BCTC DN theo chuẩn mực kế toán và thông lệ kế toán quốc tế, trong đó có nhữngvấn đề còn khá mới ở các quốc gia, như: đo lường giá trị hợp lý; báo cáo nguồn lực tri thức; báo cáo trách nh
Trang 1LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang PGS TS Đặng Thái Hùng
HÀ NỘI - 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận án này là công trình nghiên cứu khoa học độclập của tôi Các số liệu, kết luận nêu trong luận án là trung thực và có nguồngốc rõ ràng
Hà Nội, ngày, tháng năm 2019
Tác giả luận án
Hoàng Vũ Hải
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP 18
1.1 Tổng quan về báo cáo kế toán trong doanh nghiệp 18
1.1.1 Khái niệm, mục đích và tác dụng của hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp 18
1.1.2 Lý thuyết nền tảng ứng dụng trong nghiên cứu hệ thống Báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp doanh nghiệp 21
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị trong DN 25
1.1.4 Hệ thống báo cáo kế toán trong doanh nghiệp 30
1.2 Báo cáo tài chính 33
1.2.1 Đối tượng sử dụng thông tin báo cáo tài chính 33
1.2.2 Mục đích của báo cáo tài chính 34
1.2.3 Yêu cầu, nguyên tắc lập và trình bày Báo cáo tài chính 36
1.2.4 Đo lường, ghi nhận và trình bày các yếu tố cơ bản của Báo cáo tài chính 41
1.3 Báo cáo kế toán quản trị 51
1.3.1 Đối tượng sử dụng thông tin Báo cáo kế toán quản trị 51
1.3.2 Mục đích, tác dụng và vai trò của báo cáo kế toán quản trị 52
1.3.3 Yêu cầu về chất lượng thông tin của báo cáo kế toán quản trị 56
1.3.4 Hệ thống Báo cáo kế toán quản trị trong DN 58
1.4 Hệ thống báo cáo kế toán trong các DN trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 63
1.4.1 Hệ thống báo cáo kế toán ở một số nước trên thế giới 63
1.4.2 Bài học kinh nghiệm về hệ thống báo cáo kế toán cho các DN ở Việt Nam 73
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 79
Trang 4Chương 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN TRONG CÁC CÔNG TY LÂM NGHIỆP VIỆT NAM 81 2.1 Tổng quan về các Công ty lâm nghiệp Việt Nam 81
2.1.1 Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công ty lâm nghiệpViệt Nam 812.1.2 Đặc điểm về tổ chức sản xuất kinh doanh và cơ chế tài chính ảnh hưởngđến hệ thống báo cáo kế toán của các công ty lâm nghiệp Việt Nam 87
2.2 Thực trạng hệ thống báo cáo kế toán tại các Công ty lâm nghiệp Việt Nam hiện nay 102
2.2.1 Thực trạng hệ thống pháp lý về kế toán Việt Nam đối với lập và trình bày
hệ thống báo cáo kế toán hiện nay 1022.2.2 Thực trạng hệ thống báo cáo tài chính theo Luật Kế toán và theo chuẩnmực kế toán tại các Công ty lâm nghiệp 1062.2.3 Thực trạng hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong các Công ty lâm nghiệp
ở Việt Nam hiện nay 117
2.3 Đánh giá thực trạng hệ thống báo cáo kế toán của công ty lâm nghiệp hiện nay 128
2.3.1 Đánh giá thực trạng vận dụng hệ thống pháp lý về kế toán ở Việt Namtrong việc lập và trình bày hệ thống Báo cáo tài chính và Báo cáo kế toán quản trịtrong doanh nghiệp hiện nay 1282.3.2 Đánh giá thực trạng hệ thống Báo cáo tài chính của các Công ty lâm nghiệp133
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 139 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG BÁO CÁO KẾ TOÁN TẠI CÁC CÔNG TY LÂM NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 140 3.1 Định hướng phát triển của các công ty lâm nghiệp Việt Nam trong thời gian tới 140
3.1.1 Định hướng phát triển ngành lâm nghiệp đến năm 2030 1403.1.2 Định hướng phát triển các công ty lâm nghiệp hiện nay 141
3.2 Mục tiêu, nguyên tắc hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán tại các công ty lâm nghiệp Việt Nam 142
3.2.1 Mục tiêu và phương hướng hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán 1423.2.2 Nguyên tắc hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán trong Công ty lâm nghiệp145
Trang 53.3 Nội dung hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán tại các công ty lâm nghiệp
ở Việt Nam hiện nay 147
3.3.1 Hoàn thiện hệ thống báo cáo tài chính trong các công ty lâm nghiệp Việt Nam hiện nay 147
3.3.2 Nội dung hoàn thiện hệ thống Báo cáo kế toán quản trị tại các công ty lâm nghiệp ở Việt Nam 176
3.4 Điều kiện thực hiện các giải pháp về hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán ở các công ty lâm nghiệp 188
3.4.1 Về phía nhà nước 188
3.4.2 Về phía Hội kế toán kiểm toán Việt Nam (VAA) 190
3.4.3 Về phía các công ty lâm nghiệp 191
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 194
KẾT LUẬN CHUNG 195
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 197
TÀI LIỆU THAM KHẢO 198
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐKT Bảng cân đối kế toán
BCKQHĐKD Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
BCKTQT Báo cáo kế toán quản trị
BCLCTT Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
BCTC Báo cáo tài chính
IAS Chuẩn mực kế toán quốc tế
IFRS Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tếKTQT Kế toán quản trị
KTTC Kế toán tài chính
LCTT Lưu chuyển tiền tệ
LTQD Lâm trường quốc doanh
Trang 7Viết tắt Nghĩa đầy đủ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích theo IASB và
FASB 22
Bảng 2.1 Tình hình các công ty lâm nghiệp hiện nay ở Việt Nam 85
Bảng 2.2 Tình hình sử dụng đất đai của các công ty lâm nghiệp hiện nay 86
Bảng 2.3 Kết quả lập dự toán chi phí tại các CTLN 118
Bảng 2.4 Định mức nhân công và giá thành trồng rừng năm 2016 CTLN Sông Thao 120
Bảng 3.1: Định mức nhân công và giá thành khai thác 181
Biểu 3.2: Định mức suất đầu tư bình quân tính trên 1ha rừng trồng 183
Bảng 3.3 Bảng tính giá thành dạng lãi trên biến phí 186
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống thông tin kế toán quản trị theo đối tượng sử dụng 51
Hình 1.2: Sơ đồ mối quan hệ giữa các chức năng quản trị và thông tin KTQT 54Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cty TNHH MTV LN Đông Triều 95Hình 2.2 Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH một thành viên Lâmnghiệp Hoà Bình 98Hình 2.3 Sơ đồ phân bổ hình thức kế toán trong CTLN 101Hình 2.4 Biểu đồ tổng hợp ý kiến khảo sát về vai trò quan trọng của BCTCtrong CTLN 107Hình 2.5 Biểu đồ ý kiến của chuyên gia về nội dung BCTC thống nhất đồng bộtrong các văn bản pháp lý hiện hành và đã đáp ứng được yêu cầu: Trung thực, hợp
lý, đầy đủ, khách quan, không sai sót 108Hình 2.6 Biểu đồ kết quả tổng hợp ý kiến về bổ sung chỉ tiêu Tài sản sinh học trongBCTC 112Hình 2.7 Sơ đồ quy trình sản xuất và chế biến sản phẩm gỗ của CTLN 121Hình 2.8 Sơ đồ tổng hợp chi phí sản xuất theo từng khâu sản xuất 122Hình 2.9 Biểu đồ kết quả tổng hợp hệ thống BCKTQT ngắn hạn và dài hạn trongcác công ty lâm nghiệp 126Hình 2.10 Biểu đồ kết quả tổng hợp hệ thống BCKTQT ngắn hạn các CTLNthường sử dụng 127Hình 2.11 Biểu đồ kết quả tổng hợp hệ thống BCKTQT dài hạn 128Hình 3.1 Sơ đồ phân cấp trung tâm trách nhiệm tại Công ty và yêu cầu thông tinđối với từng trung tâm trách nhiệm 178
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới kinh tế đã diễn ra từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế ViệtNam đã thay đổi từ một nền kinh tế tập trung bao cấp sang một nền kinh tế thịtrường Tuy nhiên, nền kinh tế thế giới cũng thay đổi không ngừng, quá trình hộinhập ngày càng sâu rộng, hhiệp định thương mại và khu vực tự do thuế quan ngàycàng được thiết lập và mở rộng Các công ty đa quốc gia ngày càng phát triển và mởrộng trên toàn thế giới cùng với sự phát triển không ngừng của internet đã thu hẹpkhoảng cách địa lý giữa các quốc gia Thị trường lao động và thị trường tài chínhngày càng được hội nhập trên toàn cầu Do vậy, đòi hỏi nền kinh tế Việt Namkhông thể đứng ngoài xu thế hội nhập thế giới, nền kinh tế nước ta cũng phải thayđổi và phát triển để theo kịp với nền kinh tế thế giới và cùng phát triển
Cung cấp thông tin kế toán là một trong những nội dung quan trọng của côngtác kế toán Các thông tin kế toán cung cấp thông tin về toàn bộ quá trình hoạt độngcủa DN, phản ánh quá trình và hiệu quả sử dụng các nguồn lực của DN Các đốitượng sử dụng thông tin kế toán bao gồm nhà quản trị DN, các cơ quan chức năngcủa nhà nước, các chủ nợ, nhà đầu tư, người mua người bán BCKT là phương tiện
để truyền tải cung cấp thông tin kế toán đến các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
và được lập trên cơ sở tổng hợp số liệu thông tin kế toán
Hệ thống BCKT là sản phẩm cao nhất của quá trình kế toán Trong điềukiện phát triển kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế ở Việt Nam hiện nay, thông tintrình bày trên BCKT trở nên hết sức đa dạng và càng có ý nghĩa đặc biệt quantrọng BCKT một mặt phải đảm bảo được tình hữu ích đối với nhiều đối tượng sửdụng, đáp ứng được yêu cầu phát triển và quản lý nền kinh tế nhiều thành phầnhoạt động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một mặt phải hòahợp với thông lệ thế giới và chuẩn mực kế toán quốc tế, phù hợp với yêu cầu hộinhập kinh tế
Các CTLN là các DN hoạt động theo luật DN trong các lĩnh vực trồng rừng,chế biến lâm sản, thực hiện dịch vụ về rừng và môi trường rừng Đối tượng sản xuấtchính của các CTLN là các sản phẩm sinh học, cụ thể là rừng trồng, rừng tự nhiênhoặc rừng đặc dụng, các sản phẩm từ rừng như gỗ nguyên liệu các lâm sản ngoài gỗ.Các CTLN hoạt động trong lĩnh vực lâm nghiệp có đặc thù là chu kỳ sản xuất dài,
Trang 11địa bàn sản xuất là các vùng xâu vùng xa, biên giới với giao thông khó khăn, nềnkinh tế chưa phát triển, đời sống người dân còn nghèo Do vậy, các CTLN khôngchỉ sản xuất kinh doanh tạo ra giá trị gia tăng cho mình mà còn là đơn vị tạo công
ăn việc làm thu nhập cho người lao động cho khu vực nông thôn miền núi CácCTLN góp phần phát triển kinh tế vùng khó khăn, nông thôn miền núi Và đặt biệtcác CTLN thường đặt tại địa bàn tại nơi vùng núi, biên giới có vị trí quan trọng vềmặt an ninh quốc phòng Do vậy, phát triển các CTLN cũng là nâng cao an ninhquốc phòng tại các vị trí trọng yếu của đất nước
Mặt khác đối tượng sản xuất kinh doanh của các CTLN là các tài sản sinhhọc, cụ thể là rừng trồng sản xuất, rừng nguyên liệu, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ.Các đối tượng sản xuất này vừa tạo ra giá trị sản xuất, tạo ra lợi nhuận cho DN đồngthời còn tạo ra các giá trị xã hội, môi trường, bảo vệ môi trường, giảm thiểu tác hạicủa thiên tai Do vậy, các CTLN không chỉ giữa vai trò kinh tế mà còn có vai tròquan trọng đối với xã hội, môi trường và đời sống nhân dân
Mặc dù giữ vai trò vô cùng quan trong trong xã hội và nền kinh tế nhưng đa
số CTLN hoạt động không hiệu quả Một phần, do các DN này phải đáp ứng quánhiều mục tiêu của Nhà nước, không chỉ đơn thuần hoạt động vì hiệu quả kinhdoanh của DN Mặt khác, do cơ chế quản lý gò bó bởi chiụ sự chỉ đạo của nhiều cơquan chủ quản, mỗi cơ quan chủ quản lại có nhiều cách quản lý riêng Mặt khác,CTLN giá trị tài sản của DN chưa được xác định rõ ràng Bên cạnh đó, chế độ phânphối thu nhập bất hợp lý, không phát huy được tính sáng tạo năng động của ngườilao động trong DN lâm nghiệp
Các CTLN hiện nay chủ yếu là được hình thành từ các LTQD Khi bước vàođổi mới sắp xếp, đổi mới các LTQD theo Nghị Định số 200/2004/ND-CP ngày03/12/2004 của Chính Phủ về đổi mới sắp xếp và phát triển LTQD trên toàn quốc,
có 170 CTLN được trải rộng chủ yếu trên 5 vùng sinh thái Trong quá trình chuyểnđổi nhiều công ty đã chuyển đổi, sát nhập và giải thể, đến năm 2014 còn 139 công
ty Tuy nhiên qua quá trình chuyển đổi nhiều lần trong vòng 10 năm nhưng cácCTLN đã đổi tên, các yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh là đất đai,rừng các loại, vốn và lao động vẫn chưa được xác lập lại phù hợp với mô hìnhchuyển đổi
Các CTLN chủ yếu là 100% vốn nhà nước, hầu hết các CTLN chưa được
cổ phần hóa do còn vướng mắc về chính sách đối với định giá tài sản của DN nhất
Trang 12là tài sản rừng và đất rừng Chi phí sản xuất kinh doanh của CTLN hết sức phức tạpkhó quản lý Trong đó chi phí đầu tư và trồng rừng là loại chi phí đặc thù, phát sinhliên tục, nhiều năm trong các chu kỳ kinh doanh rừng Các chi phí này bao gồm chiphí bỏ ra 1 lần và các chi phí thường xuyên Do vậy đòi hỏi cần phải có phươngpháp hạch toán, tập hợp phù hợp khi tổ chức báo cáo quản trị tại Công ty.
