Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và giới thiệu tổng quan về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (“CPTPP”); Luận văn trình bày các yêu cầu điều chỉnh Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; và thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP; Từ thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và đối chiếu với các yêu cầu của CPTPP liên quan tới Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luận văn đề xuất định hướng hoàn thiện và kiến nghị một số nội dung cụ thể để hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập và thực hiện CPTPP. Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và giới thiệu tổng quan về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (“CPTPP”); Luận văn trình bày các yêu cầu điều chỉnh Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; và thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP; Từ thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và đối chiếu với các yêu cầu của CPTPP liên quan tới Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luận văn đề xuất định hướng hoàn thiện và kiến nghị một số nội dung cụ thể để hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập và thực hiện CPTPP. Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và giới thiệu tổng quan về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (“CPTPP”); Luận văn trình bày các yêu cầu điều chỉnh Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; và thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP; Từ thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và đối chiếu với các yêu cầu của CPTPP liên quan tới Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luận văn đề xuất định hướng hoàn thiện và kiến nghị một số nội dung cụ thể để hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập và thực hiện CPTPP. Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và giới thiệu tổng quan về Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (“CPTPP”); Luận văn trình bày các yêu cầu điều chỉnh Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; và thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP; Từ thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và đối chiếu với các yêu cầu của CPTPP liên quan tới Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, Luận văn đề xuất định hướng hoàn thiện và kiến nghị một số nội dung cụ thể để hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam gia nhập và thực hiện CPTPP.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGA
HOµN THIÖN LUËT THUÕ XUÊT NHËP KHÈU
NH»M THùC HIÖN C¸C HIÖP §ÞNH Tù DO TH¦¥NG M¹I
THÕ HÖ MíI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ NGA
HOµN THIÖN LUËT THUÕ XUÊT NHËP KHÈU
NH»M THùC HIÖN C¸C HIÖP §ÞNH Tù DO TH¦¥NG M¹I
THÕ HÖ MíI
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8380101.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN AM HIỂU
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Nga
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 6
1.1 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 6
1.1.1 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 6
1.1.2 Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 9
1.2 Khái quát Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 10
1.2.1 Khái niệm Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 10
1.2.2 Vai trò của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 13
1.2.3 Nội dung của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 14
1.3 Sơ lược về các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương 22
1.3.1 Khái quát về các FTA thế hệ mới và những cơ hội, thách thức trong thực hiện các FTA thế hệ mới 22
1.3.2 Sơ lược về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương 26
Kết luận Chương 1 36
Trang 5Chương 2: YÊU CẦU ĐIỀU CHỈNH VÀ THỰC TRẠNG LUẬT
THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU HIỆN HÀNH DƯỚI GÓC NHÌN THAM CHIẾU VỚI CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 37 2.1 Yêu cầu của CPTPP liên quan đến việc điều chỉnh Luật Thuế
xuất khẩu, thuế nhập khẩu 37
2.1.1 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phải đảm bảo tính minh
bạch và đơn giản 372.1.2 Yêu cầu bảo hộ sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu
40
2.2 Những kết quả đã đạt được của Luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam tham gia vào các Hiệp định thương mại tự do thê hệ mới 44
2.2.1 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã có các quy định phù hợp
với các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 442.2.2 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã tạo cơ sở pháp lý để
khuyến khích phát triển sản xuất và xuất khẩu 462.2.3 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã khuyến khích phát triển
và bảo hộ hợp lý sản xuất kinh doanh trong nước 482.2.4 Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đã đơn giản hóa nhiều thủ
tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế 50
2.3 Những nội dung còn tồn tại của Luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP 52
2.3.1 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn thiếu tính minh bạch và
tính đơn giản 522.3.2 Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn thiếu tính ổn định, tính rõ
ràng và còn những quy định chưa phù hợp với yêu cầu của CPTPP 562.3.3 Nhiều quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn
Trang 6chịu sự tác động và ảnh hưởng để giải quyết các chính sách xã hội
58
Kết luận Chương 2 60
Chương 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU NHẰM ĐẢM BẢO THỰC THI CAM KẾT VỀ THUẾ TẠI CÁC HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO THẾ HỆ MỚI 61
3.1 Định hướng hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu .61
3.1.1 Duy trì và tăng cường vai trò bảo hộ nền sản xuất trong nước và khuyến khích xuất khẩu của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu .61
3.1.2 Tăng cường tính minh bạch, đơn giản, ổn định và rõ ràng của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 67
3.2 Một số kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo thực thi cam kết về thuế của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới 69
3.2.1 Hoàn thiện các quy định của Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu .69
3.2.2 Ban hành Nghị định của Chính phủ quy định Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt để thực hiện CPTPP 73
Kết luận Chương 3 75
KẾT LUẬN 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CPTPP: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình
DươngFTA: Hiệp định thương mại tự do
Luật Thuế XNK
2005:
Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 45/2005/QH11
do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005
Luật Thuế XNK
2016:
Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 107/2016/QH13
do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 06 tháng 4 năm 2016
Nghị định
08/2015/NĐ-CP
Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biệnpháp thi hành luật hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra,giám sát, kiểm soát hải quan do Chính phủ ban hànhngày 21 tháng 01 năm 2015
Nghị định
122/2016/NĐ-CP
Nghị định số 122/2016/NĐ-CP quy định về biểu thuếxuất khẩu, biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, danh mục hànghóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩungoài hạn ngạch thuế quan do Chính phủ ban hành ngày
01 tháng 09 năm 2016Nghị định
125/2016/NĐ-CP
Nghị định số 125/2017/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một sốđiều của nghị định số 122/2016/NĐ-CP ngày 01 tháng 9năm 2016 của Chính phủ về biểu thuế xuất khẩu, biểu thuếnhập khẩu ưu đãi, danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệtđối, thuế hỗn hợp, thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuếquan do Chính phủ ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2017Nghị định
134/2016/NĐ-CP Nghị định số 134/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số
điều và biện pháp thi hành luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu do Chính phủ ban hành ngày 01 tháng 09 năm 2016Thông tư
39/2015/TT-BTC
Thông tư số 39/2015/TT-BTC quy định về trị giá hảiquan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu do Chínhphủ ban hành ngày 25 tháng 3 năm 2015
TPP Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương
WTO Tổ chức Thương mại thế giới
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu bằng việc tích cực tham gia các hiệpđịnh thương mại tự do khu vực và song phương đang không ngừng lan rộngkhắp khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Việt Nam cũng không nằmngoài xu thế đó Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước tham gia nhiềuHiệp định thương mại tự do nhất thế giới khi có tới 17 FTA Trong đó, 10FTA đã ký kết, có hiệu lực; 2 FTA đã ký kết, chưa có hiệu lực; 2 FTA đã kếtthúc đàm phán và 3 FTA đang trong quá trình đàm phán Trước năm 2007,Việt Nam chỉ có hai FTA là ASEAN-Trung Quốc và ASEAN-Hàn Quốc Khi
đó, Việt Nam ký kết FTA với tư cách thành viên của ASEAN Sau năm 2007,
số lượng FTA Việt Nam ký kết tăng lên nhiều như FTA với Nhật Bản, Chile,v.v Đặc biệt, năm 2015 được coi là năm “bội thu” về FTA khi Việt Nam cùnglúc kết thúc đàm phán với Hoa Kỳ trong Hiệp định Đối tác xuyên Thái BìnhDương (TPP), kết thúc đàm phán với EU ở FTA Việt Nam - EU và kết thúcđàm phán với Nga trong khuôn khổ FTA Việt Nam-Liên minh kinh tế Á - Âu.Cũng trong năm 2015, Việt Nam kết thúc đàm phán FTA với Hàn Quốc [36].Gần đây nhất, ngày 8/3/2018, Việt Nam đã cùng với 10 quốc gia còn lại củaTPP (không bao gồm Hoa Kỳ) đã ký kết Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến
bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)
Trong hầu hết các FTA đã ký kết, theo lộ trình đến năm 2018 sẽ có trên95% dòng thuế với các đối tác có thuế suất bằng 0% (ngoại trừ một số mặthàng có lộ trình sau năm 2028 như thuốc lá, đường, trứng, muối ) Cam kết
về thuế nhập khẩu trong 2 khuôn khổ FTA thế hệ mới là CPTPP và EVFTA có
tỷ lệ tự do hóa cao hơn với lộ trình ngắn hơn, hướng tới cam kết xóa bỏ thuếquan đối với 100% số dòng thuế
Trang 9Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, bên cạnh vai trò là cơ sở pháp lýcho tạo lập ngân sách nhà nước, còn có vai trò quan trọng là bảo hộ sản xuấttrong nước và khuyến khích hoạt động xuất khẩu Tuy nhiên, trong điều kiệnhội nhập kinh tế sâu rộng, việc tham gia các FTA thế hệ mới, với mức độ camkết giảm thuế nhập khẩu sâu sẽ ảnh hưởng sâu sắc tới nền sản xuất trongnước Vì vậy, để góp phần bảo vệ sản xuất trong nước, Việt Nam cần thiếtphải bổ sung, hoàn thiện các quy định trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu nhằm hỗ trợ các ngành sản xuất trong nước, để đảm bảo phù hợp vớiphù hợp với xu hướng cải cách chính sách thuế trên thế giới hiện nay cũngnhư với lộ trình tự do hóa thương mại mà Việt Nam đã cam kết thực hiện.
