1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu

228 105 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 228
Dung lượng 2,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

họ bỏ ra đã bị tổn thất mà không hiểu nhân tố nào tác động, và làm thế nào để tránh mắc sai lầm cho lần sau.” Một lý do khác dẫn đến quyết định phải nghiên cứu đề tài tìm ra các nhân tố

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

TRẦN MẠNH LINH

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM DỰ ĐẤU THẦU GÓI THẦU DỊCH VỤ

TƯ VẤN GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG

CÔNG TRÌNH CỦA NHÀ THẦU

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH

HÀ NỘI - NĂM 2019

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN

-

TRẦN MẠNH LINH

NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM DỰ ĐẤU THẦU GÓI THẦU DỊCH VỤ

TƯ VẤN GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG

CÔNG TRÌNH CỦA NHÀ THẦU

Chuyên ngành: QUẢN TRỊ KINH DOANH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi đã đọc và hiểu về các hành vi vi phạm sự trung thực trong học thuật Tôi cam kết bằng danh dự cá nhân rằng nghiên cứu này do tôi tự thực hiện và không vi phạm yêu cầu về sự trung thực trong học thuật

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Nghiên cứu sinh

Trần Mạnh Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, cho phép Nghiên cứu sinh được bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến hai giảng viên, hai nhà khoa học đã trực tiếp hướng dẫn tôi hoàn thành công trình nghiên cứu luận án tiến sỹ, đó là PGS TS Trương Đoàn Thể - Phó Viện trưởng Viện Đào tạo Sau Đại học, Đại học Kinh tế Quốc dân và TS Trần Thị Hồng Việt – Trưởng Ban Đào tạo Cử nhân Quản trị Kinh doanh bằng tiếng Anh (E-BBA), Viện Quản trị Kinh doanh, Đại học KTQD

Tiếp theo NCS xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban lãnh đạo Khoa, các thầy giáo, cô giáo, anh (chị) em cán bộ viên chức khoa Quản trị Kinh doanh, Đại học Kinh

tế Quốc dân đã dành thời gian, công sức hỗ trợ, đóng góp ý kiến quý báu để tôi hoàn thiện công trình nghiên cứu của mình

Tôi xin phép được tri ân các nhà khoa học, các chuyên gia đấu thầu và các nhà thầu đã giúp đỡ, cung cấp tài liệu, ý kiến đánh giá, gợi ý cho NCS trong suốt quá trình nghiên cứu NCS đã tiếp thu và ứng dụng một cách có cơ sở khoa học những ý kiến, góp ý đó để công trình nghiên cứu của mình có giá trị khoa học và thực tiễn nhất

NCS cũng xin được gửi lời tri ân đến tất cả những nhà khoa học, những anh em đồng nghiệp và gia đình bạn bè đã tạo những điều kiện thuận lợi nhất để NCS hoàn thành công trình nghiên cứu này Xin trân trọng cảm ơn tất cả!

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG vii

DANH MỤC HÌNH VẼ xi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 12

1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu 12

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới 12

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước 21

1.2 Khoảng trống nghiên cứu 25

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM DỰ THẦU GÓI THẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CỦA NHÀ THẦU 27

2.1 Đấu thầu và những thuật ngữ sử dụng trong đấu thầu và đấu thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình 27

2.1.1 Đấu thầu và phân loại đấu thầu theo đối tượng đấu thầu 27

2.1.2 Một số đặc điểm của gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình 29

2.1.3 Một số thuật ngữ sử dụng trong đấu thầu, đấu thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình 30

2.1.4 Quy trình đấu thầu tổng quát và khái niệm “Quyết định tham dự đấu thầu gói thầu của nhà thầu” 34

2.2 Đề xuất mô hình nghiên cứu những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu 38

2.2.1 Mô hình nghiên cứu đề xuất 38

2.2.2 Các thang đo 43

2.3 Các giả thuyết nghiên cứu 49

Trang 6

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ VÀ CỨU CHI TIẾT 55

3.1 Nghiên cứu định tính 55

3.1.1 Mục tiêu của nghiên cứu định tính 55

3.1.2 Phương pháp nghiên cứu định tính áp dụng 56

3.1.3 Triển khai nghiên cứu định tính và kết quả 58

3.2 Thiết kế và thu thập dữ liệu cho nghiên cứu định lượng 63

3.2.1 Mục tiêu của nghiên cứu định lượng 63

3.2.2 Thiết kế phiếu câu hỏi sử dụng cho điều tra xã hội học 64

3.2.3 Thiết kế quy mô mẫu điều tra 71

3.2.4 Lựa chọn nhà thầu thuộc mẫu điều tra 74

3.2.5 Gửi và thu thập phiếu điều tra 77

3.2.6 Xử lý dữ liệu điều tra 77

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM DỰ THẦU GÓI THẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CỦA NHÀ THẦU 80

4.1 Tổng quan hoạt động đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn, dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình ở Việt Nam và trên địa bàn thành phố Hà Nội 80

4.1.1 Hoạt động đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn diễn ra sôi động và không ngừng tăng lên với tốc độ nhanh chóng qua các năm 80

4.1.2 Các gói thầu dịch vụ tư vấn được tổ chức trên cả nước bao gồm nhiều lĩnh vực dịch vụ tư vấn khác nhau, trong đó đấu thầu gói thầu dịch cụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình chiếm tỷ trọng cao 82

4.1.3 Các gói thầu dịch vụ tư vấn, tư vấn giám sát TCXDCT có giá trị không cao, trong đó các gói thầu có giá trị từ 200 triệu đồng trở xuống chiếm khoảng 55% đến 65% về số lượng 84

4.1.4 Tính cạnh tranh trong đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn không cao, phần lớn kết quả trúng thầu có giá trúng thầu ngang bằng với giá gói thầu, mức tiết kiệm trong đấu thầu còn thấp 86

4.1.5 Cơ cấu đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình trên địa bàn thành phố Hà Nội 88

4.2 Kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT của nhà thầu trên địa bàn thành phố Hà Nội 90

Trang 7

4.2.1 Giới thiệu mẫu điều tra 904.2.2 Phân tích thống kê mô tả 944.2.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định độ tin cậy của thang đo và Phân tích nhân tố khẳng định CFA 1044.2.4 Kiểm định tương quan giữa các biến, phân tích hồi quy bội và kiểm định các giả thuyết của mô hình nghiên cứu 1174.2.5 Phân tích phương sai một chiều (One-way ANOVA) 125

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KHUYẾN NGHỊ 135 5.1 Tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu 135 5.2 Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu 143

5.2.1 Định hướng của Đảng và Nhà nước ta đối với hoạt động đấu thầu 1435.2.2 Một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu 145

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 156 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 158 PHỤ LỤC 167

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BOT : Xây dựng, Kinh doanh, Chuyển giao

CEO : Giám đốc điều hành doanh nghiệp

CN : Cảm nhận của người ra quyết định

CRC : Công ty Cổ phần Xây dựng và Phục chế công trình văn hóa EMICO : Tổng Công ty Phát triển Phát thanh Truyền hình và Thông tin

GTNT : Giá trị và niềm tin

HSDT : Hồ sơ dự thầu

HSMT : Hồ sơ mời thầu

HSYC : Hồ sơ Yêu cầu

KH&ĐT : Bộ Kế hoạch và Đầu tư

KTKT : Kinh tế Kỹ thuật

LP : Nhân tố luật pháp

MĐNT : Mong đợi của nhà thầu

NCS : Nghiên cứu sinh

NLKN : Năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu

ODA : Hỗ trợ Phát triển Chính thức

QĐ-UB : Quyết định của Ủy Ban

QDVT : Nhân tố quy định và thưởng

QH : Quốc Hội

QTKD : Quản trị Kinh doanh

SHDGT : Sức hấp dẫn của gói thầu

TCXD : Thi công xây dựng

TCXDCT : Thi công xây dựng công trình

TTDK : Thông tin đăng ký tham dự thầu gói thầu của các nhà thầu

UBND : Ủy Ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Nhân tố “sức hấp dẫn của gói thầu với 4 thang đo ảnh hưởng đến quyết

định tham dự thầu tại Úc 16

Bảng 1.2: Nhân tố “mong đợi thắng thầu” với 8 thang đo ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu tại Úc 17

Bảng 1.3: Chín thang đo chi tiết của 3 nhân tố “luật pháp”, “các giá trị và niềm tin” và “các quy định và sự trừng phạt” ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu tại Úc 18

Bảng 1.4: Hai nhân tố với 4 thang đo ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu tại Úc 19

Bảng 2.1: Tổng hợp 8 nhân tố thuộc mô hình nghiên cứu đề xuất 40

Bảng 2.2: Nguồn tham khảo các thành phần của mô hình nghiên cứu đề xuất của công trình nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT của nhà thầu 42

Bảng 2.3: Bốn thang đo nhân tố “sức hấp dẫn của gói thầu” 43

Bảng 2.4: Tám thang đo nhân tố “mong đợi của nhà thầu” 44

Bảng 2.5: Năm thang đo nhân tố “năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu” 44

Bảng 2.6: Hai thang đo nhân tố “các quy định và thưởng” 45

Bảng 2.7: Bốn thang đo nhân tố “luật pháp” 46

Bảng 2.8: Bốn thang đo nhân tố “giá trị và niềm tin” và nhân tố “cảm nhận của người ra quyết định” 46

Bảng 2.9: Năm thang đo nhân tố “thông tin đăng ký tham dự thầu của các nhà thầu” 47

Bảng 3.1: Kết quả thăm dò ý kiến của nhà thầu về 8 nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu tư vấn giám sát TCXDCT của nhà thầu 59

Bảng 3.2: Thống kê kết quả trả lời câu hỏi “Nhân tố, thang đo/chỉ báo” tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT của nhà thầu” 60

Bảng 3.3: Câu hỏi dành cho các thang đo thuộc ba nhân tố A, B và D 66

Bảng 3.4: Câu hỏi dành cho các thang đo thuộc ba nhân tố C, E và G 67

Bảng 3.5: Câu hỏi dành cho các thang đo thuộc ba nhân tố F và H 68

Bảng 3.6: Câu hỏi dành cho thang đo biến phụ thuộc I 69

Bảng 3.7: Biến kiểm soát phục vụ nghiên cứu định lượng 70

Bảng 3.8: Trích đoạn danh sách nhà thầu được lựa chọn cho mẫu điều tra 75

Trang 10

Bảng 3.9: Phân bố mẫu điều tra được lựa chọn theo địa giới hành chính 76Bảng 4.1: Bảng tổng hợp số lượng gói thầu dịch vụ tư vấn được tổ chức những năm