Các hoạt động sản xuất kinh doanh của các Công ty được tổ chức theo môhình khép kín, từ khâu trồng rừng, khai thác, chế biến gỗ và thương mại, Do vậyviệc trình bày và lập hệ thống BCKTQT phải có những cách thức phù hợp với đặcđiểm của các Công ty
Đặc điểm kinh doanh của CTLN mang tính chất đặc thù khác biệt với cácloại hình DN khác Do vậy, việc đánh giá kết quả sản suất kinh doanh của DN vàđánh giá hiệu quả kinh doanh của DN không giống các DN thông thường
Thông tin kế toán của CTLN không chỉ cung cấp cho các nhà quản trị trong
DN, các cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng bên ngoài DN mà thông tin kếtoán liên quan đến hiệu quả hoạt động của các CTLN còn cung cấp cho các nhàhoạch định chính sách lâm nghiệp, cho các cơ quan chức năng có biện pháp để quản
lý tốt nguồn tài nguyên rừng đang ngày càng cạn kiệt Tuy nhiên, CTLN là dạngcông ty đặc thù, chịu cơ chế quản lý trồng chéo giữa Luật DN và các Nghị địnhriêng cho ngành lâm nghiệp Đồng thời mục tiêu kinh doanh của các CTLN chưa rõràng giữa mục tiêu lợi nhuận và mục tiêu bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường Dovậy, khi áp dụng các chế độ kế toán, chuẩn mực kế toán hiện hành để lập BCKTcho CTLN còn nhiều bất cập và chưa đạt được mục đích cung cấp thông tin nhất làtrong giai đoạn gấp rút đổi mới sắp xếp lại các CTLN, lâp trường quốc doanh và cổphần hóa các CTLN hiện nay
Ở các DN Việt Nam nói chung và CTLN nói riêng, hệ thống BCKT đượcxây dựng phù hợp với đặc điểm kinh doanh CTLN trên cơ sở tuân thủ các quy địnhchung của Bộ Tài chính Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng và áp dụng ở cácCTLN, nhất là trong giai đoạn tiến hành cổ phần hoá, đổi mới sắp xếp lại CTLN,
hệ thống BCKT và cung cấp thông tin đã bộc lộ nhiều hạn chế gặp nhiều lúng túngtrong việc tổ chức, lập hệ thống BCKT hiện nay
Nhằm góp phần hoàn thiện hệ thống BCKT tại các CTLN phù hợp hơn với
điều kiện hiện nay, tác giả chọn viết đề tài “Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán
tại các công ty lâm nghiệp ở Việt Nam” làm luận án tiến sỹ.
Trang 132 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Các công trình nghiên cứu đề cập đến BCKT
Ở Việt Nam, nghiên cứu hệ thống BCKT trong các DN là vấn đề quan trọng và
có nhiều nghiên cứu về vấn đề này Cụ thể có một số các công trình nghiên cứu như sau:
Năm 2011, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện “Tổ chức hệ thống
BCKT trong các DN nhỏ và vừa ở Việt Nam” của tác giả Ngô Thị Thu Hồng
[35] Đề tài đã trình bày rõ các vấn đề lý luận về tổ chức hệ thống BCKT(BCKT) trong DN bao gồm: BCKT tài chính, BCKT quản trị, báo cáo hình thứcthực hiện, báo cáo phân tích Nghiên cứu đã phản ánh thực trạng hệ thống BCKTtheo chế độ kế toán qua các thời kỳ; đánh giá hệ thống BCTC từ năm 1996 đếnnăm 2000 và từ năm 2001 đến nay; thực trạng tổ chức hệ thống BCKT trongcác DN nhỏ và vừa ở Việt Nam từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá về hệ thốngBCTC và hệ thống BCKTQT trong các DN nhỏ và vừa ở Việt Nam Đề tài đã đưa
ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống BCKT từ góc độ chế độ kế toán như hoànthiện việc ghi nhận một số nội dung trình bày trên BCTC; hoàn thiện hệ thốngBCTC từ giác độ thực trạng như ghi nhận và trình bày hợp lý các khoản tiềnnhận trước, đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có gốc ngoại tệ, hoàn thiện thuyếtminh BCTC…; hoàn thiện hệ thống BCKTQT; hoàn thiện công tác phân tích tàichính… Tuy nhiên, đề tài chủ yếu tập trung vào nghiên cứu hệ thống BCTC vàchỉ dừng lại ở lĩnh vực các DN nhỏ và vừa, chưa nghiên cứu sâu vào các DN sảnxuất có quy mô lớn, đặc biệt là lĩnh vực đặc thù như các Công ty lâm nghiệp
- Nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống BCKT trong các DN sản xuất thức ăn
chăn nuôi của Việt Nam” của tác giả Bùi Thị Thu Hương (2011) [17] Luận án của
tác giả đã đưa ra được cơ cở lý luận cơ bản nhất về hệ thống BCKT bao gồm mụcđích, tác dụng, yêu cầu và nguyên tắc xây dựng và nội dung phương pháp lập, trìnhbày hệ thống BCTC, BCKTQT; các yếu tố cơ bản của BCTC, BCKTQT Đồng thờiluận án đã nghiên cứu phân tích đánh giá thực trạng về hệ thống BCTC vàBCKTQT, chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế và nguyên nhân của những hạnchế đó Luận án cũng nghiên cứu những kinh nghiệm lập và trình bày BCKT củamột số nước và Việt Nam, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện hệthống BCKT Từ những nghiên cứu lý luận và thực trạng đó, tác giả đã đưa ra đượccác ý kiến hoàn thiện hệ thống BCKT như sau: Hoàn thiện hệ thống BCTC từ góc
Trang 14độ chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành; hoàn thiện hệ thống BCTC củacác DN sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi hiện nay; Hoàn thiện hệ thốngBCKT quản trị từ các DN này; Hoàn thiện tổ chức sử dụng thông tin BCKT cungcấp Luận án của tác giả trình bày tương đối đầy đủ về tổ chức hệ thống BCTC vàBCKTQT nhưng chủ yếu là đi sâu vào loại hình DN sản xuất và kinh doanh thức
ăn chăn nuôi, chưa khái quát hóa được cho các loại hình DN khác luận án cũngtrình bày chủ yếu về nội dung phương pháp lập và trình bày BCKT phù hợp vớiđiều kiện các DN chưa tiếp cận theo IAS và IFRS như hiện nay
Luận án tiến sỹ kinh tế “Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán trong các DN
sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của tác giả Nguyễn Thị Thanh
Hòa (2017) [43] Luận án đã hệ thống đươc cơ sở lý luận về hệ thống BCKT theohướng tiếp cận thông tin kế toán Tác giả đã phân tích nhu cầu thiếu nhận thông tin
kế toán của người sử dụng để đưa ra lý luận về BCKT trong DN Đồng thời tác giả
đã đánh giá được thực trạng hệ thống BCKT tại các DN sản xuất vật liệu xây dựngtrên địa bàn tỉnh Nghệ An dựa trên định hướng nhu cầu sử dụng thông tin Đồngthời, tác giả đã đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống BCKT gắn với thực trạngcủa các DN sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An Các giải pháp tácgiả đưa ra gắn với định hướng hòa hợp với Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) vàchuẩn mực BCTC quốc tế (IFRS) Tuy nhiên giới hạn phạm vi nghiên cứu chỉ baogồm các công ty sản xuất vật liệu xây dựng trên địa bàn tỉnh Nghệ An, gắn với đặcthù của các công ty này, chưa áp dụng vào các DN khác
Các công trình nghiên cứu đã đề cập đến việc hoàn thiện hệ thống BCKT riêng trong một số loại hình DN
Các công trình nghiên cứu đề cập đến BCTC:
- Luận án của tác giả Nguyễn T h ị Kim Cúc (2009) với đề tài “Hoàn
thiện hệ thống BCTC DN nhằm phù hợp với yêu cầu hội nhập và phát triển của Việt Nam” [42] Cùng với khảo sát ý kiến từ phía DN, nhà đầu tư và giảng viên
về thực trạng hệ thống BCTC hiện hành, tác giả đã đánh giá về thực trạng và đề xuấtgiải pháp hoàn thiện hệ thống BCTC đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển của ViệtNam Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu của luận án cũng chỉ mới dừng lại ở BCTC
- Luận án: “Vận dụng chuẩn mực kế toán quốc tế để hoàn thiện hệ thống
BCTC DN trong điều kiện ở Việt Nam” của Tác giả Lê Hoàng Phúc [30] Luận án
đã phân tích, tổng hợp, đánh giá, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hệ thống
Trang 15BCTC DN theo chuẩn mực kế toán và thông lệ kế toán quốc tế, trong đó có những
vấn đề còn khá mới ở các quốc gia, như: đo lường giá trị hợp lý; báo cáo nguồn lực tri thức; báo cáo trách nhiệm xã hội DN; Phân tích thực trạng áp dụng chuẩn mực
kế toán quốc tế đối với hệ thống BCTC tại các quốc gia và kinh nghiệm cho Việt Nam; Đồng thời, căn cứ vào thực trạng nghiên cứu, luận án đã làm rõ tính tất yếu
của quá trình cải cách hệ thống kế toán và BCTC DN Việt Nam; Đánh giá thựctrạng hệ thống BCTC DN Việt Nam hiện nay, nhận diện các vấn đề cần giải quyết;Xác lập một cách khoa học và phù hợp quan điểm, mục tiêu và phương hướng hoànthiện hệ thống BCTC DN, trên cơ sở nhận diện những điều kiện và bối cảnh mà hệthống kế toán Việt Nam đang tồn tại và phát triển; Đề xuất các giải pháp ngắn hạn,đặc biệt là các giải pháp dài hạn, mang tính khoa học và khả thi, xác định lộ trìnhphù hợp, nhằm phát triển và hoàn thiện hệ thống BCTC DN Việt Nam, nâng caotính hữu ích của BCTC, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Luận án đã định hướng
về nội dung và phương pháp những vấn đề mang tính đột phá ở Việt Nam liên quanđến định giá và trình bày thông tin trên BCTC, như: đo lường giá trị hợp lý; báo cáonguồn lực tri thức; báo cáo trách nhiệm xã hội DN
- Nghiên cứu “Hoàn thiện hệ thống BCTC trong các DN xây lắp hoạt động
theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con” của tác giả Bùi Thu Hằng (2014) [18].
