Kết quả cho thấy, nguồn lượng vật liệu trầm tích đổ ra phần đất ngập nước châu thổ sông Hồng thay đổi theo 4 khoảng thời gian: Khoảng I 1910-1930, nguồn lượng vật liệu trầm tích tăng n
Trang 1T¹p chÝ
biÓn khoa häc vµ c«ng nghÖ
2014
(T.14)
3A
Số đặc biệt kỷ niệm 55 năm thành lập Viện Tài nguyên và Môi trường biển
(1959 - 2014)
Trang 2DOI: 10.15625/1859-3097/14/3A/5180 http://www.vjs.ac.vn/index.php/jmst
THAY ĐỔI NGUỒN LƯỢNG VẬT LIỆU TRẦM TÍCH
HIỆN ĐẠI HỆ THỐNG SÔNG HỒNG: TIẾP CẬN
TỪ NGHIÊN CỨU KHOÁNG VẬT SÉT
Bùi Văn Vượng 1* , Zhifei Liu 2 , Trần Đức Thạnh 1 ,
Vũ Duy Vĩnh 1 , Chih-An Huh 3 , Nguyễn Đắc Vệ 1
1
Viện Tài nguyên và Môi trường biển-Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
2
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia Địa chất biển, Đại học Tongji, Thượng Hải, Trung Quốc
3
Viện Các khoa học Trái Đất, Viện Hàn lâm Sinica, Đài Bắc, Đài Loan
*
E-mail: vuongbv@imer.ac.vn Ngày nhận bài: 5-8-2014
TÓM TẮT: Thay đổi nguồn lượng vật liệu trầm tích hệ thống sông Hồng trong vòng 100 năm qua
được nghiên cứu qua các chỉ thị về thành phần, hàm lượng khoáng vật sét, tuổi, tốc độ lắng đọng trầm
tích ở phần ngập nước ven châu thổ sông Hồng Kết quả cho thấy, nguồn lượng vật liệu trầm tích đổ
ra phần đất ngập nước châu thổ sông Hồng thay đổi theo 4 khoảng thời gian:
Khoảng I (1910-1930), nguồn lượng vật liệu trầm tích tăng nhanh;
Khoảng II (1930-1960), nguồn lượng vật liệu trầm tích tăng trung bình;
Khoảng III (1960-1990), nguồn lượng vật liệu trầm tích tăng ít và có xu thế giảm
Ngược lại, khoảng IV (1990-2011), nguồn lượng vật liệu trầm tích có xu thế giảm
Kết quả không chỉ biểu thị thay đổi nguồn lượng trầm tích mà còn thể hiện kết quả tác động của
con người trên lưu vực sông Hồng trong vòng 100 năm qua, đặc biệt khoảng 20 năm trở lại đây (năm
1990, đập thủy điện Hòa Bình đi vào hoạt động)
Từ khóa: Phần ngập nước châu thổ sông Hồng, nguồn lượng vật liệu trầm tích, khoáng vật sét,
tốc độ lắng đọng trầm tích; tuổi trầm tích; nhiễu xạ tia X, phóng xạ phổ γ.