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện Luật thuế xuất nhập khẩu
nhằm thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới” hiện nay mang
tính cấp thiết, không những về mặt lý luận, mà còn là đòi hỏi của thực tiễn,nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện các cam kết về thuế tại các hiệp địnhthương mại tự do đã được ký kết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có một số tác giả có các công trình nghiên cứukhoa học về chính sách thuế xuất nhập khẩu như: tác giả Lỗ Thị Nhụ - Tổng
cục Hải quan có bài viết “Chính sách thuế đối với hoạt động xuất, nhập khẩu
trong bối cảnh mới” đăng trên Tạp chí tài chính; bài viết “Thuế xuất nhập khẩu của Việt Nam trong xu thế hội nhập và tự do hóa thương mại” của tác
giả Nguyễn Thị Thanh Hoài; tác giả Ngô Khánh Phượng có đề tài luận văn
thạc sĩ luật học năm 2010 “Pháp luật thuế xuất nhập khẩu trong điều kiện
Việt Nam thực thi cam kết WTO”; tác giả Nông Thị Phượng có đề tài luận văn
thạc sĩ luật học năm 2016 “Pháp luật về quản lý thuế xuất nhập khẩu và thực
tiễn áp dụng tại chi cục Hải quan cửa khẩu Hữu Nghị - tỉnh Lạng Sơn”, Tuy
Trang 10nhiên, những công trình này chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có
hệ thống về việc hoàn thiện luật thuế xuất nhập khẩu nhằm thực hiện các hiệpđịnh thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam trong thời gian gần đây
Do vậy, việc tiến hành nghiên cứu các để đánh giá các quy định và đưa
ra được kiến nghị góp phần hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩucho tương thích với cam kết về thuế quan trong các hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới được xem là một công việc có ý nghĩa quan trọng trong bốicảnh hiện nay
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Trong số các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam đã kýkết, CPTPP là hiệp định thương mại tự do thế hệ mới mà Việt Nam ký kết gầnđây nhất (08/3/2018) và được đánh giá là một hiệp định thương mại tự dokiểu mẫu của thế kỷ 21 với phạm vi cam kết rộng, bao phủ toàn diện, cam kết
mở cửa trên 20 lĩnh vực khác nhau với phạm vi và mức độ cam kết sâu rộnghơn các FTA thông thường mà Việt Nam đã tham gia trước đây TrongCPTPP, Việt Nam cam kết xóa bỏ gần 100% số dòng thuế Với yêu cầu cao vềtính minh bạch, trong đó có các cam kết về thuế quan, mà liên quan trực tiếp
là Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Vì vậy, trong phạm vi đề tài này, bêncạnh việc nghiên cứu về các FTA thế hệ mới, tác giả lựa chọn CPTPP là mộttrong các FTA thế hệ mới vừa mới được Quốc Hội Việt Nam phê chuẩn để tậptrung nghiên cứu chuyên sâu nhằm hoàn thiện luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu, đảm bảo thực thi cam kết về thuế quan của Việt Nam trong CPTPP
Luận văn tập trung vào việc rà soát các nội dung cam kết về thuếquan của Việt Nam tại các FTA thế hệ mới, đặc biệt là trong CPTPP và cácquy định của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành để đánh giá sựtương thích của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu với các FTA thế hệ
Trang 11mới, trong đó có CPTPP, từ đó, đưa ra phương hướng và giải pháp hoànthiện, nội luật hóa các cam kết của Việt Nam tại Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu trong bối cảnh Việt Nam tham gia và ký kết CPTPP.
4 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề cơ bản về luật thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu và các cam kết về thuế quan của Việt Nam các FTA thế hệmới, việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích tìm ra những yêu cầu của các FTAthế hệ mới nói chung và CPTPP nói riêng liên quan đến Luật thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu hiện hành; đánh giá thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu dưới góc nhìn tham chiếu với CPTPP; để từ đó đưa ra những kiến nghịhoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo thực thi cáccam kết về thuế quan tại các FTA thế hệ mới, trong đó có CPTPP
5 Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.luận văn còn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp tổng hợp, lịch sử và diễn giải được sử dụng trongChương 1 khi nghiên cứu để đưa những vấn đề cơ bản về Luật thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu và khái quát các vấn đề cơ bản về các FTA thế hệ mới
- Phương pháp phân tích, đối chiếu, quy nạp, diễn giải được sử dụng ởChương 2 để nghiên cứu thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu dướigóc nhìn tham chiếu với CPTPP và các FTA thế hệ mới khác từ đó rút ra đượcnhững yêu cầu điều chỉnh và nội dung pháp luật cần điều chỉnh
- Phương pháp bình luận, tổng hợp, quy nạp được sử dụng ở Chương 3khi đề cập đến một số giải pháp hoàn thiện hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu nhằm đảm bảo thực thi các cam kết về thuế tại các FTA thế hệmới, trong đó có CPTPP
Trang 126 Kết quả mới đạt được của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới sau đây:
- Nghiên cứu các vấn đề cơ bản về Luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu và khái quát các vấn đề cơ bản của các Hiệp định thương mại tự do thế
hệ mới;
- Trình bày yêu cầu điều chỉnh Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu vànhững kết quả đã đạt được, những nội dung còn tồn tại của Luật thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu hiện hành trong bối cảnh Việt Nam tham gia và ký kếtcác FTA thế hệ mới nói chung và CPTPP nói riêng;
- Đưa ra phương hướng, kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của Luậtthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiện hành đảm bảo thực thi cam kết về thuếtrong các FTA thế hệ mới, đặc biệt là CPTPP của Việt Nam
7 Bố cục và nội dung cơ bản của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục các tài liệu tham khảo, Luậnvăn được kết cấu thành ba chương với nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới
Chương 2: Yêu cầu điều chỉnh và thực trạng Luật thuế xuất khẩu, thuế
nhập khẩu hiện hành dưới góc nhìn tham chiếu với các Hiệp định thương mại
tự do thế hệ mới
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu hiện hành nhằm đảm bảo thực thi cam kết về thuế quan trong các Hiệpđịnh thương mại tự do thế hệ mới
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LUẬT THUẾ XUẤT KHẨU,
THUẾ NHẬP KHẨU VÀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO
THẾ HỆ MỚI
1.1 Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.1.1 Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Thuế ra đời gắn liền với sự hình thành và phát triển của Nhà nước Sựxuất hiện của Nhà nước đòi hỏi phải có của cải vật chất để duy trì hoạt độngcủa bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng quản lý xã hội của mình Để cóđược của cải vật chất cần thiết, Nhà nước đã sử dụng quyền lực của mình đểban hành pháp luật, bắt buộc các cá nhân và pháp nhân phải đóng góp mộtphần của cải vật chất vào ngân sách nhà nước Quan hệ thu, nộp của cải vậtchất này chính là thuế
Ở nước ta, thuế trước hết là công cụ tạo lập nguồn tài chính cho ngânsách nhà nước để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước Ngoài ra,trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thuếtrở thành công cụ quan trọng để Nhà nước điều tiết nền kinh tế và bảo đảmcông bằng xã hội
Từ thời nhà Lý vào thế kỷ thứ X đã ban hành các loại thuế đánh vàosản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp Trải qua các triều đại phong kiến, nhiềusắc thuế được đặt ra đánh vào hoạt động khai mỏ, giao thương với nướcngoài Với sự phát triển của các ngành công nghiệp trong thời kỳ Phápthuộc, một số loại thuế hiện đại đã được áp dụng nhằm tạo nguồn thu chochính quyền bảo hộ [18, tr.10]
Cùng với sự phát triển của hoạt động sản xuất, các quan hệ mua bántrao đổi hàng hóa giữa các quốc gia ngày càng phát triển Mỗi một quốc gia
Trang 14đều sử dụng một loại thuế đánh vào hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu qua cửakhẩu, biên giới nước mình Thuế xuất khẩu xuất hiện cùng với nhu cầu bảo vệhàng hóa nội địa, thuế nhập khẩu ở nhiều nước còn được gọi là “thuế quan”.Trong lịch sử, thuế quan được áp dụng trong quan hệ thương mại giữa cácnước, chế độ thuế quan ưu đãi được áp dụng trong quan hệ giữa nước bảnquốc và thuộc địa.
Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu lần đầu tiên được Nhà nước ban hànhvào năm 1951, thời điểm này, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ đểnhà nước thực hiện chức năng quản lý việc xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóagiữa vùng tự do và vùng bị tạm chiếm để bảo vệ và phát triển kinh tế cácvùng tự do, xúc tiến việc giao lưu các loại hàng hóa là nhu yếu phẩm cần thiếtcho quân đội và nhân dân Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm về thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu vẫn chưa được quy định tại bất kỳ văn bản pháp luậtnào của Việt Nam
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch 1987 không đưa rađịnh nghĩa về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà trực tiếp quy định đối tượng
chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Điều 1: “Tất cả hàng hoá mua bán,
trao đổi với nước ngoài, khi xuất khẩu hoặc nhập khẩu qua biên giới Việt Nam đều là đối tượng chịu thuế xuất khẩu hoặc thuế nhập khẩu.”