2015 đến 2017 trên cả nước 81Bảng 4.2: Tổng hợp số lượng gói thầu dịch vụ tư vấn được tổ chức những năm 2015 đến 2017 trên địa bàn Hà Nội 82Bảng 4.3: Cơ cấu đấu thầu dịch vụ tư vấn tổ chức trên cả nước các năm 2015 đến

2017 (tính theo cuộc đấu thầu) 83Bảng 4.4: Cơ cấu gói thầu dịch vụ tư vấn được tổ chức trên cả nước các năm 2015 đến

2017 (tính theo giá gói thầu) 85Bảng 4.5: Cơ cấu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT trên địa bàn thành phố Hà Nội các năm 2015 đến 2017 (căn cứ giá gói thầu đưa ra đấu thầu) 86Bảng 4.6: Tổng hợp kết quả đấu thầu dịch vụ tư vấn năm 2015 đến 2017 (Chỉ tính các gói thầu dịch vụ tư vấn có kết quả trúng thầu – đvt: tỷ đồng) 87Bảng 4.7: Thực trạng tham dự thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn trên địa bàn thành phố

Hà Nội các năm 2014 đến 2016 (Qua khảo sát 100 gói thầu mỗi năm) 88Bảng 4.8: Cơ cấu đấu thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT trên địa bàn Hà Nội các năm 2015 đến 2017 89Bảng 4.9: Cơ cấu nhà thầu trả lời phiếu điều tra theo vị trí địa lý 91Bảng 4.10: Cơ cấu nhà thầu dựa theo tiêu chuẩn “đã từng tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ/ gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT hay chưa?” 92Bảng 4.11: Cơ cấu theo giới tính của những đại diện nhà thầu trả lời phiếu điều tra 93Bảng 4.12: Kết quả thống kê biến phụ thuộc của mô hình nghiên cứu 95Bảng 4.13: Thống kê mô tả đánh giá tác động của 4 biến đo lường nhân tố “Sức hấp dẫn của gói thầu – SHDGT” 96Bảng 4.14: Thống kê mô tả đánh giá tác động của 7 biến đo lường nhân tố “Mong đợi của nhà thầu – MDCNT” 97Bảng 4.15: Thống kê mô tả đánh giá tác động của 5 biến đo lường nhân tố “Năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu – NLKN” 98Bảng 4.16: Thống kê mô tả đánh giá tác động của 2 biến đo lường nhân tố “Quy định

và thưởng – QDVT” 99Bảng 4.17: Thống kê mô tả đánh giá tác động của 4 biến đo lường nhân tố LP 100

Trang 11

Bảng 4.18: Thống kê mô tả đánh giá tác động của 3 biến đo lường nhân tố GTNT 101

Bảng 4.19: Thống kê mô tả đánh giá tác động của biến đo lường nhân tố “cảm nhận của người ra quyết định” 102

Bảng 4.20: Thống kê mô tả đánh giá tác động của 4 biến đo lường nhân tố TTDK 102

Bảng 4.21: Kiểm định KMO và Barlett cho các biến độc lập lần thứ nhất 105

Bảng 4.22: Ma trận xoay nhân tố (Rotated Component Matrix) lần thứ nhất 106

Bảng 4.23: Kiểm định KMO và Barlett cho các biến độc lập lần thứ hai 107

Bảng 4.24: Ma trận xoay nhân tố (Rotated Component Matrix) lần thứ hai 108

Bảng 4.25: Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) 109

Bảng 4.26: Kết quả sau phân tích EFA 110

Bảng 4.27: Độ tin cậy và tương quan đa chiều của thang đo nhân tố SHDGT 112

Bảng 4.28: Độ tin cậy và tương quan đa chiều của thang đo nhân tố MDCNT 113

Bảng 4.29: Độ tin cậy và tương quan đa chiều của thang đo nhân tố NLKN 113

Bảng 4.30: Độ tin cậy và tương quan đa chiều của thang đo nhân tố QDVT 114

Bảng 4.31: Độ tin cậy và tương quan đa chiều của thang đo nhân tố LP 114

Bảng 4.32: Độ tin cậy và tương quan đa chiều của thang đo nhân tố TTDK 115

Bảng 4.33: Kết quả phân tích hệ số tương quan Pearson (Correlations) 119

Bảng 4.34: Kết quả kiểm định hồi quy ANOVA 120

Bảng 4.35: Tóm tắt kết quả mô hình hồi quy 121

Bảng 4.36: Các hệ số của mô hình hồi quy 121

Bảng 4.37: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu 124

Bảng 4.38: Phân tích One-way ANOVA giữa các nhóm điều tra đối với nhân tố “Sức hấp dẫn của gói thầu – SHDGT” 127

Bảng 4.39: Phân tích One-way ANOVA giữa các nhóm điều tra đối với nhân tố “Mong đợi của nhà thầu – MDCNT” 128

Bảng 4.40: Phân tích One-way ANOVA giữa các nhóm điều tra đối với nhân tố “Năng lực, kinh nghiệm nhà thầu – NLKN” 129

Bảng 4.41: Phân tích One-way ANOVA giữa các nhóm điều tra đối với nhân tố “Quy định và thưởng - QDVT” 130

Trang 12

Bảng 4.42: Phân tích One-way ANOVA giữa các nhóm điều tra đối với nhân tố “Luật pháp - LP” 131Bảng 4.43: Mô tả thống kê kết quả đánh giá của ba nhóm tuổi đối với nhân tố “Luật pháp – LP” 131Bảng 4.44: Phân tích One-way ANOVA giữa các nhóm điều tra đối với nhân tố

“Thông tin đăng ký tham dự thầu - TTDK” 132Bảng 4.45: Phân tích One-way ANOVA giữa các nhóm điều tra đối với biến phụ thuộc QDTDT của nhà thầu 133Bảng 4.46: Mô tả thống kê kết quả đánh giá của ba nhóm tuổi đối với biến phụ thuộc

“Quyết định tham dự thầu - QDTDT” 134Bảng 5.1: Bảng tổng hợp kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định tham

dự thầu gói thầu giám sát TCXDCT của nhà thầu 140

Trang 13

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1: Quy trình nghiên cứu 8Hình 2.1: Mô hình nghiên cứu tổng quát đề xuất các 41Hình 2.2: Mô hình nghiên cứu đề xuất các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu 54Hình 4.1: Tổng giá trị đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn tổ chức trong năm trên cả nước tính theo giá gói thầu (Tỷ đồng) 81Hình 4.2: Cơ cấu trả lời phiếu điều tra theo vị trí là “người đứng đầu” hay là “người được ủy quyền” 93Hình 4.3: Cơ cấu độ tuổi của đại diện nhà thầu trả lời phiếu điều tra 94Hình 4.4: Kết quả phân tích nhân tố khám phá CFA 117Hình 4.5: Kết quả mô hình các nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu 125

Trang 14

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngay sau khi chuyển sang thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện cơ chế quản

lý đất nước theo Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra tại thủ đô

Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986, Nhà nước ta đã xây dựng và thực thi nhiều chính sách quản lý nền kinh tế xã hội mới Những chính sách đó đều hướng tới xóa bỏ dần cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp đã lạc hậu để thay bằng cơ chế quản lý nền kinh tế theo hướng thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, tạo cơ hội chủ động sáng tạo của mọi lực lượng sản xuất trong xã hội để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh

Trong bối cảnh đó, trong lĩnh vực mua sắm hàng hóa, dịch vụ và xây dựng các công trình, Nhà nước ta đã nhanh chóng tiếp thu và chuyển đổi cơ chế quản lý từ chỗ

“cấp phát theo kế hoạch” sang thực hiện “quy chế đấu thầu” đã tồn tại từ lâu trên thế giới Sau gần 10 năm triển khai, đến năm 1996 dưới sự giúp đỡ của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam mới có quy chế đấu thầu đầu tiên đi vào hoạt động (Nghị định số 43-

CP ngày 16/7/1996 của chính phủ về việc ban hành quy chế đấu thầu) Qua nhiêu lần sửa đổi, đến nay, nước ta đã có được Luật Đấu thầu khá hoàn chỉnh để điều chỉnh hoạt động mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ tư vấn nhằm từng bước xóa bỏ cơ chế

“xin cho” chuyển sang thực hiện cơ chế cạnh tranh lành mạnh, tạo cơ hội cho các nhà thầu có đủ năng lực, điều kiện tham gia đấu thầu và trúng thầu

Trong điều kiện nền kinh tế nước nhà đã đang chuyển mạnh sang thực hiện cơ chế quản lý, điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, các chủ đầu tư là các tổ chức, các doanh nghiệp phải thực hiện việc mua sắm thông qua đấu thầu cạnh tranh để thực hiện các dự án Trong điều kiện trên, các chủ đầu tư phải nhanh chóng tiếp cận cơ chế thị trường, sử dụng các công cụ luật pháp để thực hiện có hiệu quả hoạt động mua sắm công để thực hiện các dự án Để đạt được các yêu cầu của Luật đấu thầu, các chủ thể cần tìm hiểu xem nhà thầu khi tham dự thầu, họ tính đến những yếu tố nào, nhân tố nào Vì sao nhà thầu không tham dự thầu mặc dù họ có dư thừa năng lực và điều kiện tham gia Từ đó, chủ đầu tư đưa ra những yêu cầu, điều kiện phù hợp trong hồ sơ mời thầu để khuyến khích nhiều nhà thầu tham dự đấu thầu, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các nhà thầu Từ sự tham gia tích cực của nhiều nhà thầu như đã trình bầy trên đây, chủ đầu tư (bên mời thầu) có thể lựa chọn được nhà thầu xứng đáng, thực sự có đủ năng lực và tự tin thực hiện gói thầu một cách có trách nhiệm, nâng cao hiệu quả của đấu thầu

Trang 15

Qua theo dõi hoạt động đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn trong những năm

2014 đến 2016, rất nhiều gói thầu dịch vụ tư vấn sau khi mời thầu, lúc đầu có nhiều nhà thầu mua hồ sơ mời thầu, đăng ký tham dự đấu thầu nhưng đến thời điểm nộp hồ

sơ dự thầu, chỉ có số ít nhà thầu thực sự tham gia, thậm chí có cuộc thầu không có nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu, phải hủy đấu thầu gói thầu, gây ra những lãng phí cho ngân sách Nhà nước, lãng phí vốn của chủ đầu tư Qua theo dõi, tham dự đấu thầu đủ 100 cuộc mở thầu đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn tiến hành trên địa bàn thành phố Hà Nội mỗi năm trong vòng 03 năm liên tiếp (các năm 2014, 2015 và 2016), số đăng ký tham dự tham ban đấu khá cao với mức trung bình là 04 nhà thầu đăng ký/cuộc đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn Tuy nhiên, đến thời điểm mở thầu, chỉ có trung bình 02 nhà thầu nộp hồ sơ dự thầu/cuộc đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn Điều này đã làm giảm sức cạnh tranh trong đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn

Đối với nhà thầu, việc nghiên cứu, phân tích nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn sẽ giúp họ xác định rõ tình huống, điều kiện cần thiết để họ quyết định tham dự đấu thầu Trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt như ngày nay, việc tự tìm kiếm và khai thác các dịch vụ tư vấn theo yêu cầu của các chủ đầu tư là các cơ quan, ban ngành, các doanh nghiệp Nhà nước là rất khó khăn Nếu lựa chọn và quyết định theo đuổi tham dự đấu thầu các gói thầu mua sắm dịch vụ tư vấn một cách chính xác sẽ tăng cơ hội thực hiện các hoạt động dự án của các chủ đầu

tư cho chính họ Họ không phải đắn đo, lưỡng lự quá nhiều trước những cuộc đấu thầu đang diễn ra rất phổ biến như hiện nay

Những năm vừa qua, hoạt động mua sắm các dịch vụ tư vấn đã và đang tăng cường thực hiện theo cơ chế “đấu thầu” Cơ chế “đấu thầu” đòi hỏi các nhà thầu bên cạnh việc phải nỗ lực tổ chức, lập kế hoạch thực hiện, xây dựng “Hồ sơ dự thầu” thật chu đáo đáp ứng một cách tốt nhất những yêu cầu của “Hồ sơ mời thầu” về các mặt pháp lý, năng lực thực hiện gói thầu và có giá dự thầu hợp lý, còn cần phải phân tích một cách thích đáng các nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu của mình

để có thể ra quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu một cách chính xác, tránh những tổn thất như “húc đầu vào đá” hoặc “bỏ qua cơ hội” một cách đáng tiếc như nhiều trường hợp đã xẩy ra

Theo ý kiến đánh giá của ông Ngô Xuân Thi (8/2018), Tổng giám đốc của Tổng

công ty Phát triển Phát thanh và Truyền hình EMICO “Hoạt động tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn của các nhà thầu trong thời gian qua còn rất thụ động Có những cuộc đấu thầu rất phù hợp với các nhà thầu nào đó, nhưng nhà thầu đó lại không tham dự, hoặc tham dự nhưng thiếu hiểu biết nên bị loại Do vậy, bao công sức

Trang 16

họ bỏ ra đã bị tổn thất mà không hiểu nhân tố nào tác động, và làm thế nào để tránh mắc sai lầm cho lần sau.”

Một lý do khác dẫn đến quyết định phải nghiên cứu đề tài tìm ra các nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu trên địa bàn thành phố Hà Nội là vì dựa trên kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, hiện nay đang còn khoảng trống nghiên cứu, đó là: chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách cơ bản, khoa học chủ đề những nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu ở Việt Nam Trên thế giới và trong nước thời gian qua có hàng chục công trình nghiên cứu có liên quan đến những nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu, nhưng những công trình đó mới chỉ hướng đến các cuộc đấu thầu thuộc các lĩnh vực khác như đấu thầu các gói thầu xây lắp, đấu thầu các gói thầu xây dựng giao thông, xây dựng công trình thông tin

và đấu thầu các gói thầu mua sắm

Chẳng hạn, công trình nghiên cứu của đồng 3 tác giả Adnan Enshassi, Sherif Mohamed và Ala’a El Karriri với chủ đề “Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham

dự đấu thầu trong ngành xây dựng của Palestin” đăng trên tạp chí quản trị tài chính xây dựng công trình và tài sản “Journal of Financial Management of Property and construction” của Palestin (năm 2005) Công trình này chỉ ra 18 nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu đấu thầu các công trình xây dựng tại Palestin Công trình này được thực hiện trên cơ sở điều tra xã hội học 73 nhà thầu xây dựng, trong đó chỉ nhận được 63 phiếu trả lời hợp lệ được đưa ra phân tích Công trình nghiên cứu này thiếu việc ứng dụng công cụ phân tích thống kê với việc không kiểm định các giả thuyết cũng như không đánh giá độ tin cậy của các nhân tố, thang đo Công trình này

đã thực hiện việc sắp xếp theo trật tự của 18 nhân tố mà các tác giả khảng định có ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu của nhà thầu theo mức độ tác động từ cao đến thấp Công trình này đã nghiên cứu đối với đối tượng là đấu thầu các gói thầu trong ngành xây dựng của Palestin nói chung mà không xem xét đến lĩnh vực đặc thù là gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình

Công trình nghiên cứu thứ hai được tham khảo là công trình nghiên cứu của học giả Jaakko Lemberge, Đại học University of Twente, Hà Lan (2013) với đề tài “Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự đấu thầu và các nhân tố thành công của cuộc thầu trong ngành viễn thông” của các nước Châu Âu, Châu Phi và các nước Trung đông Công trình nghiên cứu thứ hai cũng có một số điểm tương đồng có thể tham khảo để phát triển nghiên cứu của NCS, nhưng lại chỉ mới đề cập đến đối tượng là các gói thầu

Trang 17

nói chung trong ngành viễn thông tại các nước Châu Âu, Trung Đông và Châu Phi Công trình này không nói đến đối tượng đặc thù là các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT và cũng không đề cập đến các gói thầu được tổ chức tại Việt Nam

Công trình nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser về “nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu (thông qua thông thầu) trong đấu thầu tại Úc” là tài liệu tham khảo gần với nghiên cứu của NCS Tuy nhiên, công trình này chỉ hướng đến đối tượng nghiên cứu là các cuộc đấu thầu tất cả các gói thầu được nhà thầu tự nhận là có tham gia hành động thông thầu tại Úc Công trình này có nhiều điểm tương đồng, nhưng có điểm khác biệt rõ ràng là lựa chọn đối tượng nghiên cứu là các cuộc đấu thầu có hành vi dàn xếp kết quả đấu thầu

Vì các lý do trên đây, tác giả mong muốn tìm hiểu rõ những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn đặc biệt là các gói thầu tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình để đánh giá xem việc ra quyết định tham dự đấu thầu của các nhà thầu tổ chức đối với các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình gồm những nhân tố nào, sự ảnh hưởng và mối quan hệ giữa các nhân tố đó với quyết định tham dự thầu của nhà thầu Trên cơ sở đó phát hiện những lý

do cốt lõi ảnh hưởng đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn của

các nhà thầu thông qua công trình tiến sỹ của mình với chủ đề: “Những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát: Công trình được thực hiện với mục tiêu tổng quát là phát

hiện, khám phá, kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu Từ đó, phân tích đóng góp ý kiến xây dựng với nhà thầu, chủ đầu tư và bên mời thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu nhằm nâng cao khả năng và cơ hội tham dự đấu thầu của các nhà thầu và do đó cũng nâng cao sự cạnh tranh trong đấu thầu, nâng cao cơ hội lựa chọn nhà thầu tốt hơn cho việc thực hiện gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, trên cả nước nói chung

- Mục tiêu cụ thể: Để thực hiện mục tiêu trên đây của tác giả, công trình nghiên

cứu của nghiên cứu sinh được tiến hành nhằm thực hiện các mục tiêu cụ thể sau đây:

- Hệ thống hóa các mô hình về nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu của nhà thầu trên thế giới và trong nước làm tiền đề cho việc xác lập mô hình nghiên cứu của luận án;

Trang 18

- Xây dựng mô hình, đề xuất các giả thuyết, kiểm định và đánh giá mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu Trên cơ sở đó phát hiện và phân tích những hạn chế, khiếm khuyết của cơ chế đấu thầu hiện hành, của chủ đầu tư (và bên mời thầu) cũng như của nhà thầu,… trong quá trình đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình;

- Đề xuất các giải pháp khuyến nghị giúp các cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu, chủ đầu tư (và bên mời thầu) cũng như các nhà thầu tư vấn khắc phục những hạn chế, hoàn thiện và tạo điều kiện khuyến khích sự tham dự các cuộc đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình để có thể khai thác tốt nhất năng lực, kinh nghiệm của các nhà thầu Đồng thời tạo cơ hội cho các chủ đầu tư có thể chọn được đúng nhà thầu mà họ cần trên cơ sở cạnh tranh công khai, công bằng và sòng phẳng

- Câu hỏi nghiên cứu: Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra trên đây,

công trình nghiên cứu tập trung trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau đây:

Quyết định tham dự thầu của nhà thầu là gì?

Đã có những nghiên cứu nào trên thế giới và trong nước nghiên cứu về nhân

tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu nói chung? Có những công trình nghiên cứu nào đã nghiên cứu về những nhân tố tác động đến đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu? Khoảng trống nghiên cứu cần được trả lời trong công trình nghiên cứu này là gì?

Có những nhân tố nào tác động đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sat thi công xây dựng công trình của nhà thầu ở Hà Nội, Việt Nam? Hướng tác động và thứ tự xếp hạng tầm quan trọng của các nhân tố đó như thế nào?

Những giải thích cho hiện tượng số lượng nhà thầu đăng ký tham dự thầu thì nhiều, nhưng số lượng quyết định tham dự thầu thực sự lại ít?

Những khuyến nghị nào cần được đưa ra cho nhà thầu, bên mời thầu và chủ đầu tư, cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu nhằm thúc đẩy sự tham gia của nhà thầu vào các cuộc đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng của nhà thầu?

