Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có vai trò quan trọng đối với mọi hoạt động của con người. Trong hoạt động học tập, hứng thú thôi thúc người học nắm bắt tri thức một cách nhanh hơn, sâu sắc hơn, luôn say mê tìm tòi nghiên cứu. Nhờ đó mà kết quả học tập ngày càng được nâng cao.Tạo hứng thú cho học sinh học môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở nói chung, Ngữ văn lớp 8 nói riêng, đặc biệt các văn bản nghị luận là rất cần thiết. Bởi vì: văn bản nghị luận là loại văn bản trực tiếp nói lí lẽ, được viết ra nhằm phát biểu một nhận định, tư tưởng, quan điểm, thái độ trước một vấn đề đặt ra trong cuộc sống, qua đó xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó; những văn bản được học rất phong phú về đề tài và đa dạng về thể loại: Có văn bản nói về những vấn đề lớn lao của dân tộc, thời đại như tinh thần, ý chí của cha ông trong công cuộc chống ngoại xâm giữ nước (Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo); có văn bản phản ánh khát vọng của dân tộc về việc xây dựng một quốc gia hùng cường độc lập (Chiếu dời đô); lại có những văn bản bàn luận về các vấn đề hết sức gần gũi trong đời sống hằng ngày (Bàn luận về phép học, Đi bộ ngao du) và có văn bản nhằm vạch trần bộ mặt kẻ thù, nói lên nỗi khổ nhục của những người dân bị áp bức (Thuế máu); những văn bản này thuyết phục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ.Dạy học văn bản nghị luận có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện cho học sinh tư duy lô gíc; kĩ năng lập luận sắc bén, năng lực biểu đạt những quan niệm, tư tưởng một cách sâu sắc và bản lĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sống. Mà mục tiêu giáo dục xã hội hiện nay cũng đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đối với con người hiện đại là sự mạch lạc trong tư duy, năng lực phân tích tổng hợp khám phá các vấn đề, năng lực thuyết phục trên cơ sở lí lẽ chặt chẽ có căn cứ xác thực. Học tốt văn bản nghị luận là góp phần thực hiện thành công mục tiêu trọng tâm này. Để học sinh nắm vững kiến thức của các văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 8, giáo viên dạy cần phải có phương pháp, cách thức dạy phù hợp còn học sinh cần phải có hứng thú, có khả năng tư duy trừu tượng tốt. Tuy nhiên, hiện tại chưa có các tài liệu nghiên cứu bàn sâu vào vấn đề này, học sinh phần lớn chưa thực sự say mê, yêu thích học, chưa thực sự thấy hứng thú trong những tiết đọc hiểu văn bản nghị luận.Vậy làm thế nào để các em tiếp thu kiến thức môn Ngữ văn lớp 8 nói chung, văn bản nghị luận nói riêng một cách nhẹ nhàng, hứng khởi, nâng cao được chất lượng của môn học? Điều đó luôn làm bản thân tôi trăn trở. Vì vậy, trong quá trình giảng dạy tôi đã nghiên cứu, tìm tòi áp dụng các phương pháp để nâng cao chất lượng của môn dạy. Trong đó tôi chú ý phương pháp “Tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8 qua dạy phần Đọc – hiểu”.