MỞ ĐẦU
Sông Hồng là con sông lớn thứ 2 ở Việt
Nam và thứ 5 ở Đông Á, hàng năm đổ ra biển
khoảng 130 × 106 tấn phù sa [1] để hình thành
nên châu thổ sông Hồng Nguồn lượng vật liệu
trầm tích của hệ thống sông này đã và đang
thay đổi có quan hệ chặt chẽ với những hiện
tượng trong vùng như: xói lở bở biển, bồi tụ
luồng lạch, biến động môi trường, và các hệ
sinh thái đã được thể hiện qua các công trình
nghiện cứu [2-10] Tuy nhiên, vấn đề thay đổi
lưu lượng nước, trầm tích ở vùng ven bờ châu
thổ (sau các trạm quan trắc) chịu tác động mạnh của quá trình lục địa và biển chưa được quan tâm nghiên cứu sâu, đặc biệt là vấn đề thay đổi nguồn lượng trầm tích từ hệ thống sông Hồng đổ ra biển ảnh hưởng tới quan trình trầm tích và các tác động tới tài nguyên và môi trường Nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận
từ nguồn đến bồn (source-to-sink) đánh giá thay đổi nguồn lượng vật liệu trầm tích đổ ra ven bờ châu thổ góp phần làm rõ bản chất quá trình trầm tích ven bờ châu thổ sông Hồng
TÀI LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 3Tài liệu sử dụng cho nghiên cứu này bao
gồm tập hợp các mẫu trầm tích tầng mặt, lỗ
khoan ven bờ châu thổ sông Hồng (VBCTSH)
từ năm 2011 đến năm 2014, do tác giả cùng
đồng nghiệp thực hiện với sự trợ giúp của các
nhà khoa học Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan trong
các nhiệm vụ khoa học khác nhau và đề tài Mã
số VAST.ĐLT.05/14-15 (hình 1) Nghiên cứu
này chủ yếu dựa trên cách tiếp cận S-2-S
(source to sink) [11] Theo cách tiếp cận này,
trầm tích trong các bồn chứa đựng các thông tin
về nguồn cung cấp có liên quan về môi trường (hiện đại, quá khứ) [12, 13] Theo đó, nghiên cứu trầm tích ven bờ châu thổ sông Hồng có thể đánh giá được sự thay đổi nguồn lượng trầm tích của nó đổ ra biển theo thời gian xác định Ngoài áp dụng nghiên cứu điều tra theo Quy phạm điều tra tổng hợp biển (1983) [14]
và một số phương pháp nghiên cứu, phân tích sau:
Hình 1 (A) Sơ đồ lưu vực sông Hồng, (B) Vị trí các lỗ khoan ven bờ châu thổ sông Hồng [Điểm
tròn là hợp tác khảo sát giữa Trường Đại học North Carolina State University, Raleigh,
North Carolina, Mỹ và IMER, điểm tam giác là kết quả hợp tác giữa Phòng thí nghiệm trọng điểm Địa chất biển, đại học Tongji, Trung Quốc với IMER] và khu vực khảo sát đề tài VAST.ĐLT.05/14-15 (C)-Vị trí điểm khảo sát năm 2011
Trang 4Nhiễu xạ tia X (XRD-X-ray diffaction): dựa
trên nghiên lý nhiễu xạ tia X để xác định cấu
trúc tinh thể khoáng vật sét, được thực hiện tại
Phòng thí nghiệm trọng điểm quốc gia về Địa
chất biển, Đại học Tongji, Thượng Hải, Trung
Quốc [15, 16] (hình 2) Hàm lượng khoáng vật
sét được tính toán từ phổ nhiễu xạ tia x tại các
mặt tinh thể (001) của khoáng vật ở điều kiện
ngậm glycolated, ví dụ: smectite (001) bao gồm
cả hỗn hợp illite/smectite tại bước sóng
(15-17Å), illite tại bước sóng (10Å), kaolinite (001)
và chlorite (002) tại bước song 7Å [17], sự cân
đối của kaolinite và chlorite được tính dựa trên