Trong nghiên cứu này, tác giả đã trình bày các lý luận cơ bản liên quan đến hệthống BCTC bao gồm BCTC riêng và BCTC hợp nhất; Tác giả đã nghiên cứu thựctrạng hệ thống BCTC của các công ty xây lắp hoạt động theo mô hình công ty mẹ
và công ty con từ đó rút ra nhận xét, đánh giá về hệ thống BCTC của các Tổng công
ty xây lắp, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế đốivới các Tổng công ty xây lắp trong việc lập và trình bày BCTC riêng và BCTC hợpnhất; Đồng thời luận án cũng đưa ra được các nguyên tắc, yêu cầu và nội dung hoànthiện hệ thống BCTC từ góc độ quy phạm pháp luật, từ lý thuyết hạch toán cũngnhư từ thực tiễn trong các DN xây lắp
Các công trình nghiên cứu đề cập đến BCKTQT
- Phạm Quang (2002) luận án tiến sĩ kinh tế Đại học Kinh tế quốc dân
“Phương hướng xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị và tổ chức vận dụngvào các DN Việt Nam” [46] đã phân tích và chỉ ra điểm xuất phát để tổ chức hệthống kế toán quản trị và xây dựng hệ thống báo cáo kế toán quản trị trong các DNnhằm thực hiện hai chức năng cơ bản của báo cáo kế toán quản trị là chức năng
Trang 16định hướng và chức năng đánh giá tình hình thực hiện tiêu chuẩn kiểm soát Luận
án đã nghiên cứu thực trạng của vấn đề qua hai thời kỳ là kế hoạch hóa tập trung vàthời kỳ quản lý DN theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Từ đó, luận
án trình bày mục đích, tác dụng, nội dung, kết cấu và phương pháp lập những báocáo kế toán quản trị để thực hiện hai chức năng cơ bản của báo cáo kế toán quản trị.luận án đã trình bày được các nội dung cơ bản liên quan đến hệ thống báo cáo kếtoán quản trị, đưa ra được các nguyên tắc cơ bản mà quá trình xây dựng báo cáo kếtoán quản trị cần tuân thủ, đưa ra cách xây dựng hệ thống kế toán quản trị vàphương hướng hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán quản trị, tổ chức vận dụng cácnguyên tắc, phương pháp xây dựng BCKTQT vào các DN Việt Nam Tuy nhiên,khi chế độ kế toán liên tục thay đổi và tiến tới thống nhất với chuẩn mực kế toánquốc tế và đặc điểm nội dung hoạt động của các DN cũng thay đổi thì những địnhhướng hoàn thiện BCKTQT cũng cần phải tay đổi theo để phù hợp với tình hìnhmới
Tóm lại, qua nghiên cứu khảo sát, tác giả cho rằng các công trình nghiên cứu
về BCKT mới chủ yếu đi vào các giải pháp kế toán nói chung hoặc phân tích lýluận và đề xuất giải pháp hoàn thiện BCTC gắn với các DN sản xuất chung củaViệt Nam nhưng chưa đi và nghiên cứu cụ thể đối với loại hình DN lâm nghiệp
Các nghiên cứu nói chung đã hầu hết đi sâu vào nghiên cứu các phương pháp
kế toán và kỹ thuật lập các BCKT cụ thể Các nghiên cứu chưa nghiên cứu đượctổng quát tình hình tổ chức một hệ thống gồm các BCTC và BCKT quản trị có mốiquan hệ mật thiết với nhau về mặt tổ chức thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kếtoán cho các đối tượng kế toán quan tâm
Bên cạnh đó các nghiên cứu chưa nghiên cứu cập nhật những khác biệt vềlập và trình bày BCTC của Việt Nam với thông lệ quốc tế cũng như các quốc giatrên thế giới Mặc dù cũng có một số công trình nghiên cứu về BCKTQT nhưngchưa gắn với phạm vi nghiên cứu tại các DN đặc thù hơn nữa các công trình nàycũng đã khá lâu chủ yếu phân tích các công cụ KTQT truyền thống mà chưa cậpnhật những công cụ KTQT hiện đại
2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Grusd, Neville (2006) “Đề xuất giải pháp cải thiện BCTC cho các công ty
tư nhân”[54] đã chỉ ra những vấn đề mà các công ty tư nhân đang gặp phải khi lập
BCTC sau vụ sụ Enron và đưa ra giải pháp cần thay đổi nguyên tắc kế toán
Trang 17(GAAP) cho các công ty tư nhân trong việc trình bày BCTC đơn giản hơn.
Li, Qingyuan, Wang, Tielin (2010) “Nâng cao chất lượng BCTC và hiệu
quả đầu tư của công ty: Kinh nghiệm từ Trung Quốc” [62] đã nghiên cứu mối quan
hệ giữa chất lượng BCTC và hiệu quả đầu tư ở Trung Quốc bằng cách phân tíchnền tảng thể chế và phát triển giả thuyết Bài viết này có ý nghĩa cho nghiên cứuxem xét các yếu tố quyết định hiệu quả đầu tư và những hiệu quả kinh tế của cácBCTC đem lại, đồng thời nâng cao vai trò của thông tin kế toán mà BCTC cungcấp
Nghiên cứu của nhóm tác giả Ding, Yuan and Jeanjean, Thomas and
Stolowy, Hervé (2005) với đề tài “Why Do Firms Opt for Alternative-Forma
Financial Statements?” [53] Trong nghiên cứu này, các tác giả đã trình bày các
vấn đề liên quan đến hình thức BCTC Kết quả của nghiên cứu cho thấy việc ápdụng hình thức BCTC khác nhau của các công ty phụ thuộc vào tính quốc tế hóacủa công ty Từ khi áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế IAS01 - Trình bàyBCTC, phần lớn các công ty niêm yết tại Châu Âu và Châu Á đã lựa chọn cáccông bố thông tin trên BCTC với các cách thức trình bày thông tin khác nhau
- Những nghiên cứu đề cập đến BCKTQT:
Nghiên cứu của nhóm tác giả Michael Lucas, Malcolm Prowle và GlynnLowth (2013) [64] trong công bố báo cáo của dự án nghiên cứu được bảo trợ bởiViện kế toán quản trị Anh Quốc - CIMA với đề tài nghiên cứu về thực hành kế
toán quản trị tại DN nhỏ và vừa - Management Accounting Practices of (UK)
Small-Medium-Sized Enterprises (SMEs), đã đưa ra kết luận: Các SMEs thường lập
BCKT phục vụ mục đích tuân thủ cá quy định về thuế, và không lập BCKTQT;BCKTQT được lập phục vụ mục đích ra quyết định bao gồm sự phân tích chi phí
có liên quan, các kỹ thuật thẩm định chi phí đầu tư và các công cụ để đối phó vớirủi ro và không chắc chắn (giá dự kiến, cây quyết định và ma trận thưởng phạt);dựa trên kinh nghiệm chia sẻ từ các tổ chức mẫu mực những công cụ phân tíchgiá của sản phẩm phân tích điểm hòa vốn, quản lý vốn lưu động được coi là cơbản giúp DN sống sót trong khi nhiều DN nhỏ không sử dụng công cụ này; Đốivới các DN có quy mô lớn, sụ phân cấp quản lý ngày càng phúc tập thì những công
cụ KTQT được coi là quan trọng mà nhà quản trị DN cần được biết đến là ngânsách, các trung tâm trách nhiệm và các kỹ thuật phân bổ chi phí [62]
Trang 18Howard M Armitage và Alan Webb (2013) thuộc đại học Waterloo “Việc
sử dụng công cụ KTQT tại 11 SME ở Canada”[55] đã giải quyết được 2 vấn đề lớn:
(1) xác định mức độ áp dụng các công cụ KTQT tại các DN có quy mô khác nhau
và hoạt động trong những ngành nghề khác nhau, (2) giải thích lý do tại sao một sốcông cụ KTQT cụ thể không được sử dụng
Kamilah Ahmad, luận án tiến sĩ (2012) Đại học Exeter “KTQT trong công
tác quản lý tại các SME ở Malaysia” [61] đã chỉ ra vai trò của KTQT trong công
tác quản lý tại các SME ở Malaysia; Đồng thời xác định được các nhân tố ảnhhưởng đến việc áp dụng KTQT tại các DN này; Nêu lên mối liên hệ giữa việc áp dụngKTQT với kết quả kinh doanh của DN
2.3 Kết luận rút ra từ các công trình nghiên cứu
Nhìn chung, các công trình khoa học này đã góp phần:
Phân tích những lý luận về bản chất vai trò, mục tiêu của BCTC, cácnguyên tắc lập, trình bày BCTC, nội dung thông tin trình bày trên BCTC, đánh giákhái quát quá trình phát triển của hệ thống BCTC ở Việt Nam
Nghiên cứu hệ thống BCTC áp dụng cho các DN Việt Nam hiện nay, tìnhhình thực tế việc lập BCTC tại các DN Việt Nam và hệ thống BCTC trên thế giới,nhìn nhận ưu, nhược điểm của hệ thống BCTC hiện hành ở Việt Nam Chỉ ra rằng
hệ thống BCTC không ngừng đổi mới và hoàn thiện cho phù hợp với các chuẩnmực chung của kế toán quốc tế, thu hẹp sự khác nhau giữa kế toán Việt Nam vớichuẩn mực chung của kế toán quốc tế
Phân tích BCTC, đưa ra ý kiến nhằm nâng cao chất lượng thông tin cũngnhư phát huy thực sự tác động của BCTC trong công tác quản lý tài chính, đánhgiá hiệu quả kinh doanh
Trên cơ sở nghiên cứu các công trình trong và ngoài nước về các vấn đềliên quan đến luận án, ngoài những thành tựu đóng góp tác giả nhận thấy còn một
số hạn chế sau:
Về nội dung nghiên cứu: các công trình nghiên cứu đã đề cập đến hệ thống
BCKT trong các DN sản xuất như: các nguyên tắc và xây dựng mô hình mẫu về hệthống BCKT trong các DN trong đó đi sâu vào nghiên cứu nguyên tắc, phươngpháp lập và trình bày BCKT đối với từng loại hình DN trên một số lĩnh vực hoặcnghiên cứu về lập BCTC hợp nhất trong các tập đoàn kinh tế, hoặc nghiên cứu vềlập BCKT riêng trong các DN Chủ yếu các công trình đề cập đến nội dung BCKT,
Trang 19phương pháp lập các chi tiêu trên BCKT theo các cách tiếp cận từ nội dung cungcấp thông tin trên từng BCKT
Tuy nhiên chưa có nghiên cứu nào đi sâu và đề cập đến vấn đề nội dung hệ thống BCKT bao gồm BCTC theo hướng tiếp cận với Chuẩn mực kế toán quốc tế và Chuẩn mực BCTC quốc tế hiện nay và BCKTQT theo nhu cầu sử dụng thông tin của các cấp quản trị và người sử dụng.