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THỌ XUÂN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TẠO HỨNG THÚ HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN CHO HỌC SINH LỚP 8 QUA DẠY PHẦN ĐỌC - HIỂU
Trang 2A ĐẶT VẤN ĐỀ
Các nhà tâm lí học nghiên cứu và chỉ ra rằng hứng thú có vai trò quantrọng đối với mọi hoạt động của con người Trong hoạt động học tập, hứng thúthôi thúc người học nắm bắt tri thức một cách nhanh hơn, sâu sắc hơn, luôn say
mê tìm tòi nghiên cứu Nhờ đó mà kết quả học tập ngày càng được nâng cao
Tạo hứng thú cho học sinh học môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở nóichung, Ngữ văn lớp 8 nói riêng, đặc biệt các văn bản nghị luận là rất cần thiết.Bởi vì: văn bản nghị luận là loại văn bản trực tiếp nói lí lẽ, được viết ra nhằmphát biểu một nhận định, tư tưởng, quan điểm, thái độ trước một vấn đề đặt ratrong cuộc sống, qua đó xác lập cho người đọc, người nghe một tư tưởng, quanđiểm nào đó; những văn bản được học rất phong phú về đề tài và đa dạng về thểloại: Có văn bản nói về những vấn đề lớn lao của dân tộc, thời đại như tinh thần,
ý chí của cha ông trong công cuộc chống ngoại xâm giữ nước (Hịch tướng sĩ,Bình Ngô đại cáo); có văn bản phản ánh khát vọng của dân tộc về việc xây dựngmột quốc gia hùng cường độc lập (Chiếu dời đô); lại có những văn bản bàn luận
về các vấn đề hết sức gần gũi trong đời sống hằng ngày (Bàn luận về phép học,
Đi bộ ngao du) và có văn bản nhằm vạch trần bộ mặt kẻ thù, nói lên nỗi khổnhục của những người dân bị áp bức (Thuế máu); những văn bản này thuyếtphục người đọc chủ yếu bằng lập luận, lí lẽ
Dạy học văn bản nghị luận có tác dụng rất lớn trong việc rèn luyện chohọc sinh tư duy lô gíc; kĩ năng lập luận sắc bén, năng lực biểu đạt những quanniệm, tư tưởng một cách sâu sắc và bản lĩnh, tinh thần tự chủ trước đời sống Màmục tiêu giáo dục xã hội hiện nay cũng đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết đốivới con người hiện đại là sự mạch lạc trong tư duy, năng lực phân tích tổng hợpkhám phá các vấn đề, năng lực thuyết phục trên cơ sở lí lẽ chặt chẽ có căn cứxác thực Học tốt văn bản nghị luận là góp phần thực hiện thành công mục tiêutrọng tâm này
Để học sinh nắm vững kiến thức của các văn bản nghị luận trong chươngtrình Ngữ văn lớp 8, giáo viên dạy cần phải có phương pháp, cách thức dạy phùhợp còn học sinh cần phải có hứng thú, có khả năng tư duy trừu tượng tốt Tuynhiên, hiện tại chưa có các tài liệu nghiên cứu bàn sâu vào vấn đề này, học sinhphần lớn chưa thực sự say mê, yêu thích học, chưa thực sự thấy hứng thú trongnhững tiết đọc -hiểu văn bản nghị luận
Vậy làm thế nào để các em tiếp thu kiến thức môn Ngữ văn lớp 8 nóichung, văn bản nghị luận nói riêng một cách nhẹ nhàng, hứng khởi, nâng caođược chất lượng của môn học? Điều đó luôn làm bản thân tôi trăn trở Vì vậy,trong quá trình giảng dạy tôi đã nghiên cứu, tìm tòi áp dụng các phương pháp để
Trang 3nâng cao chất lượng của môn dạy Trong đó tôi chú ý phương pháp “Tạo hứng thú học văn bản nghị luận cho học sinh lớp 8 qua dạy phần Đọc – hiểu”.
B GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Cơ sở lí luận:
Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009, Điều 24.2, đã ghi: "Phương pháp giáo
dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của họcsinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp
tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tìnhcảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó, nó có ýnghĩa đối với cuộc sống và có khả năng mang lại khoái cảm trong quá trình hoạtđộng Hứng thú học tập là thái độ lựa chọn đặc biệt của chủ thể đối với đốitượng của hoạt động học tập, vì sự cuốn hút về mặt tình cảm và ý nghĩa thiếtthực của nó trong quá trình nhận thức và trong đời sống của cá nhân
Khi học sinh có hứng thú thì trong giờ học biểu hiện ở sự say mê, chămchú nghe giảng; ghi chép bài đầy đủ, cẩn thận; tích cực suy nghĩ, hăng hái phátbiểu xây dựng bài, hay nêu thắc mắc với giáo viên; tích cực làm việc cùng nhóm
để hoàn thành nhiệm vụ Ở ngoài lớp và về nhà, các em tự giác học bài và làmbài đầy đủ; tự sưu tầm, đọc thêm nhiều tài liệu, sách báo có liên quan đến mônhọc
Văn bản nghị luận là kiểu văn bản được viết ra nhằm xác lập cho ngườiđọc, người nghe một tư tưởng, quan điểm nào đó Muốn thế, văn nghị luận phải
có luận điểm rõ ràng, có lí lẽ, dẫn chứng thuyết phục Những tư tưởng, quanđiểm trong bài văn nghị luận phải hướng tới giải quyết những vấn đề đặt ra
trong đời sống thì mới có ý nghĩa (Theo SGK Ngữ văn 7- Tập II )
Văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 8, đa số là những tácphẩm có lịch sử lâu đời, nó không chỉ có ý nghĩa đối với những vấn đề lớn laocủa đất nước, thời đại như công cuộc dựng nước, giữ nước, canh tân đất nước,
mà còn rất gần gũi và có ý nghĩa trong đời sống con người hiện nay Vì vậy, vănbản nghị luận được tuyển chọn dạy trong chương trình Ngữ văn 8 rất phong phú
về đề tài và đa dạng về thể loại như chiếu, hịch, cáo, tấu Giáo viên dạy nhữngtác phẩm nghị luận đó như thế nào trong những giờ đọc – hiểu để trả lại vẻ hấpdẫn thẩm mỹ đích thực của chúng?
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về đọc – hiểu văn bản, song đọc – hiểuđược dùng trong sách giáo khoa Ngữ văn mới bao gồm toàn bộ hoạt động cảmthụ, phân tích và tiếp nhận văn bản Đọc – hiểu ở đây không chỉ là đọc và thông
Trang 4hiểu nội dung của văn bản mà còn bao gồm đọc, phát hiện, tưởng tượng, liêntưởng, cắt nghĩa, lí giải, phân tích, đánh giá, khái quát Đọc – hiểu nhấn mạnhđến vai trò chủ động, sáng tạo của người học.
Tất cả những kiến thức lí thuyết trên là cơ sở để tôi thực hiện đề tài sángkiến kinh nghiệm này Bên cạnh đó, tôi cũng khảo sát thực trạng đọc – hiểu vănbản nghị luận lớp 8 ở đơn vị trường để có giải pháp thực hiện hợp lí, hiệu quả
2 Thực trạng của vấn đề:
Đơn vị trường tôi đang trực tiếp giảng dạy thuộc xã xa trung tâm, điềukiện kinh tế còn nhiều khó khăn nên ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giáodục
Chương trình Ngữ văn lớp 8 được học 6 văn bản nghị luận, trong đó có 4văn bản trung đại được thể hiện bằng những thể văn cổ: chiếu, hịch, tấu, cáo;một văn bản hiện đại Việt Nam và một văn bản nước ngoài Mỗi thể loại cónhững cách diễn đạt, ngôn ngữ, tính chất nghị luận mang những sắc thái đặc thùriêng Những văn bản nghị luận trung đại có nhiều từ ngữ cổ, nhiều hình ảnhgiàu tính ước lệ, câu văn biền ngẫu sóng đôi nhịp nhàng, dùng nhiều điển tích,điển cố Với đối tượng là học sinh lớp 8 đây là kiến thức vừa mới lại vừa khónên khó khăn trong việc tổ chức cho học sinh tiếp nhận và cảm thụ một cách sâusắc giá trị nội dung và nghệ thuật của các văn bản đó