tỉ lệ 3.57/3.54Å bằng phần mền MacDiff [18]
Hình 2 Đồ thị đa phổ nhiễu xạ tia x, khoáng
vật sét được tiến hành phân tích theo 3 điều
kiện khác nhau: (1)-Air-dried-khoáng vật sét ở
điều kiện khô tự nhiên; (2)- Glycolated-khoáng
vật sét ở điều ngậm ethylene-glycol
(3)-Heated-khoáng vật sét được đốt ở nhiệt độ 4900C [24]
Phân tích phóng xạ bằng phổ γ (Analysis
of radionuclides γ -spectrometry) 210Pb và 137Cs
được phân tích bằng tia phổ gama theo tiêu
chuẩn 327 và 375 [19] của cơ quan năng lượng
nguyên tử quốc tế (IAEA) [20, 21]
Tốc độ lắng đọng, tuổi trầm tích được xác
định theo 137
Cs và các mốc hàm lượng cực đại
vào khoảng năm 1963 và 1968 [20, 22] Tuổi
trầm tích được tính từ kết quả phân tích 137Cs
và lấy năm 1950 là thời gian đầu tiên xuất hiện
137
Cs trên vùng biển [20, 21] Đối với 137Cs: tốc
độ lắng đọng trầm tích được ký hiệu là (SCs-137)
và được tính bằng công thức:
) 1950 ( 0
137= −
−
T
Z
S Cs p (1)
Với Zp là kết quả quan sát sự xâm nhập theo độ sâu của 137Cs, T0 là thời điểm thu mẫu
Tính tốc độ lắng đọng, tuổi trầm tích theo
210
Pb được tính toán dựa trên mô hình CIC (Constant Initial Concentration: CIC) [22, 23]
) ) (
) 0 ( ln(
1
x A
A t
λ
= (2)
Trong đó: A(0) là 210Pbdư giữa bề mặt trầm tích và nước, A(x) là lượng 210Pbdư ở độ sâu (x), λ là hằng số phóng xạ của 210Pb (0.03114y-1), t là thời gian lắng đọng trầm tích (năm)
Biểu đồ tam giác biểu diễn phân bố, nguồn
gốc các thành phần vật chất áp dụng để góp phần xác định nguồn gốc trầm tích VBCTSH (hình 3)
Hình 3 Biểu đồ tam giác biểu diễn nguồn gốc
và xu hướng vận chuyển trầm tích đến ven bờ châu thổ sông Hồng (dữ liệu khoáng vật sét trên lưu vực tham khảo từ nguồn khác [15])
KẾT QUẢ Tốc độ lắng đọng, tuổi trầm tích VBCTSH
Tốc độ lắng đọng trầm tích VBCTSH
Kết quả phân tích tốc độ lắng đọng trầm tích từ 210Pb và 137Cs có giá trị tương đối trùng nhau, sự khác biệt đôi chút về 2 giá trị này đã được thảo luận trong một số nghiên cứu của
Trang 5[20, 21] Tốc độ lắng đọng trầm tích tại 4 vị trí
(HP04, HP06) và (HP08, HP10) thể hiện giảm
dần từ trung tâm ra rìa châu thổ (bảng 1)
Bảng 1 Tốc độ lắng đọng trầm tích VBCTSH
TT
Lõi tr ầ m tích
Độ sâu so v ớ i 0m h ả i đồ
(m)
Độ sâu lõi
tr ầ m tích (cm)
T ố c độ l ắ ng đọ ng
tr ầ m tích tính t ừ 210
Pb (cm/n ă m)
T ố c độ l ắ ng đọ ng
tr ầ m tích tính t ừ 137
Cs (cm/n ă m)
Tuổi lớp trầm tích VBCTSH theo lõi trầm tích
Tuổi trầm tích được tính cho các cột khoan
HP04, HP06 trung tâm châu thổ; HP08, HP10
rìa bắc châu thổ và HP16, HP21 thuộc vịnh Hạ Long Kết quả cho thấy, lớp trầm tích có độ tuổi từ vài chục năm đến trên 100 năm đến theo từng vị trí cột khoan (hình 4)
Hình 4 Sơ đồ biểu diễn: tốc độ lắng đọng, tuổi, biến đổi nguồn lượng trầm tích hệ thống sông
Hồng trong vòng 100 năm qua
Hàm lượng khoáng vật sét trong các lớp
trầm tích
Hàm lượng khoáng vật sét trong các lớp
trầm tích: theo chiều sâu mẫu lõi trầm tích
trong vòng 100 qua, hàm lượng kaolinite,
chlorite tương đối ổn định, trong khoảng 25%
và 17% Ngược lại, hàm lượng illite, smecitite