- Về phạm vi nghiên cứu: Hệ thống BCKT chịu tác động lớn bởi hệ thống
pháp lý về kế toán và đặc điểm hoạt động kinh doanh của DN Tuy nhiên, một
số công trình nghiên cứu mặc dù đã nghiên cứu về hệ thống BCKT nhưng tại cácloại hình DN Việt Nam, không phân biệt loại hình sở hữu vốn hay loại hình kinhdoanh là sản xuất hay thương mại Việc không giới hạn không gian nghiên cứu sẽ ảnhhưởng tới kết quả nghiên cứu vì khó chỉ ra ảnh hưởng của đặc điểm vùng miền, môitrường sản xuất kinh doanh ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất
- Về lĩnh vực nghiên cứu: công trình nghiên cứu về hệ thống BCKT đến
nay mới chỉ có công trình đề cập đến lĩnh vực nghiên cứu cụ thể là ngành sản xuấtkinh doanh thức ăn chăn nuôi của tác giả Bùi Thị Thu Hương và nghiên cứu củatác giả Nguyễn Thị Thanh Hòa nghiên cứu về ngành sản xuất vật liệu xây dựng,chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và cụ thể về hệ thống BCKT thựchiện trên lĩnh vực lâm nghiệp
CTLN là trong một loại hình DN đặc thù với đặc điểm là đối tượng sản xuất
là các sản phẩm sinh học, chu kỳ sản xuất dài, nhiệm vụ sản xuất kinh doanh vừa là mục tiêu lợi nhuận vừa thực hiện nhiệm vụ môi trường, an ninh quốc phòng Mặt khác các CTLN đang trong giai đoạn sắp xếp đổi mới lại mô hình hoạt động, Do vậy, tổ chức công tác kế toán nói chung và hệ thống BCKT nói riêng tại các CTLN
có những đặc trưng riêng khác với các DN khác Đây cũng là một nội dung mà chưa có đề tài nghiên cứu nào đề cập đến.
Từ các nhận xét trên, tác giả cho rằng khoảng trống để tác giả nghiên cứu làhoàn thiện hệ thống BCKT trong các CTLN Việt Nam là cần thiết và được thựchiện theo các nội dung như sau: Nghiên cứu và chỉ ra các nhân tố tác động đến hệthống BCKT trong các CTLN; Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống BCKT trong cácCTLN theo hướng nhằm đáp ứng thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin kếtoán trong các CTLN tại Việt Nam; Tuy nhiên, những kết quả nghiên cứu trước cóliên quan sẽ được tác giả kế thừa một cách có chọn lọc
Trang 20Thông qua nghiên cứu các công trình của các tác giả trước đây, tổng hợp cácmặt đã đạt được và chưa đạt được của các công trình nghiên cứu Đồng thời, xuấtphát từ những khía cạnh đã được nghiên cứu và những vấn đề còn tồn tại chưađược giải quyết triệt để trong các công trình nghiên cứu đã công bố, tác giả tiếptục kế thừa các kết quả nghiên cứu trước và nghiên cứu các mặt chưa được giảiquyết để góp phần phân tích rõ cơ sở luận và cơ sở thực tiễn nhằm đề xuất cácgiải pháp hoàn thiện hệ thống BCKT trong các CTLN Việt Nam hiện nay Cụthể, luận án sẽ giải quyết các nội dung sau:
- Phân tích cơ sở lý luận về hệ thống BCKT trong các DN
- Nghiên cứu thực trạng hệ thống BCKT hiện nay trong các CTLN để từ đó đề
ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống BCKT trong các CTLN hiện nay
3 Mục tiêu nghiên cứu của luận án
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát:
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và vận dụng lý luận vào thực tiễn tại một sốCTLN ở Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống BCKTtại các CTLN ở Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sửdụng thông tin trong và ngoài DN
Mục tiêu nghiên cứu cụ thể
- Hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề cơ sở lý luận về hệ thống BCKT tạicác DN sản xuất
- Thông qua nghiên cứu thực trạng khung pháp lý hiện hành về hệ thốngBCKT và thực trạng hệ thống BCKT tại các CTLN để đánh giá những ưu điểm vàtồn tại cần hoàn thiện Từ đó nêu ra các kết quả đạt được, chỉ ra các hạn chế bất cậpcần bổ sung và đưa ra nguyên nhân những bạn chế, bất cập đó
- Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và vận dụng lý luận vào thực tiễn tại một sốCTLN ở Việt Nam để từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống BCKTtại các CTLN ở Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sửdụng thông tin trong và ngoài DN
4 Câu hỏi nghiên cứu của luận án
Đề đạt được mục tiêu nghiên cứu của luận án Luận án cần phân tích các vấn
đề liên quan đến hệ thống BCKT trong các CTLN nhằm trả lời các câu hỏi sau:
Trang 211 Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống BCKT trong DN?
2 Nội dung hệ thống BCTC và hệ thống BCKTQT trong các DN như thế nào?
3 Thông tin của BCTC và BCKTQT đã thỏa mãn nhu cầu thông tin của cácđối tượng sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài DN?
4 Nội dung và kết cấu hệ thống BCKT của các DN như thế nào để có thểcung cấp thông tin hữu ích cho các đối tượng sử dụng và phù hợp với thông lệ
kế toán quốc tế trong cách mạng 4.0 hiện nay?
5 Thực trạng hệ thống BCKT tại các CTLN hiện nay như thế nào và giảipháp nào để hoàn thiện hệ thống BCKT trong các CTLN để phù hợp với chuẩn mực
kế toán quốc tế và thông lệ kế toán quốc tế hiện nay?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ thống BCKT tại các CTLN ở Việt Nambao gồm hệ thống BCTC độc lập và hệ thống BCKTQT của các CTLN ở Việt Nam Vớiđối tượng này, để đạt được mục tiêu nghiên cứu, luận án đặt trọng tâm nghiên cứucác vấn đề sau:
+ Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống BCKT trong các DNSX
+ Nghiên cứu thực trạng hệ thống BCKT trong CTLN Việt Nam
+ Nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống BCKT tạicác CTLN Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu về hệ thống báo cáo kế toán trong các
công ty lâm nghiệp Việt Nam bao gồm: hệ thống BCTC độc lập và BCKTQT trongcác CTLN Việt Nam Trong đó: Về lý luận chung là dựa trên những nền tảngnguyên tắc kế toán chung được thừa nhận và chuẩn mực kế toán quốc tế; Về đốitượng nghiên cứu: Nghiên cứu về hệ thống BCKT trong các CTLN Việt Nam baogồm: hệ thống BCTC độc lập và BCKTQT trong các CTLN Việt Nam Luận ánkhông nghiên cứu về hệ thống báo cáo kế toán hợp nhất và BCKT tổng hợp tại cácTổng công ty và tập đoàn
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại các Công ty lâm nghiệp độc lập và
các công ty lâm nghiệp thuộc Tổng công ty lâm nghiệp Việt Nam và Tổng công ty
Trang 22giấy Luận án không nghiên cứu tại các Tổng công ty
Trọng tâm của Luận án là phân tích những vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn
để từ đó đưa ra giải pháp để hoàn thiện hệ thống BCKT riêng của từng CTLN ởViệt Nam bao gồm hệ thống BCTC và BCKTQT
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận án nghiên cứu, khảo sát thực tiễn, thu
thập thông tin số liệu sơ cấp và thứ cấp về thu nhận, hệ thống hóa và cung cấp thôngtin BCTC và BCKTQT của các CTLN từ năm 2015 đến năm 2017
6 Phương pháp nghiên cứu của luận án
Căn cứ vào mục tiêu nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp nghiêncứu điều tra, thống kê, phương pháp tổng hợp phân tích, so sánh
Phần cơ sở lý luận được dựa trên những khái niệm, nguyên lý được thừanhận áp dụng trên Việt Nam và trên thế giới Trong quá trình thực hiện đề tài sửdụng các phương pháp phân tích so sánh, diễn giải trong từng trường hợp cụ thể
Phần thực trạng hệ thống BCKT của các CTLN Việt Nam, tác giả phân tíchthực trạng hệ thống BCKT của các CTLN, nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng vàtrên cơ sở đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện Phương pháp nghiên cứu sử dụngtrong nội dung này bao gồm các phương pháp định tính
Về phương pháp thu nhập thông tin
Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp bao gồm các tài liệu
liên quan đến công trình trong nước và nước ngoài được thu thập thông qua cácnguồn tài liệu tại các thư viện và tìm kiếm trên mạng thông qua qua việc truy cậpcác trang Web Tác giả phân loại, đánh giá và chọn lọc nhiều tài liệu nghiên cứuchuyên sâu trong và ngoài nước, khai thác các thông tin thứ cấp có liên quan đếnBCTC để phân tích, lý giải, đánh giá các đối tượng nghiên cứu theo các chủ điểm
về nội dung và mục tiêu nghiên cứu đã được thiết kế Tác giả đã thực hiện việcphỏng vấn ý kiến của các chuyên gia đầu ngành về kế toán và BCTC DN, sử dụngkết hợp với các thông tin đáng tin cậy khác để lý giải, đánh giá thực trạng, đề xuấtgiải pháp
Về phương pháp nghiên cứu và phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể, tácgiả sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, hồ sơ; phương pháp chuyên gia;phương pháp điều tra Phương pháp phân tích, tổng hợp, phương pháp so sánh,phương pháp tư duy cũng được sử dụng riêng lẻ hoặc kết hợp theo từng nộidung và mục tiêu cụ thể của báo cáo
Trang 23- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Luận án sử dụng phương pháp thu
thập dữ liệu sơ cấp đó là thông qua phiếu khảo sát, điều tra về thực trạng hệ thốngBCKT Để khảo sát thực trạng hệ thống BCKT, tác giả sử dụng các phương phápđiều tra, phỏng vấn các nhà quản trị, các nhân viên kế toán phục vụ lập BCKT, các
kế toán trưởng, trưởng phòng Tài chính
Phương pháp khảo sát bằng phiếu điều tra
+ Về chọn mẫu khảo sát: Các CTLN được lựa chọn cho nghiên cứu đề tài
luận án phải đáp ứng được các yêu cầu:
(1) Các CTLN hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực lâm nghiệp,tham gia sản xuất kinh doanh trong các hoạt động trồng rừng, khai thác, chế biếnhoặc kinh doanh dịch vụ môi trường rừng;
(2) Quá trình chọn mẫu phải thực hiện theo nguyên tắc ngẫu nhiên;
(3) Số lượng mẫu được chọn phải đủ lớn và mang tính đại diện
+ Về phương pháp khảo sát: Tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn
trực tiếp, và gửi phiếu điều tra Đối tượng được khảo sát là các cán bộ kế toán,các nhà quản trị CTLN
Phiếu điều tra được gửi tới 50 đơn vị là các CTLN trên tổng số 139 các CTLNtrên toàn quốc Tiêu chí lựa chọn gửi cho các CTLN theo vùng miền và theo tỷ lệ cácCTLN theo 3 miền: Miền Bắc 23 công ty, Miền Trung: 10 công ty, Miền Nam: 17công ty Căn cứ để lựa chọn số lượng các CTLN theo tỷ lệ 30% trên tổng số lượngCTLN theo từng miền theo tiêu chí ngẫu nhiên
Có 38 đơn vị phản hồi lại phiếu điều tra Danh sách các đơn vị khảo sát đượctrình bày ở Phụ lục 03 và Phụ lục số 04 Mẫu phiếu phiếu điều tra được thiết kế theo