Về phía giáo viên, trong thực tế giảng dạy, qua thăm dò ý kiến, dự giờ củađồng nghiệp cho thấy giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận đôi khi được tiến hànhnhư một giờ lí thuyết Tập làm văn về văn nghị luận Điều này khiến cho việcđọc – hiểu văn bản nghị luận vốn đã nặng nề, kém hứng thú lại càng nặng nề,khô khan hơn đối với học sinh
Hình thức hoạt động nhóm đang được giáo viên từng bước áp dụng, tuynhiên việc tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm đôi khi còn máy móc, tuỳ tiện,lệch lạc, nhiều giờ học ồn ào, lộn xôn; nội dung thảo luận nhóm không phù hợpvới khả năng của học sinh; giờ văn rời rạc, vỡ vụn cảm xúc
Đối với học sinh, tình trạng các em chưa chăm chú nghe thầy cô giảngdạy, chưa tích cực suy nghĩ, phát biểu xây dựng bài, có làm bài tập nhưng còn
sơ sài đối phó, còn ngại đọc sách, đọc tài liệu, không say mê với việc tìm hiểunhững vấn đề thuộc lĩnh vực trừu tượng, khó hiểu của văn bản nghị luận cònnhiều Phong trào học tập, thời gian cũng như sự quan tâm của phụ huynh cònhạn chế Học sinh chưa có điều kiện giao lưu học hỏi kiến thức của các bạntrong địa phương cũng như các xã bạn nên ảnh hưởng không nhỏ đến sự cậpnhật, mở rộng, nâng cao tầm nhận thức, hiểu biết, đặc biệt là khả năng tư duy ởcác em
Ở lớp 7, các em đã được học 4 văn bản nghị luận hiện đại, còn lại chủ yếu
Trang 5là học các văn bản tự sự, trữ tình Tuy đã được học nhưng do thực trạng dạy vàhọc của học sinh như đã nói ở trên nên thói quen của các em vẫn chỉ là tư duyhình ảnh theo phản ánh một chiều đối với hiện thực khách quan Vì vậy mà tưduy lập luận lôgic của các em chưa được định hình, trong khi đó văn bản nghịluận đòi hỏi yêu cầu cao hơn về tính khoa học, tính lôgic, tính biện chứng Đây
là khó khăn lớn nhất từ phía học sinh khi học văn bản này Bởi vậy, sự tiếp nhậnkiến thức mới về văn bản nghị luận đối với các em là rất khó, ảnh hưởng rấtnhiều đến sự lắng đọng kiến thức mà giáo viên muốn truyền thụ đến các em, đặcbiệt là ảnh hưởng đến tâm lí ngại và sợ học văn bản nghị luận
Từ thực trạng trên, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến học sinh vềquan điểm, hứng thú đối với việc học các văn bản nghị luận ở lớp 8A, 8C củatrường năm học 2011 – 2012 Phiếu trắc nghiệm đối với số học sinh là: 65 em.Nội dung thăm dò:
Trong sáu kiểu văn bản các em đã được học: miêu tả, tự sự, biểu cảm,nghị luận, thuyết minh, hành chính – công vụ Em thích, không thích học nhữngkiểu văn bản nào? Đánh dấu (x) vào các cột tương ứng trong bảng sau:
Kiểu văn bản Thích học Có giờ thích học, có
giờ không thích học
Khôngthích họcMiêu tả
học, có giờkhông thích học
Khôngthích học
Trang 6Nhìn vào bảng kết quả trên, so với các kiểu văn bản khác, văn bản nghịluận có tỉ lệ học sinh thích học thấp nhất, không thích học chiếm tỉ lệ cao
Từ mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với kiểu văn bản nghị luận,tôi tiến hành khảo sát chất lượng học tập của các em Đề khảo sát tôi đưa ra nhưsau:
Em nắm được những nội dung và đặc điểm nghệ thuật gì của các văn bản nghị luận trong chương trình Ngữ văn lớp 8?