biến đổi theo không gian và độ sâu lớp trầm
tích (bảng 2)
Hàm lượng khoáng vật sét tầng mặt: theo
không gian, ở phía bắc châu thổ (vịnh Hạ Long) và đới có độ sâu trên 20 m, hàm lượng smectite chiếm ưu thế Nhưng tại trung tâm vùng cửa sông Hồng, hàm lượng illite chiếm ưu thế trong tập hợp khoáng vật sét Ngoài ra, illite chiếm ưu thế trong khoáng vật sét ở những vùng có độ sâu chưa đến 20 m nước (bảng 3)
Trang 6Bảng 2 Hàm lượng khoáng vật sét trong các lớp trầm tích
Lõi tr ầ m
tích
Illite (%) Smectite (%) Kaolinite (%) Chlorite (%)
Thay đổ i Trung bình Thay đổ i Trung bình Thay đổ i Trung bình Thay đổ i Trung bình
HP04 49-58 56 4-9 5 17-23 18 18-22 20
Bảng 3 Hàm lượng khoáng vật sét trong trầm tích tầng mặt
Vùng S ố m ẫ u (n) Sm (%) Ill (%) Chl (%) Ka (%)
Ti ể u vùng (I) phía b ắ c châu th ổ sông H ồ ng (V ị nh H ạ
Ti ể u vùng (II) sâu trên 20 m t ạ i trung tâm c ử a sông (B ạ ch
Ti ể u vùng (III) độ sâu nh ỏ h ơ n 20m t ạ i b ắ c trung tâm c ử a
Ti ể u vùng (IV) có độ sâu l ớ n h ơ n 20m t ạ i trung tâm châu
Ti ể u vùng (VII) sâu ch ư a đế n 20m t ạ i vùng trung tâm phía
Ti ể u vùng (VIII) sâu trên 20m t ạ i phía nam châu th ổ sông
Ti ể u vùng (IX) độ sâu ch ư a đế n 20m, t ạ i phía nam châu
THẢO LUẬN
Nguồn gốc, cơ chế vận chuyển trầm tích
VBCTSH
Những ứng dụng của khoáng vật sét xác định nguồn gốc, cơ chế vận chuyển trầm tích biển đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu [25]
Hình 5 Dòng chảy dư trong Vịnh Bắc Bộ mùa khô (tháng 2) và mùa mưa (tháng 8) [24]
Trang 7Theo kết quả nghiên cứu, hàm lượng illite
ven bờ châu thổ sông Hồng, phù hợp với
nghiên cứu trước đây cho rằng hàm lượng
khoáng vật sét trên lưu vực sông Hồng illite (31
- 37%) chiếm ưu thế, đến kaolinite (17 - 38%)
và chlorite (6 - 29%), thấp nhất là smectite (1 -
14%) trung bình là 6% [15] Hàm lượng illite
lại giảm xuống khi ra đến đến độ sâu trên 20
-30 m nước và phía Bắc (vịnh Hạ Long) Ngược
lại hàm lượng smectite tăng dần về phía Bắc
(vịnh Hạ Long) và ra ngoài độ sâu 20 - 30 m
ven bờ châu thổ Cũng theo kết quả nghiên cứu,
tại phía bắc châu thổ - vịnh Hạ Long và ngoài
độ sâu 20 - 30 m nước ven bờ châu thổ sông
Hồng thì hàm lượng smectite lại có hàm
lương cao
Phân bố và tập hợp khoáng vật sét trong
các bồn trầm tích phản ánh nguồn cung cấp
[26] Với kết quả phân bố hàm lượng các
khoáng vật sét như trên có thể thấy rằng, ở ven
bờ châu thổ sông Hồng, illite, cholorite và
kaonilite chủ yếu từ lưu vực sông Hồng và vận
chuyển theo dòng chảy sông Ngược lại,
smectite chủ yếu nhận được từ phía bắc (vịnh
Hạ Long, hoặc Bắc vịnh Bắc Bộ) (hình 3) và
được vận chuyển về phía Nam quanh năm theo
dòng chảy xuống phía Nam [24] (hình 5)
Sự thay đổi nguồn lượng trầm tích từ hệ
thống sông Hồng trong vòng 100 năm qua
Kết hợp tuổi trầm tích với hàm lượng iliite,
semectite và tỉ lệ smectite/(illite+chlorite) được
dùng làm chỉ thị cho biến đổi nguồn lượng trầm
tích Trong vòng 100 năm qua, trên cơ sở hàm
lượng iliite, semectite và tỉ lệ