Trang 19

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là những nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu Đối tượng này bao gồm các chi tiết sau:

- Các mô hình lý thuyết về nhân tố tác động đến hành vi ra quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các nhà thầu;

- Thực trạng tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn nói chung, dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình ở Việt Nam và đặc biệt là trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng những năm gần đây;

- Các nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu;

4 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu đối tượng trên, vì nhiều lý do khác nhau, những khía cạnh sau đây

đã được giới hạn trong công trình nghiên cứu này:

- Phạm vi về nội dung nghiên cứu: Công trình sẽ chỉ nghiên cứu các nhân tố

tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các nhà thầu tổ chức

Chính vì thế, công trình này không nghiên cứu đối với các gói thầu khác như gói thầu mua sắm hàng hóa, gói thầu xây lắp, gói thầu hỗn hợp xây lắp và mua sắm hàng hóa hoặc gói thầu tổng thầu EPC, các gói thầu dịch vụ tư vấn khác như tư vấn thiết kế, tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, lập dự án,

Công trình nghiên cứu cũng giới hạn nội dung nghiên cứu như đã nêu trên mà không nghiên cứu các nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch

vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu cá nhân

Luận án chỉ nghiên cứu nội dung trên thông qua các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình được tổ chức dưới phương thức đấu thầu rộng rãi trong nước hoặc đấu thầu hạn chế trong nước chứ không đề cập đến việc đấu thầu các gói thầu trên dưới các phương thức đấu thầu khác như đấu thầu cạnh tranh quốc tế

- Phạm vi về không gian nghiên cứu: Để phục vụ cho việc nghiên cứu tập

trung, phù hợp với điều kiện thời gian, tài chính luận văn của nghiên cứu sinh tập trung thu thập dữ liệu về đấu thầu dịch vụ tư vấn nói chung, đấu thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình nói riêng và đặc biệt trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 20

Khi tiến hành điều tra khảo sát ý kiến công trình nghiên cứu thu thập ý kiến của đại diện các nhà thầu tư vấn về các nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các tổ chức cũng như các nhận xét đánh giá khác với giới hạn là trên địa bàn thành phố Hà Nội

Những đại diện nhà thầu tổ chức, những chuyên gia được phỏng vấn và thu thập ý kiến qua điều tra xã hội học là những người đang giữ trọng trách là người đại diện pháp lý cho nhà thầu đang làm việc và công tác tại các cơ quan, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hà Nội Họ cũng có thể là những người được người có trọng trách ủy quyền tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình tham gia cung cấp thông tin Tất cả người người đại diện pháp lý đó đã và đang trực tiếp đại diện cho các nhà thầu tổ chức tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ

tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình trên địa bàn thành phố Hà Nội

Tuy nhiên, để công trình nghiên cứu có giá trị hơn, sinh động hơn, những tài liệu bổ sung về đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn, gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình trên phạm vi toàn quốc hoặc các lĩnh vực đấu thầu khác cũng được tham khảo, bổ sung vào công trình nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: Tài liệu thu thập về thực trạng đấu thầu gói

thầu dịch vụ tư vấn nói chung, gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình trên cả nước và đặc biệt trên địa bàn thành phố Hà Nội được định hình trong thời gian từ những năm 2014 đến 2017 Các công trình nghiên cứu, các tài liệu nghiên cứu thứ cấp khác có thể có thời gian tham khảo dài hơn vì các công trình đó là

cơ sở lý thuyết có ích cho các công trình nghiên cứu của tác giả

Dữ liệu sơ cấp thu thập từ phỏng vấn sâu, điều tra xã hội học được thực hiện trong thời gian nghiên cứu từ tháng 4 năm 2017 đến tháng 3 năm 2019, đây là khoảng thời gian quan trọng của công trình nghiên cứu này

5 Phương pháp nghiên cứu khái quát

5.1 Quy trình nghiên cứu

Luận án tiến sỹ của NCS được thực hiện theo quy trình nghiên cứu được mô tả trên hình 1.1 dưới đây:

Trang 21

Hình 1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: đề xuất của tác giả

5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu

Với quy trình nghiên cứu nêu trên, NCS sẽ thu thập dữ liệu qua các nguồn sau đây:

Thứ nhất, các tài liệu thứ cấp:

- Các văn bản pháp quy, các quy định của Chính phủ Việt Nam về việc tham gia thực hiện các hoạt động dịch vụ tư vấn của các tổ chức (Chủ đầu tư, Bên mời thầu, nhà thầu);

- Các văn bản pháp quy, quy định của chính phủ Việt nam về hoạt động đấu thầu, đặc biệt là về công tác đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn;

- Các công trình nghiên cứu, luận án Tiến sỹ, luận văn thạc sỹ và cử nhân, các bài báo, bài viết đăng trên các tạp chí, báo, ấn phẩm trên thế giới và trong nước về chủ

tư vấn

Đề xuất mô hình những nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu

Tài liệu, báo cáo về

đấu thầu các gói

thầu tư vấn

Điều tra xã hội học

về tham dự đấu thầu

Phỏng vấn sâu một số

chuyên gia của một số

nhà thầu tổ chức

Thực trạng đấu thầu các gói thầu dịch

vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các nhà thầu

Kiểm định và

mô tả các nhân

tố tác động đến quyết định tham dự đấu thấu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu

Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm tăng cường tham dự thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu

Một số mô hình nghiên cứu

Phỏng vấn sâu một số nhà khoa học đồng thời đã từng là đại diện nhà thầu tham dự thầu gói thầu dịch vụ

Trang 22

- Các tài liệu về các cuộc đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn của các nhà thầu

tổ chức như của các doanh nghiệp, các Viện nghiên cứu, các trường Đại học, ;

- Một số tài liệu thứ cấp khác nữa;

Thứ hai, các tài liệu, dữ liệu sơ cấp:

Tài liệu, dữ liệu sơ cấp được thu thập qua hai kênh chủ yếu sau:

- Phỏng vấn sâu:

Mục đích của phỏng vấn sâu là nhằm hỏi ý kiến của các nhà khoa học, chuyên gia về đấu thầu về: các mô hình nghiên cứu có thể áp dụng; những nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát TCXDCT của nhà thầu

Đối tượng phỏng vấn sâu là 5 nhà khoa học và 5 lãnh đạo, cán bộ chuyên gia có nhiều kinh nghiệm, đã từng tham gia nhiều cuộc đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn của doanh nghiệp, trường đại học, trong số các nhà thầu thuộc đối tượng nghiên cứu Lịch gặp các nhà khoa học, chuyên gia được bố trí trước thời điểm phỏng vấn và các câu hỏi phỏng vấn đã được chuẩn bị trước Những kết quả phỏng vấn đã được ghi chép lại và lưu giữ cho việc nghiên cứu, phân tích

- Điều tra xã hội học

+ Mục tiêu của cuộc điều tra: thu thập ý kiến của các nhà thầu tổ chức về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các nhà thầu tổ chức Cuộc điều tra cũng hỏi ý kiến của các nhà thầu tổ chức về những hạn chế, khiếm khuyết làm giảm sự tham dự thầu của các nhà thầu tổ chức, giảm sự cạnh tranh trong đấu thầu khi thực hiện các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình

+ Đối tượng điều tra: Đại diện pháp lý của nhà thầu (Người đứng đầu nhà thầu hoặc người người được người đứng đầu nhà thầu ủy quyền tham dự đấu thầu) đã từng tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn, đặc biệt là các cuộc đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trìnhcủa các nhà thầu như các doanh nghiệp, các trường Đại học, các cơ sở đào tạo, tư vấn trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2017 đến hết ngày 31 tháng 3 năm 2019 với bảng câu hỏi được thiết kế sẵn

+ Quy mô mẫu điều tra: tác giả gửi phiếu điều tra đến 1503 đại diện các nhà thầu

tổ chức (mỗi nhà thầu tổ chức là pháp nhân được hỏi ý kiến của 1 người đại diện) Những người được hỏi phải là những người đại diện hợp pháp của nhà thầu đã từng tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn trong thời gian từ 2017 đến đầu năm 2018 (theo gợi ý của Lãnh đạo các nhà thầu tổ chức) Kết quả thu về 286 phiếu, gồm 272 phiếu hợp lệ

Trang 23

+ Bảng câu hỏi điều tra được thiết kế gồm ba phần: Phần thứ nhất là ý kiến, nhận định, đánh giá của người được hỏi về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu tổ chức Phần thứ hai là câu hỏi mở về những hạn chế, khiếm khuyết làm giảm sự tham dự thầu của các nhà thầu tổ chức, giảm sự cạnh tranh trong đấu thầu khi thực hiện các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình và khuyến nghị của nhà thầu Phần thứ ba là các thông tin chung về nhà thầu và về người đại diện được hỏi và sự tham gia của họ vào các hoạt động tham dự thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn (xem phụ lục 2)

+ Gửi và thu thập phiếu điều tra: quá trình này được thực hiện hai bước: bước thứ nhất, thiết kế và điều tra thử Mục đích của bước thứ nhất này là để rút kinh nghiệm, chỉnh sửa bảng câu hỏi giúp cho việc điều tra có kết quả cao Bước thứ hai, là tiến hành điều tra chính thức

5.3 Phương pháp phân tích dữ liệu

Các số liệu thu thập được từ phiếu điều tra sẽ được tổng hợp và phân tích dựa vào phần mềm là công cụ thống kê SPSS statistic 22 để tổng hợp đưa ra những luận điểm chung Nghiên cứu này đã tiến hành phân tích nhân tố khám phá EFA (Explatory Factor Analysis) và đánh giá độ tin cậy của các thang đo RT (Reliability Testing) nhằm loại bỏ các thang đo (biến quan sát), nhân tố (biến độc lập) không giải thích cho

mô hình nghiên cứu hoặc không đủ độ tin cậy cho giải thích, đo lường các nhân tố (thành phần đo lường) làm cơ sở cho việc hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu Nghiên cứu cũng đã tiến hành phân tích nhân tố khẳng định CFA (Confirmatory Factor Analysis)

để đánh giá chất lượng của các thang đo, đặc biệt là các thang đo mới được phát hiện

và bổ sung vào mô hình, được mô hình chấp nhận

Công trình này đã thực hiện kiểm định tương quan Pearson và kiểm định giả thuyết nghiên cứu để đánh giá sự tác động của các kiểm soát đến biến phụ thuộc (quyết định tham dự đấu thầu gói thầu giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu) Sau cùng, nghiên cứu dùng phương pháp phân tích hồi quy đa biến MRA (Multiple Regression Analysis) để thiết lập mối quan hệ tuyến tính giữa các nhân tố (biến độc lập) với biến phụ thuộc để trả lời câu hỏi về mức độ và hướng tác động (cùng chiều hay ngược chiều) của các nhân tố đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các nhà thầu

Ngoài ra, các số liệu được thu thập thông qua các phương pháp thu thập số liệu khác như phỏng vấn, báo cáo, nghiên cứu khoa học, được thực hiện đã được tổng hợp, đánh giá và phân tích dựa trên các chỉ số, tiêu chí thống kê như tỷ lệ %, số trung bình,

độ lệch chuẩn, phương sai trích, hệ số Cronbach’s alpha, hệ số tương quan biến tổng