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 1993; Luật thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu sửa đổi 1993; Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu sửa đổi
1998 mặc dù có sửa đổi, bổ sung làm rõ khái niệm về xuất khẩu, nhập khẩuhàng hóa nhưng cũng chưa đưa ra định nghĩa về thuế xuất khẩu, thuế nhập
khẩu: “Hàng hóa được phép xuất khẩu, nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới
Việt Nam, kể cả hàng hóa từ thị trường trong nước đưa ra khu chế xuất và từ khu chế xuất đưa ra thị trường trong nước, đều thuộc đối tượng chịu thuế
Trang 15xuất khẩu, thuế nhập khẩu” (Điều 1).
Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu tùy thuộc vào từng góc độ tiếp cận
Trên góc độ kinh tế, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản đóng gópbằng tiền của tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo quy định củapháp luật, khi họ có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới mộtnước Với cách tiếp cận này, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là một quan hệphân phối các nguồn lực tài chính, phát sinh giữa các chủ thể là tổ chức, cánhân nộp thuế với người thu thuế là Nhà nước Mặt khác, thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu còn có thể được hiểu như đòn bẩy kinh tế hay biện pháp kinh tế đểNhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm
vi mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối vợi hoạt động kinh tế trênphạm vi khu vực và toàn cầu [29, tr.126]
Dưới góc độ pháp lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là quan hệ phápluật phát sinh giữa Nhà nước (người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộpthuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các bêntrong quá trình hành thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu Quan hệ này phátsinh từ cơ sở pháp lý là Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội banhành làm phát sinh quyền thu thuế cho Nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế chocác tổ chức, cá nhân là người nộp thuế [29, tr.127]
Theo TS Nguyễn Thị Lan Hương – Khoa Luật, Đại học Quốc gia HàNội, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu thuế đối với hoạt động xuấtkhẩu và nhập khẩu của tổ chức và cá nhân vào ngân sách nhà nước khi thựchiện hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo quy định của pháp luật.Dưới góc độ kinh tế, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là công cụ để Nhà nướckiểm soát đối với hoạt động xuất nhập khẩu, công cụ điều tiết đối với quá
Trang 16trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi mỗi quốc gia nhằm thực hiện cácchính sách kinh tế bảo hộ hàng nội địa hoặc đa phương hóa các quan hệ trongnước với các nước trong khu vực hoặc phạm vi toàn cầu Dưới góc độ pháp
lý, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu được ghi nhận trong Luật thuếxuất khẩu, thuế nhập khẩu do Quốc hội ban hành, được tổ chức thu bởi cơquan Hải quan và được đảm bảo cưỡng chế thực hiện [18, tr.179]
Theo quan điểm của tác giả, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là mộtkhoản thu bắt buộc đánh vào hàng hóa xuất khẩu, hàng hóa nhập khẩu do các
tổ chức, cá nhân đóng góp vào ngân sách nhà nước theo quy định của phápluật khi họ có hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa qua biên giới một nước
1.1.2 Đặc điểm của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Là một trong các loại thuế theo pháp luật Việt Nam, bên cạnh nhữngđặc điểm chung của thuế như là khoản nộp bắt buộc của tổ chức, cá nhân vàongân sách nhà nước, không mang tính đối giá, được thu bằng tiền hoặc hiệnvật, được bảo đảm thu bằng biện pháp cưỡng chế, thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu có sự khác biệt với các loại thuế khác ở các điểm sau:
Thứ nhất, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là khoản thu đánh vào hàng
hóa được phép vận chuyển qua biên giới Cụ thể là thuế xuất khẩu đánh vàohàng hóa sản xuất trong nước đưa ra nước ngoài, thuế nhập khẩu đánh vàohàng hóa được phép vận chuyển từ biên giới nước ngoài vào nội địa hoặc từkhu phi thuế quan nằm trong lãnh thổ quốc gia vào thị trường nội địa Đốitượng xuất khẩu, nhập khẩu là hàng hóa tiêu dùng hoặc tư liệu sản xuất
Thứ hai, chủ thể xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa có thể nhằm mục
đích tiêu dùng hoặc kinh doanh Tùy thuộc vào mục đích xuất khẩu, nhậpkhẩu mà có sự phân biệt chủ thể nộp thuế và chủ thể chịu thuế Đối với cánhân trực tiếp nhập khẩu cho tiêu dùng thì cá nhân vừa là người chịu thuế vừa
Trang 17là người nộp thuế; đối với cá nhân, doanh nghiệp nhập khẩu nhằm mục đíchkinh doanh thì cá nhân, doanh nghiệp đó là người nộp thuế, còn người chịuthuế là người tiêu dùng.
Thứ ba, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng trực tiếp của
các yếu tố quốc tế như: sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mạiquốc tế, v.v Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu điều chỉnh vào hoạt động xuất,nhập khẩu hàng hóa của một quốc gia Sự biến động của kinh tế thế giới, xuhướng thương mại quốc tế trong từng thời kỳ sẽ tác động trực tiếp tới hànghóa nhập khẩu của các quốc gia, nhất là xu thế tự do hóa thương mại, mở cửa
và hội nhập kinh tế như hiện nay Để đạt được những mục tiêu đặt ra, đòi hỏichính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải có tính linh hoạt cao, có sự thayđổi phù hợp với sự biến động của kinh tế thế giới và thương mại quốc tế.Ngoài ra,chính sách thuế xuất khẩu, nhập khẩu còn phải đảm bảo phù hợp vớicác hiệp định, cam kết quốc tế mà mỗi quốc gia ký kết hoặc tham gia
Thứ tư, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tổ chức thu bởi cơ quan
Hải quan, cơ quan này cũng đồng thời là cơ quan tổ chức cưỡng chế thực hiệnnghĩa vụ nộp thuế cùng với các cơ quan có thẩm quyền khác
1.2 Khái quát Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.1 Khái niệm Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Các nước ban hành Luật thuế quan (Luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu) làm cơ sở pháp lý bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với hàng hóa xuấtkhẩu, hàng hóa nhập khẩu nhằm tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước Dohàng hóa xuất khẩu của một quốc gia bị đánh thuế nhập khẩu ở quốc gia khác,nên để duy trì quan hệ thương mại ổn định hai bên cùng có lợi, các nước banhành các biện pháp đánh thuế nhằm bảo hộ hàng nội địa, đồng thời, duy trìquan hệ thương mại thông qua chính sách thuế quan có đi có lại
Trang 18Ở nước ta, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là luật nội dung bao gồmcác quy phạm pháp luật do Quốc hội ban hành nhằm xác định số thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu phải nộp, căn cứ đánh thuế và các quy định về hoàn thuế,làm cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và người nộp thuế.
Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được ban hành với các ý nghĩa sau:
Thứ nhất, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là cơ sở pháp lý để tạo
nguồn thu cho ngân sách nhà nước Khoản thu từ thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu là khoản thu của ngân sách trung ương được hưởng 100% Đối với thuếnhập khẩu, người nộp thuế là tổ chức và cá nhân phải nộp thuế ngay từ thờiđiểm nhập khẩu hàng hóa, khoản thuế này được chuyển hóa thành nghĩa vụchịu thuế của người tiêu dùng trong trường hợp hàng hóa được nhập khẩu đểsản xuất hàng hóa bán ra hoặc nhập khẩu để kinh doanh thương mại Đối vớithuế xuất khẩu, tổ chức hoặc cá nhân phải nộp thuế trước khi chuyển qua biêngiới hoặc qua cửa khẩu Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 quy định
tổ chức hoặc cá nhân nhập khẩu có nghĩa vụ nộp thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu vào ngân sách nhà nước trừ trường hợp được hoàn thuế
Thứ hai, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là cơ sở pháp lý cụ thể
hóa chính sách thuế và chính sách kinh tế đối ngoại nhằm điều tiết nền kinh
tế Đối tượng của chính sách thuế nhập khẩu là nhằm bảo hộ nền sản xuấttrong nước, điều tiết hành vi tiêu dùng trong nước Các quy định về hànghóa thuộc diện đánh thuế, thuế suất được sửa đổi, bổ sung phù hợp với việcban hành các chính sách kinh tế trong từng thời kỳ Quy định thuế suất làcăn cứ bảo vệ quyền thu thuế của Nhà nước, đồng thời xác định tráchnhiệm của tổ chức, cá nhân nhập khẩu thực hiện nghĩa vụ nộp thuế trướckhi đưa hàng hóa vào lưu thông
Trang 19Thứ ba, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là cơ sở pháp lý ghi nhận
nghĩa vụ và quyền lợi của tổ chức, cá nhân xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.Người xuất khẩu, nhập khẩu có thể được hưởng lợi ích miễn thuế và hoànthuế khi có đủ căn cứ theo quy định
Ngày 29-12-1987, Quốc hội khóa VIII kỳ họp lần thứ 2 đã thông quaLuật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hàng mậu dịch Luật này chỉ điều chỉnhquan hệ thu nộp thuế phát sinh từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng mậudịch Do đó có sự phân biệt trong áp dụng chế độ thu thuế giữa hàng hoá mậudịch với các loại hàng hoá phi mậu dịch khác
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, Luật Thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu hàng mậu dịch 1987 đã bộc lộ nhiều nhược điểm và chưa bảo vệnền sản xuất hàng hóa nội địa, hướng dẫn tiêu dùng, tăng thu cho ngânsách Vì vậy, Chính phủ đã trình Quốc hội thông qua Luật Thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu ngày 26-11-1991 Mục đích của thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu là bảo vệ nền kinh tế trong nước, tăng thu ngân sách cho Nhànước và hướng dẫn bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Năm 1993, 1998Quốc hội ban hành Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu 1991 cho phù hợp với tình hình kinh tế chính trị củatừng giai đoạn lịch sử
Sau 20 năm đổi mới, nước ta đã hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới,tham gia và ký kết nhiều cam kết, hiệp định quốc tế Do đó, chính sách phápluật cũng phải thay đổi để phù hợp với thông lệ quốc tế Ngày 14-6-2005, tại
kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu 2005 Luật này cùng với các luật khác đã hoàn thiện các quy định củapháp luật Việt Nam theo yêu cầu của WTO khi gia nhập WTO
Trang 20Cùng với sự hội nhập nền kinh tế thế giới sâu rộng, Việt Nam đã thamgia nhiều hiệp định song phương và đa phương với các quốc gia trên thế giới,trong đó có nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với phạm vi camkết sâu rộng, Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2005 bộc lộ nhiều quyđịnh chưa phù hợp với thực tiễn của nền kinh tế Vì vậy, để cụ thể hóa vàphù hợp với các cam kết về thuế quan theo các hiệp định đã ký kết, đồngthời, bảo hộ nền sản xuất trong nước, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Luậtthuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu 2016 thay thế cho Luật thuế xuất khẩu, thuếnhập khẩu 2005.