smectite/(illite+chlorite) biến đổi, có thể thấy 4 khoảng thời gian phân biệt về biến đổi nguồn lượng trầm tích:
Khoảng I (1910 - 1930; 20 năm), hàm
lượng illite tăng nhanh, ngược lại hàm lượng
smectite/(illite+chlorite) giảm nhanh, biểu thị
sự tăng nhanh của nguồn lượng trầm tích
Khoảng II (1930-1960; 30 năm) hàm
lượng illite tăng trung bình, hàm lượng smectite
và tỷ lệ smectite/(illite+chlorite) giảm trung bình, biểu hiện nguồn lượng trầm tích tăng trung bình nhưng nhỏ hơn khoảng I
Khoảng III (1960-1990; 30 năm), hàm
lượng illite tăng rất chậm, và có xu thế giảm, còn hàm lượng smectite và tỉ lệ smectite/(illite+chlorite) giảm nhẹ và có xu thế tăng Kết quả biểu thị nguồn lượng trầm tích tăng nhẹ ở gian đoạn đầu sau đó giảm xuống
Khoảng IV (1990-2011 khoảng 20 năm)
hàm lượng illite giảm, hàm lượng smectite và tỉ
số smectite/(illite+chlorite) có xu thế tăng cho thấy nguồn lượng trầm tích sông Hồng
Theo các số quan trắc và nghiên cứu trước đây, bắt đầu từ những năm 1950s, 1960s đến nay (tương ứng với khoảng thời gian III và IV của nghiên cứu này) cho thấy, lượng trầm tích của hệ thống sông Hồng đề giảm đi và giao động từ giá trị 52 đến 160 triệu tấn/năm (bảng 4) Hầu hết các kết quả đều cho rằng hàm lượng trầm tích đã giảm từ năm 1989 khi mà đập Hòa Bình đi vào hoạt động [2, 4]
Bảng 4 Lượng trầm tích (triệu tấn /năm) vận chuyển bởi hệ thống sông
Tác gi ả T ổ ng l ượ ng tr ầ m tích, tri ệ u t ấ n Ghi chú
Lisitzin, 1972; Holman, 1968; Milliman and
Meade, 1983; Milliman and Syvitski, 1992
[28-30]
Tuy nhiên, nghiên cứu, quan trắc nguồn
lượng trầm tích của hệ thống sông Hồng (HTSH)
trước những năm 1950s, 1960s rất hạn chế Kết
quả nghiên cứu này cho phép đưa ra đánh giá về thay đổi nguồn lượng trầm tích trong khoảng thời gian từ năm 1960 trở về năm 1910 của HTSH
Trang 8Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn lượng
vật liệu trầm tích từ hệ thống sông Hồng đều
giảm theo thời gian khác trùng khớp với các kết
quả nghiên cứu khác, đặc biệt là trong khoảng
những năm 1950s, 1960s trở lại đây và tác
động của đập thủy điện Hòa Bình
Trong khoảng thời gian từ năm 1960 trở về
trước (đến năm 1910) với kết quả nghiên cứu
trên có thể thấy:
Từ 1910-1930 vật liệu trầm tích chuyển ra
nhiều nhất trong khoảng 100 năm qua, ít chịu
tác động của các hoạt động nhân sinh Từ 1930
- 1960, nguồn vật liệu trầm tích của hệ thống
sông Hồng bắt đầu giảm, có thể do tác động
của con người trên lưu vực tăng lên (ví dụ, năm
1936, người Pháp đào sông Mới, đã chuyển
phần lớn trầm tích từ sông Thái Bình sang sông
Văn Úc - châu thổ hóa vùng của sông Văn Úc)
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu có thể phác
họa nên sự biến đổi nguồn lượng trầm tích của
hệ thống sông Hồng trên hình 4
KẾT LUẬN
Các kết quả nghiên cứu về tuổi trầm tích và
phân bố, hàm lượng các khoáng vật illite,
smectite và tỉ số smectite/(illite+chlorite) cho
thấy sự thay đổi nguồn lượng lượng trầm tích
trong vòng 100 năm qua như sau: từ năm
1910-1930, nguồn lượng trầm tích tăng nhanh; từ