Trang 24

6 Những đóng góp mới của luận án

Luận án đã có những đóng góp mới sau đây:

- Bổ sung vào khái niệm về “quyết định tham dự đấu thầu của nhà thầu” trên cơ

sở nghiên cứu các định nghĩa khác nhau đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới nêu

ra và phân tích quy định của chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về đấu thầu Đây là cơ sở cho nghiên cứu và đặc biệt cho việc ứng dụng thang đo Likert 5 cấp dộ

- Đề xuất và kiểm định được mô hình các nhân tố tác động đến đến quyết định tham dự thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu tổ chức trên địa bàn thành phố Hà Nội với độ tin cậy thống kê được chấp nhận (trong đó có một nhân tố mới với 4 thang đo/biến mới);

- Phân tích và mô tả rõ sự tác động của các nhân tố đó trong thực tiễn hiện nay trong các cuộc đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu trên địa bàn thành phố Hà Nội Phát hiện những hạn chế, khiếm khuyết ảnh hưởng tiêu cực đến sự tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các nhà thầu tổ chức;

- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị nhằm thúc đẩy quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng, trên cả nước nói chung

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần lời cam đoan, mục lục, danh mục chữ viết tắt, danh mục bảng biểu, phần mở đầu, luận án được kết cấu thành 5 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết về những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công công trình của nhà thầu

Chương 3: Thiết kế và nghiên cứu chi tiết

Chương 4: Kết quả nghiên cứu những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu

Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị

Trang 25

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu

Để việc nghiên cứu được tiến hành có hiệu quả, hàng chục các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước có liên quan đến đấu thầu, liên quan đến dịch

vụ tư vấn, dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình, và những nghiên cứu có liên quan đến mô hình nhân tố tác động đến hành vi của tổ chức đối với việc mua sắm, cung cấp hàng hóa và dịch vụ tư vấn đã được NCS đọc và tham khảo Sau đây, là tổng quan các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước, khoảng trống nghiên cứu và đề xuất mô hình nghiên cứu của nghiên cứu sinh

1.1.1 Các công trình nghiên cứu trên thế giới

Đã có hàng chục công trình nghiên cứu liên quan đến chủ đề “Nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu gói thầu của nhà thầu” và “đấu thầu”, trong đó có thể chia

ra thành các công trình nghiên cứu theo các chủ đề sau

1.1.1.1 Các lý thuyết làm nền tảng cho nghiên cứu

Nhiều lý thuyết về hành vi của tổ chức đã được giáo sư Laurie J Mullins, trường Kinh doanh Portsmouth của Vương quốc Anh đề cập đến trong công trình “Quản lý và hành vi tổ chức - Management and Organizational Behavior” phát hành năm 2007 Học tập công trình nghiên cứu này, NCS thấy được tính phức tạp của việc điều hành một tổ chức, mà ở đó có những cá nhân, các nhóm nhỏ riêng biệt nhưng hành động như một đơn

vị thống nhất, mà ở đó người đứng đầu hoặc người được ủy quyền giữ vai trò trung tâm

Họ có trách nhiệm là người ra quyết định của cả tổ chức Quyết định của một tổ chức là một quá trình phức tạp, chịu tác động của rất nhiều nhân tố từ chủ quan đến khách quan,

từ tác động bên ngoài đến khí chất của người dứng đầu Nhưng cuối cùng, quyết định được người đứng đầu đưa ra được xem là quyết định của cả tổ chức

Theo quan điểm của giáo sư Laurie J Mullins, quyết định của một tổ chức thường bị chi phối bởi nhà ra quyết định với hai khía cạnh (tổ chức và cá nhân) không

bị tách rời Khía cạnh tổ chức của người ra quyết định chính là sự đại diện của tổ chức của người ra quyết định Những quyết định mà họ đưa ra là dựa trên những tác động của tổ chức như mong đợi của tổ chức, năng lực của tổ chức hay những cơ chế chính sách tác động của tổ chức Khía cạnh cá nhân của người ra quyết định cũng ảnh hưởng đến quyết định của tổ chức là việc nhứng quyết định của tổ chức phần nào đó chịu ảnh hướng của chính cá nhân người ra quyết định của tổ chức như cảm nhận của chính cá nhân người ra quyết định về cơ hội thành công hay thất bại khi ra quyết định của tổ

Trang 26

chức mà mình là người đại diện Đây là tính hai mặt của quyết định của người đại diện hợp pháp nhà thầu cần được nghiên cứu áp dụng trong công trình nghiên cứu này

Công trình thứ hai được người nghiên cứu tìm đọc để học tập là những hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới về mua sắm như cuốn “Hướng dẫn mua sắm tháng 1 năm 2011 của Ngân hàng Thế giới - Procurement Guilines of Goods, Works and Non-Consulting service, Jan 2011” Hướng dẫn này của Ngân hàng Thế giới cùng với sự tư vấn của các chuyên gia Ngân hàng Thế giới đã là nền móng cho những quy định pháp luật về đấu thầu ở Việt Nam NCS tìm hiểu cuốn hướng dẫn này để thấy được các khái niệm, các quy định về đấu thầu khi đấu thầu các gói thầu có sử dụng vốn vay, vốn tài trợ của Ngân hàng thế giới

Những công trình nghiên cứu về “nhân tố tác động đến hành vi của cá nhân, tổ chức” được tìm đọc và khai thác phục vụ cho công trình nghiên cứu của nghiên cứu sinh như các công trình: Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action),

lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior), Mô hình chấp nhận công nghệ TAM (Technology Acceptance Model)

Lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được các nhà khoa học Fishbein và Ajzen nghiên cứu và giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1967, tiếp tục được sửa đổi và hoàn thiện vào các năm 1975, 1987 và 1991 Theo lý thuyết này: Yếu tố quan trọng nhất quyết định hành vi của con người là niềm tin của người đó đối với sản phẩm, dịch vụ

Lý thuyết trên chỉ ra rằng: quyết định hành vi thực sự của một chủ thể chịu sự tác động trực tiếp bởi niềm tin của họ đối với những thuộc tính của sản phẩm, dịch vụ sẽ mang lại giá trị cho họ khi họ hướng hành vi của mình đến để có được sản phẩm, dịch vụ

đó Vì vậy, trước khi thực hiện hành vi, các chủ thể thường đánh giá các khả năng xẩy ra trên cơ sở đánh giá các nhân tố tác động Xác định được mức độ tin tưởng của chủ thể đối với hành vi của họ sẽ đánh giá được khả năng tham gia thực hiện các hành vi đó

Bên cạnh các nhân tố khách quan tác động đến việc quyết định của chủ thể, quyết định của họ còn phụ thuộc vào các nhân tố chủ quan của chủ thể thông qua quan niệm và niềm tin của các nhóm tham khảo đối với sản phẩm, dịch vụ

Lý thuyết hành vi dự định TPB được nhà khoa học Ajzen (1991) phát triển trên nền tảng của lý thuyết hành động hợp lý TRA do chính ông và nhà khoa học Fishbein công bố năm 1975 Lý thuyết hành vi dự định cho rằng một hành vi có thể được dự báo trước hoặc được giải thích nhờ nhận thức được các xu hướng hành vi bao gồm các nhân tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi và nhân tố mới được ông đưa vào là nhân tố kiểm soát hành vi cảm nhận

Mô hình lý thuyết hành vi dự định TPB có ưu điểm hơn lý thuyết TRA là đã bổ sung vào mô hình lý thuyết hành động hợp lý TRA yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận Hạn chế của lý thuyết TPB là vẫn có một khoảng cách đáng kể giữa các đánh giá về ý

Trang 27

Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 1 thể hiện mối quan hệ nhân quả giữa tính hữu dụng, sự dễ dàng sử dụng của công nghệ và thái độ của người sử dụng đối với công nghệ đó Theo mô hình này, hành động (quyết định) của một chủ thể để thực hiện một việc gì đó phụ thuộc vào mong đợi của người đó đối với công việc nào đó

Về cơ bản, Thuyết hành động hợp lý TRA và mô hình TAM có nhiều điểm chung khi nói đến tác động của các nhân tố đến hành vi thực sự của một chủ thể Điểm khác biệt là ở chỗ mô hình chấp nhận công nghệ TAM cho rằng hành động của một chủ thể chủ yếu do nhân tố thái độ của chủ thể có được nhờ cảm nhận về tính hữu dụng và việc dễ dàng sử dụng của sản phẩm, dịch vụ Tác động của biến môi trường, bên ngoài là không lớn, gián tiếp

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu gần chủ đề nghiên cứu

Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã đề cập đến “nhân tố ảnh hưởng đến quyết định có hay không tham dự đấu thầu của nhà thầu” như công trình nghiên cứu của nhà khoa học Anna Zarkada-Fraser (2000); công trình nghiên cứu của ba nhà khoa học Adnan Enshassi, Sherif Mohamed và Ala’a El Karrit (2005); và công trình nghiên cứu của Jaakko Lemberg (2013) và một số công trình nghiên cứu đã công bố khác

Nghiên cứu rất quan trọng, nền tảng cho nghiên cứu của NCS là công trình nghiên cứu có tên tiếng Anh là “A Classification of Factors Influencing Participation

in Collusive Tendering Agreements” của tác giả Anna Zarkada-Fraser trên tạp chí Journal of Business Ethic số 23, xuất bản tháng 2/2000, trang 269-282 Mô hình nghiên cứu được tác giả Anna Zarkada-Fraser đưa ra được thể hiện qua hình 1.1

Trang 28

Hình 1.1: Mô hình nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu tại Úc

Nguồn: Nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser (2000)

Nghiên cứu của tác giả Anna Zarkada-Fraser đã thực hiện điều tra thực nghiệm thăm dò liên quan đến một mẫu 150 cá nhân đại diện cho các tổ chức xây dựng lớn nhất ở Úc về các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tham dự thầu (dưới hình thức thông đồng trong đấu thầu) Mô hình nghiên cứu do Anna Zarkada và Fraser phát hiện là phù hợp với mô hình nghiên cứu của NCS