3 phần bao gồm: Phần 1 điều tra thông tin chung của CTLN; Phần 2 là thu thập cácthông tin chung về tổ chức công tác kế toán tại công ty; phần 3 là nội dung về hệthống BCTC; Phần 4 là nội dung về KTQT và hệ thống BCKTQT; phần 5 là các câuhỏi điều tra về thông tin chung trong phòng kế toán
Phương pháp điều tra bằng phương thức phỏng vấn trực tiếp hoặc gửi chocác đơn vị theo thư điện tử hoặc đường bưu điện Đối tượng nhận phiếu điều tra baogồm kế toán trưởng, giám đốc tài chính, tổng giám đốc
Số lượng phiếu điều tra thông tin là 50 phiếu với mục đích thu thập thông tin
về tình hình tổ chức thu nhận và kiểm tra thông tin, tổ chức hệ thống hóa và xử lýthông tin, tổ chức lập và cung cấp và phân tích thông tin, tổ chức bộ máy kế toán
Trang 24Phương pháp thu thập số liệu thông qua phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn được thực hiện thông qua việc phỏng vấn trực tiếp,gọi điện thoại hoặc quan sát trực tiếp phương pháp tổ chức công việc kế toán, tổchức thực hiện công tác kế toán trên hệ thống sổ sách, cơ sở vật chất, tổ chức bộmáy phục vụ công tác thu thập sử lý và cung cấp hệ thống BCKT Phạm vi phỏngvấn có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng khảo sát Để thu thập thông tin về hìnhhình hệ thống BCKT của các CTLN tác giả đã trực tiếp phỏng vấn và quan sát tại 6CTLN Miền Bắc, 3 CTLN Miền Trung và 3 CTLN Miền Nam
Đối tượng phỏng vấn ở đây bao gồm 2 nhóm đối tượng:
- Đối tượng bên trong DN bao gồm: Nhà quản trị DN, Kế toán trưởng hoặctrưởng phòng Tài chính kế toán; kế toán tổng hợp hoặc nhận viên kế toán phụctrách công tác lập BCKT
- Đối tượng bên ngoài DN bao gồm: Cán bộ cơ quan thuế, nhà đầu tư, ngân hàng
- Các cơ quan chức năng Tổng công ty quản lý các CTLN
Phương pháp xử lý và phân tích thông tin
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Tác giả phân loại, đánh giá, và chọn lọc
nhiều tài liệu nghiên cứu chuyên sâu trong và ngoài nước, các quy định, thông lệquốc tế, kinh nghiệm của các quốc gia… và các thông tin thứ cấp có liên quan đếnBCTC DN để tiến hành phân tích, tổng hợp, làm rõ những vấn đề lý luận về hệthống BCTC DN theo chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế; mô tả, lý giải, làm rõnhững vấn đề tồn tại của hệ thống BCTC hiện hành và xác định vấn đề cần phải giảiquyết, phương hướng và giải pháp thực hiện
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp tư duy đã
được sử dụng kết hợp theo từng nội dung và mục tiêu cụ thể của báo cáo Theo đó,phương pháp phân tích, tổng hợp đã được sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận,đưa ra nhận xét về hệ thống BCTC DN theo chuẩn mực kế toán và thông lệ quốc tế
và quá trình áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế tại các quốc gia, kinh nghiệm choViệt Nam Phương pháp tư duy được sử dụng phối hợp với phương pháp chuyêngia, phương pháp tổng hợp để xác định vấn đề cần giải quyết, xây dựng phươnghướng và giải pháp hoàn thiện hệ thống BCTC
Phương pháp thống kê: mô tả toàn bộ sự vật hiện tượng trên cơ sở số liệu đã
được tính toán thông qua việc sử dụng số tuyệt đối, số tương đối Từ đó luận ánđưa ra các kết quả được trình bày dưới dạng sơ đồ, bảng biểu hoặc lời văn mô tả,
Trang 25tổng kết phân tích, đánh giá thực trạng từ đó đưa ra các ý kiến đánh giá về thựctrạng hệ thống BCKT của các CTLN hiện nay
Phương pháp so sánh: Nội dung phương pháp này tác giả sử dụng 2 chi tiêu để
đối chiếu so sánh, từ đó rút ra kết luận về sự chênh lệch giữa 2 chỉ tiêu đó Trong luận án,tác giả sử dụng phương pháp so sánh để so sách thực trạng tổ chức hệ thống BCTC củacác CTLN với chế độ kế toán hiện hành và với chuẩn mực kế toán quốc tế hiện nay.Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu hệ thống BCTC theo quy định củaViệt Nam với hệ thống BCTC theo quy định của IASB, giữa thực trạng hệ thốngBCTC với những yêu cầu của quá trình hội nhập quốc tế
Phương pháp chuyên gia:
Tham khảo ý kiến chuyên gia thuộc hai nhóm chuyên gia:
- Tham khảo các ý kiến chuyên gia học thuật gồm các nhà khoa học, các Thầy côgiáo nghiên cứu về Kế toán, các chuyên gia chuyên sâu về Kế toán và BCKT
- Tham khảo các ý kiến chuyên gia thực tiễn bao gồm các cán bộ kế toán,trưởng phòng kế toán, Bộ phận quản trị của các CTLN
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Từ mục đích nghiên cứu của luận án là hoàn thiện hệ thống BCKT phù hợpvới các CTLN ở Việt Nam, một loại hình DN nhà nước hạng đặc biệt, nên đề tàinghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt khoa học và thực tiễn:
Về khoa học: Đề tài nhằm nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về hệ
thống BCKT trong DN Đồng thời đề tài nghiên cứu kinh nghiệm về lập và trìnhbày hệ thống BCKT bao gồm hệ thống BCTC và BCKTQT tại trong các DN trongnước và các nước phát triển khác để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm về hệthống BCKT trong từ điều kiện cụ thể
Về thực tiễn: Đề tài nghiên cứu thực trạng lập và trình bày hệ thống BCKT
tại các CTLN ở Việt Nam, vận dụng lý luận vào thực tiễn của các CTLN ở ViệtNam để từ đó nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống BCKT phù hợp với các DNnày, đáp ứng yêu cầu tổng hợp và cung cấp, sử dụng thông tin của các đối tượng cóliên quan để từ đó đưa ra các quyết định kinh tế hợp lý trong quản lý điều hành củacác CTLN ở Việt Nam
8 Kết cấu luận án
Luận án ngoài phần Mở đầu và Kết luận gồm 3 chương:
Trang 26Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống báo cáo kế toán doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng hệ thống báo cáo kế toán trong các công ty lâmnghiệp Việt Nam
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống báo cáo kế toán tại các công ty lâm nghiệp ởViệt Nam hiện nay
Trang 27Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO
KẾ TOÁN DOANH NGHIỆP
1.1 Tổng quan về báo cáo kế toán trong doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, mục đích và tác dụng của hệ thống báo cáo
kế toán doanh nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm về hệ thống Báo cáo kế toán trong doanh nghiệp
Thông tin kế toán là thông tin về toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh vàhoạt động của DN, phản ánh tình hình và hiệu quả sử dụng các nguồn lực của DN
Vì vậy thông tin kế toán là thông tin quan trọng và cần thiết không chỉ phục vụ chocác đối tượng trong DN mà còn phục vụ các đối tượng khác nhau bên ngoài DN
Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng khác nhau nên yêucầu thông tin kế toán cũng khác nhau Đối với các nhà quản trị DN: thông tin kếtoán cung cấp bao gồm thông tin kế toán tổng quát và thông tin kế toán chi tiết cụthể về tình hình tài sản, tình hình nguồn vốn, tình hình kết quả sản xuất kinh doanhsau một kỳ hoạt động của DN, tình hình quản lý và sử dụng vốn trong DN Các đốitượng bên ngoài DN cần thông tin kế toán cung cấp cho các cơ quản quản lý chứcnăng về tình hình hoạt động của DN trong kỳ đã qua trên cơ sở chức năng nhiệm
vụ, quyền hạn của mình mà từng cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra giám sáthoặc đưa ra các quyết định kinh tế tài chính đối với đơn vị Thông tin kinh tế tàichính của đơn vị được cung cấp đến các nhà quản trị DN, các đối tượng sử dụngthông tin thông qua hệ thống BCKT
Đồng thời kết quả của công tác kế toán ở đơn vị kế toán được biểu hiện thôngqua hệ thống BCKT được lập để cung cấp thông tin cho các đối tượng khác nhau
Xuất phát từ yêu cầu của công cụ kế toán trong quản lý Nhà nước ở từng
giai đoạn nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, BCKT được
đ ̣ịnh nghĩa như sau:
“BCKT là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo cácchỉ tiêu kinh tế tài chính phản ánh tình hình tài sản tại một thời điểm và kết quảhoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp trong một kỳ nhất định vào mộtbiểu mẫu báo cáo được quy định” [27]
Trang 28Hoặc “Cũng như các phương pháp khác, tổng hợp, cân đối kế toán cũng có hìnhthức biểu hiện riêng Hình thức thích hợp với tổng hợp, cân đối kế toán là hệ thốngbảng tổng hợp, cân đối thường gọi tắt là báo biểu kế toán có chế độ kế toán kèm theo”[27].
Như vậy qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra một quan điểm thống
nhất về BCKT giai đoạn này là: “BCKT là một trong các phương pháp của kế
toán được sử dụng để thực hiện các chức năng kiểm tra đối tượng kế toán trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung” [27]
Khi nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thịtrường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa theo quan niệm
về BCKT cũng thay đổi Với mục đích sử dụng BCKT như một phương tiện cung cấpthông tin cho những đối tượng sử dụng nhằm đề ra các quyết định kinh tế, BCKT đượcđịnh nghĩa như sau: “BCKT định kỳ là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tàichính, kết quả kinh doanh trong kỳ của một DN nhằm phục vụ các yêu cầu thông tincho việc đề ra các quyết định của chủ DN, hội đồng quản trị, nhà đầu tư, nhà cho vayhiện tại, tương lai và các cơ quan, tổ chức chức năng”.[33] Hoặc: “BCKT là sản phẩmcuối cùng của quá trình kế toán Các báo cáo này được chuyển đến ban quản trị vànhững người bên ngoài có quan tâm một hình ảnh súc tích về khả năng sinh lợi và tìnhhình tài chính của một DN”
Tóm lại trong mỗi giai đoạn khác nhau của nền kinh tế thì định nghĩa vềBCKT cũng khác nhau Đặc biệt trong nền kinh tế mở hiện nay, BCKT đượcxem là hệ thống thông tin được được xử lý bởi hệ thống kế toán nhằm cung cấpthông tin tài chính hữu ích cho những người có nhu cầu sử dụng, qua đó họ sẽđưa ra được các quyết định kinh tế
Theo quan điểm của nhà khoa học của học viện tài chính, BCKT được định
nghĩa như sau: BCKT là phương tiện để cung cấp thông tin kế toán đến các đối
tượng sử dụng thông tin BCKT là báo cáo được lập trên cơ sở tổng hợp số liệu, thông tin kế toán Hoặc: BCKT là biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán, được lập trên cơ sở kiểm tra, phân tích, tổng hợp số liệu từ các
sổ kế toán để có được các thông tin cần thiết cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán [36].