năm 1930-1960, nguồn lượng trầm tích tăng
trung bình; từ năm 1960-1990, nguồn lượng
trầm tích tăng ít và có xu thế giảm; và từ
1990-2011, nguồn lượng trầm tích có xu thế giảm đi
ngược lại so với 3 khoảng thời gian trước Các
kết quả nghiên cứu khá phù hợp với các kết quả
nghiên cứu trước đây trong các giai đoạn 1950
đến những năm 2000
Kết quả nghiên góp phần cung cấp thêm dữ
liệu về biến đổi nguồn lượng trầm tích của hệ
thống sông Hồng trong vòng 100 năm qua, nhất
là trước những năm 1950s, 1960s khi mà số
liệu quan trắc còn hạn chế Tuy nhiên, nghiên
cứu vẫn cần tiếp tục ở mức độ sâu hơn, chi tết
hơn với cách tiếp cận, phương pháp, kỹ thuật
hiện đại để đạt được kết quả tốt hơn góp phần
làm sáng tỏ sự thay đổi nguồn lượng vật liệu
trầm tích của hệ thống sông Hồng trong thời
gian 100 năm
Lời cảm ơn: Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn
PGS TS Paul Liu, Trường Đại học North Carolina State University, Raleigh, North Carolina, United State of American; GS Chen-Feng You, Phòng thí nghiệm Địa hóa phóng xạ, Trung tâm nghiên cứu hệ thống động lực Trái đất, Đại hoc quốc gia Cheng Kung, Taiwan;
TS Hoàng Văn Long, Đại học Mỏ Địa chất, Hà Nội đã cùng thảo luận về đồng vị phóng xạ, tuổi, tốc độ lắng đọng trầm tích Nghiên cứu này là một phần kết quả đề tài Hỗ trợ cán
bộ khoa học trẻ của Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam “Nghiên cứu
sự thay đổi nguồn lượng vật liệu trầm tích
từ hệ thống sông Hồng và tác động của chúng đối với khu vực ven bờ châu thổ sông Hồng trong vòng 100 năm qua” Mã
số VAST.ĐLT.05/14-15
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Milliman, J D., & Farnsworth, K L., 2011
River discharge to the coastal ocean: a global synthesis Cambridge University Press 384 p
2 Nguyễn Đức Cự, Nguyễn Đăc Vệ, 2011
Tác động của hồ chứa thượng nguồn đến bồi tụ và xói lở các vùng cửa sông ven bờ Bắc Bộ Hội nghị Khoa học và Công nghệ biển toàn quốc lần thứ V Nxb Khoa học
Tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội
3 Duc, D M., Nhuan, M T., Ngoi, C V.,
Nghi, T., Tien, D M., Van Weering, T C.,
& Van Den Bergh, G D., 2007 Sediment
distribution and transport at the nearshore zone of the Red River delta, Northern Vietnam Journal of Asian Earth Sciences,
29(4): 558-565
4 Wang, H., Saito, Y., Zhang, Y., Bi, N., Sun,
X., & Yang, Z., 2011 Recent changes of
sediment flux to the western Pacific Ocean from major rivers in East and Southeast
Asia Earth-Science Reviews, 108(1):
80-100
5 Dang, T H., Coynel, A., Orange, D., Blanc,
G., Etcheber, H., & Le, L A., 2010
Long-term monitoring (1960-2008) of the river-sediment transport in the Red River Watershed (Vietnam): temporal variability and dam-reservoir impact Science of the
total environment, 408(20): 4654-4664
Trang 96 Nguyễn Viết Phổ, và nnk, 2003 Tài nguyên
nước Việt Nam Viện Khí tượng Thủy văn
Nxb Nông nghiệp
7 Thanh, T D., Lan, T D., & Huy, D V.,
1997 Natural and Human Impact on the
coastal development of the Red River