Những cá nhân được yêu cầu trả lời các câu hỏi nghiên cứu trong mẫu điều tra

là những đại diện của nhà thầu đã thừa nhận công ty mình đã từng tham dự thầu (dưới hình thức thông đồng trong đấu thầu) các gói thầu xây dựng ở Úc, nơi hành động thông đồng trong đấu thầu được hiểu là thỏa thuận bất hợp pháp giữa các nhà thầu và chủ đầu tư, bên mời thầu để được thắng thầu khi tham gia đấu thầu Hành vi thông thầu là hành vi thiếu đạo đức trong đấu thầu Hành vi thông thầu trong đấu thầu dẫn đến việc chào giá thiếu cạnh tranh, phá vỡ tinh thần tự do trong cạnh tranh và lừa gạt khách hàng Nghiên cứu của tác giả đã chỉ ra các biến ảnh hưởng đến hành vi hướng tới thông đồng trong đấu thầu So với số phiếu gửi đi là 150 phiếu, đã có 72 phiếu trả lời hợp lệ (chiếm 48% mẫu điều tra những đại diện được gửi bảng câu hỏi) được thu

Các nhân tố bên ngoài:

- Môi trường chung: (Các quy định của luật pháp;

Các tiêu chuẩn xã hội; Các chế tài xử phạt)

- Môi trường ngành: (Các tiêu chuẩn; quy

định; chế tài của ngành)

- Môi trường tổ chức Bên mời thầu: (Chế tài xử

phạt; văn hóa tổ chức; sức ép thực hiện gói thầu) Hành động dự kiến

Các nhân tố đến từ gói thầu:

- Sức cuốn hút của gói thầu;

- Tính hữu dụng của gói thầu;

- Khả năng thành công của gói thầu

Đánh giá đạo đức

Quyết định chính thức

Hành động - Thị trường Tác động từ các thông tin về:

- Các đối thủ cạnh tranh

Trang 29

về, được sử dụng để phân tích và đánh giá

Bằng phương pháp nghiên cứu giả định và thực nghiệm qua mẫu điều tra theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện, tác giả đã giả định và kiểm định 7 nhân tố tác động đến quyết định tham gia hợp đồng thông thầu trong đấu thầu của các nhà thầu xây dựng ở Úc gồm:

(1) Sức hấp dẫn của gói thầu;

(2) Mong đợi của nhà thầu;

(3) Luật pháp;

(4) Các giá trị và niềm tin;

(5) Cảm nhận của người ra quyết định;

(6) Các quy định và sự trừng phạt;

(7) Các tiêu chuẩn đạo đức và sự chuyên nghiệp

Để đo lường sự ảnh hưởng của 7 nhân tố trên tác động đến quyết định thông thầu của các nhà thầu xây dựng ở Úc, tác giả Anna Zarkada-Fraser đã xây dựng 25 chỉ báo (thang đo) Kết quả nghiên cứu đã dẫn tác giả đến quyết định rằng cả 7 nhân tố trên đều ảnh hưởng đến quyết định thông thầu

Nhân tố “sức hấp dẫn của gói thầu”: Về tư duy lô gíc, gói thầu được đưa ra

đấu thầu càng hấp dẫn càng thúc đẩy sự cạnh tranh, càng có nhiều nhà thầu tham dự

Do vậy, khả năng thắng thầu của từng nhà thầu sẽ rất khác nhau và nhìn chung là thấp

Để có cơ hội trúng thầu cao (chắc chắn), con đường đi được lựa chọn là thông thầu Bảng 1.1 giới thiệu nhân tố “sức hấp dẫn của gói thầu” với 4 thang đo ảnh hưởng đến quyết định thông thầu tại Úc

Bảng 1.1: Nhân tố “sức hấp dẫn của gói thầu với 4 thang đo

ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu tại Úc

Sức hấp dẫn

của gói thầu

(1) Gói thầu có giá trị cao đáp ứng mong đợi của các bên (2) Gói thầu có lợi ích cho nhà thầu trúng thầu

(3) Tăng uy tín cho nhà thầu (4) Gói thầu tạo ra sự cạnh tranh cao

Nguồn: Nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser (2000)

Trang 30

Nhân tố “mong đợi của nhà thầu” có ảnh hướng đến quyết định tham dự thầu

của nhà thầu Nhân tố này thuộc về tham vọng của chính các chủ thể tham gia hành vi tham dự thầu gồm mong đợi của nhà thầu, bên mời thầu hoặc chủ đầu tư

Đối với nhà thầu, họ mong muốn thắng thầu nhờ sự giúp sức của các đối tác thông thầu ngay cả khi họ đủ sức thắng thầu hoặc không đủ sức thắng thầu Điều này phù hợp với chiến lược của công ty là thành công bằng mọi giá, ngay cả vi phạm pháp luật

Đối với bên mời thầu hoặc chủ đầu tư, họ mong muốn được bên nhà thầu đối tác tham gia thông thầu thắng thầu để được hưởng những ưu đãi, chia phần như đã ngầm thỏa thuận mà không phải lo lắng xem nhà thầu trúng thầu công khai có chia phần cho họ không? Mức độ là như thế nào? Có cần phải trao đổi thẳng thắn hay ý tứ? Thông thầu sẽ đảm bảo lợi ích chắc chắn cho họ

Bảng 1.2 dưới đây là tóm tắt nhân tố “mong đợi của nhà thầu” khi tham dự thầu với 8 thang đo (chỉ báo) được đánh số thứ tự từ 5 đến 12 đi kèm được tác giả Anna Zarkada-Fraser xây dựng và thực nghiệm nghiên cứu về các nhân tố ảnh hướng đến hành vi tham dự thầu tại Úc

Bảng 1.2: Nhân tố “mong đợi thắng thầu” với 8 thang đo

ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu tại Úc

(8) Mong đợi có thêm công việc làm cho nhà thầu, cho người lao động (9) Mong đợi góp phần đạt mục tiêu chiến lược của nhà thầu

(10) Mong đợi thắng thầu để tạo ra khả năng trúng thầu cao hơn cho lần tham dự thầu sau

(11) Mong muốn phát huy kinh nghiệm đã có trong quá khứ với trường hợp tương tự

(12) Mong muốn đáp ứng yêu cầu của lãnh đạo cấp cao

Nguồn: Nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser (2000)

Trang 31

Nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser (2000) cũng đã chỉ ra nhân tố“Luật pháp” , nhân tố “các giá trị và niềm tin” cũng như nhân tố “các quy định và sự trừng phạt” là ba nhân tố kế tiếp có ảnh hưởng đến hành vi tham dự thầu của nhà

thầu tại Úc Ngoài hai nhân tố đã nêu ở trên hấp dẫn nhà thầu và thỏa mãn các mong đợi nhà thầu khi tham dự thầu, quyết định tham dự thầu của nhà thầu tại Úc còn chịu ảnh hưởng của những quy định nội tại của nhà thầu về việc ngăn cấm hay trừng phạt những hành vi thông thầu và mức độ trừng phạt các hành vi đó khi bị phát hiện Quyết định tham dự thầu tại Úc cũng chịu tác động của nhân tố luật pháp được Nhà nước Úc quy định Công trình nghiên cứu này đã chỉ ra 4 chỉ báo/thang

đo ứng với nhân tố “pháp luật”, 3 chỉ báo/thang đo với nhân tố “Các quy định và

sự trừng phạt” và 4 chỉ báo/thang đo ứng với nhân tố “pháp luật” (xem bảng 1.3 dưới đây)

Bảng 1.3: Chín thang đo chi tiết của 3 nhân tố “luật pháp”, “các giá trị và niềm tin”

và “các quy định và sự trừng phạt” ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu tại Úc

20) Vẫn tham dự thầu (thông thầu) dù có quy định hay không

21) Vẫn tham dự thầu (thông thầu) dù hành động đó có thể bị công ty trừng phạt

Nguồn: Nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser (2000)

Hai nhân tố còn lại trong 7 nhân tố với 4 thang đo/chỉ báo đi kèm (1 chỉ báo cho nhân tố thứ 6, 3 chỉ báo cho nhân tố thứ 7) được tác giả Anna Zarkada-Fraser (2000)

Trang 32

trình bày được thể hiện trong bảng 1.4

Bảng 1.4: Hai nhân tố với 4 thang đo ảnh hưởng đến quyết định tham dự thầu tại Úc

Cảm nhận của

người ra quyết định

22) Trực giác mách bảo tôi tham gia hợp đồng thông thầu

Các tiêu chuẩn đạo

đức và nghề nghiệp

23) Hành vi thông thầu được xem là bình thường ở công ty (nhà thầu) 24) Khả năng để một người nào đó phát hiện ra hành vi phi pháp của chúng tôi là thấp

25) Vẫn tham dự thầu vì ở công ty (nhà thầu), thông thầu được coi là chuyện bình thường

Nguồn: Nghiên cứu của Anna Zarkada-Fraser (2000)

Ngoài công trình của Anna Zarkada-Fraser (2000), có hàng chục công trình nghiên cứu khác gần với chủ đề nghiên của của NCS như công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Adnan Enshassi và cộng sự (2005) với chủ đề “Những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định tham dự đấu thầu thi công các công trình xây dựng của nhà thầu

ở dải Gaza”, Palestine đăng trên được đăng trên tạp chí Journal of Financial Management of Property and Construction và công trình nghiên cứu của nhóm tác giả

M Ravanshadnia cộng sự (2011) với về chủ đề “Khung ra quyết định có/không tham

dự thầu đối với các công ty xây dựng” đăng trên tạp chí IJST, Transactions of Civil and Enviroment Engineering, Nước Cộng hòa Hồi giáo Iran

Các công trình nghiên cứu trên về cơ bản cũng đề cập đến 6 nhân tố giống như

6 nhân tố đầu của nhà khoa học Anna Zarkada-Fraser (2000), nhưng được đưa dưới các tên khác biệt Chẳng hạn, trong công trình nghiên cứu của nhóm tác giả M Ravanshadnia và cộng sự (2011) đã hình thành 5 nhóm nhân tố với 25 biến/thang đo cần xem xét khi ra quyết định có hay không tham dự thầu các công trình xây dựng gồm: (1) xem xét khía cạnh của tổ chức; (2) đặc điểm dự án, gói thầu; (3) Rủi ro; (4) Năng lực tài chính của nhà thầu; (5) và các xem xét khác

Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Adnan Enshassi và cộng sự (2005) lại đưa ra 4 nhóm nhân tố với 72 biến/thang đo tác động đến quyết định có/không tham

dự thầu đối với các gói thầu thi công xây dựng công trình của nhà thầu ở dải Gaza, Palestine Bốn nhóm nhân tố gồm Nhóm nhấn tố liên quan đến nhà thầu (18 biến có tác động); (2) Nhóm nhân tố liên quan đến bên mời thầu, chủ đầu tư (21 biến có tác động); (3) Nhóm nhân tố thuộc về gói thầu (18 biến có tác động) và (4) nhóm nhân tố