1.2.2 Vai trò của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Trong cấu trúc hệ thống thuế ở mỗi quốc gia, thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu không chỉ có ý nghĩa trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước,
mà còn là công cụ hữu hiệu để Nhà nước bảo hộ nền sản xuất trong nước,kiểm soát hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và thực hiện các mục tiêu đốingoại trong từng thời kỳ, đối với từng quốc gia hoặc nhóm quốc gia cụ thể.Mặc dù ra đời sau một số sắc thuế nội địa, nhưng thuế xuất khẩu, thuế nhậpkhẩu đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đốivới nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hoạt động xuất khẩu,nhập khẩu hàng hóa và bảo hộ nền sản xuất trong nước
Đặc biệt, trong điều kiện hội nhập kinh tế thị trường sâu rộng, thôngqua việc tham gia đàm phán và ký kết nhiều FTA, trong đó có những FTAthế hệ mới với mức độ tự do hóa sâu, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có vaitrò quan trọng trong việc bảo hộ nền sản xuất trong nước, thúc đẩy hoạtđộng xuất khẩu, chống lại xu hướng cạnh tranh không cân bằng giữa hànghóa trong nước với hàng hóa nhập khẩu Điều này được thể hiện ở khíacạnh sau đây:
Trang 21Đối với hàng hóa nhập khẩu, việc đánh thuế nhập khẩu thực chất là mộtbiện pháp để bảo hộ nền sản xuất trong nước Về lý thuyết, khi bị đánh thuếnhập khẩu, giá cả của hàng hóa nhập khẩu sẽ tăng lên, trong khi đó hàng hóađược sản xuất trong nước, do không bị đánh thuế nhập khẩu, nên sẽ có giáthành thấp hơn hàng hóa nhập khẩu, và do đó, sức cạnh tranh của hàng hóanhập khẩu so với hàng hóa trong nước là thấp hơn Tuy nhiên, hiện nay, ViệtNam đã hội nhập sâu rộng với nền kinh tế quốc tế, dự kiến trong vòng 10 nămtới mức độ tự do hóa thương mại sẽ đạt 97 – 98% dòng thuế, trong bối cảnh
đó, hàng hóa sản xuất trong nước đã không còn lợi thế về giá cả so với hànghóa nhập khẩu nữa Khi đó, để bảo hộ sản xuất trong nước, những quy địnhpháp luật để khuyến khích xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hóatrong nước và công cụ về thuế để bảo vệ hàng hóa trong nước là cần thiết.Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu chính là cơ sở pháp lý cho những quyđịnh và công cụ đó
Ngày nay, mặc dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang dần dầnảnh hưởng không nhỏ tới thuế xuất khẩu, nhập khẩu theo hướng hạn chếvai trò của các loại thuế này ở mỗi quốc gia, nhưng về cơ bản, thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu vẫn sẽ là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối vớinền kinh tế trong nước, đặc biệt là các quốc gia đang trong quá trìnhchuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế kinh tế thị trườngnhư Việt Nam [29, tr.126]
1.2.3 Nội dung của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
1.2.3.1 Đối tượng chịu thuế
Đối tượng chịu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là hàng hóa xuất khẩu,nhập khẩu qua cửa khẩu, biên giới Việt Nam; hàng hóa xuất khẩu từ thịtrường trong nước vào khu phi thuế quan, hàng hóa nhập khẩu từ khu phi thuếquan vào thị trường trong nước và hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu tại chỗ và
Trang 22hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu,quyền nhập khẩu, quyền phân phối (Điều 2 Luật Thuế XNK 2016) Quy địnhnày ghi nhận dấu hiệu xác định hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu để phân biệt với các hàng hóa giao dịch trong nội địa.
Về nguyên tắc, hàng hóa có xuất xứ từ một quốc gia khác nhập khẩuvào Việt Nam hoặc hàng hóa đưa vào thị trường trong nước từ khu vực phithuế quan, hàng hóa nhập khẩu tại chỗ và hàng hóa nhập khẩu của doanhnghiệp thực hiện quyền nhập khẩu bị đánh thuế nhập khẩu; còn hàng hóasản xuất trong nội địa xuất khẩu ra nước ngoài hoặc đưa vào khu vực phithuế quan trong lãnh thổ quốc gia và hàng hóa xuất khẩu tại chỗ, hàng hóaxuất khẩu của doanh nghiệp thực hiện quyền xuất khẩu bị đánh thuế xuấtkhẩu Hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới bao gồm hàng hóadùng cho sản xuất như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, hàng hóa tiêudùng hoặc hàng hóa là phần mềm nằm trong danh mục đánh thuế Đối vớixuất nhập khẩu phần mềm, việc xuất khẩu hoặc nhập khẩu có thể thực hiệnbằng chuyển qua biên giới hoặc qua mạng nhưng vẫn thược đối tượng đánhthuế theo quy định
Hàng hóa có thể được đưa từ thị trường trong nước vào khu vực phithuế quan và từ khu phi thuế quan vào thị trường trong nước và từ khu vựcphi thuế quan vào thị trường trong nước Khu vực phi thuế quan là khu vựcđộc lập với chủ quyền kinh tế nội địa, được thành lập theo quyết định của Thủtướng Chính phủ, nhằm bảo đảm sự thuận lợi cho các chủ thể kinh doanhtrong khu vực này trong quan hệ xuất khẩu ra nước ngoài Khu vực phi thuếquan bao gồm doanh nghiệp chế xuất, khu chế xuất, kho bảo thuế, kho ngoạiquan và các khu phi thuế quan khác Quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa giữakhu này với bên ngoài (bao gồm cả thị trường trong nước) là quan hệ xuấtkhẩu, nhập khẩu (theo định nghĩa tại Điều 4 Luật Thuế XNK 2016)
Trang 231.2.3.2 Chủ thể nộp thuế
Chủ thể nộp thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là người có nghĩa vụ nộpkhoản thuế vào ngân sách nhà nước theo quy định Luật Thuế XNK 2016 quyđịnh chi tiết các loại chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế tại Điều 3 Căn cứ vào hành
vi thực hiện thủ tục nộp thuế của các chủ thể, có thể phân chia chủ thể nộpthuế thành 2 dạng chủ thể Thứ nhất là tổ chức, cá nhân trực tiếp thực hiệnnghĩa vụ nhân danh mình như chủ hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; Tổ chứcnhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu; Người xuất cảnh, nhập cảnh có hàng hóaxuất khẩu, nhập khẩu, gửi hoặc nhận hàng hóa qua cửa khẩu, biên giới ViệtNam, v.v Thứ hai là các tổ chức, cá nhân được ủy quyền nộp thuế trong phạm
vi ủy quyền như Đại lý làm thủ tục hải quan; Doanh nghiệp cung cấp dịch vụbưu chính, dịch vụ chuyển phát nhanh quốc tế trong trường hợp nộp thuế thaycho người nộp thuế; Người được chủ hàng hóa ủy quyền, v.v
1.2.3.3 Căn cứ tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Căn cứ tính thuế là quy định của pháp luật về thuế suất và dữ liệu liênquan đến số lượng, giá trị hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Trị giá tính thuế
Theo Luật Thuế XNK 2016, trị giá tính thuế, bên cạnh thuế suất, sẽđược sử dụng làm cơ sở để xác định số tiền thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩuđối với hàng hóa áp dụng phương pháp tính thuế theo tỷ lệ phần trăm (khoản
1 Điều 5) và hàng hóa áp dụng phương pháp tính thuế hỗn hợp (khoản 2 Điều6) Trị giá tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là trị giá hải quan theo quyđịnh của Luật Hải quan
Đối với hàng hóa xuất khẩu, trị giá hải quan là giá bán của hàng hóatính đến cửa khẩu xuất, không bao gồm phí bảo hiểm quốc tế và phí vận tải
Trang 24quốc tế Giá bán của hàng hóa tính đến cửa khẩu xuất bao gồm giá bán ghitrên hợp đồng mua bán hàng hóa hoặc hóa đơn thương mại và các khoản chiphí liên quan đến hàng hóa xuất khẩu phù hợp với chứng từ có liên quan nếucác khoản chi phí này chưa bao gồm trong giá bán của hàng hóa (Khoản 8,Điều 1, Nghị định 59/2018/NĐ-CP).
