DANH THIÊN PHÚCKHÔNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2016 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ B
Trang 1DANH THIÊN PHÚC
KHÔNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Hà Nội - 2016
Trang 2DANH THIÊN PHÚC
KHÔNG TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA BỆNH NHÂN NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG NĂM 2016
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ BỆNH VIỆN
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 60.72.07.01
Giáo viên hướng dẫn:
PGS.TS Trần Hữu Bích
Hà Nội - 2016
Trang 3Để đạt được kết quả học tập ngày hôm nay, trước tiên tôi xin bày tỏ sự biết
ơn sâu sắc nhất tới người thầy, đã tận tình hướng dẫn, định hướng, giúp đỡ tôi trongsuốt thời gian hoàn thành luận văn
Và tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Đào tạo sau đạihọc, các phòng, ban chức năng cùng quý thầy cô trường Đại học Y tế Công cộng đãtận tình giảng dạy, trang bị kiến thức cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôitrong quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu trường Cao đẳng Y tế Đồng Tháp đãtạo điều kiện về cơ sở vật chất, môi trường học tập cho tôi hoàn thành khóa học
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc và các cán bộ y tế Bệnh viện đa khoa
Gò Quao, huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quátrình thực hiện nghiên cứu
Xin cảm ơn tập thể lớp cao học Quản lý bệnh viện khóa 7 Đồng Tháp cùnggia đình và bạn bè đã ủng hộ động viên, giúp đỡ tôi trong suốt 2 năm học qua
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Một số khái niệm cơ bản về tang huyết áp 4
1.1.1 Khái niệm về tăng huyết áp: 4
1.1.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp: 4
1.1.3 Các phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp 5
1.2 Cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp 7
1.3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh cao huyết áp 7
1.3.1 Tuổi và giới 7
1.3.2 Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình 8
1.3.3 Địa lý, thói quen và lối sống 8
1.4 Điều trị THA bằng thuốc tại tuyến cơ sở 8
1.4.1 Vai trò của điều trị THA 8
1.4.2 Phòng bệnh 8
1.4.3 Các đo lường tuân thủ điều trị 9
1.5 Thực trạng THA và điều trị THA trên thế giới và ở Việt Nam 9
Trang 51.5.2 Thực trạng THA và điều trị THA tại Việt Nam 12
1.6 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu 17
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu 19
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích 19
2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu 19
2.4.1 Cỡ mẫu 19
2.4.2 Phương pháp chọn mẫu 20
2.5 Phương pháp thu thập số liệu 20
2.5.1 Kỹ thuật thu thập số liệu 20
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu 20
2.6 Phương pháp phân tích số liệu 21
2.7 Các biến số nghiên cứu: (xem phụ lục 2) 22
2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá: (xem phụ lục 5) 22
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu 24
2.9 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục sai số 24
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu: 24
2.9.2 Biện pháp khắc phục: 25
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
3.1 Thông tin chung về ĐTNC 26
Trang 63.1.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị 27
3.1.3 Chi tiết kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA 28
3.1.4 Thông tin về hỗ trợ điều trị THA ngoại trú 30
3.2 Thực trạng không tuân thủ điều trị THA 32
3.2.1 Không tuân thủ thuốc điều trị THA 32
3.2.2 Không tuân thủ chế độ ăn 33
3.2.3 Không tuân thủ hạn chế rượu/bia 33
3.2.4 Không tuân thủ chế độ sinh hoạt, luyện tập thể lực 34
3.2.5 Không tuân thủ đo huyết áp hàng ngày, ghi lại huyết áp và tái khám định kỳ
35
3.3 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị tăng huyết áp 36
3.3.1 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ thuốc điều trị 36
3.3.2 Các yếu tố liên quan đến tuân thủ lối sống Error! Bookmark not defined. 3.3.3 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ chế độ ăn 38
3.3.4 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị tăng huyết áp chung 39
CHƯƠNG 4 BÀN LUẬN 44
4.1 Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA 44
4.2 Thực trạng không tuân thủ điều trị THA 47
4.2.1 Không tuân thủ thuốc điều trị 47
4.2.2 Không tuân thủ chế độ ăn 47
4.2.3 Không tuân thủ hạn chế rượu/bia 48
Trang 74.2.5 Không tuân thủ chế độ sinh hoạt, luyện tập thể lực 49
4.2.6 Tuân thủ đo huyết áp hằng ngày, ghi lại huyết áp và tái khám định kỳ 49
4.3 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị THA 50
4.3.1 Một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ thuốc điều trị 50
4.3.2 Một số yếu tố liên quan đến tuân thủ chế độ ăn 51
KẾT LUẬN 52
KHUYẾN NGHỊ 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC 60
Trang 8HAMT Huyết áp mục tiêu
HATT Huyết áp tâm thu
HATTr Huyết áp tâm trương
TBMMN Tai biến mạch máu não
TPHCM Thành phố Hồ Chí MinhTTĐT Tuân thủ điều trị
WHO Tổ chức y tế thế giới
Trang 9Bảng 2.1: Bảng đánh giá tuân thủ chế độ ăn 23
Bảng 2.2: Bảng đánh giá tuân thủ điều trị thuốc 23
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n=236) 26
Bảng 3.2: Đặc điểm liên quan đến điều trị (n=236) 27
Bảng 3.3: Chi tiết kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA (n=236) 28
Bảng 3.4: Thông tin về hỗ trợ điều trị THA ngoại trú 30
Bảng 3.5: Chi tiết không tuân thủ điều trị thuốc (n=236) 32
Bảng 3.6: Không tuân thủ chế độ ăn 33
Bảng 3.7: Không tuân thủ hạn chế rượu/bia 33
Bảng 3.8: Không tuân thủ không hút thuốc lá/thuốc lào theo giới tính 33
Bảng 3.9: Chế độ sinh hoạt, luyện tập thể lực theo giới tính (n=236) 34
Bảng 3.10: Không tuân thủ đo HA hàng ngày, ghi lại HA và tái khám định kỳ 35
Bảng 3.11: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với không tuân thủ thuốc điều trị 36
Bảng 3.12: Mối liên quan giữa đặc điểm điều trị với tuân thủ thuốc điều trị 37
Bảng 3.13: Mối liên quan giữa hỗ trợ điều trị THA với tuân thủ thuốc điều trịError! Bookmark not defined. Bảng 3.14: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học với không tuân thủ chế độ ăn 38
Bảng 3.15: Mối liên quan giữa đặc điểm nhân khẩu học và không tuân thủ điều trị39 Bảng 3.16: Mối liên quan giữa đặc điểm điều trị với không tuân thủ điều trị THA.40 Bảng 3.17: Mối liên quan giữa kiến thức và không tuân thủ điều trị THA 41
Bảng 3.18: Mối liên quan giữa thông tin về hỗ trợ điều trị với không tuân thủ điều trị THA 41
Trang 10Mặc dù trong nghiên cứu tăng huyết áp (THA) đã có rất nhiều tiến bộ nhưng
tỷ lệ điều trị và không tuân thủ điều trị cao nhất là tại các nước đang phát triển Điềutrị THA là phải điều trị liên tục, lâu dài và đúng theo chỉ dẫn của bác sỹ, kết hợpviệc uống thuốc và các biện pháp thay đổi chế độ điều trị khác như chế độ ăn, luyệntập, hạn chế rượu/bia, không hút thuốc lá/thuốc lào và theo dõi tái khám định kỳ
Các yếu tố ảnh hưởng đến không tuân thủ mỗi loại khuyến cáo này có thể
khác nhau Chính gì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “không tuân thủ điều
trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện
Đa khoa Gò Quao, tỉnh Kiên Giang năm 2016” nhằm đánh giá không tuân thủ chế
độ điều trị THA và xác định một số yếu tố liên quan đến các loại không tuân thủđiều trị của những bệnh nhân (BN) này