BCKT vừa là phương pháp kế toán, vừa là phương tiện để cung cấp thông tin
kế toán cho các đối tượng sử dụng Do vậy, BCKT không chỉ là 1 hoặc một số các
Trang 29báo cáo mà bao gồm một hệ thống các Báo cáo có liên quan chặt chẽ với nhau Vậy
theo ý kiến của tác giả: BCKT là bức tranh tổng hợp và chi tiết về tình hình tài
chính, tình hình doanh thu, chi phí và kết quả sản xuất kinh doanh sau một kỳ hoạt động hoặc một thời điểm nhằm thỏa mãn thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin bên trong và bên ngoài DN.
Như vậy: Hệ thống BCKT là biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân đối kếtoán bao gồm các báo cáo có mối liên hệ chặt chẽ với nhau được lập trên cơ sở sốliệu kế toán nhằm cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng thông tin
kế toán
1.1.1.2 Vai trò của hệ thống BCKT DN
Hệ thống BCKT là kết quả cuối cùng của quy trình công tác kế toán và cóvai trò vô cùng quan trọng và quyết định tới toàn bộ công tác kế toán trong DN Hệthống các chỉ tiêu kinh tế tài chính trong báo cáo ảnh hưởng và định hướng tới tổchức công tác kế toán trong DN Bởi vì toàn bộ nội dung tổ chức công tác kế toántrong DN phụ thuộc vào việc thông tin cung cấp là các thông tin gì? Cung cấp cho
ai và cung cấp đến đâu?
Thông tin kế toán do BCKT cung cấp là thông tin quan trong hữu ích cho tất
cả các đối tượng sử dụng thông tin trong và ngoài DN BCKT là căn cứ để các nhàquản trị DN, các nhà đầu tư, cơ quan quản lý của nhà nước, chủ nợ, khách hàng,người bán ra các quyết định liên quan đến hoạt động của DN
BCKT trong DN có vai trò quan trong đó là cung cấp thông tin kinh tế tàichính cho các đối tượng sử dụng thông tin để ra các quyết định liên quan đến hoạtđộng của DN Tuy nhiên mỗi một đối tượng kế toán khác nhau thì BCKT lại cungcấp thông tin kinh tế tài chính khác nhau phục vụ cho việc ta quyết định đối với DN
(2) Đối với các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước BCKT cung cấpthông tin về tình hình hoạt động của DN trong kỳ đã qua trên cơ sở chức năng
Trang 30nhiệm vụ của mình, các cơ quan sẽ căn cứ vào thông tin kế toán nhận được thôngqua BCKT để đưa ra các quyết định vi mô liên quan đến tình hình sản xuất kinhdoanh của DN Đồng thời cũng căn cứ vào thông tin kế toán thu thập được, các cơquan chức năng tổng hợp thông tin theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính để cung cấpthông tin và là căn cứ quan trọng để đưa ra các quyết địnhkinh tế trong ngắn hạn
và dài hạn phục vụ điều hành quản lý nền kinh tế vĩ mô của nhà nước
1.1.2 Lý thuyết nền tảng ứng dụng trong nghiên cứu hệ thống Báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị trong doanh nghiệp doanh nghiệp
1.1.2.1 Lý thuyết thông tin hữu ích
* Nội dung lý thuyết thông tin hữu ích
Báo cáo kế toán mục đích chính là cung cấp thông tin cho các đối tượng sửdụng Các thông tin trên BCKT phải có tích hữu ích đối với nhu cầu sử dụng thôngtin của người sử dụng Do vậy việc xây dựng hệ thống báo cáo kế toán phải dựa trênnền tảng là tính hữu ích của thông tin kế toán
Luận án tiếp cận dựa trên lý thuyết nền về tính hữu ích của thông tin nhằm xâydựng hệ thống BCKT thỏa mãn mức cao nhất nhu cầu sử dụng thông tin của người sửdụng thông tin bên trong và bên ngoài DN
Những vấn đề liên quan đến đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữuích đã được các nhà nghiên cứu đề cập từ nhiều năm qua Theo một kết quả mộtnghiên cứu của Lev and Zarowin (1999), hệ thống đo lường và BCKT không đáp ứngtốt sự thay đổi đang tác động sâu sắc đến hoạt động kinh doanh và giá trị thị trườngcủa DN, và đó là nguyên nhân chính giải thích cho sự suy giảm về tính hữu ích củathông tin tài chính
Theo lý thuyết thông tin hữu ích, thông tin tài chính được thiết lập dựa trên cácgiả thiết:
- Luôn tồn tại sự mất cân đối về mặt thông tin giữa người lập BCTC và người
sử dụng thông tin
- Nhu cầu của người sử dụng thông tin kế toán là không được xác định trước
và cần được xác định thông qua các dẫn chứng thực tế
- Việc đáp ứng thông tin của người sử dụng được thực hiện thông qua nhữngbên có lợi ích liên quan đến tình hình tài chính của DN
Tính hữu ích của thông tin cần được đánh giá trong mối tương quan lợi ích
Trang 31-chi phí khi thực hiện công việc kế toán.
Do đặc điểm mất cân đối về mặt thông tin giữa các đối tượng bên trong vàbên ngoài DN, những đối tượng bên ngoài luôn có xu hướng dựa vào thông tin kếtoán như một tài liệu quan trọng cho việc ra quyết định kinh tế Cung cấp thông tinđược xây dựng trên nền tảng tính hữu ích của thông tin tài chính đối với các đốitượng sử dụng thông tin của DN: nhà đầu tư, ngân hàng và các chủ nợ Lý thuyếtthông tin hữu ích được coi là nền tảng của các chuẩn mực kế toán quốc tế Lý thuyếtnày làm sáng tỏ mục đích của hoạt động kế toán trong nền kinh tế thị trường và làmục tiêu xây dựng Báo cáo kế toán nhằm thỏa mãn thông tin của người sửa dụng
Lý thuyết tính hữu ích thông tin được áp dụng trong hệ thống BCTC
Theo IASB và FASB, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữuích được phân ra thành các đặc điểm chất lượng cơ bản và các đặc điểm chấtlượng bổ sung
- Các đặc điểm chất lượng cơ bản: thích hợp và trình bày trung thực
- Các đặc điểm chất lượng bổ sung: có thể so sánh; có thể kiểm chứng; kịpthời và có thể hiểu
Như vậy, các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích theoquan điểm của IASB và FASB có thể được khái quát tại Bảng 1.1
Bảng 1.1 Các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích
theo IASB và FASB
Có thể kiểmchứng(Verifiability)
Kịp thời(Timeliness)
Có thể hiểu(Understandability)
Rào cản
(Pervasive constraint) Chi phí (Cost)
Nguồn : IASB (2010), Framework, [34].
Theo Chuẩn mực kế toán quốc tế và chuẩn mực BCTC quốc tế, Hệ thốngBCTC được xây dựng theo lý thuyết tính hữu ích của thông tin, Căn cứ vào sự tồntại của tính mất cân đối của thông tin giữa người cung cấp thông tin và người sửdụng thông tin cùng với nhu cầu sử dụng thông tin Lý thuyết thông tin hữu ích đã
Trang 32được áp dụng bởi những người soạn thảo ra các chuẩn mực kế toán như, IASB vàFASB Năm 1978, FASB đã ban hành thông báo khái niệm Kế toán tài chính số 01
“Mục tiêu của Báo cáo tài chính đối với các DN” (FASB, 1978) Tài liệu này đãnhấn mạnh lý do tại sao lý thuyết tính hữu ích được FASB sử dụng Ví dụ, SFAC
số 1 đã khẳng định vai trò của BCTC trong nền kinh tế là cung cấp các thông tinhữu ích cho quyết định kinh tế và kinh doanh, chứ không phải xem xét quyết địnhnào được lựa chọn Báo cáo tài chính phải cung cấp thông tin khách quan, khôngsai lệch
Lý thuyết thông tin hữu ích được coi là nền tảng của các chuẩn mực kế toánquốc tế Lý thuyết này làm sáng tỏ mục đích của hoạt động kế toán trong nền kinh tếthị trường và là kim chỉ nam cho việc xây dựng các chỉ tiêu và các thông tin tài chínhtrên hệ thống BCTC Lý thuyết thông tin hữu ích tạo ra nền tảng phương pháp luận vớiviệc xây dựng hệ thống các quy định về kế toán và kiểm toán Đây này là đặc biệt quantrọng trong điều kiện của những nước có nền kinh tế chuyển đổi như Việt Nam, khi cáccông cụ quản lý kinh doanh trước đây được hiểu là phục vụ cho sự quản lý của nhànước hơn là các ngân hàng, người cho vay, nhà cung cấp, khách hàng và công chúng
Lý thuyết này là cơ sở để đánh giá hiệu quả tác dụng của việc sử dụng thông tin chocác quyết định quản lý chứ không đơn thuần là để phục vụ cho yêu cầu của pháp luật.Ngoài ra, lý thuyết thông tin hữu ích giúp người sử dụng thông tin khác nhau có đượcnhững đánh giá khách quan về chất lượng thông tin trên BCTC của DN
1.1.2.2 Lý thuyết đại diện (Agency theory)
* Nội dung lý thuyết đại diện
Lý thuyết người chủ - người đại diện (sau đây gọi là lý thuyết đại diện) xuấthiện trong bối cảnh việc quản trị kinh doanh gắn liền với những nghiên cứu vềhành vi của người chủ và người làm thuê thông qua các hợp đồng Nội dung của
lý thuyết như sau:
Chủ thể (Principal) hay chủ sở hữu vốn (Shareholders) và người đại diện(Agent) hay nhà quản trị (Manager) luôn có sự đối nghịch về lợi ích Người sở hữuvốn quan tâm đến giá trị công ty, giá cổ phiếu (cũng chính là lợi ích của bản thânhọ) Trong khi nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích của cổđông mà quan tâm đến lợi ích của mình (lương, thưởng, phụ cấp, nguồn thu khácdựa trên vị trí công tác)
Việc không đồng nhất lợi ích giữa cổ đông (chủ sở hữu) và Giám đốc
Trang 33(người đại diện) làm phát sinh một loại chi phí gọi là “chi phí đại diện” (agentcosts) Đây là loại chi phí để duy trì một mối quan hệ đại diện hiệu quả (ví dụmột khoản tiền thưởng vì những gì đã thể hiện của nhà quản trị để khuyến khích