Đối với hàng hóa nhập khẩu, trị giá hải quan là giá thực tế phải trả tínhđến cửa khẩu nhập đầu tiên trên cơ sở áp dụng Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại hoặc theo các cam kết quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam đã ký kết Bộ Tài chính quy định phương pháp xác định giá thực tếphải trả tính đến cửa khẩu nhập đầu tiên được xác định bằng cách áp dụngtuần tự sáu phương pháp xác định trị giá hải quan: (i) phương pháp trị giágiao dịch, (ii) Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu giốnghệt; (iii) Phương pháp trị giá giao dịch của hàng hóa nhập khẩu tương tự; (iv)Phương pháp trị giá khấu trừ, (v) Phương pháp trị giá tính toán và (vi)Phương pháp suy luận Trường hợp người khai hải quan đề nghị bằng văn bảnthì trình tự áp dụng phương pháp trị giá khấu trừ và phương pháp trị giá tínhtoán có thể hoán đổi cho nhau (khoản 2, Điều 5, Thông tư 39/2015/TT-BTC)
Thuế suất
Thuế suất là mức phải thu được xác định theo tỷ lệ phần trăm của cácđối tượng tính thuế hoặc bằng số tuyệt đối theo các bậc của đối tượng chịuthuế Mức thuế theo tỷ lệ phần trăm gọi là thuế suất theo tỷ lệ phần trăm vàmức thu bằng số tuyệt đối gọi là thuế tuyệt đối Thuế suất tỷ lệ có thể quyđịnh một mức hoặc nhiều mức và được quy định trong biểu thuế xuất khẩu,thuế nhập khẩu
Luật thuế XNK 2016 quy định cụ thể từng loại thuế suất gồm: thuế suấttheo tỷ lệ phần trăm (Điều 5), thuế tuyệt đối (Điều 6), thuế hỗn hợp (Điều 6),
Trang 25thuế đối với hàng hóa áp dụng hạn ngạch thuế quan (Điều 7).
Thuế suất đối với hàng hóa nhập khẩu bao gồm thuế suất ưu đãi, thuếsuất ưu đãi đặc biệt và thuế suất thông thường (Điều 5)
Thuế suất ưu đãi áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ từnước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trongquan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phi thuế quan nhập khẩuvào thị trường trong nước đáp ứng Điều kiện xuất xứ từ nước, nhóm nướchoặc vùng lãnh thổ thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mạivới Việt Nam (điểm a, khoản 3, Điều 5)
Thuế suất ưu đãi đặc biệt áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất
xứ từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt vềthuế nhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam; hàng hóa từ khu phithuế quan nhập khẩu vào thị trường trong nước đáp ứng Điều kiện xuất xứ từnước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ có thỏa thuận ưu đãi đặc biệt về thuếnhập khẩu trong quan hệ thương mại với Việt Nam (điểm b, khoản 3, Điều 5)
Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu có xuất xứ
từ nước, nhóm nước hoặc vùng lãnh thổ không thực hiện đối xử tối huệ quốc
và không thực hiện ưu đãi đặc biệt về thuế nhập khẩu với Việt Nam Thuếsuất thông thường được quy định bằng 150% thuế suất ưu đãi của từng mặthàng tương ứng (điểm c, khoản 3, Điều 5)
Thuế hỗn hợp bao gồm thuế suất theo tỷ lệ phần trăm và thuế tuyệt đối
Số tiền thuế áp dụng phương pháp tính thuế hỗn hợp đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu được xác định là tổng số tiền thuế theo tỷ lệ phần trăm và sốtiền thuế tuyệt đối Hiện nay, phương pháp tính thuế hỗn hợp đang được ápdụng đối với mặt hàng ô tô chở người từ 15 chỗ ngồi trở xuống, đã qua sửdụng (Phụ Lục III, Nghị định 125/2017/NĐ-CP)
Trang 26Thuế đối với hàng hóa nhập khẩu áp dụng hạn ngạch thuế quan: theoquy định tại Điều 7 Luật Thuế XNK 2016, hàng hóa nhập khẩu trong hạnngạch thuế quan sẽ áp dụng thuế suất, mức thuế tuyệt đối theo quy định tạiĐiều 5 và Điều 6; hàng hóa nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan sẽ áp dụngmức thuế suất, mức thuế tuyệt đối ngoài hạn ngạch do Chính phủ quy định.Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng han ngạch thuế quan đối với 4 nhóm mặthàng gồm trứng gia cầm, đường, muối, thuốc lá theo Cam kết WTO và thuếsuất đối với hàng hóa nhập khẩu ngoài hạn ngạch được quy định tại Phụ Lục
IV, Nghị định 125/2017/NĐ-CP)
Nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuế suất
Luật Thuế XNK 2016 quy định Nguyên tắc ban hành biểu thuế, thuếsuất tại Điều 10, có sự thay đổi đáng kể so với nguyên tắc ban hành biểu thuế,thuế suất trong Luật Thuế XNK 2005 Theo đó, biểu thuế, thuế suất được banhành dựa trên nguyên tắc khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu, ưutiên loại trong nước chưa đáp ứng nhu cầu; chú trọng phát triển lĩnh vực côngnghệ cao, công nghệ nguồn, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường; phùhợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước và các cam kết
về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam làthành viên Các nguyên tắc sẽ góp phần bình ổn thị trường và nguồn thu ngânsách Nhà nước; đơn giản, minh bạch, tạo thuận lợi cho người nộp thuế vàthực hiện cải cách thủ tục hành chính về thuế
Thẩm quyền ban hành biểu thuế, thuế suất:
Theo quy định tại Điều 70 Hiến pháp năm 2013, Quốc hội có thẩmquyền quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế Tuy nhiên, khác với sắcthuế khác, thuế suất đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu không được ghinhận cụ thể trong Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu do danh mục hàng hóa
Trang 27xuất khẩu, nhập khẩu là rất lớn (trên 40 biểu thuế, với 10.400 dòng thuế).Luật Thuế XNK 2016 quy định thẩm quyền ban hành biểu thuế xuất khẩu,biểu thuế xuất khẩu ưu đãi; biểu thuế nhập khẩu ưu đãi, biểu thuế nhập khẩu
ưu đãi đặc biệt; danh mục hàng hóa và mức thuế tuyệt đối, thuế hỗn hợp, thuếnhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan thuộc về Chính phủ
1.2.3.4 Thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ
Luật Thuế XNK 2016 quy định biện pháp thuế tự vệ, thuế chống bánphá giá, thuế chống trợ cấp, áp dụng cùng với thuế suất như đối với hàng hóathông thường nhằm mục đích bảo vệ sản xuất trong nước khỏi các thiệt hạigây ra từ việc bán phá giá, trợ cấp và sự gia tăng đột biến về số lượng hànghóa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam
Theo quy định tại Chương III Luật Thuế XNK 2016, điều kiện cần để
áp dụng thuế chống bán phá giá là hàng hóa nhập khẩu bán phá giá tại ViệtNam và biên độ bán phá giá phải được xác định cụ thể; thuế chống trợ cấp
là hàng hóa nhập khẩu được xác định có trợ cấp theo quy định của phápluật; thuế tự vệ là Khối lượng, số lượng hoặc trị giá hàng hóa nhập khẩu giatăng đột biến một cách tuyệt đối hoặc tương đối so với khối lượng, sốlượng hoặc trị giá của hàng hóa tương tự hoặc hàng hóa cạnh tranh trựctiếp được sản xuất trong nước Điều kiện đủ để áp dụng các loại thuế này làviệc trợ cấp, bán phá giá và gia tăng số lượng hoặc trị giá hàng hóa nhậpkhẩu này gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sảnxuất hàng hóa trong nước hoặc ngăn cản sự hình thành của ngành sản xuấttrong nước (Điều 12, Điều 13, Điều 14)
Trong điều kiện thực hiện cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kếtquốc tế, quy định về thuế phòng vệ, thuế chống bán phá giá và thuế chống trợcấp là công cụ góp phần bảo vệ môi trường kinh doanh, bảo vệ hàng hóa sản
Trang 28xuất trong nước.
