm đối kháng lên sợi nấm bệnh Đôi khi còn thấy hiện tượng sợi nấm bịquăn lại, chết từng đoạn mà không cần có sự ký sinh trực tiếp Điều này chứng tỏ nấm

Trichoderma có thể tạo ra độc tố có hại cho nấm bệnh Bên cạnh sự tác động qua lại trong quần thể nấm đối kháng và nấm bệnh, nấm Trichoderma còn có tác động trực tiếp lên sự

phát triển của cây trồng, do nấm này sản sinh ra các men phân hủy glucose, cellulose tronghoạt động sống của mình Nhờ các men này các chất hữu cơ có trong đất được phân hủynhanh hơn, làm tăng chất dinh dưỡng dưới dạng dễ hấp thu cho cây trồng, tạo điều kiệncho cây sinh trưởng và phát triển tốt

Theo Trần Thị Thuần và cộng tác viên (2004), Trichoderma có thể phát triển và hình

thành bào tử trên môi trường có nhiều cellulose như: bã đậu phụ, lõi ngô, cám gạo, thóc, bãbia Đặc biệt trên môi trường bã đậu phụ nấm phát triển tốt nhất với lượng bào tử sản sinh

là 7,5 x 109 bào tử/ g Tuy nhiên việc bảo quản chế phẩm này rất khó khăn do ẩm độ cao.Trên môi trường thóc tuy lượng bào tử sản sinh ít hơn, mật độ khoảng 3,2 x 109 bào tử/ g

nhưng việc bảo quản dễ dàng hơn Trong thời gian nhân nuôi, nấm Trichoderma cần có

điều kiện thoáng khí sau khi vô trùng để làm cho môi trường xốp bằng cách lắc để chúngkhông kết lại thành mảng Nếu bị kết mảng bào tử hình thành rất ít thậm chí sợi nấm khônglan vào được [18]

Theo Phạm Ngọc Dung và cộng sự (2007) nấm Trichoderma hazianum có khả năng

ức chế cao đối với sự phát triển của sợi nấm Phytophthora capsici, trên môi trường bằng phương pháp cấy đối xứng, sợi nấm Phytophthora bị tiêu diệt sau 3 ngày nuôi cấy Cũng theo tác giả, một số chủng nấm Trichoderma spp vừa có khả năng ức chế sự phát triển của sợi nấm, sự nảy mầm của bào tử Phytophthora đồng thời có khả năng phân hủy tốt một số

loại tàn dư thực vật, hữu dụng trong quá trình ủ phân hữu cơ, cung cấp phân hữu cơ chocác vườn hồ tiêu [3]

Nghiên cứu về nấm bệnh gây hại trên cây Chè:

Ở nước ta chè được trồng nhiều ở trung du miền núi, tây bắc, tây nguyên Trong quátrình sinh trưởng cây chè thường bị nhiều loại bệnh hại có loại bênh chủ yếu hại búp chè,

lá chè như bệnh phồng lá, bệnh chấm xám, chấm nâu, đốm mắt cua, tảo đỏ Có loại chỉ hạithân, nhưng có loại chỉ hại rễ làm cho cây chết khô thường xây ra ở những lô chè lớn tuổi,trồng ở đất có độ phì cao [15]

Bệnh phồng lá chè (Exobasidium vexans Massee) là bệnh phổ biến gây hại ở nhiều

nước trồng chè trên thế giới, ở Việt Nam, bệnh này gây hại nặng vào thời kỳ từ tháng 2 đếntháng 5 gây ra những vết bỏng trên búp và lá non, làm thất thu sản lượng chè vụ xuân [15].Tuy nhiên vài chục năm trở lại đây, bệnh này ít phát sinh thành dịch, trở thành bệnh thứyếu, chỉ gây hại ở một số vùng chè gần các hồ nước, nơi có độ ẩm cao [23]

Bệnh chấm nâu (Colletotrichum camelliae Massee) có phổ gây hại rộng trên nhiều

loại cây trồng Trên lá chè, vết bệnh xuất hiện ở chót lá hoặc rìa lá rồi lan rộng vào phiến lábiến thành màu nâu Ở mặt trên của lá có nhiều hạt đen nhỏ nổi lên là những đĩa cành củanấm gây bệnh Nấm bệnh phát sinh mạnh ở điều kiện nhiệt độ 27-29oC Bệnh ưa nóng ẩm

Trang 8

nên thường phát sinh vào tháng 7-8 Sauk hi mưa liên tục 10-15 ngày bệnh phát triển rấtnặng

Bệnh thối búp chè (Colletotrichum theae Petch.) thường xuất hiện ở lá non, cuống lá

và cành non Trong vườn ươm, bệnh thường nặng hơn nương chè hái búp

Bệnh than thư (Gloesporium theae sinensis Migake) gây hại ở tất cả các vùng chè ở

nước ta Cây chè bị bệnh lá rụng, cây mọc yếu Trên vết bệnh thường có chấm đen, vếtbệnh có khi rộng cả nửa lá Bào tử nấm hình thoi, hai đầu hơi nhọn, trong suốt, nhỏ hơnbào tử nấm đốm nâu [23]

Bệnh hại chè thường diễn biến phức tạp, đặc biệt là bệnh hại ở vườn ươm Tuy nhiênphòng trừ bệnh hại trên chè hầu hết đều sử dụng thuốc hóa học, chưa có nhiều nghiên cứu

sử dụng chế phẩm sinh học trừ bệnh cho chè

Nghiên cứu về nấm bệnh gây hại trên cây Cà phê:

Để sản xuất cà phê đạt năng suất, chất lượng ngày một cao và bền vững, thì cần phải

áp dụng thâm canh, đảm bảo đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu sinh thái Tuy nhiên, khithâm canh cao thì sẽ kéo theo sự phức tạp về sâu bệnh hại Những bệnh hại cà phê phổbiến như:

Bệnh khô cành, khô quả (Anthracnose, Die Back):

Do nấm Colletotrichum coffeanum Noack gây nên Bệnh thường phát triển từ đầu

mùa mưa nhưng thể hiện rõ rệt khi quả non đã ở được 6 - 7 tháng tuổi Bệnh gây hiệntượng khô cành, khô quả, khô lá thành từng vết hay thành từng mảng trên phiến lá Khibệnh nặng có thể làm cho cà phê bị chết khô không hồi phục lại được [15]

Theo Vũ Thị Trâm và ctv, 2005 Bệnh khô cành khô quả là một trong những bệnh hại chínhtrên cây cà phê Bệnh có mặt ở hầu hết các diện tích trồng cà phê Đáng kể nhất là ở các tỉnh Sơn

La, Yên Bái, Hà Tây, Thanh hóa, Nghệ An, Quảng Trị, TT Huế… loại bệnh này gây hại nặng nềnhất đối với cây cà phê

• Danh mục các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan (theo trình tự thời gian mới nhất):

1 Burgess W Lester, Phan Thúy Hiền Cẩm nang chẩn đoán bệnh cây Tr 24 – 42.

2 Dương Quang Diệu (1994) Kết quả nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ về cây chè (1983 – 1993) NXB nông nghiệp Hà Nội.

3 Phạm Ngọc Dung, Ngô Vĩnh Viễn và CTV (2008) Một số kết quả phòng trừ bệnh chết nhanh hại hồ tieu tại Đăk Nông Tạp chí bảo vệ thực vật.

4 Phan Thành Dũng, Vi văn Toàn (2000) Tình hình bệnh cây cao su tại Tây Nguyên, hiện trạng và hướng giải quyết Báo cáo hội thảo KH&CN TP HCM và tỉnh Gia Lai

phục vụ phát triển kinh tế xã hội Viện nghiên cứu cao su

5. Nguyễn Hải Đường, Hồ Ngọc Thành, Trần Đoàn, Nguyễn Thị Ngọc Yến, Thân Thị

Minh Tâm, Phan Thành Dũng, Lê Thị Thanh Phượng Sâu và bệnh trên cây cao su ở Việt Nam Viện nghiên cứu cao su Việt Nam.

6 Nguyễn Hải Đường, Lý Ngọc Hùng và Phan Thành Dũng Bệnh nấm hồng trên cây cao su và ứng dụng VALINDACIN A trong phòng trị Viện nghiên cứu cao su Việt

Nam

7. Nguyễn Thị Hiền (Chủ biên), Phan Thị Kim, Trương Thị Hòa, Lê Thị Lan Chi (2003)

Trang 9

Vi sinh vật tạp nhiễm trong lương thực – thực phẩm NXB Nông nghiệp, 238 tr.

8 Lê Thị Ánh Hồng (2005) Nghiên cứu ứng dụng nấm Chaetomium trong sản xuất các chế phẩm vi sinh bảo vệ thực vật phòng chống các bệnh nấm hại Báo cáo tổng kết

khoa học kỹ thuật, đề tài cấp nhà nước

9 J Cramer, Lehre (1968) Phương pháp quản lý mẫu bệnh thực vật R.W.G Dennis theo British Ascomycetes Germany.

10. Z Kinaly, Z Klement và cộng sự Người dịch Vũ Khắc Nhượng, Hà Minh Trung

(1983) Những Phương Pháp Nghiên cứu bệnh cây NXB Matxocơva, tr 148.

11. Phạm Văn Lầm Biện pháp sinh học phòng chống dịch hại Nông nghiệp NXB Nôngnghiệp Hà Nội 1976, tr 200

12 Đào Thị Lương, Trần Thị Lệ Quyên, Dương Văn Hợp (2008) Nghiên cứu đa dạng sinh học của nấm men phân lập từ lá cây ở vùng ô nhiễm Dioxin sân bay quân sự

Đà Nẵng Chuyên san công nghệ sinh học Viện di truyền nông nghiệp Việt Nam, 16

15 Lê lương Tề (1977) Giáo trình bệnh cây Vụ Đào tạo bộ nông nghiệp NXB nông

nghiệp 1977

16 Lê Minh Thi, Lệ Bích Thủy, Dương Thị Hồng (1989) Thông báo kết quả bước đầu tính đối kháng của nấm Trichoderma spp Thông tin BVTV số 2 tr 39 -42.