họ làm việc vì lợi ích của các cổ đông) Chi phí này bằng không khi chủ sở hữuđồng thời là Giám đốc công ty Cụ thể hơn, khi Giám đốc sở hữu toàn bộ vốn củacông ty Chi phí đại diện càng lớn khi Giám đốc sở hữu ít hoặc không sở hữu cổphiếu công ty Các chi phí đại diện bao gồm: chi phí giám sát, chi phí ràng buộc vàchi phí cơ hội
- Chi phí giám sát (Monitoring cost): Là những chi phí do người chủ trả để đo
lường, giám sát và kiểm tra hoạt động của người đại diện, như là chi phí kiểm toán.Chi phí này có thể gồm các chi phí cho hoạt động kiểm tra giám sát, chi phí ký kếthợp đồng bồi hoàn và cuối cùng là chi phí sa thải đối với người đại diện Ban đầunhững chi phí này do người chủ trả, nhưng Fama và Jensen (1983) cho rằng cuốicùng thì đây là chi phí do người đại diện gánh chịu vì các khoản tiền lương, tiềnthưởng, các ưu đãi khác của họ sẽ bị điều chỉnh để bù đắp những chi phí này
- Chi phí ràng buộc (Bonding cost): Chi phí để thiết lập một bộ máy có thể
tối thiểu những hành vi quản trị không mong muốn, như bổ nhiệm những thành viênbên ngoài vào ban điều hành hay tái thiết lập hệ thống tổ chức của công ty Giả sửrằng người đại diện là người cuối cùng gánh chịu chi phí giám sát, rằng họ có thể xâydựng hệ thống hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận tối đa cho cổ đông, hoặc họ sẽ chịubồi thường nếu họ vi phạm các điều khoản của hợp đồng đại diện, khi đó chi phí thiếtlập và giữ vững hệ thống hoạt động này được gọi là chi phí ràng buộc
- Chi phí cơ hội (Residual loss): Là chi phí phát sinh khi các cổ đông thuê
người đại diện và buộc phải đưa ra các hạn chế, ví dụ những thiệt hại do người đạidiện lạm dụng quyền được giao để tư lợi, những thiệt hại do việc đặt ra quyđịnh đối với quyền bỏ phiếu của cổ đông về những vấn đề cụ thể, thiệt hại từnhững biện pháp kiểm soát hoạt động của người đại diện Bất chấp việc giám sát
và sự ràng buộc, lợi ích của người đại diện và cổ đông vẫn không chắc chắnhoàn toàn đồng nhất Vì vậy, vẫn có thiệt hại do vấn đề người đại diện phát sinh
từ những mâu thuẫn lợi ích Những thiệt hại đó được gọi là chi phí cơ hội
Lý thuyết tính đại diện được áp dụng trong hệ thống BCKT
Hiện nay, sự tách biệt giữa người sở hữu vốn và người đại diện ngày càng rõnét Chi phí đại diện sẽ luôn phát sinh và đây là chi phí không thể tránh khỏi khi
Trang 34Giám đốc và cổ đông luôn không đồng nhất về lợi ích như đã đề cập Mặt khác lợiích giữa người sở hữu vốn và người đại diện không đồng nhất và có sự mâu thuẫn.Khi bỏ tiền ra thuê người đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở hữu - củacông ty mong muốn mọi hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích tối đa hoágiá trị tài sản của công ty, gia tăng cổ tức Trong khi đó, người đại diện – người điềuhành – của công ty lại có những lợi ích cá nhân riêng biệt, họ có thể trực tiếp quyếtđịnh hay ngụy tạo ra các lý do khiến cho các chủ sở hữu không thực hiện đầu tư vàonhững dự án có tỷ suất sinh lợi cao vì tâm lý e ngại rủi ro, hoặc quyết định đầu tư vàonhững dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho công ty nhưng lại đem lại lợi nhuậncho riêng họ Trong mối quan hệ về cung cấp và sử dụng thông tin là người sở hữuvốn cần thông tin trên BCKT để đưa ra các quyết định kinh doanh nhằm mở rộng quymôn, tăng lợi nhuận Người đại diện là người cung cấp thông tin kế toán thông quaBCKT Để kiểm soát hoạt động của DN và đưa ra quyết định kinh doanh thì người sởhữu vốn phải có được thông tin minh bạch, chất lượng và mức độ công bố Do vậyngười sở hữu vốn phải tăng chi phí đại diện để làm sao chi phí bỏ ra và lợi ích họ thuđược từ thông tin trên BCKT phải hợp lý.
Lý thuyết tính đại diện ảnh hưởng đến mức độ công bố và chất lượng, tínhminh bạch thông tin trên BCKT Hành vi của người đại diện (nhà quản lý) ảnh hưởngđến việc tăng mức độ công bố thông tin hay minh bạch thông tin khi xem xét và cânnhắc giữa lợi ích và chi phí cho việc công bố thông tin Khi hợp đồng giữa chủ sởhữu và nhà quản lý đạt hiệu quả, lợi ích của nhà quản lý được đảm bảo, họ sẽ hànhđộng hoàn toàn vì lợi ích của chủ sở hữu, tăng cường sự minh bạch thông tin, phục vụcho lợi ích của chủ sở hữu Ngoài ra, Lý thuyết đại diện còn được sử dụng để giảithích ảnh hưởng của nhân tố quy mô DN, kết quả tài chính, hiệu quả sử dụng tài sản,
tỷ suất đòn bẩy tài chính hay cơ cấu HĐQT đến tính minh bạch của thông tin trênBCTC trong đoanh nghiệp
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo kế toán quản trị trong DN
BCKT là sản phẩm cuối cùng của công tác kế toán nhằm cung cấp thông tin
kế toán cho các đối tượng sử dụng và quan tâm Thông tin kế toán trong BCKT chịuảnh hưởng rất nhiều các nhân tố khác nhau, kể cả các nhân tố chủ quan và kháchquan Trong đó các nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới hệ thống BCKT là:
Thứ nhất: Nhóm nhân tố kinh tế, chính trị, luật pháp và môi trường kinh
Trang 35doanh của nền kinh tế.
BCKT là sản phẩm của công tác kế toán trong DN Mà doanh ngiệp là mộtkhâu trong nền kinh tế quốc dân, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các điều kiện kinh tế,chính trị, luật pháp và môi trường kinh doanh của nền kinh tế Do vậy, hệ thốngBCKT chịu ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội, môi trường chính trị xã hội
và môi trường kinh doanh của nền kinh tế Khi nền kinh tế thay đổi theo các điềukiện chính trị xã hội khác nhau thì nhu cầu sử dụng thông tin kế toán cũng thay đổi,
do vậy, hệ thống BCKT cũng được tổ chức theo những hệ thống báo cáo, hệ thốngmẫu biểu, nội dung thông tin và cách thức trình bày thông tin khác nhau để phù hợpvới đối tượng sử dụng thông tin kế toán trong nền kinh tế
Nhân tố kinh tế
Sự phát triển của kế toán là một quá trình phụ thuộc vào và đan xen với pháttriển kinh tế Nói cách khác, môi trường kinh tế có ảnh hưởng quan trọng đối với sựphát triển của kế toán Các nhân tố kinh tế chủ yếu tác động đến hệ thống kế toán vàBCKT bao gồm: đặc điểm và giai đoạn phát triển của nền kinh tế; nguồn cung ứng tàichính và lạm phát Một nền kinh tế phát triển sẽ đòi hỏi công cụ kế toán hữu hiệunhằm tạo niềm tin cho giao dịch và sử dụng vốn hiệu quả Môi trường kinh doanh củamột quốc gia sẽ có ảnh hưởng đến các công bố tài chính thông qua nhiều nhân tố: thịtrường vốn, quyền sở hữu công ty…
Nguồn cung ứng tài chính sẽ quyết định đối tượng chủ yếu sử dụng thông tin tài chính và do vậy, quyết định đặc điểm của thông tin tài chính được cung cấp.
Theo đó, tại các nước mà nguồn cung ứng tài chính chủ yếu là thị trườngvốn (như Mỹ, Anh, Úc…), nơi mà các công ty cổ phần chiếm vị trí chủ yếu trongnền kinh tế, thị trường chứng khoán là nơi cung cấp vốn chủ yếu cho DN, yêu cầuđối với thông tin tài chính là cần đảm bảo trình bày trung thực, hợp lý và đầy đủ
Ngược lại, tại những quốc gia mà nguồn cung ứng tài chính chủ yếu là nhànước (như ở Pháp…) hoặc hệ thống ngân hàng (như ở Đức…) thường không có
sự đòi hỏi cao về sự đầy đủ và hợp lý của thông tin tài chính Yêu cầu đối vớithông tin kế toán tại các quốc gia này thường là sự tuân thủ các luật định Ngoài
ra, thông tin kế toán sẽ hướng đến việc bảo đảm lợi ích của người cho vay, việccông bố thông tin ra công chúng trở thành thứ yếu
Nhân tố chính trị
Hệ thống chính trị xác định cơ chế kinh tế của một quốc gia, và vì vậy, xác
Trang 36định mô hình kế toán Một hệ thống kế toán có ích cho nền kinh tế quản lý tậptrung phải khác với hệ thống kế toán tối ưu cho một nền kinh tế thị trường Nhân
tố này còn được đề cập dạng các thể chế chính trị trong đó Nhà nước can thiệpnhiều hay ít vào nền kinh tế
Trong những năm gần đây, nhân tố chính trị còn được đề cập dưới dạngcác chính sách của quốc gia trong tiến trình hội tụ quốc tế Chẳng hạn, Zeff(2007) đã đề cập đến ảnh hưởng của quan hệ chính trị giữa EU, Hoa Kỳ và IASBtrong việc ra quyết định về hội tụ kế toán
Nhân tố pháp lý
Môi trường pháp lý có tác động mạnh mẽ đến hệ thống kế toán và BCTCtại các quốc gia Doupnik and Salter (1992) đã nghiên cứu tác động của hệ thốngpháp luật trên sự phát triển của hệ thống kế toán tại các quốc gia khác nhau, vàđưa ra giả thuyết rằng sự khác biệt về hệ thống pháp luật của các nước khác nhau
có thể giải thích sự khác biệt trong sự phát triển của hệ thống kế toán Các nhân tốchủ yếu của môi trường pháp lý tác động đến hệ thống kế toán bao gồm: hệ thốngpháp luật; vai trò của Nhà nước và tổ chức nghề nghiệp; và pháp luật về thuế
Vai trò của Nhà nước và Hội nghề nghiệp trong vấn đề về kế toán giữa các quốc gia cũng khác nhau.