1.2.3.5 Miễn, giảm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được ghi nhận tại Điều 16 LuậtThuế XNK 2016 Đối tượng được miễn thuế là các hàng hóa không được coi
là hàng hóa xuất nhập khẩu, các hàng hóa thuộc đối tượng áp dụng chính sáchkinh tế của Nhà nước trong từng thời kỳ hoặc hàng hóa là đối tượng thực hiệncác chính sách văn hóa – xã hội, ngoại giao và an ninh quốc phòng
Miễn thuế có thể được áp dụng trong một thời hạn hoặc vô thời hạn
1.2.3.6 Hoàn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu
Luật Thuế XNK 2016 quy định 5 trường hợp được hoàn thuế xuấtkhẩu, thuế nhập khẩu (tại Điều 19) bao gồm: (i) Người nộp thuế đã nộpthuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu nhưng không có hàng hóa nhập khẩu, xuấtkhẩu hoặc nhập khẩu, xuất khẩu ít hơn so với hàng hóa nhập khẩu, xuấtkhẩu đã nộp thuế; (ii) Người nộp thuế đã nộp thuế xuất khẩu nhưng hànghóa xuất khẩu phải tái nhập được hoàn thuế xuất khẩu và không phải nộpthuế nhập khẩu; (iii) Người nộp thuế đã nộp thuế nhập khẩu nhưng hànghóa nhập khẩu phải tái xuất được hoàn thuế nhập khẩu và không phải nộpthuế xuất khẩu; (iv) Người nộp thuế đã nộp thuế đối với hàng hóa nhậpkhẩu để sản xuất, kinh doanh nhưng đã đưa vào sản xuất hàng hóa xuấtkhẩu và đã xuất khẩu sản phẩm và (v) Người nộp thuế đã nộp thuế đối vớimáy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển của các tổ chức, cánhân được phép tạm nhập, tái xuất, trừ trường hợp đi thuê để thực hiện các
dự án đầu tư, thi công xây dựng, lắp đặt công trình, phục vụ sản xuất, khitái xuất ra nước ngoài hoặc xuất vào khu phi thuế quan
1.3. Sơ lược về các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Trang 291.3.1. Khái quát về các FTA thế hệ mới và những cơ hội, thách thức trong thực hiện các FTA thế hệ mới
1.3.1.1 Khái quát về các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới của Việt Nam
Ngay từ những năm đầu của thập niên 1990, song song với quá trìnhtoàn cầu hóa, chủ nghĩa khu vực đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về lượng vàchất, hình thái FTA song phương hoặc đa phương trở nên phổ biến hơn, vớiphạm vi hợp tác rộng hơn, thể hiện ở việc không chỉ tự do hóa thương mạihàng hóa, dịch vụ mà còn cả xúc tiến và tự do hóa đầu tư, hợp tác chuyển giaocông nghệ, thuận lợi hóa thủ tục hải quan, xây dựng năng lực và nhiều nộidung mới khác như lao động, môi trường Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ đãkhá tích cực trong việc ký kết và tham gia các FTA
Hiệp định thương mại tự do là một thỏa thuận thương mại giữa hai hoặcnhiều quốc gia trên cơ sở tự do đàm phán thỏa thuận về các ưu đãi đối vớithuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu; hạn ngạch và lệ phí đối với hàng hóa theo lộtrình chung hướng tới cắt giảm và xóa bỏ hàng rào thuế quan cũng như phithuế quan nhằm tiến tới xây dựng một khu vực mậu dịch tự do
Theo thống kê của Trung tâm WTO, tính đến nay, Việt Nam đã thamgia ký kết 12 FTA, bao gồm 7 FTA với tư cách là thành viên của Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam Á (ASEAN): FTA ASEAN – AEC, ASEAN - Ấn Độ,ASEAN - Hàn Quốc, ASEAN - Hồng Kong, ASEAN - Nhật Bản, ASEAN -Trung Quốc, ASEAN - Úc/Newzealand; 4 FTA song phương là FTA Việt Nam– Chi Lê, FTA Việt Nam – Hàn Quốc, FTA Việt Nam – Liên minh kinh tế Á –
Âu, FTA Việt Nam – Nhật Bản và CPTPP và đang tham gia đàm phán 4 FTA:Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) giữa ASEAN và 6 đốitác đã có FTA với Việt Nam; FTA Việt Nam – EFTA; FTA Việt Nam – EU
Trang 30(EVFTA) và FTA Việt Nam – Israel
Trong số 16 FTA đã ký kết và đang đàm phán nói trên, các FTA thế
hệ mới gồm: FTA Việt Nam - EU (EVFTA), FTA Việt Nam - Liên minhKinh tế Á - Âu (VEAEU FTA), FTA Việt Nam – Hàn Quốc (VKFTA) vàFTA ASEAN+6 (RCEP), FTA Việt Nam - Khối EFTA (VEFTA) và FTAASEAN - Hồng Kông Lý do các FTA này được gọi là FTA thế hệ mới xuấtphát từ những khác biệt của các FTA này so với các FTA còn lại (“Các FTAtruyền thống”) Trong khi các FTA truyền thống thường bao gồm 04 nộidung cơ bản là: nội dung về cắt giảm hàng rào thuế quan và phi thuế quan;danh mục mặt hàng, lĩnh vực được cắt giảm thuế quan; lộ trình cắt giảmthuế quan; các quy định về quy tắc xuất xứ của hàng hóa, thì FTA thế hệmới có các khác biệt dưới đây:
Thứ nhất, các FTA thế hệ mới có phạm vi cam kết rộng, không chỉ baogồm các nội dung cam kết về chính sách thuế quan, chính sách phi thuế quanđối với hàng hóa, dịch vụ mà còn mở rộng sang các lĩnh vực mới, tiếp cận tớicác chính sách sau biên giới của các nước như đầu tư, lao động, môi trường,cạnh tranh, doanh nghiệp Nhà nước, mua sắm công, thương mại điện tử, v.v
Thứ hai, các FTA thế hệ mới có mức độ tự do hóa, mở cửa thị trườngsâu rộng hơn với các tiêu chuẩn cao hơn nhiều so với các quy định của cácFTA truyền thống như thay vì nguyên tắc tiến tới giảm dần và xóa bỏ thuếquan đến mức 0 - 5% cho các dòng thuế thì các hiệp định thương mại tự dothế hệ mới hướng tới xóa bỏ hầu hết, tiến tới 100% các dòng thuế về mức 0%;
mở cửa mạnh các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ tài chính, ngân hàng, viễnthông, vận tải, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, v.v
Thứ ba, các FTA thế hệ mới có nhiều cam kết về thế chế, pháp luật củacác hiệp định yêu cầu được nội luật hóa, gắn với việc cải cách, tái cơ cấu, ứng
Trang 31phó với các biến đổi và thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu, cách mạngcông nghiệp Khi có hiệu lực thì các FTA này sẽ tác động rất mạnh tới thể chếcủa các nước thành viên
Thứ tư, lộ trình thực hiện các cam kết trong các FTA thế hệ mới thườngngắn hơn, thay vì 10 năm như các FTA truyền thống thì thường chỉ từ 5 - 7năm, có nhiều cam kết thực hiện ngay sau khi Hiệp định có hiệu lực hoặctrong khoảng thời gian từ 2 - 3 năm
Thứ năm, cơ chế giải quyết tranh chấp trong các hiệp định FTA thế hệmới thường rõ ràng, được mở rộng và cụ thể hơn
1.3.1.2 Những cơ hội, thách thức mới trong việc thực hiện các FTA thế
hệ mới
Về mặt cơ hội, việc thực hiện các FTA thế hệ mới sẽ đem lại nhiều cơhội cho doanh nghiệp Việt Nam về xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư, chuyểngiao công nghệ và lâu dài hơn là được hưởng lợi từ cải cách thể chế, hệ thốngcác thiết chế pháp luật theo các điều kiện và cam kết tại các FTA Với việcđược xóa bỏ tới trên 99% các loại thuế quan theo các cam kết, các doanhnghiệp Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tăng thị phần xuất khẩu Các ngành dựkiến sẽ được hưởng lợi nhiều là những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của ViệtNam mà hiện vẫn đang bị một số thị trường duy trì thuế quan cao như dệtmay, da giày và hàng nông sản Về nhập khẩu, các doanh nghiệp Việt Namcũng sẽ được lợi từ nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu với giá cả hợp lý,chất lượng tốt và ổn định từ khu vực này Đặc biệt, các doanh nghiệp sẽ có cơhội được tiếp cận với nguồn công nghệ, kỹ thuật cao, với trình độ quản lý, sảnxuất hiện đại từ các nước phát triển để nâng cao năng suất và cải thiện chấtlượng sản phẩm
Trang 32Bên cạnh những cơ hội trên, Việt Nam cũng sẽ phải đối diện với nhiềuthách thức khi thực hiện các FTA thế hệ mới này như:
Thứ nhất, do mức độ mở cửa thị trường quá cao, hàng hóa, dịch vụ củadoanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu áp lực cạnh tranh trước các hàng hóa,dịch vụ đến từ các nước thành viên trên chính thị trường Việt Nam
Thứ hai, trong bối cảnh công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam chưa pháttriển, phần lớn nguyên liệu sản xuất (chiếm tỷ lệ khá cao trong trị giá sảnphẩm) của nhiều ngành xuất khẩu đang được nhập từ Trung Quốc, các nướcASEAN, Hàn Quốc… Nếu các FTA có yêu cầu cao về tỷ lệ xuất xứ nội khốithì đây rõ ràng là một đòi hỏi không dễ dàng đối với doanh nghiệp Việt Namnếu muốn được hưởng ưu đãi thuế từ các FTA này [19]
Thứ ba, dưới sức ép của sự cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp ViệtNam phải chuyển đổi, tái cơ cấu Nếu việc chuyển đổi này không thành công,một bộ phận không nhỏ người lao động sẽ bị mất việc làm; tăng thất nghiệp,tăng khoảng cách giàu, nghèo cho xã hội
Thứ tư, khi các hàng rào thuế quan dần được dỡ bỏ thì các xu hướngbảo hộ mậu dịch mới lại hình thành một cách tinh vi và khó lường hơn ViệtNam sẽ vẫn phải đối mặt với những thách thức to lớn từ những xu hướng mớicủa bảo hộ mậu dịch, ở mức độ tinh vi, dễ thay đổi và khó tiên lượng hơntrước rất nhiều Đặc biệt, với lĩnh vực nông nghiệp, thực phẩm và một số sảnphẩm công nghiệp nhẹ, vốn là thế mạnh của Việt Nam, hàng rào bảo hộ khắtkhe sẽ là một rào cản đặt biệt đối với hoạt động xuất khẩu của các doanhnghiệp Việt Nam vào các quốc gia này
1.3.2 Sơ lược về Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
Trang 331.3.2.1 Lịch sử hình thành CPTPP
CPTPP là một Hiệp định thương mại tự do có nguồn gốc từ Hiệp địnhhợp tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (còn gọi là P4) – một hiệpđịnh thương mại tự do được ký kết ngày 3/6/2005, có hiệu lực từ ngày28/5/2006 giữa 4 nước Singapore, Chile, New Zealand và Brunei [35] Ýtưởng của các nước này là xây dựng một hiệp định thương mại tự do cho cảkhu vực Châu Á – Thái Bình Dương
Năm 2007, các nước thành viên P4 quyết định mở rộng phạm vi đàmphán của hiệp định này ra các vấn đề dịch vụ tài chính, đầu tư và trao đổi vớiHoa Kỳ về khả năng nước này tham gia vào đàm phán mở rộng P4 Với sựchuyển hướng chính trị đối với khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, Hoa Kỳ
đã quyết định tham gia đàm phán hiệp định này vào quý 3 năm 2008 Sự thamgia của Hoa Kỳ - nền kinh tế lớn nhất thế giới đã giúp cho các nước có mộtcái nhìn mới về P4, tạo ra một cơ hội xuất khẩu rất lớn cho những nước chưa
có FTA với Hoa Kỳ Sau khi Hoa Kỳ tham gia thì ngay sau đó tại hội nghịAPEC được tổ chức tại Peru năm 2008, Úc và Peru đã quyết định tham gia.Cũng từ thời điểm này, đàm phán mở rộng P4 được đặt tên lại là đàm phánHiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) Như vậy, đến hết năm 2008TPP đã có 7 nước tham gia
Sau khi Úc và Peru tham gia, đầu năm 2009, Việt Nam đã nhận đượcthư mời tham gia TPP Đến năm 2010, Malaysia bày tỏ mong muốn tham giaTPP Quá trình để đồng ý cho Malaysia gia nhập TPP diễn ra rất nhanh, vì khi
đó chưa có quy trình áp dụng riêng cho thành viên mới muốn tham gia TPP,
nó chỉ là quy trình tham vấn rất nhanh giữa các nước TPP Đến tháng 9 năm
2010, Malaysia đã được đồng ý tham gia TPP Và đến tháng 10 tại hội nghịthượng đỉnh APEC, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã thông báo Việt Nam
Trang 34sẽ chính thức tham gia hiệp định TPP Tại hội nghị thượng đỉnh của các nhàlãnh đạo TPP, cũng được tổ chức bên lề hội nghị cấp cao APEC tạiYokohama, Tổng thống Obama đã chính thức chào mừng Việt Nam vàMalaysia tham gia TPP Như vậy đến cuối năm 2010, Việt Nam cùng vớiMalaysia đã trở thành hai thành viên chính thức mới của TPP, nâng số thànhviên của TPP lên 9 thành viên [31].
Kể từ khi TPP mở rộng thành viên, một số quốc gia khác cũng đã thểhiện sự quan tâm đối với hiệp định này tiêu biểu là Canada, Mexico tham gianăm 2012, Nhật Bản tham gia năm 2013 sau khi đạt được sự đồng thuận củacác 9 quốc gia đã tham gia đàm phán TPP Tính đến tháng 4 năm 2014, TPP
đã có 12 nước chính thức tham gia đàm phán với phạm vi cam kết rộng lớnbao gồm hầu hết các lĩnh vực có liên quan tới thương mại, và các lĩnh vựcphi thương mại như môi trường, lao động, các vấn đề xuyên suốt liên quanđến thương mại như chuỗi cung ứng, doanh nghiệp vừa và nhỏ, v.v TPPđược kỳ vọng sẽ trở thành một khuôn khổ thương mại toàn diện, có chấtlượng cao, mang lại lợi ích nhiều nhất cho tất cả những nước đang và sẽtham gia hiệp định và sẽ trở thành khuôn mẫu cho các hiệp định thương mại
tự do của thế kỷ 21
TPP bắt đầu được đàm phán từ tháng 3 năm 2010, hoàn tất vào tháng
10 năm 2015 và chính thức được ký kết vào ngày 04/2/2016 tại New Zealand
Về nguyên tắc, TPP sẽ chính thức có hiệu lực trong vòng 60 ngày sau ngày tất
cả các nước thông báo với New Zealand về việc hoàn thành các thủ tục pháp
lý trong nước về phê chuẩn Hiệp định Trong trường hợp không đủ toàn bộcác nước hoàn thành các thủ tục pháp lý trong vòng 2 năm kể từ ngày ký, TPP
sẽ có hiệu lực trong vòng 20 ngày kể từ khi hết thời hạn 2 năm nếu có ít nhất
6 nước, với ít nhất 85% tổng sản phẩm quốc nội cộng gộp theo giá trị năm
2013, hoàn thành các thủ tục pháp lý trong thời gian này
Trang 35Tuy nhiên, ngày 30 tháng 01 năm 2017, Hoa Kỳ đã có thư gửi các nướctham gia TPP thông báo chính thức rút khỏi Hiệp định TPP.
Với tư cách là nước chủ nhà APEC, Việt Nam đã phối hợp với NhậtBản và các nước khác để duy trì TPP Tại cuộc họp cấp Bộ trưởng tổ chức bên
lề Tuần lễ Cấp cao APEC tại Đà Nẵng, các nước còn lại đã thông qua tên gọimới của Hiệp định là Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên TháiBình Dương (CPTPP), đồng thời thống nhất các nội dung cơ bản của Hiệpđịnh này Trên cơ sở đó, các nước đã kết thúc toàn bộ nội dung đàm phán cònlại vào cuối tháng 1 năm 2018 [31]
CPTPP được chính thức ký kết bởi 11 thành viên còn lại của TPP vàongày 8/3/2018 tại Santiago (Chile) và sẽ có hiệu lực nếu được ít nhất 06 nướchoặc một nửa số thành viên phê chuẩn hiệp đinh này
1.3.2.2 Nội dung của CPTPP
Hiệp định CPTPP, với tên gọi đầy đủ là Hiệp định Đối tác Toàn diện
và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương đã khẳng định tầm vóc, chất lượng và ýnghĩa của CPTPP – một hiệp định có tính tiêu chuẩn cao và toàn diện trêntất cả các lĩnh vực
CPTPP là một hiệp định thương mại tự do tiêu chuẩn cao, bởi khôngchỉ đề cập đến các lĩnh vực truyền thống như cắt giảm thuế quan đối với hànghóa, mở cửa thị trường dịch vụ, sở hữu trí tuệ, hàng rào kỹ thuật liên quan đếnthương mại, mà còn xử lý những vấn đề mới, phi truyền thống như lao động,mua sắm chính phủ, môi trường, doanh nghiệp nhà nước, các biện pháp antoàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật, v.v Đồng thời, CPTPP đặt ranhững yêu cầu, tiêu chuẩn cao về sự minh bạch đối với hàng hóa cũng như cơchế giải quyết tranh chấp có tính chất ràng buộc và chặt chẽ
Trang 36Các nước tham gia Hiệp định thống nhất xóa bỏ cho nhau gần như toàn
bộ thuế nhập khẩu theo lộ trình; tự do hóa dịch vụ và đầu tư trên cơ sở tuânthủ pháp luật của nước sở tại Theo khuôn khổ của CPTPP, các nước phải mởcửa cho các công ty và nhà đầu tư thuộc các nước thành viên CPTPP Các đốitượng này có thể hoạt động tương tự các nhà sản xuất và cung ứng dịch vụ nộiđịa Các doanh nghiệp nước ngoài được đối xử công bằng trong lĩnh vực muasắm chính phủ, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân được traoquyền lợi và ưu đãi như nhau, tạo sự cạnh tranh lành mạnh giữa doanh nghiệptrong nước và doanh nghiệp ngoài nước Theo đó, CPTPP vừa tạo sự gắn kếtgiữa các quốc gia, vừa đảm bảo lợi ích của tất cả các bên, đảm bảo quyền bảo
vệ, phát triển và thực thi các chính sách văn hóa riêng của từng thành viên
1.3.2.3 Ý nghĩa của việc tham gia CPTPP
Việc tham gia đàm phán, ký kết Hiệp định CPTPP mang lại nhiều lợiích cho Việt Nam, trong đó có 3 lợi ích lớn:
Một là lợi ích về mặt kinh tế.