2014 Kết qủa rất khả quan, nhất là ở năm học 2013 - 2014
3 Giải pháp và tổ chức thực hiện:
Để tạo nên sự hứng thú cho học sinh học văn bản nghị luận, ngoài nhữnggiải pháp cơ bản, đặc thù của môn dạy, bản thân tôi đã nghiên cứu, áp dụng một
số giải pháp sau:
- Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm
- Hướng dẫn học sinh đọc tốt văn bản nghị luận
- Giảng bình trong giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận
- Liên hệ với thực tế
- Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản
- Kiểm tra, đánh giá trong dạy học đọc – hiểu văn bản nghị luận
Với mỗi giải pháp đã nêu, tôi đã xác định rõ cơ sở lí luận và thực tiễn củamỗi giải pháp, từ đó, căn cứ vào mục tiêu của bài học để đưa ra các biện pháp tổchức dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh của từng lớp, từng văn bản
3.1 Tái hiện không khí lịch sử, thời đại, tình huống tạo nên tác phẩm
Mỗi văn bản nghị luận thường được ra đời trong những tình huống, hoàncảnh khá đặc biệt Những chi tiết xúc động về tác giả, những câu chuyện lịch sửthú vị liên quan đến tác phẩm và sự ra đời của tác phẩm thường rất dễ gây được
sự tò mò, hứng thú của học sinh Vì vậy, để tạo tâm thế cho học sinh sẵn sàng đi
Trang 7vào tác phẩm cần tái hiện sinh động không khí lịch sử, thời đại, tình huống đãsản sinh ra tác phẩm Các hình thức tái hiện này, tôi sử dụng vào quá trình kiểmtra bài cũ, giới thiệu bài mới Với mỗi văn bản cụ thể, tôi có cách thức thực hiệnkhác nhau.
Ví dụ: Dạy văn bản Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn.
Trước khi vào bài học mới tôi giới thiệu câu chuyện lịch sử liên quan đến
sự ra đời của tác phẩm:
Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời TrầnNhân Tông, đại binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Hưng Đạo Vương TrầnQuốc Tuấn thất thế đưa quân chạy về Vạn Kiếp Vua Nhân Tông thấy thế giặcmạnh, cho mời Hưng Đạo Vương về Hải Dương mà phán rằng:
"Thế giặc to như vậy, mà chống với chúng thì dân chúng bị tàn sát, nhà
cửa bị phá hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân ?"
Hưng Đạo Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy là lời nhân đức, nhưng Tôn miếu
Xã tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hết hãy chém đầu thần đi đã, rồi sau hãy hàng!” Vua Trần Nhân Tông nghe thế yên lòng Hưng Đạo Vương
trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn quân Nam, và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch
văn (gọi là Hịch tướng sĩ) để khuyên răn tướng sĩ, đại ý khuyên binh sĩ học tập
và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh thưyếu lược, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2
Ví dụ: Dạy văn bản Nước Đại Việt ta (trích Bình Ngô đại cáo) của Nguyễn Trãi
Với văn bản này, tôi đưa ra câu hỏi kiểm tra bài cũ để dẫn dắt học sinhtiếp nhận kiến thức văn bản mới bằng phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:
Trong lịch sử văn học dân tộc, những tác phẩm nào được coi là Tuyênngôn độc lập của nước Việt Nam? Em đã được học những tác phẩm đó chưa?
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhận xét, chuẩn kiến thức và địnhhướng vấn đề: Những tác phẩm được coi là Tuyên ngôn độc lập của nước ViệtNam: “Nam quốc sơn hà” (Ngữ văn lớp 7), “Bình Ngô đại cáo”, “Bản tuyênngôn độc lập do Hồ Chí Minh viết, đọc tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, ngày
2 tháng 9 năm 1945 (học trong môn lịch sử)
Cuối năm 1427, Vương Thông, tên tổng chỉ huy quân đội nhà Minh ởViệt Nam đã phải mở cửa thành Ðông Quan đầu hàng Cuộc kháng chiến 10năm đã kết thúc vẻ vang Thay mặt vua Lê, Nguyễn Trãi viết bài cáo (Bình Ngôđại cáo) nhằm tổng kết quá trình kháng chiến và tuyên cáo thành lập triều đại
mới Văn bản Nước Đại Việt ta là phần đầu của bài cáo.