Trang 33

bên ngoài khác (15 biến có tác động)

Các công trình nghiên cứu gần với chủ đề nghiên cứu của NCS có sử dụng phương pháp điều tra ý kiến nhà thầu với thang đo Likert 5 cấp độ, nhưng lại không tiến hành kiểm định độ tin cậy của các biến, và cũng không áp dụng công cụ hồi quy đa biến để tìm hiểu mối quan hệ giữa các nhân tố (biến độc lập) tới biến phụ thuộc (quyết định tham dự thầu của nhà thầu) mà sử dụng chỉ số trung bình và hệ số tầm quan trọng tương đối (Relative Importance Index) để xác định thứ tự các biến từ tác động mạnh đến tác động yếu Các công trình này đều coi quyết định có hay không tham dự thầu đấu thầu gói thầu là biến phụ thuộc và không kiểm định độ tin cậy của biến này

Các công trình khác mà NCS tìm đọc đều không đề cập đến nhân tố thứ 7 mà tác giả Anna Zarkada-Fraser (2000) đề cập trong công trình nghiên cứu của mình đó là nhân tố “các tiêu chuẩn đạo đức và sự chuyên nghiệp”, đây là nhân tố khó hình dung

và đo lường trong điều kiện của Việt Nam Do vậy, nhân tố này tạm thời chưa được đưa vào mô hình nghiên cứu đề xuất của công trình nghiên cứu này

Tuy nhiên một nhân tố được nhiều nhóm tác giả đề cập là nhân tố “năng lực và kinh nghiệm của nhà thầu” nhưng tác giả Anna Zarkada-Fraser (2000) lại không đưa nhân tố này vào mô hình nghiên cứu của ông Khi hỏi GS TS Vũ Văn Hiền (12/2017)

“lý giải vì sao tác giả Anna Zarkada-Fraser không đưa nhân tố này vào mô hình của

mình”, GS TS Vũ Văn Hiền cho rằng “đúng là tác giả Anna Zarkada-Fraser không cần đưa nhân tố năng lực và kinh nghiệm nhà thầu váo mô hình nghiên cứu của tác giả, vì nhà thầu ra quyết định có/không tham dự thầu các gói thầu tại Úc dưới hình thức thông thầu, nên họ chỉ quan tâm đến lợi ích mà họ có được, chứ họ đâu có cần quan tâm đến năng lực của mình đủ hay không đủ so với yêu cầu của gói thầu Dù không đủ, họ cũng “thắng thầu ” vì đã thông thầu”

Để đo lường nhân tố “năng lực, kinh nghiệm của nhà thầu công trình nghiên cứu của Nhóm tác giả M Ravanshadnia, H Rajaie và H R Abbasian (2011) chỉ đề cập đến 5 thang đo Công trình nghiên cứu của nhóm tác giả Adnan Enshassi, Sherif Mohamed và Ala’a El Karrit (2005) đưa ra 8 thang đo Công trình nghiên cứu của Jaakko Lemberg (2013) đưa ra 7 thang đo Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã có chung 5 thang đo có thể được ứng dụng vào mô hình nghiên cứu của tác giả gồm các thang đo:

+ Những lợi thế cạnh tranh của nhà thầu;

+ Năng lực tài chính của nhà thầu;

+ Năng lực chuyên môn kỹ thuật của nhà thầu;

Trang 34

+ Kinh nghiệm thực hiện các hợp đồng/các gói thầu;

+ Năng lực nhà rỗi của nhà thầu;

Tuy nhiên, có nhiều thang đo khó có thể lượng hóa được hoặc không phù hợp với đề tài nghiên cứu này, như:

+ Chiến lược của công ty;

+ Năng lực máy móc, thiết bị chủ yếu của nhà thầu;

Hay

+ Năng lực đảm bảo nguyên, nhiên vật liệu của nhà thầu

Việc lựa chọn và hoàn thiện các thang đo thuộc nhân tố này sẽ được thực hiện chi tiết trong chương 2 và chương 3

Điểm đặc biệt là các công trình nghiên cứu trên thế giới như đã trình bầy chỉ nghiên cứu đến nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu của các nhà thầu xây dựng đối với các gói thầu xây dựng mà chưa có công trình nào nghiên cứu đến những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu của nhà thầu đối với các gói thầu dịch vụ tư vấn, nhất là gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình

Học tập các mô hình nghiên cứu đã được các công trình nghiên cứu về chủ đề những nhân tố tác động đến quyết động có/không tham dự thầu đấu thầu trên thế giới,

mô hình nghiên cứu đề xuất của NCS cần sử dụng đến việc đánh giá sự giống hoặc khác nhau giữa các nhóm nhà thầu trong việc đánh giá (biến kiểm soát) phân loại theo các đặc điểm của nhà thầu như loại hình nhà thầu, quy mô của nhà thầu đã được chỉ ra trong các công trình cứu của Adnan Enshassi, Sherif Mohamed và Ala’a El Karrit (2005) Jaakko Lemberg (2013)

1.1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước

Trong suốt quá trình nghiên cứu, hàng chục tài liệu, công trình nghiên cứu trong nước đã được tham khảo và được tổng hợp thành theo các nhóm chủ đề dưới đây

Nhóm tài liệu, công trình nghiên cứu được tham khảo nhiều nhất là các văn bản pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về công tác đấu thầu làm nền tảng cho việc tìm hiểu các khái niệm, các quy định về đấu thầu nói chung, về đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn và đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình nói riêng

Nhóm tài liệu thứ hai được công trình nghiên cứu tham khảo là nhóm các giáo trình, bài giảng về quản trị doanh nghiệp và về đấu thầu Trong cuốn giáo trình “Quản

Trang 35

trị doanh nghiệp do PGS TS Ngô Kim Thanh (2012) đã hệ thống hóa quy trình ra quyết định của doanh nghiệp là một quá trình phức tạp bao gồm 6 bước quan trọng sau đây:

Bước 1: Xác định nhu cầu ra quyết định

Bước 2: Chuẩn bị các căn cứ ra quyết định

Bước 3: Dự kiến các phương án quyết định và lựa chọn quyết định hợp lý Bước 4: Ra quyết định chính thức

Bước 5: Truyền đạt quyết định đến người và tổ chức thực hiện quyết định Bước 6: Kiểm tra việc thực hiện và điều chỉnh quyết định

Theo lý thuyết ra quyết định này của nhà thầu, của doanh nghiệp, để có quyết định hợp lý, hiệu quả nhất cần phải tính toán kỹ càng các nhân tố tác động từ bên trong đến bên ngoài Quyết định ngay cả khi đã được ban ra, vẫn có thể được điều chỉnh nếu phát hiện những nhân tố mới phát sinh

Nhóm các công trình nghiên cứu khoa học, các luận án tiến sỹ có liên quan đến hoạt động đấu thầu như luận án Tiến sỹ của NCS Nguyễn Thị Tiếp (1999) với chủ đề

“Hoàn thiện chế độ đấu thầu trong xây dựng công trình giao thông đường bộ quốc gia

ở Việt Nam” Công trình nghiên cứu này chỉ nghiên cứu quy chế đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng công trình giao thông đường bộ quốc gia ở Việt Nam Phân tích những hạn chế, khiếm khuyết trong triển khai thực hiện và đề xuất kiến nghị hoàn thiện quy chế đấu thầu

Luận án Tiến sỹ của NCS Nguyễn Chí Thành (2003) với đề tài “Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các Tổng công ty Xây dựng công trình Giao thông” Công trình này nghiên cứu năng lực cạnh tranh của các tổng công ty xây dựng trong việc tham dự đấu thầu xây dựng các công trình giao thông Từ phân tích điểm mạnh, điểm yếu của các tổng công ty xây dựng giao thông, tác giả khuyến nghị các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao khả năng trúng thầu của các tổng công ty xây dựng công trình giao thông khi đấu thầu

Luận án Tiến sỹ của NCS Trần Văn Hùng với đề tài “Nâng cao chất lượng Đấu thầu các công trình giao thông ở Việt Nam” năm 2006 cũng được tác giả tham khảo

Từ luận án tiến sỹ này NCS học được những cơ sở lý thuyết về đấu thầu, quy trình đấu thầu cũng như các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đấu thầu đứng trên giác độ của chủ đầu tư, bên mời thầu

Trang 36

Ngoài ba công trình nghiên cứu tiến sỹ có liên quan trực tiếp đến đấu thầu, NCS cũng nghiên cứu và tham khảo nhiều công trình nghiên cứu khác Các công trình nghiên cứu khác đó có đặc điểm chung là: đã nghiên cứu đến hoạt động đấu thầu nhưng lại chưa nghiên cứu đến đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn, đặc biệt càng chưa nghiên cứu đến đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình Các công trình đó mới chỉ nghiên cứu đến nâng cao năng lực đấu thầu của nhà thầu, nâng cao chất lượng đấu thầu của chủ đầu tư, mà chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu đến các nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu các gói thầu nói chung, tham dự đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn nói riêng Đây là khoảng trống nghiên cứu lớn cần được NCS khai thác trong thời gian tới

Nhóm các công trình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân, của tổ chức đã được tác giả tìm đọc và tham khảo gồm:

- Công trình nghiên cứu “Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự thành công của doanh nhân Việt Nam” của hai tác giả Nguyễn Thanh Hà và PGS TS Nguyễn Thành Hiếu trên tạp chí Kinh tế và Phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, số 227(II), tháng 5/2016;

- Luận án Tiến sỹ của NCS Lê Thị Hồng Yến với đề tài “Những nhân tố tác động đến ý định mua của người tiêu dùng đối với dịch vụ băng rộng di động tại khu vực Hà Nội” năm 2016;

- Công trình nghiên cứu “Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” của các tác giả Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ và Hồ Huy Tựu trên tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Kinh tế và Kinh doanh, Tập 30, số 1 (2014), trang 36 – 45

Các công trình được tham khảo nêu trên đã nghiên cứu đến những nhân tố tác động đến hành vi nào đó ở Việt Nam thời gian qua, mới chỉ nghiên cứu đến các hành vi của người tiêu dùng hay của tổ chức liên quan đến các hoạt động khác chứ không phải hành động quyết định tham dự đấu thầu, hoặc đã nghiên cứu các nhân

tố ảnh hưởng đến quyết tham gia chuỗi cung ứng mà chưa nghiên cứu nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình

Tóm lại, các công trình nghiên cứu trong nước được trình bầy trên đây đã phân tích, tổng hợp để hình thành nên các khái niệm cơ bản cho hoạt động đấu thầu nói chung

và cho hoạt động đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn nói riêng Các văn bản pháp quy