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu cắt ngang có phân tích trên 236 BN THAđến khám và điều trị ngoại trú tại khoa khám bệnh, BVĐK huyện Gò Quao, số liệuđược thu thập bằng phỏng vấn trực tiếp BN THA Số liệu được nhập vào phần mềmEpidata 3.0 và xử lý bằng SPSS 16.0
Kết quả được: Không có kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA 82,7%.Không tuân thủ điều trị chung 68,6% Trong đó, không tuân thủ điều trị bằng thuốc65,7%, không tuân thủ chế độ ăn 32,2%, không tuân thủ không hút thuốc lá/thuốclào 25,4%, không tuân thủ đo huyết áp (HA) và tái khám định kỳ đạt 89,4%, khôngtuân thủ chế độ sinh hoạt - luyện tập 84,3%, không tuân thủ hạn chế uống rượu/bia6,4% Nghiên cứu tìm thấy các yếu tố liên quan tới tuân thủ điều trị THA là: nhómtuổi (nhóm tuổi dưới 60 không tuân thủ điều trị thấp hơn nhóm tuổi trên 60), nhómđược CBYT giải thích chế độ điều trị (nhóm không được giải thích tuân thủ điều trịthấp hơn nhóm được giải thích) và kiến thức (nhóm chưa đạt kiến thức tuân thủ điềutrị thấp hơn nhóm đạt kiến thức)
Nghiên cứu đưa ra các khuyến nghị cụ thể đối bệnh nhân THA và nhân viên
y tế: Người bệnh cần chú trọng tới thay đổi hành vi tuân thủ trong điều trị, cần nâng
Trang 11cụ thể cho mỗi bệnh nhân đến khám bệnh, không nên chỉ chú trọng đến việc khám
và kê đơn, thân thiện với bệnh nhân để họ cảm thấy thoải mái, không ngại khi chia
sẻ bệnh tật và khi phải đi khám bệnh Tăng cường các hoạt động giáo dục sức khỏegiúp bệnh nhân hiểu biết về bệnh và tuân thủ điều trị bệnh, các biện pháp nhằm thayđổi các thói quen không tốt, giúp cho người bệnh tuân thủ điều trị tốt
Trang 125 ĐẶT VẤN ĐỀ
THA là một vấn đề thời sự là gánh nặng cho y tế Theo thống kê THA là mộtbệnh mạn tính hay gặp nhất tác động tới hơn 1 tỷ người trên thế giới và là một yếu tốnguy cơ sớm đối với tim mạch, thận và mạch máu não THA đang là bệnh khá phổbiến ở người cao tuổi chiếm 1/2- 2/3 dân số bệnh THA nhưng việc tuân thủ và điều trịtốt huyết áp vẫn còn thấp cả trên thế giới [8]
THA là một căn bệnh không lây nhiễm phổ biến nhất trên thế giới với nhữngbiến chứng nghiêm trọng như tai biến mạch máu não và các bệnh tim mạch khác [1].Hiện nay, THA ước tính là nguyên nhân gây tử vong cho 7 triệu người trẻ tuổi vàchiếm 4,5% gánh nặng bệnh tật trên toàn cầu [18] THA là nguyên nhân hàng đầudẫn đến tỷ lệ tử vong và tỷ lệ mắc bệnh toàn cầu (12,7%), cao hơn các nguyên nhânkhác như sử dụng thuốc lá (8,7%) hay tăng đường máu (5,8%) [18]
Ở Việt Nam, THA ngày càng gia tăng khi nền kinh tế phát triển [18] Theocác số liệu điều tra cho thấy năm 1960 tỷ lệ THA mới chỉ là 1% dân số, năm 1992tăng lên 11,79% dân số nhưng đến năm 2002 tỷ lệ THA đã là 23,2% khu vực HàNội, TPHCM 20,5% (2004)và đến năm 2008 đã lên đến 27,2% dân số ở ngườitrưởng thành > 25 tuổi của nước ta [18]
Ở nước ta tỷ lệ BN THA không biết bị bệnh, hoặc biết bị bệnh nhưng chưađược điều trị hoặc điều trị chưa đúng chiếm gần 90% Hầu hết các BN THA chỉđiều trị khi thấy khó chịu và thường khi thấy con số HA về bình thường là tự ý bỏthuốc, hoặc chỉ điều trị một đợt, không khám lại [5]
THA là bệnh mãn tính phải điều trị đầy đủ, liên tục, lâu dài Nếu không đượcđiều trị tốt sẽ có rất nhiều biến chứng nặng nề, nguy hiểm tính mạng hoặc không hồiphục, thậm chí có thể gây tử vong hoặc để lại các di chứng ảnh hưởng đến sức khỏe,sức lao động của người bệnh và trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội Việcđiều trị THA làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột quỵ và khoảng 15% nguy cơNMCT Nhưng thực tế vấn đề kiểm soát huyết áp cũng rất khó khăn Tại Hoa kỳnăm 2006, có khoảng 77,6% là được biết bị THA Trong số BN bị THA chỉ có67,9% được điều trị và chỉ có 44,1% là được khống chế tốt HA [5] Năm 2002,
Trang 13Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 5.012 người từ 25 tuổi trở lên ở 4 tỉnh miền BắcViệt Nam (Nghệ An, Hà Nội, Thái Bình và Thái Nguyên) kết quả 8 trong 818 ngườiđược phát hiện có THA, chỉ có 94 người là dùng thuốc và tỷ lệ HA được khống chếtốt là 19,1% [18] Cũng theo nghiên cứu của Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2002cho thấy THA ở người trẻ ít được chú ý hơn ở người có độ tuổi
Không tuân thủ điều trị THA là BN không tuân thủ thực hiện chế độ ăn,luyện tập, sinh hoạt, thực hiện uống thuốc và đi khám, kiểm tra huyết áp theo đúngchỉ định của bác sỹ Nếu bệnh nhân bị bệnh THA không được phát hiện và điều trịtốt sẽ có thể bị tàn phế hoặc tử vong Mặt khác nếu bệnh nhân được phát hiện bịbệnh này thì phải được theo dõi và điều trị suốt đời để phòng tránh các biến chứngcủa bệnh gây ra, như vậy sẽ rất tốn kém về tiền của cũng như thời gian và công sứccủa bệnh nhân, gia đình và xã hội [18] Nghiên cứu cho thấy tuân thủ điều trị
(TTĐT) làm giảm khoảng 40% nguy cơ đột qụy và khoảng 15% nguy cơ nhồi máu
cơ tim Do vậy, việc TTĐT là điều rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả điềutrị [13] Mặc dù có rất nhiều lợi ích do điều trị mang lại nhưng trên thực tế việc tuânthủ chế độ điều trị là một thách thức rất lớn không những với bản thân người bệnh
mà với cả hệ thống y tế [5]
Xuất phát từ thực tế nói trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “không tuân thủ điều trị tăng huyết áp và một số yếu tố liên quan của bệnh nhân ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Gò Quao, tỉnh Kiên Giang năm 2016” Nghiên cứu được tiến
hành nhằm đánh giá sự không tuân thủ thuốc, chế độ ăn, tập thể dục, hạn chế uốngbia rượu, không hút thuốc, đo huyết áp định kỳ và tìm ra một số yếu tố liên quan vớitừng loại không tuân thủ để từ đó đưa ra những khuyến cáo để có thể làm tăng mức
độ TTĐT của những bệnh nhân này Bên cạnh đó, kết quả của nghiên cứu sẽ cungcấp các thông tin để góp phần mở rộng và cải thiện chất lượng dịch vụ chăm sóc vàđiều trị THA cho các bệnh nhân THA, đồng thời đưa ra được các bằng chứng giúpcho các nhà hoạch định chính sách phát triển các tài liệu đào tạo, các hướng dẫnchuyên môn về chăm sóc, điều trị THA cho các đối tượng khác nhau
Trang 14MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 151 CHƯƠNG 1- TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm cơ bản về tăng huyết áp
1.1.1 Khái niệm về tăng huyết áp:
Định nghĩa huyết áp: HA là áp lực của máu lên thành động mạch HA tâm
thu là trị số HA lớn nhất trong một chu kỳ hoạt động tim, đo được ở thì tâm thu HAtâm thu được tạo nên bởi sức bơm máu của tim và có trị số HA nhỏ nhất trong mộtchu kỳ hoạt động tim, đo được ở thì tâm trương HA tâm trương tạo nên bởi trươnglực của mạch máu và có trị số bình thường dao động từ 60 đến 89 mmHg [1]
Định nghĩa tăng huyết áp: Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) gọi là THA khi huyết áp tâm thu lớn hơn hoặc bằng 140mmHg và hoặchuyết áp tâm trương lớn hơn hoặc bằng 90mmHg [1]
Phần lớn THA ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyênphát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát) [8]
1.1.2 Tuân thủ điều trị tăng huyết áp:
Trong nghiên cứu này tuân thủ điều trị THA bao gồm tuân thủ các khuyếnnghị được Bộ Y tế đưa ra trong hướng dẫn điều trị THA năm 2010 là: tuân thủ thựchiện chế độ ăn, hạn chế rượu/bia, bỏ hút thuốc lá/thuốc lào, luyện tập, sinh hoạt,uống thuốc và đi tái khám, kiểm tra HA theo hướng dẫn của bác sỹ [1]
1.1.2.1 Thực hiện chế độ ăn, hạn chế rượu/bia, bỏ hút thuốc lá/thuốc lào, luyện tập,
Trang 16Tăng cường hoạt động thể lực ở mức thích hợp: Tập thể dục, đi bộ hoặc vậnđộng ở mức độ vừa phải, đều đặn khoảng 30 – 60 phút mỗi ngày.