Tại một số quốc gia như Anh, Pháp, Úc…, Nhà nước ít khi đưa ra các quyđịnh cụ thể về kế toán; những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán thường được thiếtlập bởi các hội nghề nghiệp, là những tổ chức tư nhân chuyên nghiệp Cácnguyên tắc và chuẩn mực nghề nghiệp do hội nghề nghiệp ban hành thường được
sự chấp thuận rộng rãi của xã hội và Nhà nước Chẳng hạn, tại Mỹ hiện nay, Hộiđồng chuẩn mực KTTC (FASB), một tổ chức tư nhân độc lập, được sự ủng hộ vàthừa nhận của Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) trở thành tổ chức chịu trách nhiệmchính trong xây dựng và ban hành chuẩn mực BCTC (SFAS)
Quá trình toàn cầu hóa
Quá trình hòa hợp khu vực và quốc tế trong những năm gần đây cũng cónhững tác động đáng kể đến hệ thống kế toán và BCKT của các quốc gia Kết quảcủa tiến trình toàn cầu hóa là sự gia tăng tính phụ thuộc của các quốc gia trongcác luồng đầu tư và thương mại quốc tế, các quyết định về phân bổ nguồn lực, giá cả,các giao dịch quốc tế Friedman (2005), trong “Thế giới phẳng”, đã chỉ rõ: toàn cầuhóa đã thúc đẩy việc phát triển các quá trình kinh doanh được tiêu chuẩn hóa
Trang 37Nhân tố công nghệ thông tin trong cuộc cách mạng công nghệ thông tin 4.0
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 sẽ mang đến sự thay đổi cơ bản trênhầu hết các lĩnh vực, ngành nghề, trong đó có ngành kế toán - kiểm toán
Trong khi đó, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng về sảnxuất thông minh, dựa trên việc sử dụng internet kết nối vạn vật để chuyển hóa toàn bộthế giới thực thành thế giới số Cuộc cách mạng này tác động mạnh mẽ và toàn diệnđến kinh tế, xã hội, môi trường trên toàn thế giới và tác động đến tất cả các ngành,các lĩnh vực với tốc độ công nghệ đột phá chưa từng có trong lịch sử, trong đó có cảlĩnh vực kế toán, kiểm toán Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thếgiới, tất nhiên sẽ không nằm ngoài cuộc cách mạng mang tính toàn cầu này
Điều này sẽ ảnh hưởng khá lớn đến chu trình và phương pháp kế toán, kiểmtoán Bên cạnh đó, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 còn dựa trên nền tảng côngnghệ số, tích hợp các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình sản xuất, quytrình kinh doanh, quy trình nghiệp vụ, phương thức sản xuất, trong đó có quy trình
xử lý, cung cấp thông tin cho bộ phận kế toán và kiểm toán
Do đó, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ thay đổi cơ bản phương thứcthực hiện các công việc kế toán và kiểm toán hiện nay bằng việc áp dụng chứng từđiện tử, bằng các phần mềm tổng hợp, xử lý dữ liệu, ghi sổ kế toán cũng như chophép thực hiện các phương thức kiểm toán trong môi trường tin học hóa Kế toánviên sẽ không còn mất quá nhiều công sức trong việc phân loại chứng từ, xử lý từngnghiệp vụ kinh tế riêng lẻ, ghi các loại sổ kế toán mà vấn đề quan trọng hơn là cầnphải quan tâm đến việc trình bày báo cáo tài chính theo chuẩn mực…
Bên cạnh đó, sự hỗ trợ mạnh mẽ của công nghệ giúp ngành Kế toán, Kiểmtoán sử dụng nguồn lực của mình hiệu quả hơn, tiết kiệm thời gian, nhân lực, tiếpcận gần hơn với hệ thống kiểm toán quốc tế Chẳng hạn, thông qua việc sử dụng cáctrang thiết bị, các chương trình, công nghệ số hiện đại, kiểm toán viên có thể thuthập các thông tin mà trước đây họ khó thu thập được; Có thể chiết xuất dữ liệu từnhững kho dữ liệu khổng lồ, phục vụ cho tất cả các loại quyết định, các cấp lãnhđạo, tất cả các loại trạm kiểm soát thông tin ra quyết định và tất cả những người cólợi ích liên quan; Nâng cao độ tin cậy và hợp lý của việc báo cáo thông qua việc tựkiểm soát hoặc các hệ thống tự kiểm…
Thứ hai, BCKT chịu ảnh hưởng của cơ sở kế toán, các nguyên tắc kế toán chuẩn mực kế toán và các văn bản pháp lý khác về kế toán nói riêng và kinh tế tài
Trang 38chính nói chung Nhóm các nhân tố này quy định về cách thức hệ thống BCKT, các
mẫu biểu BCKT, nội dung, phương pháp lập các chỉ tiêu trên BCKT
- Cơ sở kế toán quy định việc ghi chép kế toán đối với tài sản, nguồn vốn, doanhthu, chi phí của đơn vị kế toán Các cơ sở kế toán khác nhau, việc quy định ghi chépđối với các đối tượng kế toán khác nhau, từ đó sẽ ảnh hưởng chi phối đến các thông tinđược tổng hợp và trình bày trên BCKT DN Trong hạch toán kế toán tồn tại hai loại cơ
sở kế toán đó là cơ sở kế toán tiền mặt và cơ sở kế toán dồn tích
- Nguyên tắc kế toán chung gồm các khái niệm, giả thuyết, nguyên tắc cơ bảncủa kế toán Các nguyên tắc này được hình thành trên cơ sở nhận thức chung của nhiềungười liên quan đến quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp, cung cấp thông tin và sử dụngthông tin kế toán Các khái niệm các nguyên tắc kế toán được vận dụng trong việc ghichép các đối tượng kế toán và trình bày nó trên BCKT Việc vận dụng nguyên tắcchung này được quán triệt và quy định cụ thể trong các chuẩn mực kế toán
Chuẩn mực kế toán được hiểu là những quy định, hướng dẫn về các nguyêntắc và phương pháp kế toán làm cơ sở cho việc ghi chép kế toán và lập BCTC Hiệnnay, trên thế giới có chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và chuẩn mực quốc tế vềBCTC (IFRS) và chuẩn mực kế toán quốc gia (VAS) Chuẩn mực kế toán quốc tế vàchuẩn mực về BCTC được hiểu là những quy đinh và hướng dẫn về các nguyên tắc,nguyên tắc kế toán có tính khuôn mẫu, nền tảng chung cho các quốc gia trong việcghi chép kế toán và trình bày BCTC, đảm bảo cho việc hội nhập kinh tế quốc tế.Chính vì vậy, chuẩn mực kế toán quốc tế, chuẩn mực quốc tế về BCTC đã đượcchấp nhận rộng rãi trên nhiều nước trên thế giới và trở thành ngôn ngữ kế toán chungcho các nước có nền kinh tế thị trường phát triển và đang phát triển Bên cạnh chuẩnmực kế toán quốc tế, thì mỗi quốc gia trên cơ sở những đặc điểm về môi trườngkinh tế, xã hội, chính trị của mình, thực hiện xây dựng cho mình một hệ thống chuẩnmực kế toán riêng
Ngoài hệ thống chuẩn mực kế toán trong hệ thống pháp lý về kế toán ở cácquốc gia còn có Luật Kế toán, chế độ kế toán và các văn bản pháp lý khác Hệ thốngkhuôn khổ về kế toán và cơ sở kế toán đều ảnh hưởng đến hệ thống BCKT, trìnhbày và cung cấp thông tin kế toán, do nó ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến việcthiết kế thông tin và trình bày thông tin trên các BCKT DN
Thứ ba, BCKT chịu ảnh hưởng đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc điểm tổ chức quản lý cũng như yêu cầu quản lý và trình độ quản lý của cán bộ quản
Trang 39lý DN.
Do kế toán là công cụ quản lý của DN và BCKT là phương tiện đệ cung cấpthông tin kế toán để phục vụ cho công tác quản lý của DN, vì vậy, việc tổ chức côngtác kế toán nói chung và hệ thống BCKT nói riêng phải phù hợp với đặc điểm, đặcthù và quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của DN Điều này thể hiện, với mỗi
DN khác nhau có đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau, ngành nghề và lĩnh vựckinh doanh khác nhau thì việc tổ chức hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản kế toán,hình thức kế toán và hệ thống BCKT khác nhau Đồng thời quy mô sản xuất kinhdoanh của DN cũng ảnh hưởng đến nội dung hệ thống BCKT với yêu cầu cung cấpthông tin kế toán khác nhau
Thứ tư, BCKT chịu ảnh hưởng của trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán.
Trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán ảnh hưởng đến việc hiểu và vận dụng cácnguyên tắc, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các văn bản pháp lý liên quantrong việc ghi chép, xử lý và phân tích cung cấp thông tin về các nghiệp vụ và sựkiện kinh tế xảy ra trong DN Trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán ảnh hưởngđến việc hiểu và vận dung các nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán, chế độ kếtoán và các văn bản pháp lý liên quan trong việc ghi chép, xử lý, phân tích và cungcấp thông tin về các nghiệp vụ và sự kiện kinh tế xảy ra trong DN
Ngoài các nhân tố trên thì hệ thống BCKT còn chịu ảnh hưởng bởi nhu cầu sửdụng thông tin và sức ép từ việc cung cấp thông tin kinh tế tài chính minh bạch từcác đối tượng sử dụng thông tin bên ngoài DN như khách hàng, chủ nợ, các nhà đầu
tư hiện tại và tương lai…; chịu ảnh hưởng bởi hệ thống các khuôn khổ pháp lý vềkinh tế, tài chính như luật thuế, luật đầu tư, luật kinh doanh chứng khoán ; chịu ảnhhưởng bởi trình độ tranh bị các phương tiện xử lý thông tin phục vụ cho công tác kếtoán
1.1.4 Hệ thống báo cáo kế toán trong doanh nghiệp
BCKT là phương tiện để truyền tải thông tin, cung cấp thông tin kế toán đếncác đối tựơng sử dụng thông tin kế toán BCKT là báo cáo được lập trên cơ sở tổnghợp số liệu, thông tin của kế toán
Để đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin
kế toán thì BCKT trong DN được phân loại thành hai loại:
- BCTC cung cấp thông tin kế toán tài chính cho các đối tượng bên trong và bênngoài DN nhưng chủ yếu là cung cấp thông tin cho các đối tượng bên ngoài DN đó là
Trang 40các nhà đầu tư, ngân hàng, chủ nợ, cơ quan thuế, cơ quan tài chính.
- BCKTQT cung cấp thông tin kế toán nội bộ cho các đối tương bên trong DN
Đó là các nhà quản trị DN các cấp sử dụng thông tin kế toán DN để ra các quyết địnhkinh tế tài chính liên quan đến DN
Hai hệ thống báo cáo trên bao quát được phạm vi và mức độ cung cấpthông tin của hệ thống kế toán của DN và đây cũng là đối tượng nghiên cứuchính của luận án
(1) BCTC là BCKT mang tính chất bắt buộc, thống nhất BCTC có giá trịpháp lý cao Đây là các báo cáo mà DN phải lập theo quy định của chế độ kế toán
và chuẩn mực kế toán BCTC phải được lập theo mẫu quy định, lập và nộp theo địachỉ và thời hạn quy định nhằm cung cấp thông tin nhằm phục vụ cho quản lý vĩ mô,cho công tác thống kê và thông tin kinh tế, cũng như phục vụ cho việc lập và phân tíchkinh tế, tài chính ở mỗi đơn vị
BCTC là sản phẩm cuối cùng của KTTC, gồm những BCKT mà thông tin kếtoán được trình bày một cách tổng thể, chủ yếu phục vụ cho các đối tượng sử dụngthông tin bên ngoài DN như các cơ quan quản lý chức năng của Nhà nước (cơ quanthuế, cơ quan thống kê ), các đối tượng có mối quan hệ kinh tế với đơn vị (Ngânhàng, nhà cung cấp, nhà đầu tư, nhà lao động ) BCTC bao gồm các báo cáo vềtình hình tài sản, nguồn vốn, thu nhập, chi phí, kết quả kinh doanh, báo cáo lưuchuyển tiền tệ như: bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh sản xuất kinh doanh,báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh BCTC
Thông tin trình bày trên BCTC là những thông tin thiết thực, thông tin vềhoạt động kinh tế tài chính đã diễn ra, đã thực sự hoàn thành, cung cấp cho các đốitượng sử dụng thông tin bên ngoài là chủ yếu Vì vậy, BCTC phải tuân thủ theo quyđịnh của hệ thống pháp lý, chế độ kế toán và chuẩn mực kế toán, Luật Kế toán đểđảm bảo thông tin BCTC cung cấp có giá trị pháp lý được sử dụng để xác định lợiích kinh tế của các đối tượng có liên quan (Nhà nước, cổ đông, chủ nợ, DN ) vàlàm căn cứ cho việc phân định trách nhiệm, dân sự, trách nhiệm hình sự của cácpháp nhân và thể nhân
Theo IFRS thì BCTC trình bày về tình hình tài sản, nguồn vốn, thu nhập,chi phí, kết quả kinh doanh, các luồng tiền như:
- Bảng cân đối kế toán (hay còn gọi là báo cáo tình hình tài chính);
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (báo cáo lãi lỗ);