17 Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Kim Vân và cs Giáo trình bệnh cây nông nghiệp, trường

đại học nông nghiệp I Hà Nội tr 168-172

18 Trần Thị Thuần (1998) Nghiên cứu nấm đối kháng Trichoderma và ứng dụng trong phòng trừ bệnh hại cây trồng Luận án thạc sỹ Bộ GD & ĐT Viện KHKT NN Việt

22 Tạp chí cao su Việt Nam (15/08/2007) Giá trị sản xuất và xuất khẩu cao su Số 249.

23. Nguyễn Văn Hùng (1998), Sâu, bệnh, cỏ dại hại chè NXB NN, Hà Nội 1998

• Nêu và đánh giá về những khó khăn đang gặp phải trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực nghiêncứu của Nhiệm vụ ở trong nước (về bí quyết công nghệ, về trang thiết bị để phân tích mẫu, về thờigian, ):

Hiện nay ở nước ta, Chè, Cà phê và Cao su là những loại cây trồng cho thu nhập caođược bộ nông nghiệp xác định là 3 trong 9 nhóm hàng nông sản xuất khẩu chủ lực đến năm

2015 Vì vậy diện tích các loại cây trồng này đang được phát triển nhanh chóng, đặc biệt làcây cao su, với quy mô rộng lớn trên địa bàn các tỉnh phía Bắc

Trang 10

Đối với cây cao su, cả nước hiện nay có khoảng hơn 500.000 ha được trồng tập trung

ở Đông Nam Bộ (339.000 ha), Tây Nguyên (113.000 ha), Bắc Trung Bộ (41.500 ha vàDuyên Hải Nam Trung Bộ (6.500 ha) Theo hiệp hội Cao Su Việt Nam, hiện cao su là mặthàng nông sản có kim nghạch xuất khẩu lớn thứ 2 của Việt Nam (sau Gạo) Năm 2006,cao su thiên nhiên xuất khẩu của Việt Nam đã đạt sản lượng gần 708.000 tấn, với tổng giátrị xấp xỉ gần 1,3 tỉ USD (Bao gồm cả cao su thiên nhiên nhập khẩu từ các nước lánggiềng)

Chè là cây công nghiệp lâu năm, chiếm vị trí quan trọng đối với sự phát triển củanền kinh tế quốc dân Hiện nay ở Việt Nam có 35 tỉnh trồng chè, diện tích chè cả nướckhoảng 130.000 ha, sản xuất khoảng 160.000 tấn chè khô Đối với vùng trung du miền núinước ta thì Chè là một trong những cây trồng mũi nhọn Phát triển cây chè đã tạo công ănviệc làm cho hàng triệu lao động, góp phần điều hoà sự phân bố dân cư miền núi, cây chècòn có vai trò to lớn trong việc che phủ đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi trường sinhthái

Cà phê là cây trồng có thế mạnh làm giàu cho nười sản xuất Cây cà phát triển mạnh

ở vùng Tây nguyên, một số tỉnh miền núi phía Bắc thích hợp cho phát triển cà phê chè.Cho đến nay, diện tích cà phê trên cả nước khoảng 500.000 ha và sản lượng có khilên đến 900.000 tấn Hiện nay Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê đứng thứ 2 trên thế giới Tuy nhiên, việc thâm canh tăng suất, cũng sẽ kéo theo sự phát sinh nhiều loại dịchbệnh hại ảnh hưởng nặng nề đến năng suất và sản lượng sản phẩm Qua các tài liệu nghiêncứu và thực tế sản xuất, chúng tôi nhận thấy có các bệnh xuất hiện phổ biến và phá hạinghiêm trọng trên 3 loại cây chè, cà phê và cao su Việt Nam hiện nay như sau:

Nấm bệnh hại trên chè:

- Bệnh thối búp chè do nấm Colletotrichum theae Petch

- Bệnh thán thư do nấm Gloesporium theaesinensis Migake

- Bệnh đốm nâu do nấm Colletotrichum Camellia Masse.

Nấm bệnh hại Cà Phê :

- Bệnh khô cành khô quả do nấm Colletotrichum coffearum Noach

- Bệnh nấm than do nấm Colletotrichum gloeosporioides

Nấm bệnh hại cây Cao Su :

- Bệnh loét sọc miệng cạo do nấm Phytopthora palmivora

- Bệnh phấn trắng do nấm Oidium heveae Stein.

Đây là những bệnh thường gây hại nặng nề trên các cây ký chủ tương ứng, gây nhiềuthiệt hại đến năng suất, chất lượng sản phẩm

Đã có những nghiên cứu ở nước ta về các loại nấm bệnh hại này về các đặc điểm

Trang 11

phát sinh gây hại và biện pháp phòng trừ bằng hóa học và canh tác Gần đây, có một sốnghiên cứu mới về một số loại chế phẩm sinh học và được sản xuất từ nấm đối kháng cóhoạt tính diệt trừ nấm hại trên một số cây trồng nông nghiêp Tuy nhiên chưa có nghiêncứu cụ thể nào về việc tìm và sản xuất một loại chế phẩm có hoạt lực cao đối với các loạinấm bệnh gây hại trên cây chè, cà phê và cao su.

Tại các vùng sản xuất chè, cà phê, cao su trong cả nước, biện pháp hóa học vẫn làchủ yếu để phòng trừ các loại sâu bệnh hại Việc sử dụng thuốc hóa học hiện nay đang làmột vấn nạn lớn đối với môt trường và sức khỏe cộng đồng Mặt khác, đối với cao su và càphê là loại cây có chiều cao gây khó khăn cho việc áp dụng phun thuốc hóa học vì thuốcphải được phủ trên lá, thân, cành mới phát huy được hiệu lực của thuốc Những khó khăn

đó có thể khắc phục khi sử dụng chế phẩm vi sinh, vì hoạt chất của chế phẩm là bào tửsống dễ dàng lan truyền nhờ gió và các tác nhân khác mà xâm nhập vào vùng nấm bệnh,

Chế phẩm sinh học Chaetomium đã được sản xuất và sử dụng rộng rãi tại Thái Lan và

ở nhiều nước trên thế giới Tuy nhiên với điều kiện khác biệt về khí hậu, đất đai, địa hình,đặc tính của riêng của cây chè, cà phê và cao su ở Việt Nam sử dụng chế phẩm có sẵn sẽkhó phát huy được hiệu quả vốn có Với mong muốn ứng dụng những chủng đặc hiệu của

loài nấm Chaetomium có khả năng đối kháng mạnh mẽ với các loài nấm bệnh hại trên 3

loại cây trồng này, và công nghệ sản xuất phù hợp với điều kiện Việt Nam để tạo ra mộtloại chế phẩm đặc hiệu phục vụ nhu cầu sản xuất, tiến hành nghiên cứu sản xuất chế phẩmChaetomium từ công nghệ của Thái Lan, góp phần giúp cho ngành sản suất Chè, Cà phê,Cao su nói riêng và nền nông nghiệp việt nam nói chung phát triển một cách bền vững vàbảo vệ được môi trường sinh thái

Các vấn đề và nội dung đề tài cần thiết phải giải quyết:

- Lựa chọn chủng nấm đối kháng và nấm hại

+ Thu thập và lựa chọn một số loài nấm đối kháng mạnh với các chủng nấm gây hại

Trang 12

chính trên các loài cây chè, cà phê và cao su trong số các chủng nấm Chaetomium được

chuyển giao từ Thái Lan ( gọi là nấm đối kháng NĐK)

+ Thu thập, phân lập các chủng nấm hại chính trên cây chè, cà phê và cao su

- Nghiên cứu nuôi nhân nấm đối kháng và nấm bệnh

+ Nhân nuôi nấm đối kháng

+ Nghiên cứu nuôi cấy nhân tạo nấm bệnh

- Đánh giá hoạt tính của NĐK đối với một số loài nấm hại chính trên cây chè, cà phê và cao su trong điều kiện phòng thí nghiệm.

+ Đánh giá hoạt tính của từng chủng NĐK đối với nấm bệnh

+ Đánh giá hoạt tính của tổ hợp các chủng NĐK đối với nấm bệnh

- Nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học Chaetomium phòng trừ nấm bệnh hại

cây chè, cà phê và cây cao su tại việt nam

+ Nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ nấm hại

+ Đánh giá hiệu lực của chế phẩm đối với một số bệnh hại chủ yếu trên chè, cà phê

+ Tập huấn, tuyên truyền sử dụng chế phẩm sinh học

Những vấn đề khó khăn đang gặp phải:

Hiện nay ở nước ta, nghiên cứu và ứng dụng về lĩnh vực công nghệ vi sinh chưanhiều, nên kinh nghiệm cũng như kỹ thuật, công nghệ về chúng còn rất hạn chế Các kỹthuật về thu thập, phân lập, làm thuần và đặc biệt là công nghệ sản xuất chế phẩm sinh học

từ nấm và các loài vi sinh vật có ích là còn rất sơ khai và yếu kém

Chế phẩm sản xuất ở Thái Lan sử dụng tốt ở điều kiện của Thái Lan, khi sản xuấtchế phẩm ở Việt Nam, cần thiết phải phù hợp với điều kiện sản xuất ở Việt Nam, nên việctìm kiếm giải pháp để chế phẩm phát huy hiệu lực ở điều kiện Việt Nam là khó khăn và hếtsức cần thiết

Mặt khác, còn nhiều khó khăn trong việc tiếp cận, học tập công nghệ, kinh nghiệmcủa nước ngoài Vì vậy, cần có sự đầu tư thích đáng cho đào tạo cán bộ nghiên cứu về lĩnhvực này và liên kết với đối tác để nghiên cứu và ứng dụng lĩnh vực quan trong này vàothực tiễn Việt Nam

14 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước

Trang 13

Tổng quan tình hình nghiên cứu ở ngoài nước của nhiệm vụ (thể hiện sự hiểu biết cần thiết của tổchức, chủ nhiệm về lĩnh vực nghiên cứu, nắm được những công trình nghiên cứu có liên quan đếnnhiệm vụ, những kết quả nghiên cứu mới nhất trong lĩnh vực nghiên cứu của nhiệm vụ ở ngoàinước):

Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan (theo trình tự thời gian mớinhất):

Nêu và đánh giá việc với kinh nghiệm, tính ưu việt và khả năng đi trước của đối tác sẽ giúp giảiquyết vấn đề nghiên cứu của Nhiệm vụ hiện trong nước đang gặp khó khăn:

14.2.1 Đại cương về nấm Chaetomium:

Chaetomium là một loại nấm hoại sinh có khả năng phân giải cellulose và các hợp chất hơux cơ Chaetomium thường có mặt trong các phân trộn hữu cơ và trong đất, là một trong những chi lớn nhất thuộc lớp nấm túi hoại sinh Ascomycetes Chúng gồm có 300 loài

phân bố ở khắp nơi trên thế giới ( Von Ax và cộng sự), 1986; Gustav Kunze phân lập, dựa

trên các đặc tính của Chaetomium globossum Các loài Chaetomium khác nhau đã được

phân lập từ nhiều nguồn và nhiều phương pháp khác nhau [66] Theo Seth thông báo rằngphân chuồng và các sanr phẩm cellolose khác ngoài đồng ruộng được giữ trong phòng thínghiệm dưới điều kiện ẩm độ phòng và nhiệt độ 25 -270C, sẽ thu được các quả thể dướikính hiển vi nổi hai chiều Còn theo Soytong và Quimio (1989) thông báo rằng các loài

Chaetomium được phân lập nhờ phương pháp bẫy nấm bằng giấy ẩm đạt trên bề mặt đất

ẩm trong đĩa petri Khả năng phân hủy cellulose của Chaetomium là do bản thân nó có

enzyme cellulase Vì có khă nang phân hủy cellulose nên nhiều nhà khoa học, nhiều nhànghiên cứu trên thế giới đã bị thu hút vào việc nghiên cứu ứng dụng chúng để phục vụ

cuộc sống con người [47] Từ đó có nhiều báo cáo và ứng dụng các loại nấm Chaetomium

trong phòng chống một số bệnh nấm hại thực vật, trong đó nhiều nhất phải kể đến là

Chaetomium globosum và Chaetomium Cupreum.