Tránh lo âu, căng thẳng thần kinh: cần chú ý đến việc thư giãn, nghỉ ngơihợp lý
1.1.2.2 Uống thuốc điều trị THA:
Bệnh nhân THA cần thực hiện như sau: phải uống thuốc theo đơn của bác sỹ,không tự ý thay đổi thuốc và liều lượng, uống thuốc thường xuyên và lâu dài liêntục kể cả khi huyết áp bình thường
1.1.2.3 Khám bệnh và kiểm tra huyết áp
Điều trị đạt kết quả tốt là khi đạt được “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa
“nguy cơ tim mạch” cũng như tổn thương các cơ quan Vì vậy ngoài việc theo dõithường xuyên chỉ số HA, theo dõi HA theo chỉ dẫn của bác sỹ, tái khám đúng hẹn,
đi khám ngay nếu uống thuốc không hiệu quả, người bệnh cần định kỳ kiểm tra, làmmột số xét nghiệm nhằm phát hiện tổn thương cơ quan đích, đánh giá các yếu tốnguy cơ tim mạch khác
1.1.3 Các phương pháp đánh giá tuân thủ điều trị tăng huyết áp
Trên thế giới có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá tuân thủ điều trịnhưng nói chung có thể chia các phương pháp đánh giá thành 3 nhóm dưới đây
Nhóm 1: Nhóm các phương pháp dược lý, đây là phương pháp đánh giá tuân
thủ dùng thuốc của người bệnh bằng cách đo nồng độ thuốc, hoặc chất chuyển hóacủa thuốc, hoặc chất chỉ điểm sinh học được ghép vào viên thuốc trong huyết thanhhoặc trong nước tiểu người bệnh Các phương pháp vật lý có độ nhạy và độ đặchiệu quả cao Tuy nhiên phương pháp này khá phức tạp, khó dùng trong lâm sàng
do phải theo dõi việc dùng thuốc của người bệnh dựa vào xét nghiệm
Nhóm 2: Nhóm các phương pháp vật lý, nhóm các phương pháp này đánh
giá tuân thủ dùng thuốc của người bệnh bằng cách đếm số viên thuốc còn lại củangười bệnh sau khi dùng Có 2 cách đếm số viên thuốc đó là đếm thủ công và dùng
hệ thống đếm tự động Hiện nay trên thế giới cách đếm số thuốc bằng hệ thống đếm
Trang 17tự động được dung phổ biến và được dùng là hệ thống theo dõi sự kiện thuốc(Medicatio Event Monitoring System) viết tắt là MEMS Hệ thống MEMS có hìnhdạng như một chai thuốc bình thường nhưng ở nắp có gắn một bộ vi xử lý ghi lạingày giờ nắp chai thuốc được mở ra Chai thuốc được phát cho người bệnh và saunghiên cứu sẽ thu hồi lại Đây là nhóm các phương pháp tốt nhất để đánh giá TTĐT.Hiện nay do có thể đếm chính xác viên thuốc đã dung của người bệnh Tuy nhiênphương pháp này khá tốn kém và chỉ có thể áp dụng ở các nước phát triển.
Nhóm 3: Nhóm các phương pháp phỏng vấn để đánh giá sự đúng hẹn của
người bệnh khi tái khám, tuân thủ thay đổi lối sống và tuân thủ dùng thuốc Đây lànhóm phương pháp hay dung tại Việt Nam và một số nước khác hiện nay trên thếgiới Nhóm này thường dùng bảng hỏi và thang điểm chính đã được chuẩn hóa đểđánh giá TTĐT Trong đó có thang điểm đánh giá tuân thủ dung thuốc của Hill –Bone và của Morisky Phương pháp này dễ làm, không tốn kém nhưng lại cho kếtquả TTĐT tăng hơn thực tế
Thang điểm Hill – Bone: thang điểm này đánh giá tuân thủ dùng thuốc của
người bệnh dựa trên 9 câu hỏi xoay quanh 5 chủ đề về dùng thuốc của người bệnhnhư: sự quên uống thuốc, không uống thuốc trước khi đi khám, uống thuốc theongười bệnh khác và dừng thuốc khi thấy bệnh khá hơn Mỗi câu hỏi trong thangđiểm Hill – Bone có 4 mức điểm 1, 2, 3, 4 Tổng số điểm thấp nhất là 9 và cao nhất
là 36 Điểm càng cao, tuân thủ điều trị càng kém
Thang điểm Morisky: thang điểm này đánh giá tuân thủ dùng thuốc của
người bệnh dựa vào 4 câu hỏi sau: 1 Ông/bà đã từng quên uống thuốc bao giờ chưa?
2 Ông/bà có chú ý tới thời điểm uống thuốc của từng loại thuốc HA không? 3 Khicảm thấy bệnh tốt hơn Ông/bà có dừng thuốc không? 4 Đôi khi uống thuốc mà cảmthấy bệnh xấu đi hay gặp tác dụng phụ của thuốc ông/bà có dừng thuốc hay không?Mỗi câu trả lời “có” và “không” được 0 điểm, sau 4 câu hỏi nếu người bệnh có tổngđiểm nhỏ hơn 2 thì được đánh giá là tuân thủ dùng thuốc
Về cơ bản nội dung của 2 thang điểm Hill – Bone và Morisky là tương tựnhau nhưng cách tính điểm trong các câu hỏi ở thang điểm của Morisky đơn giản
Trang 18hơn Do vậy trong nghiên cứu này cũng dựa vào thang điểm của Morisky để xâydựng các câu hỏi đánh giá tuân thủ điều trị.