Delta In Proc LOICZ Open Science
Meeting, Hanoi p 224-229
8 Thanh, T D., Saito, Y., Dinh, V H.,
Nguyen, H C., Do, D C., 2005 Coastal
erosion in Red River Delta: current status
and response In Z.Y Chen, Y Saito, S.L
Goodbred, Jr eds., Mega-Deltas of Asia:
Geological evolution and human impact,
China Ocean Press, Beijing, p 98-106
9 Trần Đức Thạnh, Vũ Duy Vĩnh, Yoshiki
Saito, Đỗ Đình Chiến, Trần Anh Tú, 2008
Bước đầu đánh giá ảnh hưởng của đập Hòa
Bình đến môi trường trầm tích ven bờ châu
thổ sông Hồng Tạp chí Khoa học và Công
nghệ biển, 8(3): 1-17
10 Vu Duy Vinh, Tran Duc Thanh, Do Trong
Binh, Yoshiki Saito, 2009 Coastal accretion
and erosion in the Red River Delta and the
influence of monsoon Journal of Marine
Science and Technology, 9(1
Supplement): 108-124
11 Philip, A Allen, 2008 From landscapes
into geological history Nature Vol 451.17
January 2008 doi:10.1038/nature06586
12 Gibbs, R J., 1977 Clay mineral
segregation in the marine environment J
Sediment Petrol 47, 237-243
13 Médard Thiry, 2000 Palaeoclimatic
interpretation of clay minerals in marine
deposits: an outlook from the continental
origin Earth-Science Reviews, 49, 201-22
14 Quy phạm điều tra tổng hợp biển, 1983 Ủy
Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước xét
duyệt và ban hành theo Quyết định ban
hành số 292 QĐ ngày 21-10-1981 131 tr
15 Liu, Z., Colin, C., Huang, W., Le, K P.,
Tong, S., Chen, Z., & Trentesaux, A., 2007
Climatic and tectonic controls on
weathering in south China and Indochina
Peninsula: Clay mineralogical and
geochemical investigations from the Pearl,
Red, and Mekong drainage basins Geochemistry, Geophysics, Geosystems,
8(5), doi: 10.1029/2006GC001490
16 Liu, Z., Colin, C., Li, X., Zhao, Y., Tuo, S.,
Chen, Z., & Huang, K F., 2010 Clay
mineral distribution in surface sediments of the northeastern South China Sea and surrounding fluvial drainage basins: Source
and transport Marine Geology, 277(1):
48-60
17 Holtzapffel T., Les Minéraux Argileux,
Diffractométrique et Determination Soc Géol Nord Publ 12, 1985; 1-136
18 Petschick R 2000 MacDiff 4.2.2 Available:
http://servermac.geologie.unfrankfurt de/Rainer.html, 2000
19 Strachnov, V., Larosa, J., Dekner, R.,
Zeisler, R., Fajgelj, A., 1996 Report on the
Intercomparison run IAEA-375: radionuclides in soil IAEA/AL/075, IAEA, Vienna, Austria
20 Huh, C A., Chen, W., Hsu, F H., Su, C C.,
Chiu, J K., Lin, S., & Huang, B J.,
2011 Modern (< 100 years) sedimentation
in the Taiwan Strait: rates and source-to-sink pathways elucidated from radionuclides and particle size distribution
Continental Shelf Research, 31(1): 47-63
21 Huh, C A., Lin, H L., Lin, S., & Huang, Y
W., 2009 Modern accumulation rates and a
budget of sediment off the Gaoping (Kaoping) River, SW Taiwan: A tidal and flood dominated depositional environment around a submarine canyon Journal of
Marine Systems, 76(4): 405-416
22 Goldberg, E D., 1963 Geochronology
with lead-210 In Radioactive Dating [M]