Theo kết quả nghiên cứu của nhiều nhà ngiên cứu trên thế giới và đặc biệt là các nhà

khoa học Thái Lan trong nhiều năm qua về Chaetomium spp Đã được thử nghiệm thành

công trong việc phòng trừ các bệnh nấm hại cây trồng, đặc biệt là các bệnh nấm lan truyền

trong đất như Pyricularia oryzae, Curvularia lunata, Rhizoctonia oryzae, Phytophthora palmivora, Phytophthra parasitica (Soytong, 1989; Soytong 1992a ) Venturia inequalis (

Bordeau và Andrew); Cullen và CS, (1984); Cullen và Andrew, 1984; Heye và Andrew,

1983 Fusadium oxysporum f.sp Lycopersici, Sclerotium rolfsii ( Soytong 1991a ), Phythium ultimum (Di-Pietro và cs , 1991), Alternaria brassicicola (Vannacci và harman, 1987) và có tiềm năng giảm lượng gây ô nhiễm khởi đầu của Bostrytis cineria ( Kohl và cs, 1995) Hơn thế nữa, một dòng của Ch Cupreum còn được biết đến là đối kháng với nấm Phomosis và với nấm Collectotrichum, tác nhân gây bệnh trên đậu tương ( Mannandhar và

cs, 1986) Chúng còn có khả năng kích thích sinh trưởng phát triển của cây từ đó tăngđược sức đề kháng cho cây, tăng độ mùn, tăng năng suất và chất lượng nông sản [53, 54,

30, 32, 38, 55]

Tất cả các thành viên của chi Chaetomium là nấm hoại sinh có khả năng phân hủy

cellulose bao gồm cả vải bông và đặc biệt một số chủng trong số chúng có khả năng phânhủy cả giấy hoặc làm mủn rơm rạ, các loài phân bắc, phân chuồng, kể cả các loại gỗ khi

các loại này tiếp xúc với đất, một số loài của Chaetomium có khả năng phân hủy cả gạch

vữa, thừng chão đặc biệt là những vùng địa lý có khí hậu nhiệt dứi và cận nhiệt đới [8]

Trang 14

11.2.2 Đặc điểm hình thái của nấm Chaetomium

Chi Chaetomium được phân lập đầu tiên năm 1817 do Gustav Kunze dựa và loài Chaetomium globosum Đây là một trong những lớp nấm hoại sinh lớn nhất ( Von Arx và

cs.,1986) với trên 300 loài được miêu tả Có một số loài là đồng nghĩa và một số loại phải

đổi tên Chaetomium thuộc họ Chaetomiacae thứ Chaetomial, seris Pyrenomycetes, lớp

phụ Hymenoascomycetidae II [66]

Quả thể của Chaetomium rất đa dạng, có thể mô tả tóm tắt như sau: Với bề ngoài có

hình dạng phình ra ở giữa, có màu tối, có lông bao bên ngoài cứng [gồm có lông bề mặt(terminal hair) và lông bên (lateral hair)] với các kiểu dáng và độ dày mỏng khác nhau: Cóloại xoăn lọn, có loại lông dày tùy theo từng loài Sự phát triển quả thể của chi

Chaetomium rất khác nhau giữa các loài Quả bào tử lúc còn non có hình cavat đến hình

gậy chứa đựng từ 4-8 bào tử màu nâu Khi quả thể chín các giống nhu cột trụ nhú lên từđầu của quả thể Các nang bào tử có màu, thành tế bào nhẵn, có nhiều hình dạng khác nhau( chủ yếu là hình quả chanh) với 1 lỗ mầm [8]

11.2.3 Đặc điểm phân loại của nấm Chaetomium

Nấm Chaetomium được chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các đặc điểm sau:

Hình dáng quả thể

Lông bề mặt và lông bên của quả thể

Chi tiết quả bào tử

Trong thực tế Chaetomium rất đa dạng về hình dáng quả thể, đa dạng của lông bao Khi nghiên cứu nhận dạng và phân loại Chaetomium cần phải dựa trên các mẫu điển

hinhfvif rất nhiều kết quả mô tả bị sai lệch Hầu hết các tác giả đều dựa trên sự phân nhánh

và cách cuộn xuawns của lông bao bên ngoài quả thể làm tiêu chí chính cho phân loại dựatrên đặc điểm của nang bào tử và đặc điểm của lông mao, trong khi đó Von Arx và cs(1986) phát biểu rằng để có thể thành công hơn trong vieecjnghieen cứu phân loại loài

Chaetomium có thể dựa trên đặc điểm của nang bào tử, quả bào tử và dựa vào bề mặt thành

của nang bào tử [66]

Trong khuôn khổ chi Chaetomium, có trên 300 loài đã được nghiên cứu và mô tả.

Tuy nhiên trong đó có một số chủng đac được thay đổi sau khi phân loại lại hoawcjcosnhững ý kiến về sự giống nhau của chúng từ các nghiên cứu của các tác giả khác nhau.Hiện nay còn nhiều ý kiến trong mô tả , cấu tạo thành tế bào của quả thể, về quả bào tử vànang bào tử.[8]

Năm 1935, ở Philippin, Teodoro mới ddinhjdanh được 5 loài nấm Chaetomium, trong

đó, Ch Cumingii, Ch Comatum, Ch Funicolum và Ch Ovlivaceum chủ yếu tìm thấy trên các sợi phế thải họ chuối: Đến năm 1983 Follosco báo cáo về Ch Globosum được tìm

thấy trong đất ở các tỉnh Quezon (Philippine), vì khả năng đôi kháng cao của loài này nên

sự cần thiết tìm kiếm thêm nhiều loài Chaetomium đã thúc đẩy các nhà nghiên cứu không

chỉ ở Philippine mà ở rất nhiều nước khác trên thế giới, trong đó có Thái Lan Năm 1989,dưới sự tài trợ của trung tâm nông nghiệp vùng nam á Nghiên cứu sinh K Soytong và GS

Quiomio T.H đã nghiên cứu và phân loại được 19 loài Chaetomium ở Philippine, chúng có

trong đất, phân chuồng, rơm, rạ, trong các lớp đất ròng, chủ yếu là trồng lúa v.v Ở Thái

Lan theo Udagawa thì Ch Apiculatum Lodha, Ch variosporum Udagawa và Horie, Ch venezuelense Ames tìm thấy trong đất trồng lúa Năm 1989; K.Soytong, Thái Lan đã phân

Trang 15

loại được 15 loài Chaetomium có trong đất trồng lúa, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp,

phân chuồng hoai mục [8]

Trong các phân loại có phân loại của K Soytong và T.H Quimio là có những mô tả

và hình ảnh rõ ràng nhất từ quả thể, lông bao quả thể ( đặc điểm của lông, sự phân nhánhcủa lông), hình dạng quả bào tử, hình dạng nang bào tử [53, 54]

11.2.4 Cơ cế đối kháng của nấm Chaetomium

a Sản sinh ra kháng sinh:

Vấn đề then chốt khi sử dụng nấm Chaetomium là nó sản sinh ra các bào tử trong

vùng đất của rễ, càng nhiều phân hoai mục cang tốt, các bào tử nấm hoại sinh phát triển cókhả năng cạnh tranh mạnh hơn so với nấm bệnh, nhất là trong điều kiện đất có nhiều mùn

hơn Điều đáng lưu ý nhất là Chaetomium được biết đến là một loại nấm có khă năng tổng hợp được các chất hoạt hóa sinh học có hoạt tính hóa học, đó là Chaetobloboosin C, là chất

có hoạt tính kháng nấm ( Di Petro và cs 1992), đó là các chất kháng sinh hoại sinh có khănang tiêu diệt các tế bào bệnh bằng cách phá hủy màng tế bào, làm cho nguyên sinh chất bịphá vỡ ra ngoài và mất đi độc tính của nấm bệnh, kết quả là làm giẩm hiệu quả của tácnhân gây bệnh cũng như mức độ nhiễm bệnh [35]

b Kích thích sinh trưởng phát triển của cây:

Người ta nhận thấy rằng, thực tế khi xử lý chế phẩm sinh học được sản xuất từ các

chủng nấm Chaetomium , cây sinh trưởng phát triển mạnh và cho năng suất, chất lượng cao

hơn, cả trong điều kiện nhà kính và ngoài đồng ruộng Và ở điều kiện khô hạn nó vẫn sinh

trưởng phát triển tốt và tạo ra nhiều khuẩn lạc và rất quan trọng là Chaetomium có khả nảng sản sinh một lượng cơ chất ergosterol Chính ergosterol đã cải tạo đất làm cho đất

thêm màu mỡ, tăng độ phì nhiêu của đất, kích thích sự phát triển của cây [8]

c Tăng sức đề kháng của cây:

Một cơ chế nữa cũng phải kể đến là chính Chaetoglobosin C do Chaetomium globosum sản sinh ra đóng vai trò kích thích tính miễn dịch của cây trồng Khả năng này

thực hiện vai trò kích thích tính miễn dịch của cây trồng lamfcho nó có khả năng khángbệnh Sự oxy hóa mạnh mẽ trong thực vật có thể phân loại nhừ khả năng sinh sản nhanhchóng của các loài có ôxy hoạt hóa tức thời sau khi có biểu hiện của một vài streses Cácloài có ôxy hoạt hóa đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các tín hiệu ban đầu phảnứng lại với các stress ( Doke, 1997) Hiện tượng ôxy hóa mạnh mẽ này được coi là đèn tínhiệu trong các mô tế bào thực vật chống lại sự tấn công của các vi sinh vật gây bệnh, bảo

vệ chính bản thân nó ( Doke và cs, 1991) Khẳ năng làm tăng tính kháng cho cây nhờ vàoviệc kích thích Phytoalexin trong cây trồng trong cây trồng là chất kích thích hệ miễn dịchcủa cây hình thành các phản ứng bảo vệ của cây và kìm hãm sự phát triển của nấm bệnh.[33, 34]

d Cạnh tranh:

Còn một cơ chế nữa cũng phải kể đến là các bảo tử nấm hoại sinh Chaetomium phát

triển có khẳ năng cạnh tranh mạnh hơn so với nấm bệnh nhất là trong điều kiện có nhiềumùn Tính cạnh tranh thể hiện qua sự tăng trưởng phát triển và cạnh tranh thức ăn.[8]

Các loài Chaetomium còn cho ta nhiều loài hợp chất có hoạt tính sinh học, phần lớn

Trang 16

trong số chúng có độc tố kháng nấm Khi tách chiết từ Ch globosum và Ch cupreum thu được ergosterol, rotiorin (1), rotioriol (2), ruborotiorin (3) Còn từ Ch cupreum thu được

ergosterol, ergosterol palmitate, 1,8-dihidroxy-3-methyl anthraquinone (4), rotiorinol (2),

ruborotiorin (3), chaetoglobosin C (5), alternariol monomethyl ether (6), riêng Ch globosum còn cho một hợp chất có hoạt tính sinh học nữa là diketopiperizine alkaloid Echinulin (7) Chính vì thế mà ở Thái Lan đã khai thác các loài nấm Chaetomium này vào

việc sản xuất các chế phẩm sinh học phòng trừ nấm bệnh hại cây trồng [8]

Nghiên cứu về hình thái của nấm Chaetomium

a Nghiên cứu về sự phân bố của nấm Chaetomium:

Nấm Chaetomium là một trng những nhóm nấm lớn nhất trông hệ VSV đất Chúng

phân bố rộng rãi trong tự nhiên, và sự phân bố của chúng cũng tuân theo quy luật như các

loài VSV khác So với VSVĐK khác như nấm Trichoderma, nấm Penicilline, nấm Asperillusn thì sự hiện diện của nấm Chaetomium trong đất mang tính chất thường xuyên.

Số lượng của nấm Chaetomium chủ yếu nằm trong các tầng đát dưới Đặc biệt ở tầng đất sâu 25-30 cm thì số lượng Chaetomium có nhiều nhất ( Bannier, G (1910); Chives, A.H.

(1915); K.Soytong and T.H Quimio (1989) [29, 31, 53, 54]

Trong các tài liệu tham khảo có rất ít các tài liệu công bố về sự phân bố của các

chủng Chaetomium Theo K Soytong và cs (1989); (1991a); (1991b); (2002) Thì nấm Chaetomium là một loài có phân bố rất rộng rãi Chúng có thể tìm thấy ở các nước ôn dới

như Dức, Nhật Bản, một số vùng ôn đới của Trung Quốc, đến tận các vùng có khí hậunhiệt dới như: Thái Lan, Philippine, Việt Nam, Và ở điều kiện khô hạn chúng vẫn sinh

trưởng và phát triển tốt tạo ra các lạc khuẩn vì Chaetomium có khẳ năng sản sinh ra một lượng cơ chất ergosterol Chính ergosterol đã cải tạo đất làm cho đất thêm màu mỡ, tăng

độ phì của đất, kích thích sự phát triển của cây Tuy nhiên Chaetomium phát triển và có khẳ

năng mạnh hơn so với nấm bệnh khi tồn tại trong cùng điều kiện thuận lợi [53, 54, 55]

b Yếu tố dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển của nấm Chaetomium :

- Nguồn các bon:

Cũng giống như bất cứ một loại nấm nào khác, Chaetomium cũng cần lựa chọn cho

mình một môi trường cung cấp cac bon hữu cơ để tổng hợp năng lượng K Soytong (1990)

cho hay khẳ năng hấp thụ nguồn các bon khác nhau của các chủng nấm Chaetomium được

sử dụng việc sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ nấm bệnh hại cây trồng Tác giả cho

thấy các chủng nấm này hấp thụ tốt một số loại đường: Sacarose, glocose, frutose, xenlubioza, D- lactoza, D-maltosa, tinh bột, rỉ đường, axit malic, L-arabinosa để tổng hợp năng lượng Chúng hấp thụ kém đối với rượu, N-amylic, axit citric [8].

Bainier, G 1910 đã nghiên cứu chế độ dinh dưỡng một số loài Chaetomium kết quả cho thấy Chaetomium sử dụng rất tốt với các loại đường fructose, sacaroza, galactoza,

riboza, xenlobioza Riêng rượu mannit, dextri và arabinoza thì ức chế sinh trưởng của nấm

Chaetomium tham gia vào thí nghiệm .[28]

Kết quả nghiên cứu của Chives, A H 1915, thì nấm Chaetomium phát triển tốt ở các

môi trường lactoza, fructoza, sacaroza và lactoza Còn trên môi trường có chứa các loại

đường maltoza, arabinoza, rượu mannit Chaetomium phát triển kém [31] Tuy nhiên có thí

nghiệm của Bordeau, M A và J.H Andrew 1987 Cho rằng các nguồn các bon chính của

Chaetomium bostryochodes là tinh bột hòa tan và đường maltosa và rượu mannit [56].

Trang 17

Nhưng có những nghiên cứu nuôi cấy nấm cho rằng, với Chaetomium trong môi trường không cần cho thêm đường thì Chaetomium vẫn phát triển tốt ( Brauschweig), dẫn

theo Soytong, 1992) [56]

- Nguồng Nitơ:

Nitơ là nguồn nguyên liệu để tổng hợp protein và vitamin đó chính là nguồn dinh

dưỡng chính để sinh ra hoạt tính đói kháng của nấm Chaetomium Khi nguồn dinh dưỡng

đạm cao sé tăng cường khẳ năng sinh men và trao đỏi chất cao hơn Nhiều loài nấm

Chaetomium sử dụng nguồn đạm nitrat tốt hơn nguồn đạm amon, K.Soytong (1989), K.

Soytong (1991b) [53, 55]

Theo K.Soytong (1988), K.soytong và Quimio (1988); Cullen 1984; Bordeau, M.A

và J.H Andrew 1987 thì các loài của Chaetomium hấp thụ cả hợp chất vô cơ và hữu cơ có

chứa nitơ, nhưng chúng ưa môi trường có chứa L-tptophan và L-glutamic Prolin nhanh

chóng bị phân giải bởi Ch.glbosum và nó sử dụng các sản phẩm của quá trình phân giải đó Các nguồn Ch cupreum, Ch globosum, Ch lucknowense ưa thích nitrat natri Nitrat amon

chúng sử dụng kém hơn Cũng theo soytong 1991b thì có những loài hấp thụ tốt muối

amon đó là Ch mollicellum, Ch Funicolumr [53, 54, 32, 30, 38].

Braunschweig thông báo những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ là nguồn dinh dưỡng

tốt nhất cho jsinh trưởng và phát triển của nấm Chaetomium ví dụ: tyrosin,

asparagin,prolin, và alanin Trên môi trường có chứa casein ước chế sinh trưởng của

nhiều loài Chaetomium.

Cũng như nhiều loài nấm đối kháng khác, Chaetomium được phân bố ở nhiều vùng

sinh thái khác nhau, vì thế chúng có đặc điểm sinh lý sinh hóa khác nhau để thích nghi vớiđiều kiện sống và thích ứng với những môi trường khác nhau Cũng vì thế chúng chúng cónhững khác biệt trong việc sử dụng các loại dinh dưỡng [8]

- Các nguồn dinh dưỡng khác:

Đối với nấm Chaetomium đã có nhiều tác giả nghiên cứu và phân loại và thử khả năng đối kháng của chúng Song khác với Trichoderma, loài được đưa vào sử dụng để sản

xuất chế phẩm sinh học phòng trừ nấm bênh hại cây trồng ở mức độ thương mại hóa mớichỉ được áp dụng tại Thái Lan, còn Trung Quốc đã mua patent của Thái Lan Vì thế tài liệu

công bố về các nghiên cứu yếu tố ảnh ngrleen sự sinh trưởng phát triển của Chaetomium

không có nhiều đặc biệt là ảnh của các chất vi dinh dưỡng và vitamin Theo K Soytong1988; K Soytong và Quimio 1988, K Soytong 1991b, Braunschweig dẫn theo K Soytong1991b cho biết các hợp chất của Na, K Fe, Mn và đặc biệt của Mg đã kích thích sinh

trưởng của nấm Chaetomium [53,55].

Sự sinh trưởng phát triển Chaetomium phụ thuộc nhiều vào sự có mặt cuẩ muối

Nitơrat Natri trong môi trường: Nguồn vitamin và các vi dinh dưỡng như: NaH2PO4; FeCl3.6H2O; EDTA; H3PO4; Cl; ZnSO4; Na2MoO4 2 H2O; CoCl.6H2O; CuSO4 5H2O; Thiaminchlonide; Biotin và Vitamin B12 Có ảnh hưởng rắt đến sự sinh trưởng phát triển của nấm

Chaetomium Nếu sự dụng vitamin B12 ở nồng độ 1.10-5% thì kích thích sinh trưởng của

nấm Chaetomium Còn nếu ở nồng độ khác sẽ không cho kết quả mong đợi, Boudreau,

M.A và Adrew (1987); (Ames L.M 1963); Von Arx (1984) [30, 65]

c Một số yếu tố môi trưởng ảnh hưởng lên sự sinh trưởng và phát triển của nấm Chaetomium.