Tại Việt Nam các nghiên cứu đánh giá tuân thủ điều trị THA thường đánhgiá các nội, lào, tuân thủ chế độ sinh hoạt – tập luyện, đo huyết áp và tái khám định
kỳ, kiểm tra HA theo chỉ dẫn của bác sỹ Trong nghiêng cứu này người bệnh đượcđánh giá là TTĐT tăng HA khi đạt 4/6 nội dung trên Cách đánh giá TTĐT tăng HAtrên giống cách đánh giá TTĐT trong nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương năm
2011 [20], nghiên cứu của Nguyễn Thị Hải Yến năm 2012 [21]
1.2 Cơ chế bệnh sinh tăng huyết áp
Huyết áp động mạch được điều hòa bởi hai cơ chế Đó là cơ chế thần kinh và
cơ chế thể dịch [10]
Tăng hoạt động thần kinh giao cảm: Khi tăng hoạt tính hệ thần kinh giao cảm sẽ
làm tăng hoạt động của cơ tim, tăng thể tích tim trong 1 phút Gây ra phản ứng cothắt toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi mà cuối cùng là THA động mạch ổn định
Giảm chất điều hòa HA: Đó là hai chất prostaglandin E2 và kaliklein có ở thận,
chức năng sinh lý chủ yếu là điều hòa HA, hạ calci máu, tăng calci niệu Khi cácchất này thiếu hoặc bị ức chế sẽ gây THA
Quá trình tự xơ vữa động mạch làm giảm sức đàn hồi thành mạch gây ra THA
1.3 Các yếu tố nguy cơ của bệnh cao huyết áp
1.3.1 Tuổi và giới
Bệnh THA dần theo tuổi, những người lớn tuổi có nguy cơ cao đối với tỷ lệmắc bệnh và tử vong do những bệnh có liên quan đến THA HA cũng thay đổi theogiới, trước tuổi 55 trị số HA nam giới cao hơn nữ nhưng sau tuổi này trị số HA ởhai giới như tương đúng nhau [14]
Trang 191.3.2 Yếu tố di truyền và tiền sử gia đình
Nhiều nghiên cứu khẳng định yếu tố di truyền của THA, THA có tính giađình rõ rệt [20]
1.3.3 Địa lý, thói quen và lối sống
Tỷ lệ THA khác nhau ở các nước có điều kiện kinh tế, văn hóa và chủng tộckhác nhau [20]
Hút thuốc lá nicotin trong khối thuốc lá gây co mạch ngoại biên, tăng nồng
độ sertonin, cathecholamin ở não, tuyến thượng thận
Uống nhiều rượu bia: rượu có mối liên quan chặt chẽ với THA
Ăn mặn: lượng muối ăn hàng ngày cao là một nguyên nhân gây ra THA.Hạn chế muối trong khẩu phần ăn hàng ngày là một trong những biện phápphòng ngừa THA và là cách điều trị không dùng thuốc tốt nhất
Ít vận động, sang chấn tinh thần, béo phì, đái tháo đường, rối loạn lipid máu.Hội chứng chuyển hóa: THA là một trong những biểu hiện của hội chứng chuyển
hóa, hội chứng chuyển hóa bao gồm béo phì, rối loạn chuyển hóa glucose, rối loạnchuyển hóa lipid và THA
1.4 Điều trị THA bằng thuốc tại tuyến cơ sở
1.4.1 Vai trò của điều trị THA
THA không được điều trị và kiểm soát tốt sẽ dẫn đến tổn thương nặng các cơquan đích và gây các biến chứng nguy hiểm như tai biến mạch máu não, nhồi máu
cơ tim, phình tách thành động mạch chủ, suy tim, suy thận… thậm chí dẫn đến tửvong
1.4.2 Phòng bệnh
Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống là những biện pháp để phòng ngừaTHA ở người trưởng thành, phối hợp với việc giáo dục truyền thông nâng cao nhậnthức và hiểu biết về bệnh THA cũng như các biến chứng của THA và các yếu tốnguy cơ tim mạch khác
Trang 201.4.3 Các đo lường tuân thủ điều trị
Theo định nghĩa của WHO dựa trên định nghĩa về tuân thủ điều trị củaHaynes và Rand có sửa đổi, TTĐT là trong phạm vi hành vi của một người nhưdùng thuốc, thay đổi chế độ ăn và/hoặc thay đổi lối sống đúng với những khuyếncáo phù hợp của cán bộ y tế Sự khác biệt chính của định nghĩa này so với địnhnghĩa trước là tuân thủ cần sự đồng tình của người bệnh với những khuyến cáo màcán bộ y tế đưa ra, người bệnh nên là đối tác tích cực với cán bộ y tế trong việcchăm sóc sức khỏe của mình
Cách đo lường:
Đánh giá chính sách hành vi TTĐT là vô cùng quan trọng và cần thiết choviệc theo dõi kết quả điều trị và giúp các bác sĩ đưa ra những phác đồ điều trị phùhợp cho bệnh nhân Điều này cũng đặc biệt quan trọng với các nhà quản lý Chươngtrình THA để đưa ra quyết định đúng nhằm tăng cường sự TTĐT của bệnh nhân
Phương pháp để đo lường TTĐT đòi hỏi phải: đảm bảo chi phí thấp, có giátrị, đáng tin cậy, khách quan và dễ sử dụng TTĐT có thể được đánh giá bằngphương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp
1.5 Thực trạng THA và điều trị THA trên thế giới và ở Việt Nam
1.5.1 Thực trạng trên thế giới
THA là một bệnh mạn tính phổ biến nhất trên thế giới THA không chỉ cóảnh hưởng lớn đến gánh nặng bệnh lý tim mạch mà cũng có ảnh hưởng nhiều đếngánh nặng bệnh tật toàn cầu Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), HA làmột trong sáu yếu tố nguy cơ chính ảnh hưởng tới phân bố gánh nặng bệnh tật toàncầu
Tỷ lệ người mắc THA ngày càng tăng và tuổi bị mắc mới cũng ngày một trẻ.Vào năm 2000, theo ước tính của WHO, toàn thế giới có tới 972 triệu người bị THA
và con số này được ước tính là khoảng 1,56 tỷ người vào năm 2025 Một vấn đề kháquan trọng nữa là tỷ lệ người mắc THA ngày một tăng nhanh chóng ở các nước
Trang 21đang phát triển (châu Á, châu Phi) Theo thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006, có khoảng74,5 triệu người Mỹ bị THA; cứ 3 người lớn có 1 người bị THA [8].
THA đã và đang trở thành nguy cơ hàng đầu của các biến chứng tim mạch.Vào năm 2002, WHO đã ghi nhận trong báo cáo sức khỏe hàng năm và liệt kê THA
là “kẻ giết người số 1” Đối với người bị THA, nguy cơ bị đột quỵ (tai biến mạchnão) tăng gấp 4 lần, nguy cơ bị nhồi máu cơ tim tăng gấp 2 lần nếu so với ngườikhông bị THA Thống kê tại Hoa Kỳ năm 2006 cho thấy có khoảng 56.561 người
20, 5% ở Thái Lan (2001); 26,6% ở Singapore (1998)
Năm 1991, Hoa Kỳ có khoảng trên 50 triệu người bị THA, chiếm tỷ lệ trên30% trong số người lớn >18 tuổi Chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp cho điều trị, chămsóc bệnh nhân THA hàng năm tới trên 259 tỷ đô la Mỹ Từ những năm 70, Chínhphủ Hoa Kỳ và các cơ quan chức năng đã sớm đề xuất và thực hiện các biện phápcan thiệp cho THA và kết quả là họ đã làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc bệnh (morbidity)cũng như tỷ lệ tử vong (mortality) do các bệnh tim mạch có liên quan đến THA Từnăm 1970 - 1994, nhờ các chương trình can thiệp và quản lý các yếu tố nguy cơ vàTHA nên tỷ lệ tử vong do tai biến mạch não đã giảm được 50 - 60% và tỷ lệ tử vong
Trang 22chương trình Tuyên truyền giáo dục và dự phòng bệnh không lây nhiễm giai đoạn
1996 - 2002 tại 7 thành phố lớn nhất của Trung Quốc bao gồm khoảng 90 triệu dân.Kết quả cho thấy chương trình này đã giúp làm giảm tỷ lệ người lớn hút thuốc lá từ29% xuống còn 13%; tăng tỷ lệ người dân có thói quen tập luyện thể dục thườngxuyên từ 41% lên 84%; tăng tỷ lệ phát hiện sớm THA thêm 15%; giảm được 50%
tỷ lệ bị các biến chứng về tim mạch và đột quỵ ở người dân có THA[39]
Năm 1980, tỷ lệ THA của người dân ≥20 tuổi ở Israel là khoảng 28,6% Và
từ những năm 80 này, Chính phủ Israel đã tiến hành các chương trình phát hiện sớm
và kiểm soát THA trên phạm vi toàn quốc Kết quả sau 20 năm cho thấy tỷ lệ kiểmsoát được huyết áp về mức bình thường tăng từ 29% lên 46,7%; tỷ lệ nhồi máu cơtim cấp và đau thắt ngực không ổn định do THA giảm được16%; tỷ lệ tai biến mạchmáu não do THA giảm được 41,2%; tỷ lệ suy thận giai đoạn cuối do THA giảm50% Chương trình đã cứu sống được 2.242 người (trung bình 110 người/năm).Cũng qua các chương trình quản lý THA này, ngành y tế đã tiết kiệm được choChính phủ Israel 185 triệu USD, tức là khoảng 9,25 triệu USD/năm [19]