p 121-131 IAEA, Vienna
23 Appleby, P G., & Oldfield, F., 1978 The
calculation of lead-210 dates assuming a constant rate of supply of unsupported 210Pb
to the sediment Catena, 5(1): 1-8
24 Bui Van Vuong, 2013 Modern Sedimentation at the Nearshore Zone of Red River Delta (Vietnam): Source,
Trang 10Transport and Accumulation Rate Mcs
Thesis, 89 p Tongji University, Shanghai,
China
25 Gingele, F.X., Müller, P.M., Schneider,
R.R., 1998 Orbital forcing of freshwater
input in the Zaire Fan area-clay mineral
evidence from the last 200 kyr
Palaeogeogr Palaeoclimatol Palaeoecol
138, 17-26
26 Chen, P Y., 1978 Minerals in bottom
sediments of the South China Sea
Geological Society of America Bulletin,
89(2): 211-222
27 Vietnam National Atlas, 1996
28 Milliman, J D., & Syvitski, J P., 1992
Geomorphic/tectonic control of sediment
discharge to the ocean: the importance of
small mountainous rivers The Journal of Geology, 100, 525-544
29 Lisitzin, A.P, 1972 Sedimentation in the
world ocean: Soc Econ Paleont Mineral
Spec Pub 17, 218 p
30 Holeman, J N., 1968 Sediment yield of
major rivers of the world Water Resources Research, 4, 737-747
31 Meybeck, M., Chapman , D and Helmer, R,
1989 Global freshwater quality: a first
assessment Cambridge, MA, WHO/United Nations Environment Programme Basil
Blackwell, Inc
32 Lugwig, W., Probst, J L., and Kempe, S.,
1996 Predicting the ocenanic input of
organic carbon by continental erosion Global
Biogeochemical Cycles, 10(1): 23-41
VARIATION IN RECENT SEDIMENTARY DISCHARGE OF RED
RIVER SYSTEM: APPROACH TO STUDYING CLAY MINERAL
Bui Van Vuong 1 , Zhifei Liu 2 , Tran Duc Thanh 1 ,
Vu Duy Vinh 1 , Chih-An Huh 3 , Nguyen Dac Ve 1
1
Institute of Marine Environment and Resources-VAST
2
State Key Laboratory of Marine Geology, Tongji University, Shanghai, China
3
Institute of Earth Sciences, Academia Sinica, Taipei, Taiwan
ABSTRACT: Variation in recent sedimentary discharge of Red River System were analyzed by
some indicators such as composition of clay mineral, clay mineral contents, datings and
sedimentation rate in sub-aqueous area of Red River Delta (RRD) Results indicated that recent
sediment discharge of Red River System into sub-aqueous area has varied during the past 100
years, and discharge of Red River System could be divided into four intervals:
Interval I (1910-1930), it increased rapidly;
Interval II (1930-1960), it increased moderately;
Interval III (1960-1990), it rarely increased and had a trend of decrease;
Reversely, interval IV (1990 until now), it has been decreasing
Results not only indicate the variations in sediment discharge of the Red River but also Imply
the impacts of human activities on the Red River basin in the past 100 years, especially in the last
20 years (since 1990, Hoa Binh reservoir has operated)
Keywords: Sub-aqueous area of Red River Delta, sediment discharge, sedimentation rates,
sedimentary datings, clay mineralogy, X- ray diffraction, radionuclides γ –spectrometry.