Trang 37

còn quy định rõ các quy trình, các phương pháp đánh giá lựa chọn nhà thầu một cách chi tiết giúp cho việc tổ chức đấu thầu của chủ đầu tư, bên mời thầu được triển khai một cách công bằng và hiệu quả Các văn bản quy phạm pháp luật còn chỉ rõ đối tượng được tham dự thầu với từng loại gói thầu và phương thức tham dự thầu của nhà thầu

Các công trình nghiên cứu trên còn phân tích thực trạng đấu thầu tại các chủ đầu tư, bên mời thầu, phát hiện ra những hạn chế thiếu sót để từ đó đưa ra nhiều giải pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng hoạt động đấu thầu hoặc tăng năng lực cạnh tranh của các nhà thầu khi tham dự đấu thầu

Các công trình nghiên cứu “các nhân tố ảnh hưởng” của NCS Lê Thị Hồng Yến (2016), của tập thể hai tác giả Nguyễn Thanh Hà và PGS TS Nguyễn Thành Hiếu, trường Đại học Kinh tế Quốc dân và của tập thể 3 tác giả Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu là đều chỉ ra hai nhóm nhân tố tác động gồm nhóm các nhân tố nội tại bên trong chủ thể của hành vi và nhóm các nhân tố bên ngoài của chủ thể của hành vi Nhóm nhân tố bên ngoài bao gồm cả tiện ích, lực hấp dẫn từ đối tượng sử dụng, mua bán hay mục tiêu phát triển và các nhân tố môi trường khác

Ứng dụng của các nghiên cứu này, nghiên cứu sinh sẽ hình thành mô hình nghiên cứu gồm ba nhóm: nhóm nhân tố thứ nhất bao gồm các nhân tố từ chính nội tại thực thể của hành vi quyết định tham dự thầu (nhà thầu), nhóm nhân tố thứ hai bao gồm các nhân

tố tiện ích, sức hấp dẫn của gói thầu, đích đến cần chinh phục của các nhà thầu, và nhóm thứ ba gồm các nhân tố đến từ môi trường như pháp luật, niềm tin,

Nghiên cứu sinh cũng học tập được phương pháp nghiên cứu với việc ứng dụng các mô hình nghiên cứu như: Lựa chọn địa bàn điều tra, xây dựng thang đo, lựa chọn

đo lường với thang đo Likert 5 điểm (1 = hoàn toàn không đồng ý, 5 = hoàn toàn đồng ý) Nghiên cứu sinh học tập được các thủ tục phân tích mô hình với 3 bước của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu trong công trình nghiên cứu “Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” năm 2014 Nghiên cứu sinh cũng sẽ tiến hành 3 bước phân tích với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 22.0 và EXCEL gồm: Thứ nhất, phân tích độ tin cậy của các thang đo để phát hiện, loại bỏ các chỉ báo, thang đo không tốt với việc sử dụng hệ số alpha Thứ hai, phân tích nhân tố khảm phá EFA đối với tất cả các chỉ báo để xác định xem các chỉ báo có tạo ra số nhân tố như dự định không và tính toán lại độ tin cậy cho các thang đo cuối cùng Thứ ba, phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết

Riêng bước thứ ba, phân tích hồi quy, nghiên cứu sinh còn học tập phương

Trang 38

pháp kiểm định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc và mối quan hệ giữa các biến độc lập với nhau từ nghiên cứu của nghiên cứu sinh Lê Thị Hồng Yến năm 2016 với đề tài “Những nhân tố tác động đến ý định mua của người tiêu dùng đối với dịch vụ băng rộng di động tại khu vực Hà Nội”

Nghiên cứu sâu công trình nghiên cứu “những nhân tố tác động đến ý định mua của người tiêu dùng đối với dịch vụ băng rộng di động tại khu vực Hà Nội” của nghiên cứu sinh Lê Thị Hồng Yến (2016) và công trình nghiên cứu “Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự quan tâm tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của người buôn bán nhỏ

lẻ trên địa bàn tỉnh Nghệ An” năm 2014 của nhóm tác giả Nguyễn Xuân Cường, Nguyễn Xuân Thọ, Hồ Huy Tựu, nghiên cứu sinh còn học tập được cách thức tiếp cận

mô hình nghiên cứu với các biến kiểm soát: giới tính, tuổi, học vấn và thu nhập

1.2 Khoảng trống nghiên cứu

Phân tích các công trình nghiên cứu được tác giả tổng hợp từ các công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã mô tả ở trên, có thể thấy điểm trống nghiên cứu lớn đã lộ diện Cụ thể là:

- Với các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nghiên cứu về đấu thầu thì chưa có công trình nào nghiên cứu đến nhóm đối tượng “đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu”

- Với những công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước đã nghiên cứu đến “những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu của nhà thầu” thì chưa tìm thấy công trình nghiên cứu đến chủ đề “những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu”, đặc biệt là trên địa bàn thành phố Hà Nội, Việt Nam

- Khoảng trống thứ ba mà các công trình nghiên cứu trước đây trên thế giới cũng như các công trình nghiên cứu trong nước về các nhân tố tác động đến quyết định có/không tham dự đấu thầu đều chưa đề cập đến nhóm nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu của nhà thầu tổ chức là nhân tố “thông tin tham dự thầu của các nhà thầu” trong quá trình chuẩn bị hồ sơ dự thầu của nhà thầu Trong mô hình tổng quát về các nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu mà tác giả Anna Zarkada-Fraser (2000) đưa ra được mô tả trên sơ đồ 1.1 có nêu đến nhân tố “đối thủ cạnh tranh” nhưng khi hình thành các tiêu chí đo lường lại không chỉ ra bất kỳ chỉ tiêu phản ánh nào Các công trình nghiên cứu khác đều chưa đưa ra các biến thể hiện tác động từ phía “đối thủ cạnh tranh” Ở Việt Nam, khi ra quyết định tham dự đấu thầu các gói

Trang 39

thầu các đại diện pháp lý của nhiều nhà thầu có đề cập đến nhân tố rất quan trọng có ảnh hướng rất quyết định đến việc có hay không tham dự thầu gói thầu là những

“thông tin về số lượng nhà thầu đăng ký tham dự thầu và những thông tin về các nhà thầu cụ thể đã đăng ký tham dự thầu” Đây là điểm mới, cần được nghiên cứu và đưa vào mô hình nghiên cứu của NCS

Tóm lại, đã có những công trình nghiên cứu “các nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu của nhà thầu ” nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào tiếp cận đến chủ

đề nghiên cứu “những nhân tố tác động đến quyết định tham dự đấu thầu gói thầu dịch

vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của nhà thầu” được NCS nghiên cứu trong công trình này Các công trình nghiên cứu khoa học mà tác giả biết đến chỉ tập trung vào các đối tượng “đấu thầu các gói thầu xây lắp”, hoặc “đấu thầu các gói thầu mua sắm hàng hóa” mà chưa tìm hiểu, nghiên cứu đối tượng “đấu thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn” và đặc biệt càng chưa nghiên cứu đến đối tượng “đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình” Đây là khoảng trống mà NCS muốn dành tâm huyết để nghiên cứu, phát hiện các nhân tố tác động đến quyết định tham dự thầu các gói thầu dịch vụ tư vấn tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình của các nhà thầu Từ đó, đề xuất các ý kiến đối với tất cả các bên liên quan như chủ đầu tư, bên mời thầu, nhà thầu và các cơ quan luật pháp nhằm tăng cường sự tham gia của nhà thầu vào hoạt động đấu thầu Đảm bảo cho hoạt động đấu thầu trở lên cạnh tranh hơn, thực chất hơn

Trang 40

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH THAM DỰ THẦU GÓI THẦU DỊCH VỤ TƯ VẤN GIÁM SÁT THI CÔNG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH CỦA NHÀ THẦU

2.1 Đấu thầu và những thuật ngữ sử dụng trong đấu thầu và đấu thầu dịch

vụ tư vấn giám sát thi công xây dựng công trình

Trên thế giới đấu thầu, dịch vụ tư vấn cũng như đấu thầu dịch vụ tư vấn đã xuất hiện từ lâu Tuy nhiên, những khái niệm này chỉ bắt đầu được sử dụng ở Việt Nam sau những năm đổi mới bắt đầu từ năm 1986 khi Đảng Cộng sản Việt Nam thực hiện chương trình đổi mới toàn diện công tác lãnh đạo của Đảng ta đối với đường lối phát triển kinh tế của đất nước

Trải qua quá trình phát triển hoàn thiện từng bước, sau khoảng 30 năm đất nước

ta đã dần quen với đấu thầu và các thuật ngữ sử dụng trong đấu thầu nói chung, trong đấu thầu gói thầu dịch vụ tư vấn nói riêng Quá trình đó, Việt Nam luôn luôn nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ của nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế như Tổ chức Liên hợp quốc (UNDP), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) Sau đây là những khái niệm về đấu thầu và các thuật ngữ sử dụng trong đấu thầu nói chung, đấu thầu dịch vụ tư vấn nói riêng

2.1.1 Đấu thầu và phân loại đấu thầu theo đối tượng đấu thầu

Khái niệm về “Đấu thầu” đã được nhiều công trình nghiên cứu và nhiều văn

bản pháp lý đưa ra như: Ngân hàng Thế giới (WB), Viện ngôn ngữ học của Việt Nam một số luận văn Tiến sỹ, công trình nghiên cứu và Luật đấu thầu số 43/2013/QH13 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2013 Những định nghĩa được các công trình nghiên cứu trên có điểm chung cho rằng đấu thầu là quá trình “đọ công khai” nhằm xác định người,

tổ chức nhận làm công trình, nhận thực hiện dịch vụ hoặc nhận bán hàng hóa cho bên cần mua với những điều kiện tốt nhất để giao cho thực hiện, bán hàng Điểm khác nhau của những khái niệm này là sự chi tiết của đối tượng đấu thầu trong khái niệm đưa ra

Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới, “Đấu thầu” là quá trình “đọ công khai”

giữa những người cung cấp, bán (được gọi là nhà thầu) sản phẩm hàng hóa, công trình, dịch vụ, dự án để được nhận làm công trình, dịch vụ, dự án hay bán hàng hóa cho các

cơ quan, tổ chức (được gọi là chủ đầu tư hoặc bên mời thầu) trên cơ sở đảm bảo và tuân thủ các nguyên tắc: cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế

Ngày đăng: 08/11/2019, 16:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm