TÓM TẮT LUẬN VĂN Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL để tìm hiểu mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa nhu cầu nắm giữ tiền thực tế của người dân M1
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRƯƠNG QUANG THÔNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và nội dung luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào
Tác giả
Hồ Thị Họa My
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT LUẬN VĂN 1
MỞ ĐẦU 2
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VỀ CUNGVÀ CẦU TIỀN TỆ 5
1.1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CUNG VÀ CẦU TIỀN TỆ 5
1.1.1 Tổng quan về lý thuyết cung tiền 5
1.1.1.1 Khái niệm 5
1.1.1.2 Các thành viên tham gia quá trình cung ứng tiền tệ 6
1.1.2 Tổng quan về lý thuyết cầu tiền 7
1.1.2.1 Lý thuyết số lượng tiền 7
1.1.2.2 Những các tiếp cận khác của trường phái tân cổ điển 10
1.1.2.3 Lý thuyết của trường phái Keynes 11
1.1.2.4 Các lý thuyết cầu tiền sau Keynes 13
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CẦU TIỀN 22
1.2.1 Cơ sở lý thuyết của ước lượng hàm cầu tiền 22
1.2.2 Lựa chọn biến số và phương pháp ước lượng 23
1.2.2.1 Lựa chọn biến 23
1.2.2.2 Về phương pháp ước lượng và một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm về hàm cầu tiền ở một số nước trên thế giới 25
1.2.3.Nghiên cứu cầu tiền tại Việt Nam 30
Kết luận chương một 33
Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẦU TIỀN CỦA VIỆT NAM 34
2.1 TỔNG QUAN KINH TẾ VIỆT NAM 34
Trang 52.1.1 Về tăng trưởng kinh tế (GDP) và chỉ số giá CPI 34
2.1.2 Về lãi suất tiền gửi 36
2.1.3.Về hiện tượng đô la hóa tại Việt Nam 37
2.1.4 Về thị trường chứng khoán 38
2.1.5 Về thị trường vàng 40
2.2 THIẾT KẾ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 42
2.2.1 Xây dựng hàm cầu tiền và lựa chọn biến số 42
2.2.2 Phương pháp ước lượng 45
2.2.3 Mô tả dữ liệu 46
Kết luận chương hai 47
Chương 3.PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1.KẾT QUẢ KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỂ KIỂM TRA TÍNH DỪNG 48 3.2 ƯỚC LƯỢNG ĐỘ TRỄ TỐI ƯU 48
3.3 KẾT QUẢ ƯỚC LƯỢNG ARDL 49
3.3.1 Kết quả ước lượng hàm cầu tiền thực M1/P ngắn hạn 49
3.3.2 Kiểm định đường bao (Bound test) cho hàm cầu tiền M1/P dài hạn 51
3.3.3 Kết quả ước lượng hàm cầu tiền thực M2/P ngắn hạn 52
3.3.4 Kiểm định đường bao (Bound test) cho hàm cầu tiền M2/P dài hạn 54
Kết luận chương ba 55
Chương 4 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 57
4.1 TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 57
4.2 CÁC KIẾN NGHỊ VỚI NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 58
4.2.1.Về công tác thu nhập dữ liệu kinh tế vĩ mô 58
4.2.2 Trong việc lựa chọn công cụ của chính sách tiền tệ 58
4.2.3 Trong việc nâng cao điều kiện thực thi chính sách tiền tệ hiệu quả 60
4.3 CÁC HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI 64
KẾTLUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
(Autoregressive Distributed Lag)
Dickey-Fuller)
Statistics)
thống ngân hàng và các khoản tiền gửi không kỳ hạn) M2
Tổng phương tiện thanh toán (tổng lượng tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng + tiền gửi bằng VND và bằng ngoại tệ của dân cư, doanh nghiệp tại các NHTM)
MB
Tổng khối lượng tiền cơ sở (tiền mặt ngoài NHNN và tiền gửi của các tổ chức tín dụng tại NHNN) (Monetary Base)
(Partial Adjustment Model)
(Vector Error Correction Model)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.Tình trạng đô la hóa tại Việt Nam giai đoạn năm 2005 - 2014 38
Bảng 2.2 Mô tả dữ liệu 47
Bảng 3.1 Bảng kết quả ADF unit root test 48
Bảng 3.2 Kiểm định về độ trễ của mô hình 48
Bảng 3.3 Kết quả ước lượng ARDL cho cầu tiền M1/P trong ngắn hạn 80
Bảng 3.4 Kiểm định đường bao của mô hình M1/P 81
Bảng 3.5 Kết quả ước lượng hàm cầu tiền thực M1/P trong dài hạn 82
Bảng 3.6 Kết quả ước lượng ARDL cho cầu tiền M2/P trong ngắn hạn 83
Bảng 3.7 Kiểm định đường bao của mô hình M2/P 84
Bảng 3.8 Kết quả ước lượng hàm cầu tiền thực M2/P trong dài hạn 85
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 2.1 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số CPI của Việt Nam giai đoạn
2005 - 2014 35Hình 2.2 Biểu đồ lãi suất tiền gửi VND của Việt Nam giai đoạn 2005 - 2014 36Hình 2.3 Biểu đồ chỉ số chứng khoán Việt Nam (Vn-index) từ năm 2000-2014 39Hình 2.4 Biểu đồ giá vàng SJC giai đoạn 2005-2014 41Hình 3.1 Kiểm định CUSUM và CUSUM-Squares cho tính ổn định của hàm cầu tiền M1 ngắn hạn 86Hình 3.2 Kiểm định CUSUM và CUSUM-Squares cho tính ổn định của hàm cầu tiền M2/P ngắn hạn 87
Trang 9TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trong nghiên cứu này tác giả sử dụng mô hình phân phối trễ tự hồi quy ARDL để tìm hiểu mối quan hệ ngắn hạn và dài hạn giữa nhu cầu nắm giữ tiền thực tế của người dân (M1/P và M2/P) với các nhân tố tác động đến nó bao gồm thu nhập thực (GDP thực), lãi suất tiền gửi, lạm phát, tỷ giá VND/USD, chỉ số chứng khoán, giá vàng Nghiên cứu được thực hiện dựa trên dữ liệu hàng quý trong khoảng thời gian Q1/2005 đến Q4/2014 tại Việt Nam
Trong ngắn hạn, cầu tiền thực M1/P phụ thuộc thu nhập thực (GDP thực)và lãi suất tiền gửi VND, chỉ số Vn-index Không có bằng chứng cho thấy giá vàng có tác động đến M1/P Trong dài hạn chỉ có GDP thực tác động lên cầu tiền M1/P
Trong ngắn hạn, cầu tiền thực M2/P phụ thuộc nhiều vào nhu cầu nắm giữ tiền của người dân trong quý trước, thu nhập thực, CPI Kết quả phù hợp với lý thuyết và phù hợp với diễn biến kinh tế Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu Không có bằng chứng cho thấy cầu tiền thực M2 phụ thuộc vào tỷ giá, giá chứng khoán và giá vàng
Trong dài hạn, chỉ có thu nhập thực tác động đến nhu cầu nắm giữ tiền M2/P Không có bằng chứng cho thấy lạm phát, tỷ giá VND/USD, giá vàng và chỉ số vnindex tác động đến cầu tiền thực M2/P
Hàm cầu tiền thực trong ngắn hạn phù hợp với lý thuyết và ổn định nên có thể sử dụng trong phân tích và dự báo cầu tiền
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cầu tiền đóng một vai trò quan trọng trong phân tích các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt trong việc lựa chọn hành động của chính sách tiền tệ Cầu tiền ổn định sẽ giúp cho các nhà hoạch định chính sách tiền tệ có thể dự báo được nhu cầu tiền của nền kinh tế và đưa ra những quyết định liên quan đến cung ứng tiền đáp ứng được nhu cầu nhưng không gây ra những bất ổn cho thị trường tiền tệ nói riêng và nền kinh tế nói chung Chính vì sự quan trọng của cầu tiền trong việc hoạch định và thực thi chính sách tiền tệ mà trong vài thập kỷ qua, rất nhiều các nghiên cứu về mặt
lý thuyết cũng như thực nghiệm về cầu tiền đã được thực hiện trên thế giới Những năm gần đây trước tác động của chế độ tỉ giá thả nổi, xu hướng toàn cầu hóa thị trường vốn, tự do hóa khu vực tài chính thì việc nghiên cứu cầu tiền ngày càng được các Ngân hàng Trung ương, các nhà hoạch định chính sách, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều hơn và thực sự đã trở thành vấn đề thời sự quốc gia
Ở Việt Nam từ năm 1986, sau khi Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới kinh tế đến nay, nền kinh tế đã từng bước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường và hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới Song song với đổi mới kinh tế vĩ mô, cải cách ở khu vực tài chính ngân hàng cũng đáng kể nhưnới lỏng các quy định về lãi suất trong nước từ năm 1996;vận hành Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 20/07/2000 đánh dấu sự ra đời của TTCK Việt Nam;tái cơ cấu các ngân hàng thương mại nhà nước từ năm 2005 và sự cởi mở đối với ngân hàng 100% vốn nước ngoài từ năm 2008, cạnh tranh huy động vốn, khủng hoảng thanh khoản hệ thống ngân hàng Việt Nam trong những năm 2007, 2008 Đến nay, những cải cách này
đã mang lại nhiều thay đổi sâu sắc trong nền kinh tế Tốc độ tăng trưởng kinh tế gia tăng qua các năm, hệ thống tài chính ngày càng hiệu quả làm cho các tài sản tài chính ngày càng phong phú Bối cảnh kinh tế thế giới cũng có nhiều thay đổi Vì
Trang 11vậy các tác nhân tác động đến nhu cầu nắm giữ tiền của người dân cũng có nhiều thay đổi qua các thời kỳ
Tuy vậy, cho đến nay số lượng các nghiên cứu chính thức về cầu tiền ở Việt Nam là tương đối ít, hiệu quả ứng dụng trong điều hành chính sách tiền tệ còn hạn chế
Từ thực tiễn trên, đề tài: "Ước lượng hàm cầu tiền tại Việt Nam bằng mô hình thực nghiệm" được lựa chọn nhằm xác định các mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến nhu cầu nắm giữ tiền của người dân từ đó làm cơ sở để phân tích và dự báo cầu tiền giúp cho việc thực thi chính sách tiền tệ một cách hiệu quả
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tổng quan các lý thuyết cầu tiền từ trường phái kinh tế học cổ điển đến nay cùng với thực trạng nghiên cứu cầu tiền ở các nước và tại Việt Nam
Xác định các nhân tố tác động đến cầu tiền thực M1/P và M2/P tại Việt Nam
Ước lượng hàm cầu tiền thực M1/P, M2/Ptại Việt Nam với các biến giải thích tốt hơn và sử dụng kỹ thuật ước lượng ưu việt hơn để đưa ra các ước lượng cầu tiền phản ánh thực tiễn tốt nhất
Từ kết quả ước lượng các hàm cầu tiền thực trên, tác giả đưa ra các kiến nghị cho Ngân hàng Nhà nước trong việc điều hành chính sách tiền tệ
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu mối quan hệ giữa cầu tiền với thu nhập thực và các tài sản có thể thay thế tiền tại Việt Nam
Nghiên cứu định lượng các tác độngtừ các nhân tố này tới nhu cầu nắm giữ tiền tại Việt Nam
Trang 12 Phương pháp mô hình hóa: phương pháp này được sử dụng nhằm làm rõ hơn những phân tích định tính bằng các hình vẽ cụ thể và làm cho các vấn đề trở nên dễ hiểu hơn
Phương pháp phân tích định lượng: luận văn sử dụng phương pháp ước lượngtheo mô hình ARDL (Autoregressive Distributed Lag) cho việc nghiên cứu thực nghiệm cầu tiền ở Việt Nam giai đoạn 2005- 2014
5 Ý nghĩa khoa học của luận văn
Luận văn với đề tài “Ước lượng hàm cầu tiền tại Việt Nam bằng mô hình thực nghiệm” khi đạt được các mục tiêu nghiên cứu sẽ có những đóng góp sau:
Hệ thống hóa được các lý thuyết cầu tiền từ trường phái kinh tế học cổ điển đến nay cùng với thực trạng nghiên cứu cầu tiền ở các nước và tại Việt Nam Qua đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho nghiên cứu thực nghiệm cầu tiền tại Việt Nam
Qua tổng hợp số liệu các chỉ báo kinh tế vĩ mô như: GDP thực, CPI, lãi suất,
tỷ giá hối đoái, chỉ số VN-INDEX, giá vàng cho thấy bức tranh tổng quan về thực trạng nền kinh tế Việt Nam qua các năm
Luận văn cũng áp dụng phương pháp phân tích định lượng (ARDL) khi phân tích các tác động lẫn nhau (đồng liên kết) giữa các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cầu nắm giữ tiền của Việt Nam Qua đó chỉ rõ các nhân tố tác động đến nhu cầu nắm giữ tiền của người dân Việt Nam và định lượng được các ảnh hưởng khi các nhân tố thay đổi sẽ tác động đến cầu tiền như thế nào Vì vậy, hàm cầu tiền này có thể làm cơ sở cho việc đưa ra chính sách tiền tệ được hiệu quả
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1.Tổng quan về lý thuyết cung và cầu tiền
Chương 2.Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền của Việt Nam
Chương 3.Phân tích kết quả nghiên cứu
Chương 4 Kết luận và kiến nghị
Trang 13Chương 1
TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT VỀ CUNGVÀ CẦU TIỀN TỆ
Cung và Cầu tiền đóng vai trò quan trọng trong hoạch định kinh tế vĩ mô, đặc biệt là trong việc đưa ra chính sách tiền tệ Chương này mô tả những lý thuyết về cung và cầu tiền qua thời gian đã tiến triển như thế nào và tóm lược các nghiên cứu thực nghiệm về cầu tiền trên thế giới và Việt Nam
1.1 TỔNG QUAN VỀ LÝ THUYẾT CUNG VÀ CẦU TIỀN TỆ
1.1.1 Tổng quan về lý thuyết cung tiền
1.1.1.1 Khái niệm
“Cung tiền là khối lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế đảm bảo các nhu cầu sản xuất, lưu thông hàng hóa cũng như các nhu cầu chi tiêu trao đổi khác của nền kinh
tế xã hội” (Nguyễn Đăng Dờn, 2009, trang 28)
Như vậy, mức cung tiền tệ là toàn thể khối tiền tệ đã được cung cấp cho nền kinh tế trong một thời gian nhất định Mức cung tiền tệ tạo thành khối tiền tệ bao gồm các
thành phần sau:
Tiền giao dịch (M1):
Tiền giao dịch là khối tiền trực tiếp làm phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán trong nền kinh tế Vì vậy, nó cho phép đáp ứng ngay các nhu cầu thanh toán
của các cá nhân, tổ chức.Tiền giao dịch (M1) bao gồm:
+ Tiền mặt đang lưu hành (C-cash): Tiền mặt lưu hành, còn gọi là tiền mặt trong lưu thông bao gồm ba bộ phận:
• Tiền mặt trong tay nhân dân
• Tiền mặt trong quỹ các đơn vị, tổ chức kinh tế
• Tiền mặt trong quỹ nghiệp vụ của hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Ba bộ phận tiền mặt này còn được gọi là cơ số tiền tệ gây áp lực trực tiếp và mạnh
mẽ đối với lực lượng hàng hóa dịch vụ của nền kinh tế vì vậy nó là bộ phận cần được theo dõi và kiểm soát chặt chẽ Tiền mặt lưu hành chính là lượng tiền giấy do
Trang 14ngân hàng Trung ương phát hành và đang nằm trong lưu thông Do đó nó còn được
gọi là tiền Trung Ương
+ Tiền gửi không kỳ hạn (Deposit)
Tiền gửi không kỳ hạn được xem là tiền giao dịch, bởi vì người gửi tiền (chủ tài khoản) bất kỳ lúc nào cũng có thể sử dụng tiền trên tài khoản này để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ…Tuy nhiên, tính kịp thời và ngay lập tức trong chi trả của tiền
gửi không kỳ hạn không thể ngang bằng với tiền mặt được
Tuy có sự khác nhau giữa tiền mặt và tiền gửi không kỳ hạn nhưng nó đều có năng lực giải tỏa rất nhanh chóng đáp ứng kịp thời các nhu cầu giao dịch của người sở hữu chúng Và vì vậy người ta gọi nó là tiền giao dịch Nó còn được gọi là tiền
mạnh
Khối tiền giao dịch mở rộng (M2):
Bên cạnh khối tiền giao dịch (M1) còn có những khoản khác gọi là “chuẩn tệ” như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ, trái phiếu kho bạc ngắn hạn, các hối phiếu, kỳ phiếu ngắn hạn… Những tài sản này không sử dụng ngay lập tức như tiền mặt, tiền gửi hoạt kỳ nhưng sau một thời gian, nó có thể được sử dụng Do vậy nó phải được cấu tạo vào trong khối tiền tệ của nền kinh tế Khối tiền rộng vì vậy trở thành đối
tượng quan trọng của chính sách tiền tệ quốc gia
Tùy mức độ “giải tỏa” của các loại “chuẩn tệ” khối tiền cũng được phân thành các
cấp độ khác nhau
M2=M1+Tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi định kỳ
Khối tiền (moneytary block) – Ký hiệu là M
M=M2+ tiền gửi khác
Khối tiền của nền kinh tế với các thành phần của nó, biến động tùy theo tình hình
kinh tế tài chính và sự hoạt động hữu hiệu của hệ thống ngân hàng
1.1.1.2 Các thành viên tham gia quá trình cung ứng tiền tệ
Ngân hàng trung ương: cơ quan chính phủ có chức năng theo dõi bao quát hệ
thống hoạt động ngân hàng và có trách nhiệm thực hiện việc chỉ đạo chính sách
Trang 15tiền tệ Ở Mỹ, đó là hệ thống Dự trữ Liên bang Ở Việt Nam hiện nay là Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
Các ngân hàng (các tổ chức nhận tiền gửi): Những trung gian tài chính, họ
nhận tiền gửi từ các cá nhân và các tổ chức và thực hiện cho vay – các ngân hàng thương mại, các công ty tiết kiệm và cho vay, các ngân hàng tiết kiệm
tương trợ và các liên hiệp tín dụng
Người gửi tiền: các cá nhân và các tổ chức nắm giữ tiền gửi ở các ngân hàng
Người đi vay: các cá nhân, tổ chức vay tiền từ các tổ chức nhận tiền gửi hoặc từ
các tổ chức phát hành các trái khoán, các trái khoán đó được các tổ chức nhận
gửi mua
Trong bốn thành viên trên, thì Ngân hàng trung ương đóng vai trò quan trọng nhất Ngân hàng trung ương điều hành chính sách tiền tệ liên quan đến các hoạt động tác
động làm thay đổi bảng cân đối tài sản của nó
1.1.2 Tổng quan về lý thuyết cầu tiền
1.1.2.1 Lý thuyết số lượng tiền
Lý thuyết về cầu tiền được các nhà kinh tế học cổ điển bắt đầu nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.Thực tế các lý thuyết cổ điển không đề cập trực tiếp đến cầu tiền mà nó giải quyết vấn đề giá trị danh nghĩa của tổng thu nhập được xác định như thế nào Do đó, nó cho biết bao nhiêu tiền được nắm giữ đối với thu nhập đã cho nên nó cũng là học thuyết về cầu tiền
Cách tiếp cận theo lý thuyết số lượng tiền được trình bày rõ nhất trong tác phẩm
“Sức mua của tiền tệ” của nhà kinh tế học người Mỹ Fisher (1911) Fisher xem xét mối quan hệ giữa tổng lượng tiền tệ M với tổng chi tiêu để mua hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trong nền kinh tế PY.Trong đó P là mức giá cả và Y là tổng sản phẩm Tổng chi tiêu PY được coi như là tổng thu nhập danh nghĩa của nền kinh tế hoặc như tổng sản phẩm quốc gia danh nghĩa GNP Fisher tìm thấy mối quan hệ giữa M và PY và thể hiện đó qua đại lượng V mà Fisher gọi là “tốc độ chu chuyển của tiền” tức là số lần trung bình trong một năm mà một đồng đô la được dùng để mua tổng số hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế
Trang 16V (1.1) M
* Phương trình trao đổi của Fisher:
Nhân hai vế của phương trình (1.1) cho M ta được phương trình trao đổi
MV=PY(1.2) Phương trình trao đổi cho biết lượng tiền nhân với số lần mà đồng tiền đó được chi
ra trong một năm đã cho phải bằng thu nhập danh nghĩa của năm đó
Để tính được số tiền được nắm giữa là bao nhiêu ta chia hai vế của phương trình trao đổi (1.2) cho V, ta được
1
V
Khi thị trường tiền tệ cân bằng, số lượng tiền mà người dân nắm giữ (M) bằng số
phương trình trên như sau:
d
thông qua các giao dịch sinh ra bởi một mức cố định của thu nhập danh nghĩa (PY) Như vậy, lý thuyết số lượng tiền tệ của Fisher nêu lên rằng tiền tệ thuần túy là một hàm số của thu nhập và lãi suất không có ảnh hưởng đến cầu về tiền tệ
* Cách tiếp cận của Cambridge
Trên cơ sở ban đầu của lý thuyết số lượng tiền của Fisher (từ phương trình (1.1)), một nhóm nhà kinh tế học cổ điển tại đại học Cambridge, Anh, bao gồm Alfred Marshall và A.C.Pigou tiếp tục nghiên cứu về vấn đề đó Mặc dù phân tích của họ đưa đến một phương trình giống y như phương trình cầu tiền tệ của Fisher (phương trình 1.3), nhưng cách tiếp cận của họ khác với cách tiếp cận của Fisher Thay vì nghiên cứu cầu tiền tệ bằng cách chỉ nhìn vào mức giao dịch và các tổ chức ảnh hưởng đến cách dân chúng tiến hành các giao dịch coi đó là những yếu tố quyết định chủ chốt, những nhà kinh tế học Cambridge đặt câu hỏi xem các cá nhân sẽ muốn giữ bao nhiêu tiền trong một tình huống được giả định Trong mô hình
Trang 17Cambridge, các cá nhân có một sự linh hoạt trong việc quyết định nắm giữ tiền và hoàn toàn không phụ thuộc vào những hạn chế và thể chế chẳng hạn như họ có thể được sử dụng thẻ tín dụng để mua hàng hay không.Vì vậy mà cách tiếp cận của Cambridge không xóa bỏ ảnh hưởng của lãi suất đối với cầu tiền tệ
Những nhà kinh tế học cổ điển Cambridge thừa nhận rằng tiền có hai thuộc tính thúc đẩy người ta muốn giữ tiền:
Thứ nhất, tiền hoạt động như một phương tiện trao đổi mà người ta cần dùng để tiến hành các giao dịch Các nhà kinh tế học Cambridge đồng ý với Fisher rằng cầu tiền
tệ phải có liên quan đến (nhưng không được quyết định bởi) mức các giao dịch và rằng sẽ có một yếu tố cấu thành giao dịch của cầu tiền tệ tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa
Thứ hai, tiền hoạt động như một phương tiện cất giữ của cải Thuộc tính này của tiền tệ đưa các nhà kinh tế học Cambridge đến việc nêu lên rằng mức của cải của con người cũng ảnh hưởng đến cầu tiền tệ Do của cải của một cá nhân tăng trưởng, nên anh ta cần cất giữ của cải bằng cách nắm giữ một lượng lớn hơn các tài sản mà một trong các tài sản đó là tiền Bởi vì những nhà kinh tế học Cambridge tin rằng của cải theo số danh nghĩa là tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa, cho nên họ cũng tin rằng bộ phận của cải cấu thành của cầu tiền tệ tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa
Các nhà kinh tế học Cambridge kết luận rằng cầu tiền tệ phải tỷ lệ với thu nhập danh nghĩa và biểu thị hàm số cầu tiền tệ như sau
Trang 18khác hẳn với những nhà kinh tế thuộc lý thuyết số lượng về tầm quan trọng của lãi suất đối với cầu tiền tệ
1.1.2.2 Những các tiếp cận khác của trường phái tân cổ điển
Các nhà kinh tế học tân cổ điển cũng xem xét vai trò cơ bản của tiền là phương tiện trao đổi trong phân tích cầu tiền Tiền, theo họ, được mọi người tìm kiếm và nắm giữ vì nó đáp ứng nhu cầu mua bán hàng hoá và dịch vụ Tiền là thứ yêu thích mang tính kinh tế vì nó được chi tiêu và luân chuyển trong nền kinh tế Tuy vậy, họ không
bỏ qua chức năng cất trữ giá trị của tiền nhưng họ lại không đề cập trực tiếp đến vai trò của lãi suất - chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền - trong việc xác định cầu tiền Các nhà kinh tế này cho là cầu về tiền có nhiều nhân tố khác ảnh hưởng tới như sự bất ổn trong tương lai (Marshall và Pigou), lạm phát dự kiến (Cannan) Các nhà kinh tế học Cambridge khi phân tích cầu tiền đã đưa ra ràng buộc “coi như tất cả các yếu tố khác là không thay đổi” Ràng buộc này ngầm chứa ảnh hưởng của lãi suất tới cầu tiền Trong phân tích của họ, nhân tử k hàm chứa ảnh hưởng dương của
tỷ lệ lãi suất thu hồi vốn của các tài sản tài chính khác thay thế tiền Lavington (1921) cho rằng tỷ lệ lãi suất là yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới chi phí của việc nắm giữ tiền và sau đó Fisher (1930) cũng có quan điểm tương tự
Tuy nhiên, năm 1935 Hicks cho rằng lý thuyết cầu tiền cần được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết giá trị truyền thống, nghĩa là cầu tiền là kết quả của sự lựa chọn tối ưu giữa các tài sản tài chính khác nhau Với một khối lượng tài sản giới hạn nào
đó thì cầu tiền phụ thuộc vào tình trạng lợi tức và rủi ro của các loại tài sản cũng như các khoản chi phí giao dịch Đó cũng chính là cơ sở khẳng định cầu tiền phụ thuộc vào chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền, đó là lãi suất
Như vậy, chúng ta có thể thấy lý thuyết cầu tiền của trường phái kinh tế học cổ điển
là lý thuyết cầu tiền giao dịch Cầu tiền phụ thuộc chính vào thu nhập danh nghĩa Tuy nhiên, trong nghiên cứu cầu tiền của trường phái này thì lãi suất cũng được một
số nhà kinh tế cổ điển nói tới khi giải thích nhu cầu nắm giữ tiền như Lavington, Fisher, Hicks Nhưng không có ai trong số họ giải thích một cách thoả đáng tầm quan trọng của lãi suất đến cầu tiền mà chỉ có Keynes là người giải thích thỏa đáng
Trang 19đồng thời nhấn mạnh ý nghĩa của hệ số nhạy cảm cầu tiền đối với lãi suất trong phân tích vĩ mô Đó chính là lý thuyết mà Keynes đưa ra năm 1936 về “sự ưa thích thanh khoản”
1.1.2.3 Lý thuyết của trường phái Keynes
Keynes đưa ra nhiều phân tích chặt chẽ hơn những người tiền nhiệm của ông ấy và xem xét cầu tiền dưới góc độ hoàn toàn khác Khi các nhà kinh tế học cổ điển và tân
cổ điển phân tích cầu tiền chủ yếu trong điều kiện “sự vận động của tiền” đó là, không có tình trạng dành dụm khi mà thu nhập phải được tiêu xài hết, Keynes phân tích rằng điều kiện “cất trữ” (như trong cách tiếp cận Cambrigde của thuyết số lượng tiền) và dựa trên động cơ đó dẫn dắt người ta nắm giữ tiền và cầu tiền tăng từ những động cơ này
Keynes mặc định rằng cá nhân nắm giữ tiền với ba động cơ: giao dịch, dự phòng và đầu cơ
Động cơ giao dịch
Động cơ giao dịch tương tự với lý thuyết số lượng tiền tệ xem tiền như là phương tiện trao đổi.Ông ấy cho rằng mức giao dịch bao nhiêu là do mỗi cá nhân cũng như tất cả các cá nhân trong nền kinh tế quyết định Do tổng mức giao dịch có quan hệ
ổn định với thu nhập nên ông cho rằng “cầu tiền giao dịch” phụ thuộc vào thu nhập
Động cơ dự phòng
Theo Keynes các cá nhân không biết chắc chắn về các khoản cần thanh toán hoặc phải thanh toán, các khoản chi tiêu không định trước, bất thường xảy ra nên họ nắm giữ tiền với động cơ dự phòng Keynes đưa ra giả thuyết rằng động cơ dự phòng cũng tạo nên cầu tiền Cầu tiền dự phòng được Keynes gọi là “ưa thích thanh khoản” Keynes cố gắng làm rõ các khía cạnh của các đề nghị trước được đưa ra bởi Marshall và Pigou rằng việc không chắc chắn trong tương lai là một nhân tố ảnh hưởng đến cầu tiền Thay vì nói không chắc chắn chung chung, Keynes dựa trên một biến số kinh tế như mức lãi suất tương lai, cụ thể là lợi tức trái phiếu tương lai
để phân tích Keynes tin rằng số tiền dự phòng mà người ta muốn nắm giữ được xác định trước tiên bởi mức độ các giao dịch mà người ta dự tính sẽ thực hiện trong
Trang 20tương lai và rằng những giao dịch đó tỷ lệ với thu nhập Do đó, cầu tiền dự phòng tỷ
lệ với thu nhập
Động cơ đầu cơ
Chức năng cất trữ giá trị được xem trọng trong động cơ đầu cơ của cầu tiền Keynes chia các tài sản có thể dùng để cất trữ của cải làm hai loại: Tiền và trái phiếu Cá nhân có thể nắm giữ của cải dưới dạng tiền hoặc trái phiếu Giá cả mà cá nhân sẵn sàng để trả cho trái phiếu phụ thuộc vào lãi suất khi người mua tiềm năng muốn kiếm ít nhất là bằng với lãi suất trên phần trái phiếu trong danh mục đầu tư của họ Keynes cho rằng vào mọi thời điểm, có lẽ có một giá trị hoặc một khoảng giá trị của lãi suất có thể coi như là giá trị chuẩn mà qua đó mọi người điều chỉnh hành vi Khi lãi suất trên mức bình thường này xuất hiện khuynh hướng mọi người mong đợi nó giảm hoặc kỳ vọng nó tăng khi tỷ lệ này dưới mức đó
Giả định, tại một thời điểm nào đó có một vài ý kiến khác nhau về tỷ lệ lãi suất kỳ vọng, và việc nắm giữ tiền và trái phiếu của mỗi tác nhân không liên quan gì tới tổng khối lượng tiền trong nền kinh tế, thì hàm cầu tiền dự phòng là một hàm trơn
và có quan hệ nghịch với lãi suất hiện hành
Đặt chung ba động cơ với nhau
Khi đặt chung ba động cơ giữ tiền vào vào phương trình cầu tiền tệ Keynes đã phân biệt giữa số lượng danh nghĩa và số tiền thực tế Tiền được đánh giá theo giá trị vật
mà nó có thể mua Ví dụ, mọi giá cả trong nền kinh tế tăng gấp đôi (mức giá cả tăng gấp đôi), vậy thì cùng một lượng tiền danh nghĩa có thể mua được chỉ một nửa lượng hàng hóa Keynes cho rằng người ta muốn giữ một số nhất định của số dư tiền thực tế (lượng tiền theo giá trị thực tế) và số tiền này sẽ liên hệ với thu nhập thực tế (Y) và lãi suất (i) theo phương trìnhđược gọi là hàm số ưu thích tiền mặt sau:
d
M
f (i , Y ) (1.5)
P
Dấu “-” dưới i trong phương trình (1.5) cho biết cầu về số dư tiền thực tế là liên hệ
Trang 21âm đến lãi suất (i) Dấu “+” dưới Y trong phương trình (1.5) cho biết cầu về số dư tiền thực tế và thu nhập thực tế (Y) là liên hệ dương
Hàm ý chính trong lý thuyết Keynes là khi lãi suất rất thấp, mọi người trong nền kinh tế mong đợi nó tăng lên trong tương lai, và vì vậy, thích nắm giữ tiền hơn mọi thứ được cung cấp Ở giai đoạn này, cầu tiền hoàn toàn nhạy cảm với lãi suất Nền kinh tế rơi vào trường hợp được gọi là “bẫy thanh khoản” ở đó độ co giãn của cầu tiền theo lãi suất có thể bằng vô cùng khi lãi suất ở mức rất thấp
Tiếp theo những đóng góp của Keynes, nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đưa ra hàng loạt các lý thuyết khác đều coi thu nhập và lãi suất như là các biến số chính trong việc xem xét bản chất và nhân tố xác định hàm cầu tiền
1.1.2.4 Các lý thuyết cầu tiền sau Keynes
Từ các động cơ của việc nắm giữ tiền như Keynes phân tích, các nhà kinh tế học sau Keynes lần lượt công thức hóa thành nhiều cách tiếp cận khác nhau như: lý thuyết tồn kho, mô hình cầu tiền dự phòng và các mô hình cầu tiền tài sản hoặc đầu
cơ khác
* Cách tiếp cận của trường phái lý thuyết tồn kho
Baumol (1952) and Tobin (1956) sử dụng cách tiếp cận này để phát triển một lý thuyết của cầu tiền khi mà tiền được nhìn nhận về cơ bản như một bảng kê các giao dịch trong tương lai Mặc dù các tài sản tài chính mang lại thu nhập cao hơn tiền, nhưng mọi người vẫn nắm giữ một lượng tiền nào đó và lượng tiền nắm giữ nhiều hay ít phụ thuộc vào chi phí chuyển đổi giữa tiền và các tài sản tài chính
Những mô hình này giả định tồn tại hai loại tài sản cất trữ giá trị (tiền và các tài sản thay thế tiền có lãi suất- gọi chung là trái phiếu), các khoản thu nhập và chi phí là ngoại sinh Thêm vào đó họ giả định tất cả các khoản thanh toán đều được thực hiện bằng tiền mặt và tất cả các thông tin có liên quan đều biết trước và không có sự biến động
Hộ gia đình dựa trên cơ sở lựa chọn danh mục đầu tư và cân đối giữa hai mặt sau: Một là tài sản đó (trái phiếu) có sinh lợi trong khi tiền thì không
Hai là người ta phải nắm giữ tiền để thực hiện tất cả các giao dịch vì không có sự
Trang 22trùng khớp giữa các khoản thu và các khoản phải chi tiêu trên thực tế
Như vậy, nếu chúng ta chỉ nắm giữ các tài sản thay thế tiền thì để thực hiện các giao
cố định cho mỗi lần giao dịch thì khi phí giao dịch tăng, nhu cầu nắm giữ tiền tăng Lãi suất trái phiếu hay chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền tăng thì cầu tiền sẽ giảm
Do đó, nếu mọi người nắm giữ tiền ở mức bình quân cao hơn thì sẽ không phải đến ngân hàng mỗi khi muốn mua một cái gì đó nên chi phí giao dịch giảm, nhưng nắm giữ tiền nhiều hơn cũng có nghĩa là chúng ta sẽ mất đi lãi suất có thể thu được nếu gửi tiền vào tài khoản tiết kiệm có lãi
Các mô hình cầu tiền tồn kho đưa ra một công thức căn bậc hai nổi tiếng:
0
a y m*
2i
Cho biết khối lượng cầu tiền nắm giữ thực tế tối ưu (m*) có quan hệ thuận với chi
* Mô hình tiền mặt có trước
Một cách tiếp cận khác nhấn mạnh vai trò giao dịch của tiền là mô hình “tiền mặt có trước” Có nhiều mô hình cân bằng kết hợp một cách rõ ràng của giới hạn cái mà mua trong một thời kỳ lẽ ra nên được chi trả bởi tiền được kiếm trước đó một thời
kỳ Loại giới hạn này là hiểu chung như ràng buộc “tiền mặt có trước” (từ thực tế là người mua cần tiền mặt trước) hoặc ràng buộc Clower (mang tên nhà nghiên cứu đầu tiên phát triển ràng buộc này) Nó cung cấp một sự lựa chọn bao gồm tiền trong chức năng thỏa dụng và đưa ra một công cụ phân tích đơn giản để nghiên cứu lý do các chủ thể có lý trí nắm giữ tiền
Lucas (1980) đã thực hiện những đóng góp hạt nhân trong phát triển các mô hình cầu tiền trước để cung cấp cơ sở cho tiền và mở rộng các lý thuyết bổ trợ cho các giao dịch cầu tiền Ông ấy đã kết hợp hành vi lạc quan của cá nhân như đã tranh luận trong Baumol(1952) and Tobin(1956) và ràng buộc tiền mặt có trước trong một cân bằng vĩ mô được thiết lập để nghiên cứu cầu tiền giao dịch
Trang 23Nhìn chung, mặt dù có nhiều biến động tồn tại, mô hình tiền mặt có trước có năm yếu tố sau: đầu tiên là có một số lượng lớn các chủ thể đồng nhất nhận sự thỏa dụng mọi lúc bởi việc tiêu dùng hàng hóa; Thứ hai, các chủ thể chắc chắn để tiền (vốn) lại và được phép giao dịch với chủ thể khác vì tiền được mang trong kỳ trước đó Thứ ba là tổng số hàng hóa tiêu dùng có được không lớn hơn tổng số tiền, vì vậy mà tiền sẵn thiết lập một mức trần cho hàng hóa được tiêu dùng Thứ tư, thương mại tuân theo quy luật về phần thời gian, nơi chốn và quãng giao dịch; và thứ năm, trong cân bằng, tổng các sản phẩm bằng với tổng tiêu dùng và cầu tiền là cầu giao dịch
* Cách tiếp cận cầu tiền dự phòng
Tiếp theo động cơ giao dịch, người ta nắm giữ tiền cho động cơ dự phòng Cầu tiền
dự phòng phát sinh bởi vì người ta không biết chắc chắn về các khoản cần thanh toán hoặc phải thanh toán, các khoản chi tiêu không định trước, bất thường xảy ra (Whalen(1966)) Trong khuôn khổ này, cá nhân nắm giữ càng nhiều tiền càng ít thiệt hại về chi phí hoán chuyển Nhưng cá nhân nắm giữ càng nhiều tiền thì càng nhiều tiền lãi phải từ bỏ Vì vậy, người ta có thể xác định số lượng tiền mặt dự phòng đang nắm giữ bằng cách so sánh giữa tiền lãi và lợi ích của việc nắm giữ tính thanh khoản (DornbuschandFischer(1990))
Mô hình cầu tiền dự phòng được phát triển bởi mở rộng giả định làm nền tảng cho
mô hình tồn kho đó là số thu và số chi là được biết trước một cách chắc chắn Tuy nhiên, khả năng phân bổ của số thu và tiêu dùng được cho trước Ví dụ, Millerand Orr (1966, 1968) áp dụng khuôn khổ ngẫu nhiên cho mô hình tồn kho bằng cách giả định dòng tiền thu ngẫu nhiên và dòng tiền tiêu dùng ngẫu nhiên Patinkin(1965) giả định rằng một đơn vị kinh tế tương ứng với số được đưa của tiêu dùng ròng suốt một khoảng riêng biệt, nhưng thời gian của dòng tiền vào và ra suốt thời kỳ là không chắc chắn Mỗi đơn bị nắm giữ số dư tiền mặt dự phòng để đảm bảo đáp ứng cho chuỗi dòng tiền ra nếu không sẽ hút bớt nguồn thanh khoản suốt thời kỳ đó Một gợi ý của mô hình là một sự gia tăng trong toàn bộ khối lượng giao dịch sẽ dẫn đến ít sự gia tăng đối ứng trong việc nắm giữ tiền
Trang 24* Cách tiếp cận tiền như một tài sản
Nhiều lý thuyết đã đưa ra bằng cách xem tiền như một tài sản khi nhấn mạnh chức năng cất trữ giá trị Các lý thuyết này được gọi là mô hình tài sản hoặc mô hình danh mục đầu tư thường được kết hợp với các nhà nghiên cứu của đại học Yale với quan điểm là cầu tiền trong phạm vi của một vấn đề lựa chọn danh mục đầu tư Với cách tiếp cận này, tiền được hiểu theo nghĩa rộng là số lượng tiền nắm giữ trong danh mục cơ cấu đầu tư, tiền là một bộ phận trong cơ cấu phân bổ tài sản mà mỗi loại tài sản đều tạo ra luồng thu nhập hiện hữu và dịch vụ ngầm ẩn (lợi ích có được khi nó không phải là tiền) Do đó, vấn đề quan tâm chính của các mô hình cơ cấu đầu tư là đánh giá rủi ro và thu nhập kỳ vọng của các tài sản Trong trường hợp của tiền, lợi ích bằng tiền bao gồm các các tiện ích như là sự dễ dàng để thực hiện giao dịch, hơn nữa để đưa đến sự thanh khoản và an toàn (Juddand Scadding (1982)) Những mô hình này được phát triển để chỉ ra mối quan hệ giữa lãi suất và cầu tiền thật Họ cũng nhận thấy tầm quan trọng của của cải và sự thanh khoản như biến chính khác trong việc xác định cầu tiền
Khi một giải thích loại trừ lẫn nhau cho tính thanh khoản gốc của Keynes đối chiếu với bảng liệt kê từ những sự khác biệt trong lãi suất mong đợi ở tương lai, Tobin (1958) chứng minh rằng lý thuyết của hành vi tránh rủi ro của cá nhân cung cấp nền tảng cho sự ưu thích tính thanh khoản và cho mối quan hệ nghịch biến giữa cầu tiền
và lãi suất Quả thật, lý thuyết tránh rủi ro được dựa trên nguyên lý đơn giản của quản lý danh mục đầu tư Trong khuôn khổ này, đặc điểm rủi ro cùng lợi ích mang lại của nhiều tài sản khác nhau ứng với sở thích của mỗi cá nhân xác định cấu trúc của danh mục đầu tư tối ưu cái mà đạt được sự tối đa hóa hữu dụng với các cơ hội
có sẵn
Tobin(1958) cho rằng một cá nhân sẽ nắm giữ một phần của cải của họ dưới hình thức tiền trong danh mục đầu tư bởi vì tỷ lệ hoàn lại bằng cách nắm giữ tiền sẽ chắc chắn hơn là tỷ lệ hoàn lại bằng cách nắm giữ tài sản có khả năng sinh lợi Bởi vậy,
có rủi ro hơn để nắm giữ tài sản khác trong so sánh với việc chỉ nắm giữ tiền Sự khác biệt ít rủi ro nhất có lẽ xuất hiện bởi trái phiếu chính phủ và cổ phần là đối
Trang 25tượng của biến động giá cả thị trường, trong khi tiền thì không Mặc dù vậy, cá nhân sẵn sàng đối diện với rủi ro bởi vì họ mong đợi tiền lãi thu được từ tài sản khác cao hơn từ tiền Do đó, các chủ thể kinh tế ghét rủi ro có lẽ muốn bao gồm nhiều tiền trong danh mục đầu tư tối ưu Tuy nhiên, Fischer(1975) chỉ ra rằng hành
vi ghét rủi ro của các chủ thể kinh tế một mình không cung cấp nền tảng cho việc nắm giữ tiền Nó là chính yếu vì tiền không hoàn toàn không có rủi ro như Tobin(1958) đưa ra ở trên kể từ khi nó lệ thuộc vào sự thay đổi của mức giá Có nhiều tài sản khác như tiền gửi kỳ hạn có đặc điểm rủi ro giống như tiền nhưng có lợi nhuận cao hơn Bởi vậy, tài sản an toàn là một trái phiếu có lãi suất điều chỉnh theo biến động mức giá
Một loại khác của các mô hình này được gọi là “mô hình các thế hệ gối nhau”cũng nhấn mạnh chức năng cất trữ giá trị Samuelson là nhà kinh tế học đầu tiên nghiên cứu cầu tiền theo hướng này vào năm 1958 Hai nhà kinh tế học vĩ mô cổ điển là ThomasSargent và NeilWallace làm nổi bật mô hình này vào những năm 1980.Mô hình các thế hệ gối nhau là mô hình cân bằng động với sự nhấn mạnh viễn cảnh khác biệt trong việc tiết kiệm của cá nhân trẻ và già Ví dụ, các chủ thể được giả định là sống trong hai thời kỳ (thời kỳ 1 và 2) và trong mọi thời điểm, người trẻ chiếm nửa dân số và người già chiếm phần còn lại, cho phép các thế hệ gối lên nhau.Trong các mô hình các thế hệ gối nhau, tiền chỉ thuần túy được xem như là một loại tài sản và bỏ qua hoàn toàn chức năng phương tiện trao đổi Mỗi tác nhân kinh tế được giả định là sẽ nhận được một lượng hàng hóa tiêu dùng thừa kế nhất định vào ngày mà người đó sinh ra Những hàng hóa được thừa kế đó là những hàng hóa không lâu bền và không thể được cất trữ để tiêu dùng ở thời kỳ kế tiếp Tuy vậy, các hàng hóa đó có thể chuyển thành tiền và được tích trữ qua các thời kỳ Tại mỗi thời kỳ thì người trẻ sẽ bán một số hàng hóa thừa kế của thế hệ trước và dùng
số tiền đó để nuôi dưỡng thế hệ trước qua đó sẽ điều hòa được tiêu dùng qua các thời kỳ
Tóm lại, các lý thuyết cầu tiền tài sản được xây dựng dựa trên việc xem xét chức năng cất giữ giá trị của tiền Tuy cách tiếp cận có thể khác nhau nhưng đều có
Trang 26chung một kết luận là cầu tiền thực tế phụ thuộc vào lãi suất, khối lượng tài sản, tính thanh khoản của các tài sản tài chính, sự sẵn sàng chấp nhận hay không chấp nhận rủi ro của các tác nhân kinh tế,
* Cách tiếp cận lý thuyết cầu tiền của người tiêu dùng hay học thuyết số lượng tiền tệ của Friedman
Tiền còn được phân tích dưới một cách tiếp cận khác đó là cách tiếp cận lý thuyết cầu tiền của người tiêu dùng Trường phái kinh tế học nổi tiếng phân tích cầu tiền theo cách tiếp cận này là “trường phái Chicago” Trường phái này xây dựng lý thuyết cầu tiền dựa trên cơ sở lý thuyết cầu thông thường về hàng lâu bền
Năm 1956, Friedman đã phát triển một học thuyết về cầu tiền tệ trong bài báo của mình “Học thuyết số lượng tiền tệ: Một sự xác nhận lại” Friedman phân tích cầu tiền bằng cách phân tích xem mọi người muốn nắm giữ bao nhiêu tiền nếu các nhân
tố khác không đổi Khối lượng tiền được Friedman sử dụng khi phân tích cầu tiền là khối lượng tiền rộng Khi xét khối lượng tiền rộng Friedman còn cho rằng hàng hóa hữu hình cũng là một loại tài sản tài chính vì nó mang lại nhiều tiện ích cho người nắm giữ Vì thế mà khi nghiên cứu cầu tiền ông đưa ra rất nhiều biến chi phí cơ hội trong đó có tỷ lệ lạm phát dự kiến mà ông coi là biến xấp xỉ đại diện cho thu nhập của những hàng hóa hữu hình và biến giải thích chính của hàm cầu tiền là tổng khối lượng tài sản
Mặc dù Friedman thường xuyên dẫn chiếu đến Fisher và học thuyết số lượng, nhưng sự phân tích của ông ta về cầu tiền tệ thực sự là sát với sự phân tích của Keynes và của cách tiếp cận của Cambridge hơn là với sự phân tích của Fisher Cũng giống như những người trước ông ta, Friedman theo đuổi câu hỏi tại sao người ta chọn việc giữ tiền Thay vì phân tích những động cơ đặc biệt thúc đẩy việc giữ tiền, như Keynes đã làm, Friedman đơn giản nêu lên rằng cầu tiền tệ phải bị ảnh hưởng bởi cùng những nhân tố ảnh hưởng đến cầu của bất kỳ tài sản nào Vì vậy Friedman áp dụng học thuyết về cầu tài sản vào tiền tệ
Học thuyết cầu tài sản chỉ ra rằng cầu tiền tệ phải là một hàm số của những tài nguyên sẵn sàng được dùng cho các cá nhân (tức là, của cải của họ) và của lợi tức
Trang 27dự tính về các tài sản khác so với lợi tức dự tính về tiền Cũng như Keynes, Friedman thừa nhận rằng người ta muốn giữ một số lượng nhất định cả số dư trên thực tế (lượng tiền theo giá trị thực) Từ sự phân tích đó, Friedman trình bày ý kiến của mình về cầu tiền tệ như sau:
Trong đó các dấu ở dưới phương trình chỉ ra rằng cầu tiền tệ liên hệ dương (+) hoặc
âm (-) đến các số hạng ngay trên dấu đó và
Yp : cách đo của cải của Friedman được là thu nhập thường xuyên (về mặt kỹ thuật, giá trị được chiết khấu hiện tại của các thu nhập tương lai dự tính, nhưng được mô tả dễ dàng hơn là thu nhập dài hạn bình quân dự tính)
dụ, trong tình hình bành trướng của chu kỳ thu nhập tăng nhanh, nhưng do một vài
sự gia tăng đó là tạm thời, nên thu nhập dài hạn bình quân không thay đổi quá nhiều Như vậy, trong gia đoạn tăng trưởng thu nhập thường xuyên tăng lên rất ít hơn so với thu nhập Trong giai đoạn suy thoái nhiều thu nhập sụt xuống tạm thời
và thu nhập dài hạn bình quân không thay đổi quá nhiều Như vậy, trong giai đoạn tăng trưởng thu nhập thường xuyên tăng lên rất ít so với thu nhập Trong giai đoạn suy thoái nhiều thu nhập giảm xuống tạm thời và thu nhập dài hạn bình quân (từ đây gọi là thu nhập thường xuyên) giảm xuống ít hơn thu nhập Một hàm ý của cách
Trang 28sử dụng của Friedman về khái niệm thu nhập thường xuyên như là một yếu tố quyết định cầu tiền tệ là cầu tiền tệ sẽ không biến động nhiều cùng với các chuyển động của chu kỳ kinh doanh
Một cá nhân có thể giữ của cải dưới nhiều hình thức ngoài hình thức tiền Friedman chia chúng thành ba loại tài sản: Trái phiếu, cổ phiếu và hàng hóa Những động lực thúc đẩy giữ những tài sản đó hơn là giữ tiền được thể hiện bằng lợi tức dự tính về mỗi một tài sản đó so với lợi tức tính về tiền Trong mô hình này, đó chính là ba số hạng sau cùng trong hàm số cầu tiền Dấu trừ phía dưới mỗi số hạng chỉ ra rằng, vì mỗi số hạng tăng lên, nên cầu tiền tệ sẽ giảm xuống
Thứ nhất, các dịch vụ do các ngân hàng tiến hành đối với các khoản tiền gửi bao gồm trong cung tiền tệ, chẳng hạn như số tiền thu được dưới hình thức các séc đã bị hủy hoặc tự động trả tiền các tín phiếu, và v.v Khi những dịch vụ này tăng lên, lợi tức dự tính về giữ tiền mặt tăng lên
Thứ hai, trả lãi số dư tiền mặt Tài khoản NOW và các khoản tiền gửi khác được bao gồm trong cung tiền tệ thường xuyên trả lãi Do những việc trả lãi tăng lên, lợi tức dự tính về tiền tăng lên
Các số hạng rb - rm và re - rm biểu thị cho lợi tức dự tính về trái phiếu và cổ phiếu so với lợi tức dự tính bằng tiền; vì chúng tăng lên, nên lợi tức dự tính tương đối đối với
dự tính về hàng hóa so với tiền Lợi tức dự tính về giữ hàng hóa là tỷ lệ dự tính của khoản lợi về vốn phát sinh khi giá cả của chúng tăng lên và như vậy là bằng tỷ lệ
xuống
Tóm lại, đến đây chúng ta đã thấy sự phát triển về mặt lý thuyết cầu tiền một cách tổng quát bắt đầu từ trường phái kinh tế học cổ điển Trường phái cổ điển coi tiền chỉ là đơn vị tính toán và xây dựng các mô hình cầu tiền giao dịch Cách tiếp cận số
Trang 29dư tiền của các nhà kinh tế trường Đại học Cambridge nhấn mạnh cầu về tiền là nhu cầu nắm giữ tiền của công chúng và đã đưa ra quan hệ giữa cầu tiền thực tế và thu nhập thực tế Keynes xây dựng lý thuyết cầu tiền dựa trên cách tiếp cận Cambridge
và phát triển lý thuyết cầu tiền dựa trên các động cơ dẫn dắt mọi người nắm giữ tiền
và chính thức đưa thêm biến lãi suất vào trong việc xác định số dư cầu tiền thực tế Các nhà kinh tế sau Keynes cũng đã phát triển rất nhiều mô hình mà qua đó đưa ra những cách giải thích khác nhau phản ánh mối quan hệ giữa các khối lượng tiền thực tế với thu nhập thực tế và lãi suất Chức năng phương tiện trao đổi của tiền là
cơ sở để xây dựng lý thuyết cầu tiền giao dịch trong đó các chi phí giao dịch được coi như ổn định và đã biết trước như mô hình cầu tiền tồn kho và mô hình tiền mặt phải có trước khi giao dịch Còn các mô hình cầu tiền dự phòng thì lại đề cập đến tính bất định của các chi phí giao dịch Chức năng tài sản của tiền là cơ sở để xây dựng những mô hình cầu tiền tài sản.Những mô hình cầu tiền tài sản coi tiền là một loại tài sản trong cơ cấu đầu tư, cầu tiền được xác định dựa trên cơ sở tối đa hóa cơ cấu đầu tư của rất nhiều tài sản khác nhau với đặc tính về lợi ích và rủi ro không giống nhau Các mô hình các thế hệ gối nhau bỏ qua hoàn toàn chức năng phương tiện trao đổi của tiền mà chỉ nhấn mạnh tới chức năng tài sản Cách tiếp cận lý thuyết cầu của người tiêu dùng giữ nguyên các đặc tính của cách tiếp cận cơ cấu đầu tư nhưng coi tiền như là một loại “hàng hóa” nào đó mà người tiêu dùng mua
và hàng hóa này cung cấp cho người tiêu dùng hàng loạt các dịch vụ và phân tích cầu tiền dựa trên nền tảng tối đa hóa độ thỏa dụng
Dù phân tích cầu tiền dựa trên cơ sở phân tích như thế nào thì các mô hình cầu tiền tựu chung lại chia thành 3 nhóm mô hình lý thuyết là lý thuyết cầu tiền giao dịch, cầu tiền tài sản, và cầu tiền của người tiêu dùng Và chúng ta cũng có thể thấy rằng mặc dù các mô hình phân tích cầu tiền được xây dựng theo những hướng khác nhau nhưng các kết quả thì hầu như là giống nhau Dù phân tích như thế nào thì khối lượng cầu tiền thực tế vẫn có quan hệ ngược với các biến phản ánh chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền và có quan hệ thuận với biến quy mô
Trang 30Tuy vậy, trong phân tích thực nghiệm về cầu tiền, biến nào được lựa chọn làm biến quy mô và biến nào được chọn làm biến chi phí cơ hội của việc giữ tiền thì không giống nhau, nó phụ thuộc vào thực tiễn của mỗi nền kinh tế được nghiên cứu cầu tiền Thực tiễn đó như thế nào sẽ được đề cập tới ở phần tiếp theo
1.2 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CẦU TIỀN
Trong phân tích kinh tế vĩ mô, cầu tiền đóng một vai trò vô cùng quan trọng, đặc biệt là trong việc lựa chọn thực hiện các chính sách tiền tệ thích hợp Vì vậy trên thế giới đã có hàng loạt các nghiên cứu về cả lý thuyết cũng như thực nghiệm về cầu tiền (xem bảng 1.1 phần phụ lục) Ngày nay, khi thị trường tài chính có xu hướng toàn cầu hóa, sự mở rộng công cuộc cải cách và tự do hoá tài chính trong nước đang diễn ra, cùng với sự phát triển trong kỹ thuật kinh tế lượng về chuỗi thời gian thì nghiên cứu cầu tiền lại càng trở nên cần thiết để có thể giúp cho Ngân hàng Trung ương đưa ra chính sách tiền tệ hợp lý
Qua thực tiễn nghiên cứu cho thấy nghiên cứu định lượng về cầu tiền trên thế giới phụ thuộc vào việc giải quyết hai vấn đề cơ bản sau: Một là việc lựa chọn cơ sở lý thuyết cầu tiền phù hợp với thực tiễn nghiên cứu; Hai là việc lựa chọn biến số và phương pháp ước lượng
1.2.1 Cơ sở lý thuyết của ước lượng hàm cầu tiền
Phần 1.1 cho thấy có rất nhiều lý thuyết về cầu tiền được xây dựng nhằm lý giải tại sao mọi người lại nắm giữ tiền dựa trên cơ sở xem xét các động cơ giao dịch, đầu
cơ, dự phòng Các lý thuyết cầu tiền được xây dựng dựa trên rất nhiều giả thiết và
có chung một số biến số quan trọng gắn liền với khu vực kinh tế thực Mặc dù các biến số được xem như tương tự nhau để giải thích về cầu tiền, nhưng gần như lại có vai trò riêng biệt khác nhau Tuy vậy, tất cả những kết quả nghiên cứu thực nghiệm
về cầu tiền vẫn phản ảnh bản chất chính được đưa ra từ các mô hình lý thuyết Các
mô hình lý thuyết cầu tiền có quan hệ hàm số cơ bản được viết dưới dạng tổng quát như sau:
M
f (S,OC)
P
Trang 31Trong đó M là tổng khối lượng tiền danh nghĩa được chọn lựa, P là mức giá chung, M/P là cầu tiền thực tế, M/P là một hàm của biến quy mô được lựa chọn (S) và chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền (OC) Cũng giống như các mô hình lý thuyết, những mô hình nghiên cứu thực nghiệm nói chung đều xác định cầu tiền là cầu tiền thực tế
1.2.2 Lựa chọn biến số và phương pháp ước lượng
1.2.2.1 Lựa chọn biến
Biến khối lượng tiền (stock money)
Việc định nghĩa về tiền không hoàn toàn giống nhau giữa các nước do có sự khác biệt về thể chế và sự phát triển của hệ thống tài chính Tuy vậy khối lượng tiền thường được chia thành hai loại cơ bản là khối lượng tiền hẹp và khối lượng tiền rộng Khối lượng tiền hẹp thường là để chỉ những tài sản hiện hữu và có khả năng chuyển dịch ngay trong các giao dịch hàng ngày Do đó, khối lượng tiền hẹp thường bao gồm tiền mặt và các tài khoản phát hành séc không có lãi suất hoặc có lãi suất rất thấp Khối lượng tiền rộng bao gồm nhiều loại tài sản hơn so với khối lượng tiền hẹp và phụ thuộc vào việc người dân coi những thứ gì là tiền Khối lượng tiền hẹp thường được ký hiệu là M1 còn khối lượng tiền rộng là M2
Như vậy, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu cũng như là các biến số khác quan tâm trong ước lượng cầu tiền mà khối lượng tiền lựa chọn trong các nghiên cứu khác nhau thì không giống nhau Người ta có thể ước lượng cầu tiền cho tổng các khối lượng tiền hoặc là từng thành tố của khối lượng tiền
Biến quy mô
Biến quy mô thường được sử dụng trong ước lượng cầu tiền là một thước đo các giao dịch liên quan tới hoạt động kinh tế Đối với các ước lượng dựa theo mô hình cầu tiền giao dịch thì biến quy mô thường được sử dụng là thu nhập hiện tại còn đối với các mô hình cầu tiền tài sản thì biến quy mô là tài sản
Các biến đại diện cho thu nhập trong các ước lượng thực nghiệm thường là tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng sản phẩm quốc dân ròng (NNP), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), tổng chi tiêu quốc dân (GNE), tổng giá
Trang 32trị sản lượng công nghiệp (IO)
Tuy nhiên, tài sản rất khó có thể đo lường Vì thế mà trên thế giới các nghiên cứu đề cập tới tài sản là biến quy mô là rất ít, nó mới chỉ được sử dụng trong ước lượng cầu tiền ở hai nước là Anh và Mỹ vì hai nước này có tồn tại các dãy số liệu đo lường tài sản trong quãng thời gian dài Các nghiên cứu cầu tiền theo lý thuyết cầu tiền tài sản thường là sử dụng biến đại diện cho tài sản chẳng hạn như là thu nhập thường xuyên vì thu nhập thường xuyên có thể xác định được dựa trên thu nhập hiện thời
và thu nhập kỳ vọng
Biến chi phí cơ hội của việc nắm giữ tiền
Một vấn đề quan trọng nữa khi xác định mô hình cầu tiền là việc lựa chọn các biến
số chi phí cơ hội thích hợp Khi nắm giữ tiền mọi người thường quan tâm tới lãi suất của bản thân khối lượng tiền và lãi suất của các tài sản khác không phải là tiền Nếu khối lượng tiền xem xét khi ước lượng là M1 thì lãi suất của bản thân khối lượng tiền thường coi như là bằng không và thực tế thì nếu như thành tố của M1 có lãi suất thì thường là lãi suất thấp và không thay đổi nên có thể bỏ qua trong ước lượng Còn đối với lãi suất của các tài sản thay thế tiền thì có rất nhiều lựa chọn như lãi suất tiền gửi tiết kiệm, lãi suất trái phiếu chính phủ, hay đó chính là thu nhập của những thứ tài sản gần giống M1 và thay thế M1
Còn trong trường hợp khối lượng tiền sử dụng là khối lượng tiền rộng thì có rất nhiều các biến có thể lựa chọn để phản ánh thu nhập của các tài sản không phải là tiền như cổ tức, lãi suất trái phiếu chính phủ hoặc trái phiếu công ty dài hạn Theo cách tiếp cận cơ cấu đầu tư thì tiền là một bộ phận trong cơ cấu tài sản của mỗi người bao gồm các tài sản thực, tài sản tài chính trong nước và tài sản nước ngoài Khi đó họ thường gán cho thu nhập của các tài sản thực trong nước là tỷ lệ lạm phát
kỳ vọng còn thu nhập của các tài sản nước ngoài là lãi suất ở nước ngoài và sự mất giá kỳ vọng của đồng nội tệ
Thực tiễn nghiên cứu cầu tiền cho thấy đối với những nước mà có khu vực tài chính kém phát triển, đặc biệt là ở những nước đang phát triển và những nền kinh tế có tỷ
lệ lạm phát cao thì tỷ lệ lạm phát kỳ vọng được coi là biến phản ánh chi phí cơ hội
Trang 33của việc nắm giữ tiền phù hợp hơn bất kỳ tỷ lệ lãi suất nào được lựa chọn vì một số
lý do như: do thị trường tài chính kém phát triển nên có rất ít khả năng thay thế giữa tiền và tài sản tài chính; lãi suất có sự điều tiết của chính phủ; dữ liệu về lãi suất không tồn tại Lạm phát kỳ vọng có thể được xác định theo quan điểm kỳ vọng hợp
lý hoặc kỳ vọng thích nghi; xác định bằng cách tính trung bình trọng số từ các số liệu trong quá khứ; thu thập từ điều tra ý kiến về lạm phát của dân cư; hoặc đơn giản nhất là lấy lạm phát của kỳ trước là tỷ lệ lạm phát kỳ vọng của kỳ này và đôi khi còn lấy luôn tỷ lệ lạm phát thực tế là lạm phát kỳ vọng của kỳ này nếu lạm phát thực tế và kỳ vọng có tương quan cao
Đối với những nước có hiện tượng đô la hóa thì sự thay đổi kỳ vọng của tỷ giá hối đoái cũng là một biến đáng quan tâm Đồng nội tệ kỳ vọng mất giá ám chỉ rằng thu nhập kỳ vọng từ việc nắm giữ tài sản nước ngoài tăng, do vậy, các tác nhân sẽ thay thế nắm giữ nội tệ bằng ngoại tệ
Các lý thuyết cầu tiền như chúng ta đã thấy không đưa ra một dạng hàm cầu tiền chuẩn duy nhất cho việc phân tích cầu tiền Theo như Zarembka(1968) thì dạng hàm loga tuyến tính là dạng hàm phù hợp nhất với cơ sở lý thuyết Do vậy các biến lãi suất có thể đưa vào mô hình dưới dạngloga hoặc là giá trị Hệ số ước lượng của lãi suất có thể cho biết độ co giãn hoặc bán co giãn của cầu tiền đối với lãi suất
1.2.2.2 Về phương pháp ước lượng và một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm
về hàm cầu tiền ở một số nước trên thế giới
Phương pháp ước lượng cầu tiền tuyến tính
Từ năm 1990 có các mô hình khi ước lượng hàm cầu tiền tuyến tính: Mô hình hiệu chỉnh từng phần (PAM- Partial adjustment model), mô hình hàng tồn kho (BSM- Bufferstockmodel),môhìnhhiệuchỉnhsaisố (ECM-Errorcorrection model) được sử dụng từ đầu những năm 2000, véctơ hiệu chỉnh sai số (VECM), gần đây nhất là mô hình phân phối độ trễ tự hồi quy (ARDL)
* Mô hình hiệu chỉnh từng phần
Phương pháp ước lượng hiệu chỉnh từng phần được sử dụng phổ biến trong ước lượng cầu tiền vào những năm 1960 và đầu 1970 Cách ước lượng đó được xây
Trang 34dựng dựa trên giả định thông tin hoàn hảo, giá và lãi suất là hoàn toàn linh hoạt, các tác nhân luôn có khuynh hướng điều chỉnh khối lượng tiền nắm giữ theo khối lượng cầu dài hạn Với sở thích nắm giữ tiền nào đó thì nếu có một sự thay đổi nào đó của các biến giải thích thì các cá nhân sẽ lập tức điều chỉnh khối lượng tiền và giảm thiểu chi phí điều chỉnh
Hàm cầu tiền dài hạn có dạng thông thường như sau:
*
ln m a a ln y a ln i (1.6)
tế có nhu cầu nắm giữ ở thời kỳ t, yt là thu nhập thực tế ở thời kỳ t, it là một hoặc một số biến chi phí cơ hội ở thời kỳ t
Giả sử thị trường tiền tệ ban đầu cân bằng Nếu điều kiện đó bị phá vỡ thì thu nhập
và lãi suất sẽ phải điều chỉnh để trạng thái cân bằng lại được thiết lập Tuy vậy do
có sự tồn tại của các chi phí điều chỉnh cơ cấu đầu tư nên quá trình điều chỉnh thực tiễn không được thực hiện một cách đầy đủ và nhanh chóng Năm 1966, Chow giả định sự điều chỉnh đó được thực hiện theo cơ chế từng phần:
ln m d.a d.a ln y d.a ln i (1 d)ln m (1.8)
Tuy nhiên, thực tế việc sử dụng mô hình PAM gặp phải một số vấn đề khó khăn và hạn chế trong nghiên cứu động sau năm 1974 như:
Khi ước lượng cầu tiền theo mô hình PAM dùng để dự báo thì dẫn đến việc dự
báo quá cao cầu tiền mà Goldfel năm 1976 gọi nó là hiện tượng “missing money” do có sự đổi mới tài chính như sự xuất hiện của tài khoản NOW và
NMMF trong cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng
Trang 35 Sử dụng mô hình PAM để ước lượng chuỗi thời gian có thể cho kết quả hồi quy giả do các chuỗi có cùng xu thế Các hệ số ước lượng được không những chịu ảnh hưởng của biến độc lập mà còn bao hàm cả xu thế
Xảy ra hiện tượng overshooting do hệ số ước lượngcủa lãi suất quá nhỏ trong
ngắn hạn nên để điều chỉnh biến động ngắn hạn về dài hạn thì đòi hỏi tỷ lệ lãi suất phải có sự thay đổi rất lớn nhưng thực tiễn cho thấy lãi suất không thay đổi quá nhiều như vậy
* Mô hình tồn kho (BSM)
Mô hình này được sử dụng trong ước lượng cầu tiền vào những năm 1980 Mô hình
BSM có ưu điểm hơn so với PAM ở chỗ nó loại trừ được hiện tượng overshooting
và điều chỉnh được cấu trúc trễ trong hàm cầu ngắn hạn Theo mô hình BSM thì mọi người nắm giữ tiền bởi vì khối lượng tiền nắm giữ trong tay là cái nệm êm làm giảm phần lớn những cú sốc liên quan tới sự bất cân đối giữa các khoản tiền nhận được và chi ra
Mô hình được xây dựng dựa trên 2 giả định cơ bản: khối lượng tiền là ngoại sinh tức là nó hoàn toàn bị điều chỉnh bởi các nhân tố từ phía cung như hoạt động thị trường mở và việc mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng; thị trường tiền tệ không cân bằng do tại bất kỳ thời điểm nào thì khối lượng tiền mà các tác nhân nắm giữ cũng không thể xóa được sự chênh lệch giữa cung tiền và cầu tiền Sự bất cân đối đó có thể kéo dài tới mức mà cần phải có một sự thay đổi ngoại sinh để cân bằng lại thị trường
Mô hình BSM mà Carr và Darby đưa ra năm 1981 có dạng:
có hiện tượng tương quan Đồng thời trong thực tế thì giả định lượng tiền là hoàn toàn ngoại sinh thì không chắc chắn đúng
Trang 36* Phương pháp hiệu chỉnh sai số (ECM)
Mô hình ECM được các nhà kinh tế học sử dụng nhiều trong việc phân tích định lượng cầu tiền từ đầu những năm 1990 Mô hình này có ưu điểm hơn so với các mô hình trước đó không chỉ là vì các đặc tính của số liệu được kiểm định kỹ lưỡng trước khi lựa chọn kỹ thuật ước tính thích hợp mà cấu trúc trễ được chọn dựa trên
cơ sở dữ liệu tạo ra quá trình vận động cho các biến kinh tế giữa ngắn hạn và dài hạn Do vậy mà kết quả ước lượng theo mô hình ECM cho ta thông tin về các đặc tính không chỉ trong ngắn hạn mà cả trong dài hạn
Hàm cầu tiền dài hạn được giả định có dạng
ln m b ln y b i (1.10)
Tại mỗi thời kỳ do có sự bất ổn và sự điều chỉnh của các khoản chi phí nên có sự sai
còn β là hệ số điều chỉnh của cầu tiền ở thời kỳ t theo sự sai lệch của cầu tiền thực
tế nắm giữ và cầu tiền dài hạn ở thời kỳ trước
Theo Granger (1983, 1986) khái niệm cân bằng dài hạn ổn định chỉ là sự tương đương về mặt thống kê của đồng liên kết Khi có đồngliên kết và nếu có một cú sốc bất kỳ xảy ra gây ra sự mất cân bằng thì sẽ tồn tại một quá trình điều chỉnh động ngắn hạn như cơ chế hiệu chỉnh sai số, cơ chế này sẽ đưa hệ thống trở lại trạng thái cân bằng dài hạn Thực tế cho thấy, đồng liên kết hàm ý sự tồn tại của dạng hàm hiệu chỉnh sai số động trong việc xem xét quan hệ giữa các biến Do vậy, mô hình ECM sử dụng trong ước lượng sẽ cho phép xác định cân bằng dài hạn từ sự vận động ngắn hạn được xác định từ dữ liệu thực tế
Cách ước lượng hàm cầu tiền theo như Engle và Granger nêu trên là cách tiếp cận
mô hình hiệu chỉnh sai số phương trình đơn cho các dãy số thời gian Tuy nhiên,
Trang 37nghiên cứu cầu tiền thực tế cho thấy không chỉ có một véctơ đồng liên kết nếu số lượng các biến đưa vào hàm cầu tiền nhiều hơn hai Tức là có thể có nhiều hơn một véctơ hệ số đồng liên kết trong quá trình Data Generating Trong trường hợp đó hàm cầu tiền được xây dựng dựa trên mô hình véctơ hiệu chỉnh sai số (VECM) được Johansen ứng dụng vào năm 1988 và được Johansen và Juselius phát triển vào năm 1990
Từ những năm 2000 đến nay, hầu hết các nghiên cứu định lượng về cầu tiền phần lớn sử dụng mô hình VECM với các ưu điểm là phân tích được mối quan hệ đồng liên kết và các hệ số điều chỉnh cân bằng dài hạn và đưa được độ trễ của các biến giải thích vào hồi quy Tuy nhiên, VECM có nhược điểm là tất cả các biến phải dừng ở cùng một bậc và phải kiểm định độ trễ để tìm ra độ trễ thích hợp Để khắc phục các nhược điểm này, Pesaran et al (1998, 2000) đã đề xuất mô hình phân phối
độ trễ tự hồi quy (ARDL)
* Phương pháp phân phối độ trễ tự hồi quy (ARDL)
Trong phân tích chuỗi thời gian, biến giải thích có thể tác động lên biến phụ thuộc với độ trễ thời gian Điều này cần thiết đưa độ trễ của biến giải thích vào trong hồi quy Hơn nữa, biến phụ thuộc còn có thể tương quan với độ trễ của chính nó Nghĩa
là, độ trễ của biến phụ thuộc cũng nên đưa vào hồi quy Những xem xét này được
đề cập trong mô hình ARDL (p,q) (Autoregressive Distributed Lag) Cách tiếp cận này được đề xuất bởi Pesaran et al (1998,2001)
Phương pháp này có nhiều ưu điểm hơn so với phương pháp đồng liên kết của Johansen (1988,1990)
+ Thứ nhất, trong trường hợp số lượng mẫu nhỏ, mô hình ARDL là cách tiếp cận có
ý nghĩa thống kê hơn để kiểm định tính đồng liên kết, trong khi đó kỹ thuật đồng liên kết của Johansen yêu cầu số mẫu lớn hơn để đạt độ tin cậy
+ Thứ hai, các kỹ thuật đồng liên kết khác yêu cầu biến hồi quy được đưa vào liên kết có độ trễ như nhau thì tronh cách tiếp cận ARDL, các biến hồi quy có thể dung nạp các độ trễ tối ưu khác nhau (I(1) hoặc I(0)) Nếu như chúng ta không đảm bảo
về thuộc tính về nghiệm đơn vị hay tính dừng của hệ thống dữ liệu thì áp dụng thủ
Trang 38tục ARDL là thích hợp nhất cho nghiên cứu thực nghiệm
+ Thứ ba, ARDL bao quát cả mối quan hệ dài hạn và ngắn hạn của các biến được kiểm định
1.2.3.Nghiên cứu cầu tiền tại Việt Nam
Các nghiên cứu định lượng về cầu tiền của Việt Nam được thực hiện lần đầu tiên từ năm 1996 Qua các giai đoạn thời gian khác nhau làm cho các nghiên cứu này có nhiều sự khác biệt như thời gian, tổng hợp tiền tệ, dữ liệu, tần số và đặc điểm mô hình kỹ thuật
Nghiên cứu định lượng về cầu tiền đầu tiên được thực hiện vào năm 1996 của Suiwah Leung và Võ Trí Thành Nghiên cứu này sử dụng mô hình PAM và dữ liệu
từ 1978 đến 1991 Trong nghiên cứu đó cầu tiền (M1 - khối lượng tiền hẹp, CU - tiền mặt trong tay công chúng, HD - tiền gửi của công chúng) được xét là hàm của thu nhập (NI), tỷ lệ lạm phát (Π) và biến giả (D) đại diện cho những thời điểm cải cách giá cả ở Việt Nam Kết quả ước lượng cho thấy cầu tiền phụ thuộc dương với thu nhập (M1(1,599), CU(1,404),), HD(1,791)),phụthuộc âm với biến chi phí cơ hội (M1(-8,942), CU(8,071), HD(-9,906)) và việc cải cách giá cả cũng có ảnh hưởng ý nghĩa tới cầu tiền
Adam và các cộng sự (2004) ước tính nhu cầu về tiền hẹp M1 ở Việt Nam, bằng cách sử dụng dữ liệu hàng tháng từ tháng 1 năm 1991 đến tháng 6 năm 1999 Họ cố gắng trích xuất các ảnh hưởng thay thế tiền tệ chính xác từ cầu tiền ở Việt Nam Họ tranh luận rằng sự hiện diện của tiền tệ thay thế, sự cạnh tranh giữa các khoản tiền trong tài chính giao dịch có thể được minh họa bằng co giãn thu nhập của nhu cầu tiền là một chức năng của tỷ lệ dự kiến khấu hao tiền tệ trong nước mà ngụ ý một
độ co dãn không đổi Sử dụng Vector Error Correction Model (VECM), họ nhận thấy rằng trong thời gian dài, người dân chuyển đổi từ một tiền tệ khác để động cơ giao dịch, nhưng trong ngắn hạn, tác động danh mục đầu tư chiếm ưu thế hơn Watanabe & Pham (2005), cũng có xem xét đến hiện tượng đô la hóa nhưng phân tích nhu cầu cho M2 tiền trong nước và tiền gửi ngoại tệ một cách riêng biệt Bao gồm các giai đoạn từ 1993Q1-2004Q4, phương trình dài hạn ước tính hệ số co giãn
Trang 39của thu nhập rất cao (2,76) đối với cầu tiền M2 Lãi suất huy động ngắn hạn, lạm phát và lãi suất nước ngoài cũng có tác động đáng kể Trong khi đó, nhu cầu đối với tiền gửi ngoại tệ xác định bằng thu nhập và sự khác biệt của tỷ suất lợi nhuận trên USD và tiền gửi VND
Nghiên cứu cầu tiền của Hà Quỳnh Hoa năm 2008 sử dụng số liệu tháng từ năm
1994 đến năm 2006 Nghiên cứu này sử dụng mô hình VECM Khối lượng tiền sử dụng trong ước lượng là M1 và M2, biến quy mô là giá trị sản lượng công nghiệp thực tế và biến chi phí cơ hội đối với M1 là lạm phát kỳ vọng và tỷ giá, đối với M2
là lãi suất tín phiếu kho bạc trúng thầu bình quân hàng năm và tỷ giá Kết quả nghiên cứu cho thấy cầu tiền M1 phụ thuộc dương với thu nhập (1,115) và phụ thuộc âm với chi phí cơ hội (lạm phát kỳ vọng: -0,0377) Hệ số co dãn của M1 đối với tỷ giá âm (-0,038) phản ánh thực tế nền kinh tế có hiện tượng đô la hóa Cầu tiền M2 phụ thuộc dương với thu nhập (1,609) Chúng ta thấy hệ số co dãn của thu nhập với M2 lớn hơn với M1 cho thấy tốc độ chu chuyển của M2 thấp hơn M1 Hệ
số co dãn của M2 đối với lãi suất tương đối thấp (-0.084) Hệ số co dãn của M2 đối với tỷ giá là dương (0.089) hệ số này không phù hợp với lý thuyết
Nguyễn & Pfau (2010) nghiên cứu và xem xét sự ổn định của cầu tiền M2 ở Việt Nam Sử dụng dữ liệu hàng quý cho giai đoạn 1999-2009 và phương pháp Johansen, họ tìm thấy bằng chứng cho một mối quan hệ dài hạn giữa cầu tiền M2, thu nhập(2.5159), lãi suất tiền gửi ngoại tệ (-0.0209) và lãi suất tiền gửi nội tệ (0.0736); Lạm phát chỉ tác động lên cầu tiền trong ngắn hạn
Nhận xét
Số lượng nghiên cứu định lượng về cầu tiền của Việt Nam không nhiều
Kết quả của các ước lượng thực nghiệm đều có hàm ý lý thuyết giống nhau, các
hệ số ước lượng được của biến thu nhập đều có giá trị dương và biến chi phí cơ hội có giá trị âm
Về việc lựa chọn biến:
+ Đối với khối lượng tiền thường sử dụng M1, M2
Trang 40+ Đối với biến quy mô: Những nghiên cứu gần nhất sử dụng GDP cho biến thu nhập
+ Đối với biến chi phí cơ hội: chỉ mới xem xét đối với biến lãi suất, tỷ giá, lạm phát
kỳ vọng, giá cổ phiếu thực Trên thực tế, người dân Việt Nam có truyền thống cất trữ vàng hơn là giữ tiền Như vậy, cần xem xét thêm biến giá vàng
Về phương pháp ước lượng
Mô hình sử dụng phổ biến nhất là mô hình VECM để tìm ra mối quan hệ dài hạn giữa các biến Tuy nhiên, như trên đã phân tích, VECM có một số nhược điểm mà hiện nay mô hình ARDL gần đây có thể khắc phục được