Những nghiên cứu kinh điển đã cho thấy, việc tôn trọng điều trị giảm đượchuyết áp đã ngăn chặn được đáng kể tử vong và tàn phế do các biến chứng của THAgây ra Theo ước tính, nếu cứ giảm đi được 10 mmHg huyết áp tâm thu ở người bịTHA thì giảm được khoảng 30% nguy cơ tử vong do bệnh tim mạch và giảm được40% nguy cơ tử vong do tai biến mạch máu não Theo ước tính của Hội Tim mạchCanada năm 2009 cho thấy, tại Canada, với việc giảm ăn mặn từ 3.500mg muốixuống 1.700mg muối trong một ngày đã giúp giảm: 1 triệu người bị THA; giảm 5triệu lượt người phải đi khám bác sĩ trong một năm; tiết kiệm được 450 - 540 triệuđô-la trong một năm do phải đi khám và dùng thuốc; giảm được 13% tử vong docác biến chứng tim mạch và tổng cộng chi phí y tế giảm được 1,3 tỷ đô-la mỗi năm.Những thống kê khác về thay đổi lối sống là: cứ giảm được 1.800mg muối mỗingày thì giảm được trung bình 5,5mmHg huyết áp; cứ giảm được mỗi 1kg cân nặngthừa thì giảm được trung bình 1,5mmHg; tập thể dục đều ít nhất 60 phút mỗi ngày
và hàng ngày thì giảm được trung bình 5,5mmHg; chế độ ăn hợp lý sẽ giúp giảmđược 11mmHg [8], [10]
Trang 231.5.2 Thực trạng THA và điều trị THA tại Việt Nam
Tuân thủ điều trị THA là rất quan trọng để bảo vệ sức khỏe và ngăn ngừabiến chứng Nhưng ở Việt Nam do chưa được quan tâm đúng mức của các cấp cácngành cùng với đời sống xã hội chưa cao, kến thức về bệnh THA và ý thức củangười dân còn nhiều hạn chế nên tỉ lệ đạt tuân thủ điều trị còn thấp Đặc biệt ở vùngnông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa, nơi mà điều kiện sống thiếu thốn, dịch vụ y
tế hạn chế, và bản thân người bệnh cũng chưa quan tâm đến sức khỏe của mình Chỉkhi nào bệnh quá khả năng chịu đựng của bản thân họ mới đi khám, lúc ấy bệnh đãnặng và có nhiều biến chứng Nhiều người bị tai biến mạch máu não, hay nhồi máu
cơ tim, thì họ củng không biết nguyên nhân đó là do THA gây nên Ngay ở cả thànhthị, cũng không ít người cho rằng HA tăng cao cùng với tuổi tác là hiện tượng bìnhthường, nên dẫn đến tâm lý chủ quan không đi khám sức khỏe định kỳ hay đi khám
và điều trị bệnh Nhiều người cho rằng THA là bệnh có thể chửa khỏi được nênuống thuốc khi bản thân họ cảm thấy khó chịu, căng thẳng về tinh thần và chỉ uốngthuốc một đợt – rồi ngưng thuốc theo toa khám bệnh lần trước về nhà uống Bêncạnh đó nhiều người bị THA cũng ý thức được sự nguy hiểm của THA ngây ra nêncũng biết tuân thủ điều trị theo khuyến cáo của Bộ Y tế dành cho người THA như
ăn nhạt, hạn chế chất béo, kiêng các chất kích thích, giảm cân khi quá cân, hạn chếuống bia rượu, tránh các sang chấn tâm lý, nghỉ ngơi sinh hoạt hợp lý, uống thốctheo đơn, đo và ghi chỉ số HA hàng ngày… Nhưng do một số người bệnh ăn uốngchung với gia đình, thói quen ăn mặn nên việc hạn chế ăn mặn – giảm chất béo khóthực hiện được Hoặc có một số người bệnh do quan hệ xã giao đã không từ chốikhi đối tác mời hút thuốc Và đặc biệt do tâm lý chủ quan của người bệnh dẫn tớiphần lớn bệnh nhân THA không tuân thủ được chế độ điều trị THA hoặc thự hànhtuân thủ điều trị THA không đạt [1]
Tại Việt Nam, thống kê mới nhất năm 2008 cho thấy tỷ lệ THA ở người lớn
là 25,1% Theo Cục Y tế dự phòng (Bộ Y tế), ước tính hiện nay Việt Nam có gần 13triệu người mắc bệnh THA Tuy nhiên, chỉ hơn 50% số người mắc bệnh được pháthiện và cũng chỉ có một nữa trong số người phát hiện được điều trị, quản lý [1], [9]
Trang 24Tỷ lệ THA tại Việt Nam đang ngày càng gia tăng Theo thống kê của GS.Đặng Văn Chung năm 1960, tần suất THA ở người lớn phía Bắc Việt Nam chỉ là1% và hơn 30 năm sau (1992), theo điều tra trên toàn quốc của Trần Đỗ Trinh vàcộng sự thì tỷ lệ này đã là 11,7%, tăng lên hơn 11 lần và mỗi năm tăng trung bình0,33% Và 10 năm sau (2002), theo điều tra dịch tễ học THA và các yếu tố nguy cơtại 4 tỉnh phía Bắc Việt Nam ở người dân lớn hơn hoặc bằng 25 tuổi thì tần suấtTHA đã tăng đến 16,3%, trung bình mỗi năm tăng 0, 46% Tỷ lệ THA ở vùng thànhthị là 22,7%, cao hơn vùng nông thôn (12,3%) Với dân số hiện nay khoảng 84 triệungười (2007), Việt Nam ước tính có khoảng 6,85 triệu người bị THA, nếu không cócác biện pháp dự phòng và quản lý hữu hiệu thì đến năm 2025 sẽ có khoảng 10 triệungười Việt Nam bị THA.
Theo điều tra dịch tễ năm 2002 của Viện Tim mạch Việt Nam, 77% ngườidân hiểu sai về bệnh THA và các yếu tố nguy cơ của bệnh; hơn 70% các trường hợpkhông biết cách phát hiện sớm và dự phòng bệnh THA Hiểu biết của người dân vềbệnh THA ở nông thôn kém hơn hẳn ở thành thị
Nguyễn Văn Đăng và cộng sự thuộc Bộ môn Thần kinh trường Đại học Y HàNội đã điều tra 1.707.609 người dân và cho thấy THA là nguyên nhân chính (chiếm59,3% các nguyên nhân) gây ra tai biến mạch máu não Theo niên giám thống kêcủa Bộ Y tế, tỷ lệ mắc Tai biến mạch máu não (TBMMN) là 47,6/100.000 dân Nhưvậy, hàng năm có khoảng 39.980 ca bị TBMMN và chi phí trực tiếp để điều trị bệnhnày là 144 tỷ Việt Nam Đồng/năm trong đó hậu quả do THA gây ra là 85,4 tỷ VND
Theo điều tra dịch tễ học suy tim và một số nguyên nhân chính tại các tỉnhphía Bắc Việt Nam năm 2003 do Viện Tim mạch Việt Nam phối hợp với WHOthực hiện cho thấy nguyên nhân hàng đầu gây suy tim tại cộng đồng là do THA(chiếm 10,2%), sau đó là do bệnh van tim do thấp (0,8%)
Nghiên cứu của Nguyễn Đỗ Nguyên và Trần Thiện Thuần năm 2005 về một
số đặc điểm dịch tễ bệnh THA ở người lớn tại cộng đồng dân cư ở TP.HCM trên
1991 người đến khám và phỏng vấn ở 16 xã phường tại TP.HCM cho thấy tỷ lệTHA ở TP HCM là 26,52 %ở độ tuổi từ 25 đến 65; tỉ lệ THA nam cao hơn nữ vàtheo nhóm tuổi cũng tăng dần Phân bố tỷ lệ THA theo yếu tố dân số và xã hội có sự
Trang 25khác biệt về tuổi giới, học vấn và nghề nghiệp; tỉ lệ THA tăng dần theo độ béo phì ởngười lớn Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa tình trạng nhẹ cân vớibệnh THA và cũng có mối liên quan giữa tình trạng dư cân với bệnh THA.
Nghiên cứu của Trần Thị Mai Hoa về thực trạng kiến thức và thực hành vềTHA ở người trưởng thành tại hai xã thuộc huyện Quảng Trạch tỉnh Quảng Bìnhnăm 2013 cho thấy tỷ THA chung ở người trưởng thành tại hai xã nghiên cứu là16,8%, ở nam giới là 18,8% và nữ giới là 15%; tỷ lệ THA tăng dần theo nhóm tuổi,
đa số mắc THA độ 1 (79%); 20,2% ĐTNC có kiến thức đạt về bệnh THA Nhữngngười mắc bệnh thường sử dụng biện pháp ăn nhạt, không sử dụng rượu bia để điềutrị bệnh (trên 50%) Có 93,9% người mắc bệnh THA uống thuốc điều trị theo đơncủa bác sĩ Đa số người mắc bệnh THA theo dõi huyết áp hàng tuần (30,5%), hàngtháng (28%) Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức vềbệnh THA, giới tính, chỉ số BMI, chỉ số WHR, hút thuốc lá, lười vận động và tỷ lệmắc THA ở người trưởng thành tại hai xã nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu của Đào Duy Khánh và cs về tình hình mắc bệnh THA
và mối liên quan giữa các yếu tố nguy cơ với bệnh THA của cán bộ trung cao tại 8huyện, tỉnh Kon Tum cho thấy tỷ lệ THA trong nghiên cứu là 42,9% Theo nhómtuổi từ 60 tuổi trở lên có tỷ lệ THA là 60% và nhóm dưới 60 tuổi là 40% trong sốbệnh nhân THA Bệnh nhân ngoài THA ở thời điểm hiện tại thì còn mắc một sốbệnh khác (29,7%) Thói quen ăn mặn, uống rượu có nguy cơ mắc bệnh THA hơnnhóm không có thói quen ăn mặn, uống rượu [5]
Nghiên cứu “Thực trạng THA và một số yếu tố liên quan của người dân trên
25 tuổi sinh sống tại phường Trang Hạ thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh” của NguyễnHữu Tước năm 2011với 1.833 người dân trên 25 tuổi sinh sống tại phường Trang
Hạ, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Kết quả cho thấy tỷ lệ THA chung là 11, 8%,trong đó THA độ 1 là 6,7%, THA độ 2 là 3%, THA độ 3 là 2,1% Tỷ lệ tiền THA là5,6% Nghiên cứu cũng cho thấy 41,2% người mắc THA chưa biết mình bị THA,14,2% ĐTNC có hút thuốc lá, 14,1% uống nhiều rượu, 7,2% ăn mặn, 10,2% béobụng và 4,7% béo phì Tỷ lệ THA tăng dần theo nhóm tuổi và liên quan đến các yếu
Trang 26tố ăn mặn, uống nhiều rượu bia và béo bụng, trong khi đó nghiên cứu này chưa tìmthấy mối liên quan giữa THA với giới tính và tình trạng hút thuốc [17].