Theo tính toán của Ngân hàng Thế giới, khi thực thi CPTPP, tăngtrưởng kinh tế của Việt Nam vào năm 2030 dự tính tăng tới 3,5%, xuất khẩutăng 6,9%, nhập khẩu tăng 7,6% [40]
CPTPP là cơ hội để Việt Nam mở rộng thị trường xuất khẩu và nhậpkhẩu Hiện nay, 70% nhập khẩu của Việt Nam đến từ các quốc gia Đông Á
và 50% xuất khẩu vào khu vực này [38] Trong trường hợp có bất lợi xảy ratrong khu vực sẽ tác động rất lớn đến nền kinh tế Việt Nam vì xuất khẩu làhoạt động chính của tăng trưởng GDP Vì vậy, Việt Nam cần cân bằng lạithị trường xuất khẩu và nhập khẩu hay còn gọi là cân bằng cán cân thanhtoán Với sự tham gia CPTPP, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được tiếpcận thị trường tốt hơn với mức thuế suất thấp hơn, đặc biệt là được tiếp cận
Trang 37những thị trường như Canada, Mexico, Chile và Peru, những nước mà ViệtNam chưa ký kết hiệp định thương mại tự do trước đó Ngoài ra, CPTPPcòn góp phần thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp Việt Namsang các thị trường lớn như Nhật Bản, Australia, Canada, Mexico Hiệpđịnh cũng mở cửa cho các nước và vùng lãnh thổ khác tham gia Điều này
sẽ giúp Việt Nam tiếp cận được một thị trường rộng lớn hơn, giúp tăng kimngạch và phát triển kinh tế
Bên cạnh đó, CPTPP được kỳ vọng Việt Nam sẽ thu hút nguồn vốn đầu
tư nước ngoài vào các ngành, lĩnh vực mà Việt Nam đang có nhu cầu pháttriển Tham gia Hiệp định TPP sẽ giúp Việt Nam có thêm điều kiện, tranh thủhợp tác quốc tế để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, triển khaichiến lược hội nhập quốc tế nói chung và chiến lược đối ngoại ở khu vựcChâu Á - Thái Bình Dương nói riêng, nâng cao vị thế của Việt Nam trêntrường quốc tế
Hai là, lợi ích về mặt thể chế.
Được đánh giá là động lực cải cách thể chế lần thứ hai, sau lần gia nhập
Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO), việc tham gia CPTPP sẽ là cơ hội đểViệt Nam tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, một trong ba đột pháchiến lược mà Đảng đã đề ra cho thời kỳ 2011-2020; hỗ trợ cho tiến trình đổimới và cơ cấu lại thành phần kinh tế; đồng thời giúp hoàn thiện môi trườngkinh doanh theo hướng thông thoáng, minh bạch, dễ dự đoán, giúp thu hútđầu tư nước ngoài, tăng cơ hội hợp tác của doanh nghiệp Việt Nam với cácdoanh nghiệp nước ngoài
CPTPP có các quy định, cam kết toàn diện với chuẩn mực và tính minhbạch cao, sẽ giúp Việt Nam tiến hành các cuộc cải cách một cách bài bản,thực chất, nghiêm túc và hiệu quả hơn Đặc biệt, với các tiêu chuẩn cao về sở
Trang 38hữu trí tuệ trong CPTPP sẽ góp phần nâng cao hơn nữa công tác bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ của Việt Nam, mở ra cơ hội để thu hút đầu tư nước ngoài vàocác lĩnh vực có hàm lượng tri thức cao, công nghệ hiện đại như sản xuất dượcphẩm, kỹ thuật
Thêm vào đó, Hiệp định CPTPP với các tiêu chuẩn rất cao về minhbạch hóa, xử lý tranh chấp, chống tham nhũng sẽ giúp Việt Nam tiếp tụchoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thúc đẩy hoàn thiện bộmáy nhà nước theo hướng tinh gọn, hiệu quả, hiệu lực; đẩy mạnh cải cáchhành chính; tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương và phòng chốngquan liêu, tham nhũng
Đây chính là lợi ích mang tính lâu dài mà CPTPP mang lại cho Việt Nam
Là một hiệp đinh mới mức độ cam kết sâu rộng, CPTPP còn bao gồmcác cam kết về bảo vệ môi trường nên tiến trình mở cửa, tự do hóa thươngmại của Việt Nam sẽ được thực hiện theo cách thức thân thiện với môi trường,tăng trưởng bền vững hơn
Bên cạnh những cơ hội mà CPTPP mang lại cho nền kinh tế Việt Nam,
có không ít thách thức, khó khăn đặt ra cho cả doanh nghiệp và người dânViệt Nam Việc cam kết và thực hiện các cam kết sâu và rộng trong khuônkhổ CPTPP sẽ đặt ra những thách thức không nhỏ, đặc biệt là sức ép về mở
Trang 39cửa thị trường, cạnh tranh đối với các doanh nghiệp của Việt Nam, vốn cònyếu, khả năng quản lý còn nhiều bất cập Nếu không có sự chuẩn bị tốt, nhiềungành sản xuất và dịch vụ có thể sẽ gặp khó khăn Tuy nhiên, đây là conđường mà sớm hay muộn Việt Nam cũng phải đi qua để chuyển dịch cơ cấukinh tế thành công, theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, chất lượng và hiệuquả của tăng trưởng kinh tế Đây cũng chính là thời cơ để các doanh nghiệp
và người dân, từ vị thế bị động, trở nên chủ động chuẩn bị, đón đầu các cơ hội
mà hội nhập sâu rộng mang lại
1.3.2.4 Nội dung cam kết về thuế quan trong CPTPP
Trong CPTPP, các cam kết về thuế quan được quy định tại Chương 2:Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa Các cam kết về thuếquan bao gồm 2 nhóm, cam kết về thuế nhập khẩu và cam kết về thuế xuấtkhẩu và được thể hiện chi tiết theo từng dòng thuế trong biểu thuế và mỗinước tham gia CPTPP sẽ có một biểu cam kết thuế quan riêng áp dụng chotừng đối tác hoặc cho tất cả các đối tác CPTPP
Cam kết về thuế xuất khẩu
Trong CPTPP, có 3 mức áp dụng thuế xuất khẩu là Việt Nam,Malaysia và Canada Cả 3 nước đều cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu, ngoạitrừ các nhóm mặt hàng được bảo lưu
Đối với thuế xuất khẩu, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đốivới phần lớn các sản phẩm hiện đang áp dụng thuế xuất khẩu trong WTO, cơbản theo lộ trình xóa bỏ thuế từ 5-15 năm sau khi CPTPP có hiệu lực và chỉgiữ lại thuế xuất khẩu đối với 70 sản phẩm quan trọng như than đá, dầu mỏ vàmột số loại quặng, khoáng sản
Việc bảo lưu thuế xuất khẩu đối với các mặt hàng này của Việt Nam có
Trang 40thể được giải thích bởi các lý do như bảo vệ tài nguyên trong nước, giữ nguồnnguyên liệu cho sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu các sản phẩm
đã qua chế biến, v.v Do đó, tùy vào bối cảnh của từng thời kỳ, Nhà nước cóthể thay đổi việc áp dụng thuế xuất khẩu đối với sản phẩm nào đó, theo hướng
áp dụng hay không áp dụng thuế xuất khẩu Điều này có thể khiến cho doanhnghiệp gặp khó khăn trong quá trình định hướng phát triển lâu dài Tuy nhiên,với cam kết trong CPTPP, sau khi hiệp định có hiệu lực, việc áp thuế xuấtkhẩu sẽ phải loại bỏ dần dần theo lộ trình, và cho đến khi kết thúc lộ trình sẽchỉ còn lại 70 sản phẩm có thể bị áp thuế
Cam kết về thuế nhập khẩu
Các cam kết dành ưu đãi thuế nhập khẩu của các thành viên trongCPTPP thường theo ba hình thức:
Thứ nhất, cam kết loại bỏ thuế quan ngay khi hiệp định chính thức cóhiệu lực: đối với các trường hợp này, thuế nhập khẩu sẽ là 0% vào thời điểmCPTPP có hiệu lực;
Thứ hai, cam kết loại bỏ thuế quan theo lộ trình: thuế nhập khẩu sẽ là0% nhưng không phải ngay sau khi hiệp định có hiệu lực mà là sau mộtkhoảng thời gian nhất định;
Thứ ba, cam kết hạn ngạch thuế quan: Đối với các trường hợp này, thuếnhập khẩu chỉ giảm hoặc loại bỏ với một số lượng, khối lượng hàng hóa nhấtđịnh và khi vượt qua mức hạn ngạch này thì thuế nhập khẩu sẽ cao hơn
Như vậy, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào mỗi nước CPTPP sẽđược hưởng ưu đãi thuế quan riêng cho từng loại hàng hóa và mức ưu đãicũng có thể khác nhau giữa các thị trường xuất khẩu Đối với Việt Nam, ViệtNam cam kết ưu đãi thuế quan theo từng dòng thuế và sẽ áp dụng cho hàng