Trang 18

- Độ ẩm tương đối:

Một trong các yếu tố chính ảnh hưởng đến sự nảy mầm của bảo tử và phát triển cavs

cơ quan dinh dưỡng của nấm là độ ẩm tương đối Khác với nấm Trichoderma , loài nấm

này đòi hỏi ẩm đội tương đối phù hợp là 70-100%, còn bào tử của chúng có thể nảy nầmtrong một phổ tương đối rộng Sekita, S(1976), nó có thể nảy mầm ngay cả khi ở các vùngđất khô hạn vì bản thân nó tiết ra ergosterol như đã giải thích ở phần kích thích sinh trưởngcủa cây Theo Sekita 1981, Seth,1981, Soytong và Quimio 1989, Soytong 1991a, 1991b,

thì sự phát triển và khả năng nảy mầm của bào tử nấm Chaetomium trong phổ 30-100%

[53, 55]

- Nhiệt độ:

Điều kiện nhiệt độ cũng là một yếu tố vô cùng quan trong tác động lên sự sinh trưởng

phát triển của loài nấm Chaetomium Nấm Chaetomium phát triển trong một phổ nhiệt độ rộng Chives, A.H (1915); Von Arx (1984) [31, 65] Các loài Chaetomium có thể phát triển

trong một phổ nhiệt độ từ 3-520C (Soytong 1991b) [55] Ch globosum, Ch cupreum sinh

trưởng ử khoảng nhiệt độ 4-420C, còn Ch lucknowense phổ nhiệt độ từ 3-500C TheoUdagwa, S 1973; Soytong 1991a, 1991b thì nguồn gốc xuất xứ của nguốn nấm rất quan

trọng Nếu cùng Ch globosum, nhưng khi phát hiện ở Trung Quốc trong các vùng khí hậu

ôn đới thì chúng sẽ phát triển tốt ở nhiệt độ 12 – 150C và phát triển tối ưu cả ở nga, nhưngcũng loài đó khi phân lập ở Thái Lan thì chúng sinh trưởng phát triển thích ở nhiệt độ 25-

300C Khi nhiệt độ lên cao quá thì loài nấm Chaetomium bị chậm sinh trưởng, bề mặt của

chúng mấp mô, không bằng phẳng/ Tuy nhiên nhiệt độ không ảnh hưởng rõ rệt đến hoạt

tính đối kháng của nấm Chaetomium, Boudreau, M.A và Adrew (1987); ( Bainier, G.

1910); Von Arx (1984) [30, 37, 28, 65]

- Ánh sáng:

Có rất ít tài liệu công bố về những ảnh hưởng của ánh sáng lên sự phát triển của nấm

Chaetomium Theo Umeda, P Và cs 1981; Heye C.C 1983; Soytong và Quimoio (1988);

Soytong, 1991b; Dipietro, A (1991), cho thấy ánh sáng có ảnh hưởng đến hoạt động và

quá trình sinh trưởng của nấm Chaetomium Trong điều kiện tối, quá trình sinh bào tử

chậm hơn trong điều kiện chiếu sáng, nhưng khối lượng bảo tử điềụ kiện chiếu sáng liêntục sẽ ít hơn so với điều kiện tối Đặc biệt nếu ở điều kiện sáng xen tối thì lượng bào tử vàlượng nấm sinh khối thu được là cao nhất Sự chiếu sáng liên tục làm ức chế sự tạo thànhsinh khối, sự hình thành bào tử và sự tăng trưởng phát triển của sợi nấm.[64, 38, 53, 35].Nhưng theo Heye C.C 1983; thì ánh sáng không có ảnh hưởng rõ rệt đến một số chủng

nấm Chaetomium trong những thí nghiệm của ông [38].

- pH:

Đây là một yếu tố vô cùng quan trọng liên quan đến sự sinh tồn của nấm Chaetomium.

Từ các yếu tố môi trường khác như: Nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm đang là yếu tố tối thích cho

Chaetomium nhưng độ pH thay đổi theo hướng bất lợi nghĩa là quá cao hay quá thấp đều gây ra tình trạng ngừng phát triển của Chaetomium Mặc dù các loài Chaetomium khác nhau có thể phat triển trong các mức pH khác nhau: Ch globosum và Ch cupreum ( pH 5- 6), nhưng Ch lucknowense (pH 3-8) Theo Soytong (1991b); Siridej (2003) [55].

Mặc dù có những loài Chaetomium có phổ pH rộng, song trong những loài cụ thể cần

phải kiểm tra và xác định độ pH tối ưu cho từng loài

Nghiên cứu về sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ hại nấm:

Trang 19

Hiện nay trên thế gới chế phẩm sinh học phòng trừ sâu hại được thương mại hóa nhiềuhơn so với chế phẩm phòng trừ nấm sinh học Chề phẩm sinh học được sản suất nhiều nhất

là chế phẩm Bt Drake và smith (1963) Đã sản xuất công nghiệp B.thuringinensis Ở USA

với môi trường chứa 6-10% chất dinh dưỡng ( môi trường gồm 6,8% bột mỳ, 0,64%sacharoza, 1,94 % casein, 4,7% cao ngô, 0,6% nấm men và 0,6% đệm photphat) dịch lênmen cuối cùng đạt 14x109 bào tử/ ml [8]

Bonnefoi (1960) trong Patent đã dùng môi trường có 0,6 -1% (axit amin), 1-2% đường,các khoáng vi lượng calcium, Zn, Mg Sản phẩm được làm khô và trộn với chất mang đểtạo chế phẩm bột

Chế phẩm sinh học được sử dụng để phòng trừ một số loại nấm bệnh hại lan truyềnqua đất, qua hạt, qua không khí Trong quá trình sản xuất người ta quan tâm đến:

(1) khối lượng bào tử và

(2) các độc tố nấm đóng vai trò chính trong hoạt tính diệt nấm [8]

Trong thực tế sản xuất hiện nay đã có một vài chế phẩm phòng trừ nấm hại đượcthương mại hóa ngoài sản xuất Chế phẩm được dùng rộng rãi nhất là Trichoderma, sản

phẩm từ nấm Trichoderma Trong thực tế sản xuất các chế phẩm sinh học BVTV thì bất cứ

một loại nấm nào cũng cần phải lựa chọn cho nó 1 môi trường trong đó cung cấp các bonhữu cơ để tổng hợp năng lượng, cung cấp nguồn nitơ để tổng hợp protein, vitamin cùngmột số loại khoangs và nguồn nuôi dinh dưỡng Môi trường nuôi cấy có thể là cứng hoặclỏng Phụ thuộc vào mục đích nghiên cứu Môi trường thích hợp để tạo ra lượng lớn bào tử

là vấn đề hết sức cần thiết Ở Israel, người ta dùng cám lúa mì hoặc than bùn để làm chấtphụ gia cho việc sản xuất chế phẩm, còn ở Pháp người ta dùng hạt yến mạch và agar Ở Ấn

độ người ta lại dùng các loại phế liệu nông sản như: Vỏ quả cây cà phê, ở Đài Loan dùng

vỏ trấu làm môi trường sản xuất chế phẩm trừ nấm sinh học Một trong những nước nghiêncứu nhiều về phương pháp sản xuất chế phẩm sinh học phòng trừ nấm bệnh là Liên Xô cũ.Các tác giả khác nhu đã dùng các nguồn nguyên liệu khác nhau làm phẩm sinh học và

chúng có tên là Trichodermin Họ có thể dụng 4 loại môi trường khác nhau:

(1) Trichodermin được sản xuất trên môi trường dinh dưỡng giàu chất đam và tinh bộtnhư hạt mì, đại mạch, ngô và agar;

(2) Trichodermin 2 được sản xuất trên môi trường rưm, cỏ được nghiền nhỏ;

(3) Trichodermin 3 được nhân trên than bùn đã được sấy khô và khử độc;

(4) Trichodermin 4 được sản xuất theo phương pháp lên men chìm (Egurazdova và cs,

1979) [36]

Và mới đây mỹ cho ra thị trường sản phẩm trừ nấm sinh học Trichoderma, được sản

xuất dưới dạng bột và dạng nước (Lê Văn út, 2005), đó là các chế phẩm được sản xuất từcác công nghệ công nghiệp, tiên tiến, công nghệ lên men chìm sục khí [8]

Ở Thái Lan cũng đã sản xuất chế phẩm trừ nấm sinh học, các chủng nấm được sử dụng

trong chế phẩm này gồm có 22 chủng nấm Chaetomium globosum và Ch cupreum chế phẩm có tên thương mại là Ketomium Công ty sản xuất ra chế phẩm này là công ty NOVA

SCIENCE, song họ không cho biết cụ thể mọi điều kiện và môi trường lên men Quá trìnhlên men luôn dựa theo Patent Soytong (1991b) như sau: Nấm được nuôi cấy ở ống thạchnghiêng sau đó nhân giống cấp 1 trong bình tam giác rồi chuyển sang nhân giống cấp 2trong tăng con của hệ thống lên men Môi trường canh thăng cho nhân giống và và môitrường cho sản xuất như sau: Nguồn Nitơ NaNO3, Nguồn các bon: Rỉ đường và một sốmuối khoáng KH2PO4, KH2PO4, MgSO4.7 H2O, KCl, vitamin và Yeast extract Khi bào tử

Trang 20

được hình thành, ly tâm trộn với chất phụ gia ( chất mang: talc và alginate và một vài phụ

gia khác), sấy khô, sau đó chế phẩm được đóng gói Theo Soytong, chế phẩm Kitomium

trừ nấm sinh học có hoạt tính diệt nấm, Lượng bào tử phải đạt 3,2 x 107 bao tử/g Các

chủng nấm Chaetomium của Thái Lan được sử dụng trong sản xuất chế phẩm sinh học

phòng trừ nấm bệnh hại cây trồng là những chủng có hoạt tính đối kháng rất cao [8]

Kolombet (2002) qua nghiên cứu đã cho biết rằng: Dùng môi trường có 1% rỉ đường,2-3%nấm men để sản xuất thử chế phẩm sinh học phòng trừ một số loại nấm bệnh từ một

số chủng Chetomium [8].

Dulmage (1970) nghiên cứu sự tạo bào tử của các chủng nấm khác nhau bằng phươngpháp nuôi cấy chìm Theo ông, cũng giống như quan điểm của Soytong hoạt tính diệt nấmhay chất lượng của chế phẩm phụ thuộc vào môi trường và đặc biệt là chủng giống Nếutìm được các chủng có hoạt tính đối kháng cao, sẽ có chế phẩm tốt hơn [8]

Hầu hết các tiến bộ gần đây trong việc sản xuất chế phẩm BVTV sinh học với quy môcông nghiệp dùng phụ gia talc, Kaolin, bột mì, bột đậu tương đã cho thấy môi trường kinh

tế trong sản xuất thương mại [8]

Dùng 4-6% lactoza đã kết tủa với bảo tử giúp cho sản phẩm dễ tạo thành hỗn dịch.+) Tạo chế phẩm:

Mục đích của việc tạo chế phẩm sinh học trừ nấm là tạo ra một loại chế phẩm có khẳnăng bền vững hơn trong quá trình bảo quản và quá trinhf sử dụng ở ngoài đồng ruộnghoặc trên các nông sản bảo quản Chế phẩm thường được làm đậm đặc và tạo chế phẩm ở 4dạng:

Nghiên cứu về nấm bệnh gây hại trên cây Cao Su:

Trước năm 1912, hầu hết cây cao su trồng trên thế giới là cây hoang dại có nguôngốc từ các cây có nguồn gốc từ vùng rừng amzon ( caosu hevea ) và một phần nhỏ được

trồng ở các nước nhiệt đới châu phi ( Cao su Puritamia, landolphia, và Castilles) Sau đó

cây cao su trồng dần chiếm ưu thế và được trồng rộng ưe nhiều nước như: Một số nước ởvùng bờ biển tây bắc Ấn Độ, Indonesia, Malaysia, Campuchia, Trung Quốc, Thái Lan, ViệtNam Sản lượng cao su tăng nhanh, không những do tăng diện tích mà còn có nhiều phátminh trong công nghiệp chế biến cao su khô, cao su mủ nước và mở rộng về công dụngcủa cao su Đặc biệt trong khâu kỹ thuật chọn giống, trồng, khai thác và sư chế cao su, từnăm 1928 sau khi tác giả Trimen ở Srilanka (1884) và Ridely ở Singapo (1889) đề xuấtphương pháp cạo mủ và ghép cây, kỹ thuật cạo vòng xoắn ốc và kỹ thuật ghép được ápdụng một cách rộng rãi Từ những năm đầu thập kỷ 1950, người ta đã bắt đầu áp dụng các

kỹ thuật sử dụng chất kích thích chảy mủ và kích thích mọc rễ Do áp dụng các tiến bộ kỹthuật trồng và khai thác, đồng thời sử dụng các giống tốt hơn, nên nhiều nước đã rút ngắnđược chu kỳ thời kỳ đầu xây dựng cơ bản của vườn từ 6-7 năm xuống còn 4,5-5 năm, năngsuất cao su tăng từ 4-5 ta/ha lên 30 ta/ha và hy vọng cây cao su thuần hóa với các giốngtuyển chọn và lai taooj từ nguồn di truyền phong phú nói trên, sẽ đưa năng suất cao su lêncao hơn nữa có thể đạt 50-70ta/ha [20]

Trang 21

Hiện nay Thái Lan, Indonesia, và Malaysia là những nước sản xuất cao su lớn nhất,thứ 2 và thứ 3 thế giới Theo Luckchai Kiptipol, chủ tịch hiệp hội cao su Thái Lan, Xuấtkhẩu cao su nước này năm 2008 sẽ giữ vững ở mức 2,9 triệu tấn của năm 2007, thấp hơn

so với mức 3 triệu tấn của năm 2006 Nước sản xuất cao su lớn thứ 2 thế giới là Indonesia,

có thể chỉ duy nhất với mức 2,8 triệu tấn của năm 2007 vào năm 2008 do thời tiêt khôngthuận và năng suất thấp [20]

Tiêu thụ cao su thiên nhiên thế giới năm 2008 đạt khoảng 10,1 triệu tấn, trong khisản lượng dạt khoảng 9,7-9,8 triệu tấn Nguồn cung cấp cao su thiên nhiên dự báo sẽ cònkhan hiếm ít nhất cho tới năm 2012 [21]

Việc phát triển cao su theo xu hướng hàng hóa và đẩy mạnh về các kỹ thuật canh tác

và khai thác nhằm rút ngắn thời gian kiến thiết cơ bản nhằm tăng năng suất mủ Một mặtđây là một việc làm mang lại nhiều giá trị về mặt kinh tế cho người sản xuất nhưng đồngthời với điều này là tình trạng sâu bệnh hại gia tăng Và nguy cư phát thành dịch hại lớn.Đây là một mối đe dọa lơn lao đối với hầu hết các nước trên thế giới như: Bệnh loet sọcmiệng nạo, bệnh xì mủ, bệnh rụng lá mùa mưa, bệnh phấn trắn và bệnh nấm hồng, Cácloại bệnh này đã làm giảm đáng kể đến sản lượng và chất lượng mủ cao su ở các vùng bịnhiễm [20]

1 Bệnh xì mủ và loét sọc miệng cạo:

Kết quả điều tra của hiệp hội nghiên cứu và phát triển cao su quốc tế đã chỉ ra bệnh xì

mủ gây mất mủ ở nhiều nước trên thế giới như: Brazil, Camerol, Trung Quốc, Ấn Độ,Coote d’voire, Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, .Bệnh gây hại đầu tiên vànghiêm trọng ở các nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Coote d’voire, Srilanka, sau đó lan sang Ấn

Độ, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Và gây thành những dịch lớn ở các nước này Bệnhdấn đến giảm 25-30% sản lượng mủ cao su Nguyên nhân gây bệnh là do một số loài

Phytophthora gây ra, tuy nhiên các loài và các chủng gây hại tùy thuộc vào từng nước khác

nhau [4]

Các nghiên cứu về bệnh do nấm Phytophthora gây mất mủ cao su và biện pháp phòng

trừ bệnh được quan tâm từ những năm 1990 ở Malaysia Thông thường bệnh gây hại tất cả

các bộ phận của cây cao su, nguyên nhân gây ra bệnh chủ yếu do 2 loại nấm Phytophthora palmivora và Phytophthora botryosa Bệnh loét sọc cạo gây mất mủ cao su được xác định nguyên nhân gây hại là loại nấm Phytophthora palmivora (Lee, B.S và Lum, K.Y., 2004)

[5]

Theo Ratana Sdoodee (2004), bệnh loét sọc nạo gây mất mủ cao su gây hại hầu hết ởcác vùng cao su của Thái Lan Bệnh làm suy giảm lượng mủ do mặt cạo bị nấm tấn công

và gây hại Bệnh xuất hiện trong suốt mùa mưa Các kết quả nghiên cứu ở Srilaka cho thấy

có ít nhất 6 loài Phytophthora cộng hợp gây hại trên cây cao su và có sự liên quan giữa

bệnh rụng lá mùa mưa và loet sọc cạo Bênh rụng lá thường xuất hiện và gây hại trước, sau

đó bệnh loét sọc mới xuất hiện Các mẫu lá và quả bị rụng phân lập gần hết là do nấm

Phytophthora meadii, Mẫu bị loét sọc nạo chủ yếu do nấm Phytophthora palmivora [5].

2 Bệnh rụng lá mừa mưa (Phytophthora Leaf Fall).

Theo nghiên cứu của các tác giả Jayasuriya, K.E và cs (2004), bệnh rụng lá mùa mưagây mất mủ cao su xuất hiện đầu tiên vào đầu thế kỷ 20 tại Ấn Độ, Srilanka và Myanmar

Trang 22

(1905), Malaysia (1966) Hiện nay bệnh đã xuất hiện ở tất cả các quốc gia trồng cao su,làm giảm 30-56% sản lượng vườn cao su khai thác Tại Bahia ( Brazil) bệnh này có mức

độ tàn phá tương đương với bệnh cháy lá Nam Mỹ Tác nhân gây bệnh được xác định là do

loài nấm Phytophthora meadii, nấm tồn tại ở phạm vi nhiệt độ từ 5-350C, thích hợp nhất ở25-280C Triệu chứng đặc trưng là trên cuống lá có cục mủ màu đen hoặc trắng, tại trung

tâm vết bệnh đã được xá định do loài Phytophthora botryosa bằng ứng dụng sinh học phân

tử ( ITS Fingerprinting)[5]

Hiện nay, bệnh loét miệng cạo và bệnh rụng lá mùa mưa gây mất mủ cao su là 2 loại

bệnh gây hại phổ biến ở Philippine, được xác định là do nấm Phytophthorapalmivora gây

ra Bệnh phát sinh mạnh khi thời tiết ẩm ướt, có mưa, Ở các vùng trồng của tỉnh Mindanaothuộc Philippine, bệnh gây hại làm giảm 25 – 35% sản lượng mủ, có những vùng năng suấtgiảm 65% (Tangona N G, 2006)[5]

Nghiên cứu về nấm bệnh gây hại trên cây Chè:

Chè là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng khu vực châu phi, được trồng ở nhiều quốcgia Tổng số diện tích chè được trồng ở châu phi khoảng hơn 190.000 ha Năm 1988 châuphi sản suất được khoản 282.000 tấn chè chiến 11,4% sản lượng của cả thế giới (P S.Rattan, 1992)

Chè cũng như nhiều mặt hàng nông sản khác, nó cũng bị tác động mạnh mẽ bởi nhiềuloại sâu bệnh hại

Kết quả nghiên cứu ở Châu Phi cho biết, tất cả các loại bệnh gây ra bởi nấm chúng pháhại trên tất cả các bộ phận của cây Chúng tác động làm rụng lá, ức chế sự sinh trưởng pháttriển của cây, làm cây suy yếu dần và dẫn đến chết Tùy thuộc và từng loại nấm phá hạitrên từng bộ phận khác nhau của cây mà ta có các biện pháp phòng trừ khác nhau Bệnh hại

rễ chè thường xuất hiện ở những vùng chè được trồng trên đất rừng mới được khai hoang.Loại bệnh này thường phá hủy hệ thống rễ của cây chè Nấm bệnh hại rễ thường biểu hiệnrất phức tạp [1]

Theo Sarmah Satya Rajjan, Dutta Prasanta, 2005 Trong số những tác nhân vi sinh vật

được thử nghiệm ở những vùng trồng chè đông bắc India, Trichoderma virideg T.

Harzianum tỏ ra có hiệu quả trong việc phòng trừ bệnh hại rễ

Nghiên cứu về nấm bệnh gây hại trên cây Cà Phê:

Cà phê là cây nông sản của vùng nhiệt đới, hạt cà phê chứa một số vitamin nhóm B,tiền vitamin PP và một số chất khác Cà phê rang có một hương vị đặc biệt, chính các axít

và hương vị độc đáo có trong hạt cà phê đã làm cho cà phê trở thành một loại đồ uốngđược nhiều người ưa thích Hiện nay nhu cầu của người tiêu dùng trên thế giới vẫn khôngngừng tăng lên Vì vậy việc trồng, xuất khẩu, nhập khẩu loại hàng hóa đặc biệt này có một

ý nghĩa kinh tế to lớn đối với nhiều quốc gia Tuy nhiên bên cạnh đó một thực trạng khókhăn luôn đe dọa năng suất, sản lượng cũng như chất lượng cà phê là tình hình sâu bệnhhại Hiện nay, tại các vùng sản xuất cà phê trên thế giới đã xuất hiện nhiều loại bệnh hạinguy hiểm, chúng phát triển mạnh mẽ và lan ra trên diện rộng Năm 1868 đến 1878 ởSrilanca, bệnh Rỉ sắt đã phá hại nặng trên cây cà phê và gây tôn thất 50 triệu đến 350 triệuFranc và phải chặt bỏ phần lớn số lượng cây Bệnh rỉ sắt là bệnh do nấm gây ra Ngày nay,bệnh đã gây hại ở khắp các vùng trồng cà phê chủ yếu của thế giới như: Ấn Độ, Philippine,Thái Lan, Indonesia; các nước châu mỹ: Mỹ, Cu Ba, Mehico, Brazin; Các nước châu phi:

Trang 23

Công Gô, Kenya…Bệnh thường gây ra hiện tượng rụng lá, vàng lá, giảm tỷ lệ ra hoa, đậuquả Gây hiện tượng quả nhỏ, quả bị khô, lép, gây chết cành, làm giảm năng suất, phẩmchất cà phê nghiêm trọng Bệnh còn để lại hậu quả nặng nề cho các vụ sau

Bệnh Nấm Hồng cà phê ( Corticium salmonicolor B et Br.) là bệnh phổ biến ở khắp vùng

trồng cà phê trên thế giới ( Nhất là trên cà phê chè) Bệnh được Ridley phát hiện đầu tiênvào năm 1897 ở Malaisia Bệnh hại ở thân, cành làm cho cành khô chết, lá vàng héo, quảthâm rụng Trên thân cành bị rụng xuất hiện một lớp mốc mỏng, mịn màu trắng hồng Bệnhlan rộng ra, cành khô dần, lớp màu hồng đậm dần bám kín trên vỏ Vỏ cành khô chết, màunâu, nứt tách bong dần Khi vết bệnh đã cũ, mất màu hồng ban đầu, chuyển sang màu xámđen thường do các loại phụ sinh khác phá hại kèm theo

Liệt kê danh mục các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan (theo trình tự thời gian mớinhất):

23 Adam, B.P the potential of mycoparasites for biological control of plant

24 Ames, LM 1963 A Monograph of the Cheatomiaceae U.S Army Res Dev., Ser 2:

27 Anuratha C., and Gnanamanickam S (1990), Biological control of bacterial wilt

caused by Pseudomonas solanacearum.

28 Anikuma, T.B,K.T.P Gowda Possible use of the Trichoderma.

29 Bainier, G 1910 Monographie des Chaetomium et des Chaetomium Bull Soc.

Mycol Fr 25: pp 191-237

30 Bordeau, M.A and J.H Andrew 1987 Factors influencing antagonism of

Chaetomiu golobosum to venturia inaequalis : A case study in failed biocontrol.

Phytopathology 77: pp 1470-01475

31 Chives, A H 1915 A monograph of the genera Chaetomium and Ascotricha Mem.

Torrey Bot Club 14: pp 155-240.

32 Cullen and cs; 1984 Chaetomium golobosum antogonizis the apple sab pathoge,

venturia and under field conditions Canadian Journal of Botany 62: 1814-1818.

33 Doke, N.,(1997) Oxydative burst: Role in signal transduction and plant stress.

Oxidative stressand and the Molecular Bioology of Antioxydant Defanses cold spring Harbor Labora, ventory Press.

34 Doke, N., Miura, Y., Chai, H.B and Kawakita, K (1991) Involement of action

oxygens induction of plant defense response against infection and injury In: active oxygen/oxidative stressand plant metabolism (eds E.J Pell and

K.L>teffen) American Society of plant Physiology, Rockville, MD:84-96

35 Di-pietro, A., R.Kung, M, Gutrella and F.J Schwinn 1991 Parameters influencing

eficacy of Chaetomium globosum in control Pythium ultimum damping off of sugar - beet J Plant Diseases and prtection 98, pp 565-573.

36 Elad, Y., I Chet, J.Kantan J.Trichoderma harzianum: A biocontrol agent effective

against Sclerotium rolfsii and Rhizoctoria solani Phytopathology Vol.

Trang 24

70(2),1980, pp 119-121.

37 Geels and Schippers (1983), Selection of Antagonistic Fluorescent Pseudomonas

sp and their Root Colonization and Persistance following Treatment of Seed Potato, Phytopath Z, 108, pp 193-206.

38 Heye, C.C and J.H Andrew 1983 Antagonism of Athelia bombacina and

Chaetomium globosum to the Scab Pathogen, Venturia naequalis Phytopath 73:

pp 650-654

39 International rubber research and development board (2007) Black stripe disease.

http://www.irrdb.com/IRRDB/Nattural Rubber/

40. Jayasuriya, K.E., Wijesundera, R.L.C., Jayasinghe, C.K and B.I Thennakoon(2004) A

comparative study of Phytophthora meadii isolates from rubber (Hevea brasiliensis) plantations in Sri Lanka Mycopathologia, Springer Netherlands Pp: 125-132.

41 Kaewchai S, Soytong K and Hyde, K.D (2008) Mycofungicides and fungal

biofertilizers Reviews, sritiques and new Ideas Fungal disvesity Page 25-50.

42. Karden Mulya., Minoru Watanabe., Masao Goto., Yuichi Takikawa., and Shinji

Tsuyumu (1996), Suppression of Bacterial wilt Disease of Tomato by dipping with Pseudomonas fluorescens PfG32 - The Role of Antibiotic Substances and Siderophore Production, Ann Phytopath Soc Japan 62, pp 134-

Root-140

43 Kean S, Soytong K f Plant Proteand To-anun.C (2010) Application of Biological

to control citrus root rot under field condition in Cambodia Journal of

agriculture technology 2010 Page 219-230

44 Kasem Soytong (1988) Identification of specis of Chaetomium in the Philippine s

and screening for their Biocontrol properties agains seed borne fungi of rice.

Doctor ò Philosophy ( plant phathology) Page 103

45. Lee, B.S; Lum and K.Y (2004) Phytophthora diseases in Malaysia In “Diversity and

Management of Phytopht

46. Lukezic, F.L., W.M Sackett, S.J Fleischer, M.D Orzolek, and F.E Gildow 1996

Influence of the concentration of Erwinia tracheiphila cells on the development

of wilt symptoms in field grown cucumber and cantaloupe plants Phytopathology 86:123.

47. Mackiewicz, D., Gildow, F.E., Blua M., Fleischer, S J., and Lukezic, F L 1998

Herbaceous Weeds Are Not Ecologically Important Reservoirs of Erwinia tracheiphila Plant Disease 82:521-529.

48 Manahar, PN., P.N Thaoliyal and J.B Scinclair 1986 Potential biocontrol for

Ceylon FAO plant Prot Bull 11: pp 121-128.

49 Meyer, J.-M., and A Stintzi (1998), Iron metabolism and siderophores in

Pseudomonas and related species, In T C Montie, pp 201-243.

50 Sarmah Satya Rajjan, Dutta prasantr and coworker Microbial bioagents for

controlling disease of tea 767-776.

51. Sherf, A F., and MacNab, A A 1986 Cucurbits:Bacterial wilt Pages 307-311 in:

VegetableDiseases and Their Control 2nd ed John Wiley and Sons Publishers, New York.

52 Sequiera L (1992), Bacterial wilt: Past, Present, and Future Bacterial wilt ACIAR

proc, 45 (Hartman G.L., and Hayward A.C eds), ACIAR, Canberra Australia,

Trang 25

pp 12-.

53. Soytong, K And T.H Quimio 1989 A taxonomic study on the philippine species of

Chaetomium The philippine Agriculturist 72: pp 59-72.

54 Soytong, K And T.H Quimio 1989 Antagonism of Chaetomium cupreum to

Piricularia oryzae: a case study to biocontrol of a rise blast disease Thai

Phytopathology 9: pp 28-33

55 Soytong, K 1991a; Species of Chaetomiumin Thailan soil; Thai Phytopathology; 11

86-94

56 Soytong, K 1992a Antagonism of Chaetomium cupreum to Piricularia oryzae.

Journal of Plant Protecition in the Tropics 9: pp 17-24.

57 Soytong, K 1994 Development of Chaetomium cupreum as a soil mycofungicide

for controlling tomato wilt The Fifth International Mycological Congress.

August, pp 14-21 Vancouver, British Columbia, Canada

58 Soytong K 1995 Chaetomium as a biocontrol agent against plant pathogens The

XII International plant Congress Hagne, Netherland, 2-7 july, 1995

59 Soytong K And 1996 Proc 1 st International Symposium on Boipesticides Pp.

124-132

60 Soytong, K, Usuwan P and cs Integrated biological of Phytophthora rot of sweet

orange using mycofungicides in Thailand.

61 Trigalet A (2002), Biological control of bacterial wilt caused by Pseudomonas

solanacearum State of the Art and Understanding, Journal of Genral Plant Pathology 68, pp 125-231.

62 Thurton H.D (1976), Resistance to bacterial wilt In: Proceeding of the First

Iternational Planning Conference and Workshop on the Ecology and Control of bacterial wilt caused by Ralstonia solanacearum Raleigh, North Carolina, pp.

65 Von Arx, J.A., M Dreyfuss and E Muller 1984 A revolution of Chaetomium and

the Chaetomia-ceae Persoonia 12: 169-179.

66 Von Arx, J.A., J Guarro and M.J Figuers 1986 The Ascomycetes Genus

Chaetomium Nova Hedwigia 84: pp 1-162.

67. Ghahfarokhy, M.R., Goltapeh, E.M., Purjam, E., Pakdaman, B.S., Modarres Sanavy,

S.A.M and Varma, A – Potential of mycorrhiza-like fungi Trichoderma species

in biocontrol of Take-all Disease of wheat under greenhouse condition 185-195.