Kết quả nghiên cứu của Bùi Thị Mai Tranh và cs về sự tuân thủ dùng thuốc
hạ áp trên bệnh nhân cao tuổi THA cho thấy tỷ lệ tuân thủ là 25%, không TTĐT 75%.Nguyên nhân kém TTĐT bao gồm: không đủ điều kiện kinh tế (43%), quên uống thuốc(36%), không biết cần uống thuốc liên tục (34%), sợ uống nhiều thuốc (31%), nghĩ đãkhỏi bệnh (23%) chiếm một tỉ lệ đáng chú ý trong các yếu tố ảnh hưởng đến việcTTĐT.Các yếu tố liên quan đến TTĐT gồm: BHYT, tình trạng hôn nhân, tuổi, bệnhmạn tính kèm theo, bác sỹ tư vấn, áp dụng biện pháp không dùng thuốc [16]
Đề tài “Đánh giá sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp trên 60tuổi tại phường Hàng Bông – Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, năm 2010” của Ninh VănĐông cho kết quả như sau: có 46,5% đạt kiến thức về TTĐT THA và 21,5% đạt vềthực hành TTĐT THA Phần lớn bệnh nhân hiểu không đúng về chế độ dùng thuốc,nhưng kiến thức về ăn uống, sinh hoạt và luyện tập nhìn chung có tỉ lệ trả lời đúngcao Thực hành TTĐT đúng về chế độ ăn uống sinh hoạt và uống thuốc đạt tỉ lệ thấp[24] Có mối liên quan giữa kiến thức, trình độ học vấn với thực hành TTĐT THA.Không có mối liên quan giữa giới tính, nhóm tuổi, công việc hiện tại với thực hànhTTĐT THA
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh về khảo sát kiến thức, thái độ và sựtuân thủ dùng thuốc của bệnh nhân THA đang điều trị ngoại trú tại Bệnh viện cấpcứu Trưng Vương cho thấy tỉ lệ có kiến thức đúng của bệnh nhân THA không sửdụng thuốc là 45,3%; tỉ lệ có thái độ không đúng là 64,2%; 50,5% bệnh nhân khôngtuân thủ dùng thuốc Có mối liên quan giữa kiến thức về sử dụng thuốc với các yếu
tố cá nhân như tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thu nhập và tham gia BHYT(p<0,05) Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa thái độ về sử dụng thuốc vớitrình độ học vấn của bệnh nhân THA (p<0,05) Bênh nhân ≥50 tuổi có tỉ lệ tuânthủ dùng thuốc cao hơn (p=0,032) Có mối liên hệ giữa thái độ về sử dụng thuốc với
sự tuân thủ dùng thuốc Không phát hiện mối liên hệ giữa kiến thức về việc sử dụngthuốc với sự tuân thủ dùng thuốc (p>0, 05) Ở nhóm bệnh nhân tuân thủ và khôngtuân thủ dùng thuốc có mối liên hệ giữa kiến thức và thái độ về sử dụng thuốc [23]
Trang 27Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Minh Phương về thực trạng tuân thủ điều trịtăng huyết áp tại cộng đồng và các yếu tố liên quan của bệnh nhân 25-60 tuổi ở 4phường của thành phố Hà Nội, năm 2011 cho thấy, kiến thức chung về bệnh vàTTĐT THA không đạt 49,4% TTĐT chung không đạt 55,2%.Cụ thể, có tới 68,4%ĐTNC có không trang bị máy đo huyết áp cá nhân, 66% không có theo dõi HAthường xuyên, 54,4% không có đi khám sức khỏe định kỳ đều đặn, 32,8% khônguống thuốc điều trị THA, trong đó chỉ có tới 56,4% không uống thuốc đầy đủ Cótới 64% không thực hiện chế độ ăn uống đạt yêu cầu, 66,4% thực hiện hạn chế rượubia 72% thực hiện không hút thuốc, 36% không thực hiện chế độ sinh hoạt, nghỉngơi đạt yêu cầu, 37,2% không thực hiện chế độ luyện tập thường xuyên Nghiêncứu tìm thấy mối liên quan giữa yếu tố giới tính và kiến thức với TTĐT THA củađối tượng nghiên cứu (ĐTNC) [20].
Nghiên cứu “Thực trạng thực hành tuân thủ trong điều trị tăng huyết áp củabệnh nhân 25-60 tuổi ở 4 phường thành phố Hà Nội năm 2011” của Vũ Xuân Phú
và Nguyễn Minh Phương cho thấy tỷ lệ thực hành TTĐT THA chưa tốt chỉ có 44,8% ĐTNC đạt về TTĐT THA; 31,6% ĐTNC có trang bị máy đo huyết áp cá nhân,34% là theo dõi HA thường xuyên Có 32,8% không uống thuốc Có đến 54,4%ĐTNC không đi khám định kỳ đều đặn; 36% ĐTNC thực hiện chế độ ăn uống đạtyêu cầu; 66,4% thực hiện hạn chế rượu bia, 36% ĐTNC không thực hiện chế độsinh hoạt, nghỉ ngơi đạt yêu cầu; 37,2% không thực hiện luyện tập thường xuyên
Lý do không uống thuốc đầy đủ do bận công việc (10,8%), cho là không quan trọng(6,4%), cho là huyết áp bình thường thì không cần dùng thuốc (6,4%), bị tác dụngphụ của thuốc (6,0%) và người nhà không nhắc nhở dùng thuốc (4%) Lý do không
đi khám chủ yếu là do bận công việc (21,2%), cho rằng không cần thiết (15,2%),ngại đi, không thuận tiện (14%), và do lịch khám không phù hợp (12,4%) [20]
Nghiên cứu của Vũ Phong Túc và Lê Chính Chuyên về nhận thức, thái độ,thực hành và sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân THA tại khoa khám bệnh, BVĐKtỉnh Ninh Bình cho thấy đa số bệnh nhân nhận thức được biến chứng nguy hiểm củaTHA là đột quỵ và nhồi máu cơ tim từ 65,8% đến 68,7% Bệnh nhân có thái độ điềutrị liên tục và kéo dài là 77,6%, TTĐT kết hợp là 62,6% Bệnh nhân kết hợp điều trị
Trang 28bằng thuốc với sự thay đổi lối sống chiếm 74% Bệnh nhân THA TTĐT với việc táikhám đều và đúng hẹn, thực hiện đo, ghi chép theo dõi huyết áp tại nhà với tỷ lệtương ứng là 84,9% và 53% [23].
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hữu Đức về thực trạng tuân thủ điều trị vàcác yếu tố liên quan của Hội viên câu lạc bộ bệnh nhân tăng huyết áp, Bệnh việnBạch Mai, năm 2012 cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đạt kiến thức về bệnh và TTĐT THA
là 84, %, trong đó các kiến thức về chế độ ăn, tập luyện thể lực, dùng thuốc huyết
áp, bệnh nhân đều đạt trên 90% Tuy nhiên, có tới 33% bệnh nhân hiểu sai kiến thức
về bệnh THA là bệnh có thể chữa khỏi được, 40,2% bệnh nhân hiểu sai kiến thức về
đa số bệnh nhân mắc THA là có nguyên nhân Tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ điều trịTHA là 85, 6%, trong đó tỷ lệ bệnh nhân tuân thủ dùng thuốc, tuân thủ thực hiệnchế độ ăn nhạt và tuân thủ không hút thuốc là lần lượt là 75, 8%,92, 8% và 97,4%[16]
1.6 Sơ lược về địa bàn nghiên cứu
BVĐK huyện Gò Quao là một bệnh viện công lập được xếp hạng III theoquy định thực hiện 7 chức năng và nhiệm vụ của Bộ Y tế giao cho Bệnh viện Đakhoa huyện Gò Quao với quy mô 140 giường bệnh (thực kê 180 giường) được tổchức gồm Ban Giám đốc, 4 phòng chức năng, 7 khoa lâm sàng và 4 khoa cận lâmsàng Tính đến thang 11/2015 bệnh viện hiện có 203 nhân viên y tế (trong đó: sauđại học: 13; đại học: 46; cao đẳng: 06; trung học: 112; sơ học: 8; khác: 18) Mỗinăm bệnh viện tiếp nhận khám và điều trị khoảng 206, 032 lượt bệnh nhân ngoại trú,14,719 bệnh nhân nội trú
Mặc dù số lượng bệnh nhân THA đến khám và điều trị tại BVĐK huyện GòQuao tương đối đông (năm 2014 là 13.578 BN) nhưng công tác khám và quản lí BNcòn nhiều bất cập Bệnh viện đã thực hiện hồ sơ khám bệnh ngoại trú với những BNTHA quản lí những hồ sơ này theo tên và mã số BN Nhưng đôi lúc phần mềm quản
lí chưa tốt nên CBYT không có thời gian giải thích và tư vấn cho BN Điều này ảnhhưởng không nhỏ đến việc không tuân thủ của BN
Trang 30ĐTNC trong nghiên cứu này là bệnh nhân được chẩn đoán là THA đến khámbệnh và điều trị ngoại trú tại BVĐK Gò Quao, tỉnh Kiên Giang Bệnh nhân trên 18tuổi đến khám và điều trị ngoại trú, có khả năng tham gia đồng ý trả lời các câu hỏiphỏng vấn.
Những bệnh nhân sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu Bệnh nhân THA thứ phát doviêm cầu thận mạn, hẹp động mạch thận, u tùy thượng thận Bệnh nhân THA phốihợp với các bệnh hoặc có biến chứng nặng khác mà không thể tham gia nghiên cứuđược Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu
2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 03 năm 2016 đếntháng 07 năm 2016 tại BVĐK huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
2.3 Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang có phân tích
2.4 Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu
Trang 312.5 Phương pháp thu thập số liệu
2.5.1 Kỹ thuật thu thập số liệu
- Phỏng vấn trực tiếp đối tượng nghiên cứu tại một phòng riêng được bố trígần phòng khám bệnh để tránh việc BN phải đi lại nhiều Sau khi BN hoàn tất cácthủ tục khám bệnh và lĩnh thuốc, BN được mời tham gia phỏng vấn
- Thu thập thông tin thứ cấp từ hồ sơ bệnh án của bệnh nhân để biết về số đohuyết áp lúc bắt đầu điều trị, thời gian điều trị tại viện, tiền sử tai biến do THA…
2.5.2 Công cụ thu thập số liệu
2.5.2.1 Thông tin được thu thập từ bộ câu hỏi phỏng vấn (Phụ lục 4)
Bộ câu hỏi phỏng vấn và cách cho điểm, đánh giá được xây dựng dựa trêntham khảo:
Hướng dẫn điều trị THA năm 2010 của Bộ Y tế
Hướng dẫn điều trị THA của WHO
Thang đo của Donald và cộng sự (2008) gồm 8 mục để đo lường TTĐT vớithuốc hạ huyết áp
Trang 32 Bộ câu hỏi của một số nghiên cứu trước đây của Đỗ Thị Bích Hạnh năm
2013 [7] và Nguyễn Minh Phương 2011 [20]
2.5.2.2 Thu thập số liệu
- Thử nghiệm, chỉnh sửa và hoàn thiện bộ công cụ: Sau khi xây dựng xong,phiếu phỏng vấn được đem đi điều tra thử, chỉnh sửa và hoàn thiện cho phù hợp
- Tập huấn thu thập số liệu:
+ Giảng viên tập huấn: trưởng nhóm nghiên cứu
+ Đối tượng tập huấn: 3 nghiên cứu viên
+ Nội dung tập huấn: kỹ năng sử dụng bộ câu hỏi, kỹ năng thu thập thông tin,
kỹ năng tiếp xúc cộng đồng, kỹ năng ghi chép thông tin
- Thời gian dự kiến: 01 ngày tại BVĐK huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang
- Điều tra thu thập số liệu
Điều tra qua phiếu phỏng vấn
Nhân lực: 3 nghiên cứu viên
Thực hiện: 3 nghiên cứu viên đến BVĐK Gò Quao, tỉnh Kiên Giang phỏngvấn bệnh nhân THA bằng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn (không thông báo với đốitượng)
- Giám sát điều tra: Sau mỗi buổi điều tra, mỗi nghiên cứu viên nộp lại phiếugiám sát nếu chưa đầy đủ hay bị sai, nghiên cứu viên có thể điều tra thêm Nếu thiếusót quá nhiều có thể bỏ đi và điều tra lại
2.6 Phương pháp phân tích số liệu
Toàn bộ các phiếu phỏng vấn thu thập được kiểm tra trước khi nhập liệu Cácphiếu không đầy đủ và không phù hợp được loại bỏ Số liệu thu thập được nhập liệubằng phần mềm EpiData 3.0 Sau khi hoàn tất nhập liệu, các số liệu được làm sạch,
xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS 16.0 Các phương pháp thống kê
mô tả được sử dụng để tính tần số và tỷ lệ phần trăm thể thể hiện phân bố của một
số biến số Sử dụng tỷ số chênh OR và khoảng tin cậy 95%
Trang 332.7 Các biến số nghiên cứu:
Gồm 4 nhóm biến số nghiên cứu chính là:
- Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu: Giới tính, tuổi, nghề nghiệp,
- Thực trạng tuân thủ điều trị: Tuân thủ điều trị thuốc, tuân thủ chế độ ăn, TThạn chế rượu/bia, TT không hút thuốc lá/thuốc lào, TT sinh hoạt – tập luyện, TT đo
HA và tái khám định kỳ
- Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA: xác định chỉ số THA, kiến thức
về hậu quả của THA, xác định HAMT, chế độ điều trị THA, cách dùng thuốc chế
độ ăn
- Hỗ trợ điều trị THA ngoại trú
2.7.1 Tiêu chuẩn đánh giá:
Tất cả các tiêu chuẩn trên đều được đánh giá trong khoảng thời gian 1 tháng
BN được coi là TT điều trọ khi 4 tiêu chuẩn trở lên trong 1 tháng trước khi BN nhânphỏng vấn, dưới 4 tiêu chuẩn là không tuân thủ điều trị Tuy nhiên, trước khi mô tảmức độ TT chế độ điều trị THA, nghiên cứu sẽ mô tả chi tiết về mức độ TT từngtiêu chí trên của BN, rồi xác định mối liên quan của một số yếu tố với một số loại
TT này
Tuân thủ chế độ ăn: Là ăn hạn chế muối natri, cholesterol và acid béo no.
+ Hạn chế muối natri: Không TT chế độ ăn hạn chế muối natri được quy ướctrong nghiên cứu này là khi BN ăn > 6gr muối hay > 1 thìa cà phê muối mỗi ngàyhay thường ăn các loại thực phẩm có nhiều muối natri như các loại thực phẩm đónghộp, chế biến sẵn (thịt hun khói, xúc xích, thịt hộp, bơ mặn, nước tương, muối vừngkhi ăn chung với gia đình
+ Hạn chế cholesterol và acid béo no: Không TT chế độ ăn hạn chếcholesterol và acid béo no là ăn mỡ động vật dạng thịt mỡ hoặc dùng mỡ động vậtrán/chiên/xào, thường xuyên ăn đồ chiên/xào, ăn phủ tạng động vật, lòng đỏ trứng,
bơ, …
Trang 34Bảng 2.1: Bảng đánh giá tuân thủ chế độ ănTổng số câu hỏi Tổng điểm Không tuân thủ Tuân thủ
8 câu (từ câu hỏi
số 19 đến câu 26)
0 – 24 điểm > 8 điểm ≤ 8 điểm
Từ câu 19 đến câu 26, BN sẽ được hỏi về mức độ thường xuyên ăn các thức
ăn trên với thang đo 4 mức:
+ Thường xuyên (>4 lần/tuần): 3 điểm
+ Thỉnh thoảng (2 – 4 lần/tuần): 2 điểm
+ Hiếm khi (1 lần/tuần): 1 điểm
+ Không bao giờ (0 lần/tuần): 0
Tuân thủ điều trị thuốc: Tuân thủ điều trị thuốc là sử dụng thường xuyên tất
cả các loại thuốc được kê đơn theo đúng chỉ dẫn của CBYT Mỗi câu trả lời khôngđược một điểm Các câu hỏi đánh giá TT thuốc điều trị có giá trị như nhau
Bảng 2.2: Bảng đánh giá tuân thủ điều trị thuốcTổng số câu hỏi Tổng điểm Không tuân thủ Tuân thủ
Tuân thủ điều trị liên quan đến rượu/bia: Hạn chế uống rượu/bia: Số lượng íthơn 3 cốc chuẩn/ ngày (nam), ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nữ) và tổng cộng ít hơn 14cốc chuẩn/ tuần (nam), ít hơn 9 cốc chuẩn/ngày (nữ) Nghiên cứu này đánh giá TTđiều trị liên quan đến rượu/bia trong tuần qua bằng cách hỏi về số lượng rượu hoặcbia uống vào ngày nhiều nhất và lượng trung bình mà BN uống trong mỗi ngày, rồitính tổng số lượng cốc chuẩn tuần
Trang 35Tuân thủ điều trị liên quan đến đo huyết áp hàng ngày và tái khám định kỳ:Bệnh nhân được coi là TT khi hàng ngày đo, ghi lại số đo HA vào sổ theo dõi vàkhi đi khám định kỳ đều.
Tiêu chuẩn đánh giá kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA: Trong phầnnày có 10 câu hỏi Bệnh nhân có kiến thức đạt khi trả lời đúng từ 7 câu trở lên, dưới
7 câu là không đạt Riêng câu hỏi có nhiều lựa chọn, BN phải trả lời được từ 2 ýđúng trở lên mới đạt, dưới 2 ý đúng là không đạt
2.8 Vấn đề đạo đức của nghiên cứu
Tất cả các đối tượng tham gia nghiên cứu đều được giải thích cặn kẽ, cụ thể
về mục đích, nội dung nghiên cứu cũng như những lợi ích và nguy cơ có thể xảy rakhi tham gia nghiên cứu để người tham gia tự nguyện và cung cấp thông tin chínhxác Họ được đảm bảo là hoàn toàn tự nguyện không có tác động từ bên ngoài haybất cứ sự ép buộc nào từ phía nhóm nghiên cứu và có quyền tự do bỏ cuộc hoặc rútkhỏi nghiên cứu bất cứ lúc, mọi sự từ chối đều được chấp nhận Các thông tin thuthập được đảm bảo về tính chính xác, không bị sửa chữa, không phục vụ cho bất kỳmục đích nào ngoài nghiên cứu Danh tính của người tham gia nghiên cứu được bảomật Nghiên cứu được hội đồng đạo đức trong nghiên cứu y sinh học của nhàtrường thông qua trước khi được tiến hành
2.9 Hạn chế của nghiên cứu và biện pháp khắc phục sai số
2.9.1 Hạn chế của nghiên cứu:
Đây là nghiên cứu cắt ngang nên không đưa ra được các yếu tố nguyên nhân.Nghiên cứu chỉ tiến hành tại phòng khám BVĐK Gò Quao nên tính đại diện củanghiên cứu hạn chế về mặt phạm vi, không thể suy rộng từ kết quả nghiên cứu.Công cụ nghiên cứu chủ yếu dựa vào bộ câu hỏi phỏng vấn, phụ thuộc nhiều vào kỹnăng phỏng vấn của người hỏi và khả năng người tham gia cung cấp những thôngtin thiếu chính xác là rất dễ xảy ra.Việc đánh giá thực hành của ĐTNC cũng chỉthông qua phiếu phỏng vấn mà không được chứng kiến nên đối tượng nghiên cứu
Trang 36có thể trả lời về hành vi của họ không như hoạt động thực tế của họ Điều đó dẫnđến đánh giá không chính xác và có thể dẫn đến sai số.
2.9.2 Biện pháp khắc phục:
Để khắc phục hạn chế chúng tôi tiến hành một số biện pháp sau: Thử nghiệm
bộ câu hỏi trước khi tiến hành nghiên cứu: nghiên cứu viên đã tiến hành thử nghiệm
24 phiếu phỏng vấn trên các bệnh nhân trước khi tiến hành nghiên cứu để làm sáng
tỏ bộ câu hỏi và phát hiện những vấn đề cần sửa chữa Kết quả thử nghiệm đượcdùng để chỉnh sửa bộ câu hỏi cho phù hợp Tập huấn kỹ lưỡng cách phỏng vấn cũngnhư toàn bộ thông tin liên quan cho điều tra viên để hạn chế tối đa sai số trong quátrình thu thập số liệu Bộ câu hỏi thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, thông tin về kiến thứcđược liệt kê xen kẽ là những lựa chọn không đúng tránh trường hợp người trả lờiđồng loạt, giảm bớt sai số có thể xảy ra Trong quá trình thu thập số liệu, điều traviên đến phòng riêng với bệnh nhân để phỏng vấn, lựa chọn thời gian thích hợp đểngười tham gia trả lời tích cực để thông tin có được là chính xác nhất Có 3 nghiêncứu viên tham gia trực tiếp thu thập thông tin và thực hiện giám sát trong suốt quátrình thu thập số liệu Làm sạch và mã hóa số liệu trước khi phân tích Tránh sai sóttrong quá trình nhập số liệu, bộ số liệu được rà soát cẩn thận, nhập cẩn thận để loại
bỏ tối đa những sai sót và những thông tin không nhất quán, sau đó kiểm tra ngẫunhiên 10% số phiếu được nhập Hiện tại chưa có nhiều nghiên cứu về không tuânthủ điều trị của bệnh nhân tăng huyết áp tại bệnh viện Vì vậy, nghiên cứu hy vọngđưa ra được các khuyến nghị phù hợp cho bệnh nhân, người nhà và cơ quan y tếthấy được thực trạng và tầm quan trọng của vấn đề này nhằm giúp bệnh nhân tuânthủ tốt trong điều trị
Trang 373 CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được tiến hành tại phòng khám BVĐK huyện Gò Quao, tỉnhKiên Giang, các bệnh nhân THA điều trị tại bệnh viện đã tham gia trả lời phỏng vấn
Có 236 phiếu được đưa vào phân tích số liệu
3.1 Thông tin chung về ĐTNC
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu học
Bảng 3.1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu (n=236)
Trang 38Trình độ học vấn của ĐTNC khá thấp, trung học cơ sở trở xuống chiếm đến88,6%, từ trung học phổ thông trở lên chỉ có 11,4%.
Nghề nghiệp chủ yếu của ĐTNC làm nông dân 79,7%, kế đến là nghề kinhdoanh và công chức viên chức, nghỉ hưu và già chiếm 2,5 % chỉ có rất ít đối tượngnghiên cứu là công nhân (0,8%)
Hầu hết ĐTNC sống cùng với gia đình (94,5%), chỉ có 5,5% là sống mộtmình
3.1.2 Đặc điểm liên quan đến điều trị
Bảng 3.2: Đặc điểm liên quan đến điều trị (n=236)
Đặc điểm liên quan đến điều trị Tần số (n) Tỷ lệ (%)
Bảng 3.2 cho thấy ĐTNC phát hiện THA khi vô tình đi khám bệnh phát hiện
là 72% và có biểu hiện triệu chứng chiếm 25% ĐTNC có thời gian điều trị THA từ
5 năm trở lên là 50,8%, có 49,2% ĐTNC đã điều trị THA dưới 5 năm
Tiền sử gia đình có người tăng huyết áp là một trong các yếu tố nguy cơ củabệnh THA Theo kết quả nghiên cứu số ĐTNC có người thân không mắc bệnh THA(55,1%) cao hơn đối tượng nghiên cứu có người thân mắc bệnh THA (44,9%)
Trang 393.1.3 Chi tiết kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA
Bảng 3.3: Chi tiết kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA (n=236)
Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA Tần số Tỷ lệ %
cho người THA
Uống thường xuyên, liên tục, lâudài theo đơn của bác sĩ
Chỉ uống khi có biểu hiện của 10 4,2
Trang 40Kiến thức về bệnh và chế độ điều trị THA Tần số Tỷ lệ %