Agricultural technology an internatinal journal (2011)

68 Shternshis, M., Tomilova, O., Shpayova, T and Soytong, K Evalution of

Ketomium-mycofungicide on Siberian isolates of phytopathogenic fungi

247-253 Agricultural technology an internatinal journal (2005)

Nêu và đánh giá việc với kinh nghiệm, tính ưu việt và khả năng đi trước của đối tác sẽ giúp giảiquyết vấn đề nghiên cứu của Nhiệm vụ hiện trong nước đang gặp khó khăn:

Trang 26

Trường Đại học KingMangKut là trường đại học nổi tiếng ở Thái Lan, Một trongnhững nơi tập trung nhiều nhà khoa học giỏi về nhiều lĩnh vực, trong đó nổi bật nhất là lĩnhvực nghiên cứu và ứng dụng vi sinh vật Bộ môn nghiên cứu nấm và phòng trừ sinh học,khoa Công nghệ nông nghiệp, trường đại học KingMangKut đã đạt được nhiều thành tựutrong nghiên cứu khoa học không chỉ có giá trị với đất nước Thái Lan mà có giá trị vớitoàn thế giới

Prof Dr Kasem Soytong, đang là Chủ tịch hiệp hội Công nghệ nông nghiệp ĐôngNam Á, là chủ nhiệm Bộ môn nghiên cứu nấm và phòng trừ sinh học, khoa Công nghệnông nghiệp, trường Đại học KingMangKut Băng cốc Thái Lan Đã có nhiều công trìnhnghiên cứu về sinh học, sinh thái nấm và và vi sinh vật, ứng dụng vi sinh vật trong sản xuấtchế phẩm trừ dịch hại, sản xuất phân bón vi sinh, vi sinh hữu cơ Được nhà nước Thái Lancấp bản quyền cho chế phẩm sinh học trừ nấm bệnh

15 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng

(Luận cứ rõ việc lựa chọn cách tiếp cận phù hợp đối tượng nghiên cứu để đạt mụctiêu đặt ra)

(Luận cứ rõ việc lựa chọn cách tiếp cận phù hợp đối tượng nghiên cứu để đạt mụctiêu đặt ra)

15.1 Cách tiếp cận:

+ Cách tiếp cận hệ thống:

- Tập trung điều tra khảo sát thực trạng sản xuất, điều kiện tự nhiên, các phương thứcsản xuất và mức độ nhiệm bệnh và các biện pháp canh tác Chè, Cà Phê, và Cao Su ở cácvùng sau: Viện NOMAFSI Phú Hộ - Phú Thọ, Mộc Châu – Sơn La, Ba Vì – Hà Nội, LàoCai Các ưu điểm và hạn chế của những biện pháp này liên quan đến mức độ phát sinh,phát triển của các loại nấm bệnh gây hại trên 3 loại cây Chè, Cà Phê và Cao Su

- Nghiên cứu tổng thể đặc điểm , tính chất của từng loại cây trồng Chè, Cà Phê và Cao

Su trên từng loại địa hình, khí hậu và nhiều điều kiện khác nhau Để từ đó cho ta một cáchnhìn tổng thể và đúng dắn hơn về từng loại cây trồng đó, thông qua đó có những tác độngchính xác hơn trong nghiên cứu và trong thực tiễn sản xuất

- Tập hợp đầu đủ các công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước để phân tích

cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm xác định được các chủng nấm đặc hiệu có khẳ năng diệt trừnấm gây hại mạnh mẽ để sản xuất ra một loại chể phẩm có hoạt lực cao, từ đó nâng caonăng suất chất lượng và góp phần giúp cho nghành Chè, Cà Phê và Cao Su phát triển mộtcách bền vững và hiệu quả

Qua nghiên cứu, chúng tôi tiến hành lựa chọn địa điểm thu thập mẫu như sau:

Thu thập mẫu nấm gây bệnh trên chè ở Phú Thọ, Thái Nguyên, Nghệ An; mẫu bệnhtrên cà phê chè ở Ba Vì, Sơn La; mẫu bệnh trên cao su ở Phú Thọ, Lai Châu Sở dĩ chúngtôi lựa chọn những địa điểm này vì đây là những khu vực trọng điểm, có điều kiện tự nhiênsinh thái, khí hậu… phù hợp và đây là những nơi có diện tích lớn và đặc trưng

Trang 27

+ Tiếp cận từ thực trạng nghiên cứu:

Căn cứ vào kết quả của tổng quan tài liệu nghiên cứu và các công trình đã có trên thếgiới và trong nước, có thể nhận thấy rằng hiện nay có rất nhiều nước trên thế giới đã vàđang nghiên cứu và ứng dụng rất hiệu quả các loại chế phẩm sinh học trong nông nghiệpnói chung và trong công tác phòng trừ nấm bệnh hại nói riêng Và gần đây, đối với loại chế

phẩm sinh học khai thác và sản xuất từ các chủng nấm hoại sinh Chaetomium đã và đang

phát triển và ứng dụng rộng rái ở nhiều quốc gia trên thế giới

Ở Việt Nam, nghiên cứu và sử dụng chế phẩm sinh học thay thế cho thuốc BVTVtrong công tác phòng trừ nấm bệnh hại cây trồng còn đang rất mới mẻ và ít ỏi Thời giangần đây cũng đã có một số nhà nghiên cứu chú ý và khai thác vấn đề này Đáng quan tâmnhất là nghiên sản xuất chế phẩm sinh học có tên ChaeVDT do Viện Di truyền sản xuất( PGS TS Lê Thị Ánh Hồng 2005) Chế phẩm có hiệu lực mạnh mẽ trong việc phòng vàtrị nhiều loại nấm bệnh hại trên nhiều loại cây trồng Tuy nhiên số lượng các nghiên cứu vềchế phẩm sinh học cho phòng trừ nấm bệnh hại cho cây trồng nông nghiệp Việt Nam cònrất hạn chế, đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đề cập đến một các cụ thể các loại nấm bệnhgây hại trên 3 loại cây trồng được nhà nước ta xác định là rất quan trọng đó là: Chè, CàPhê và Cao Su, Cũng như chưa có một nghiên cứu nào đề cập đến việc tìm ra một loại chếphẩm dặc hiệu cho những loại nấm bệnh hại trên 3 loại cây trồng này

- Thực trạng nghiên cứu cho thấy, cùng với nhu cầu ngày càng cao về các loại sảnphẩm này, đòi hỏi con người thâm canh, mở rộng diện tích và quy mô Bên cạnh sản lượngkhông ngừng tăng lên, thì thực trạng về sâu bệnh hại đang đe dọa ngày càng cao ở nhiềuvùng sản xuất Sâu bệnh hại, thường làm cho năng suất chất lượng sản phẩm giảm mạnh,chính vì thế đòi hỏi chúng ta phải quan tâm đàu tư nghiên cứu và tìm ra các giải pháp tácđộng kịp thời để giảm thiểu tác hại do sâu bệnh hại nói chung và nấm hại nói riêng gây ra

- Một thực tế cho thấy, Việc sản xuất trên quy mô rộng lớn, việc sử dụng thuốcBVTV hóa học đang gây ra sự ô nhiễm nghiêm trọng cho nguồn nước, cho tài nguyên đất,cho toàn bộ môi trường sinh thái vùng sản xuất, làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến sức khỏe củangười sản xuất và cộng đồng dân cư sống lân cận Gia tăng hàm lượng tồn dư thuốc BVTVtrong sản phẩm làm ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng

+ Tiếp cận trên cơ sở kế thừa

Đề tài nghiên cứu tập hợp, chọn lọc các kết quả đạt được từ các đề tài, dự án đã vàđang được thực hiện, do nhiều nguyên nhân chưa phát huy được tác dụng hoặc đề cập vấn

đề chưa sâu… Thì đề tài chúng tôi hoàn thiện những phần còn thiếu, những phần chưa đềcập đến liên quan đến nội dung của đề tài, nhằm tìm ra được các chủng nấm tốt nhất có khảnăng diệt trừ các loài nấm bệnh gây hại trên cây Chè, Cà Phê và Cao Su Dể trên cơ sở đónghiên cứu tạo ra một loại chế phẩm sinh học tốt, phù hợp và dễ áp dụng nhất trong việcphòng trừ nấm bệnh trên 3 loại cây này ở Việt Nam

15.2 Phương pháp nghiên cứu và các kỹ thuật sẽ sử dụng:

15.2.1 Xác định chủng nấm đối kháng và nấm gây bệnh

Trang 28

a) Phương pháp thu thập mẫu bệnh: Thu thập tất cả các loại triệu chững bệnh trên tất cả

các bộ phận của cây Các mẫu bệnh được đựng trong túi Polyetylen Sau khi thu thập, mẫuđược mang về phòng thí nghiệp để xác định, những mẫu khó thì gửi đi giám định

Chú ý: Cần ghi rõ các thông tin của mẫu:

- Ngày, địa điểm thu mẫu, tên của chủ ruộng lấy mẫu

- Cây trồng ( Giống, tuổi cây, lịch sử của cây, những cây trồng cùng)

- Bộ phận của cây bị hại

- Tên người lấy mẫu, đánh số mẫu

- Thời điểu lấy mẫu trong ngày

- Triệu chững và mức độ bệnh

Tất cả các mẫu bệnh khi mang về phòng thí nghiệm nhất thiết đều phải có dán nhãn

rõ ràng và đầy đủ các thông tin cần thiết ở trên

b)Phân lập và làm thuần nấm gây bệnh.

- Rửa mẫu bệnh dưới nước máy để loại bỏ đất và bụi bẩn

- Nếu có nhiều vi sinh vật hoại sinh trên vết bệnh nên rửa bằng cồn Ethanol 70%

- Cắt mô vết bệnh thành mẩu nhỏ tại điểm tiếp giáp giữa mô bệnh và mô khỏe

- Nhúng mô bệnh vào dung dịch Natri hypochlorite1% và trong cồn ethanol 10% trongthời gian khoảng 1-5 phút

- Lấy mẫu ra khỏi dung dịch khử trùng bề mặt và rửa lại bằng nước cất, sau đó làm khôbằng cách đặt mẫu lên giấy lọc đã tiệt trùng Tất cả những thao tác này đều được thực hiệntrong tủ cấy vô trùng Cắt mẫu bệnh với kích thước 2x2 mm sau đó đặt lên môi trườngagar-nước cất hoặc môi trường PDA Khi đặt miếng cấy lên môi trường cần mở và đóng

Ngày đăng: 08/11/2019, 19:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w