Tôi thực hiện cách thức như trên sẽ thu hút mạnh mẽ trí tò mò, sự thíchthú, độ tập trung chú ý của học sinh; xoá bớt khoảng cách quá xa về không gian,thời gian; tạo sự quan tâm, chia sẻ giữa học sinh với tác giả và những vấn đề
Trang 8được đặt ra trong tác phẩm và mọi sự phân tích, giảng giải của giáo viên về sau
là không áp đặt, hình thức
3.2 Hướng dẫn học sinh đọc tốt văn bản nghị luận
Đọc là con đường đầu tiên và quan trọng nhất để đến với một tác phẩmvăn học Đọc văn bản nghị luận không giống với đọc văn bản tự sự, trữ tình Tácphẩm văn chương hình tượng thường có tính mơ hồ, đa nghĩa, tính mở Thôngtin trong văn bản văn chương hình tượng chủ yếu là thông tin hình tượng, hìnhảnh, cảm xúc Ngôn ngữ tác phẩm văn chương hình tượng có tính hàm ngôn, đanghĩa và luôn chuyển nghĩa trong văn cảnh Tư tưởng chủ đề của tác phẩm; quanđiểm, thái độ, tình cảm của tác giả càng được bộc lộ kín đáo bao nhiêu thì tácphẩm càng trở nên ý nhị, sâu sắc bấy nhiêu
Ngược lại, đặc điểm cơ bản của văn nghị luận ở lớp 8 là: các tư tưởng,quan điểm, thái độ của người viết được xác lập, thể hiện một cách rõ ràng, trựctiếp qua ngôn ngữ, hình ảnh, giọng điệu Thông tin trong văn bản nghị luận chủyếu là thông tin, lí lẽ Ngôn ngữ trong văn bản nghị luận có tính khách quan,chính xác, tính đơn nghĩa tương đối Vì vậy mà mục đích chính, yêu cầu cơ bản,hình thức biện pháp chủ yểu, yêu cầu về giọng đọc, yêu cầu và thái độ, tình cảmcủa việc đọc văn bản nghị luận là khác so với đọc các văn bản văn chương hìnhtượng Có thể thấy rõ qua bảng so sánh sau:
Yêu cầu cơ bản Đọc đúng, đọc hay, có khả
năng truyền cảm đến ngườinghe
Đọc đúng, dõng dạc, có khảnăng thuyết phục ngườinghe
Hình thức, biện
pháp chủ yếu
Đọc diễn cảm, đọc phân vai,đọc kết hợp với bình giảng từngữ, hình ảnh, biểu tượng,
Đọc thành tiếng, đọc thầmgắn với việc phát hiện luậnđiểm, luận cứ, luận chứng.Yêu cầu về giọng
đọc
Phát huy tối đa ưu thế về chấtgiọng, sức vang ngân củangôn từ; thay đổi linh hoạtngữ điệu đọc theo sự biến đổigiọng điệu của tác giả
Giọng đọc dõng dạc, mạchlạc, làm sáng rõ thông tin,
lí lẽ, quan điểm của tác giả
Yêu cầu về thái
độ, tình cảm khi
đọc
Bộc lộ tình cảm, cảm xúc chủquan trong khi đọc; có khảnăng truyền cảm đến ngườinghe
Giữ thái độ khách quan, sắcthái trung hòa; khi đọc để
có thể chuyển tải đúng nộidung thông tin của văn bản
Trang 9Tuỳ thuộc vào đặc điểm, thể loại của từng văn bản nghị luận mà tôi xácđịnh, lựa chọn hình thức đọc, biện pháp đọc phù hợp Việc hướng dẫn đọc tốtvăn bản và giáo viên đọc mẫu thật tốt là rất cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đặcbiệt đối với sự tiếp nhận của học sinh
Ví dụ:
* Dạy văn bản Chiếu dời đô (Thiên đô chiếu), tôi hướng dẫn học sinh đọc:
Giọng dõng dạc, khoan thai, hùng hồn; Làm rõ những câu văn biền ngẫu, đốixứng nhau (ví dụ: “Đã đúng ngôi Nam Bắc Đông Tây; lại tiện hướng nhìn sôngtựa núi Địa thế rộng mà bằng; đất đai cao mà thoáng” làm cho lời văn cânxứng, nhịp nhàng
* Dạy văn bản Thuế máu (trích Bản án chế độ thực dân Pháp), tôi hướng dẫn
học sinh đọc: Thể hiện giọng mỉa mai, châm biếm, đả kích khi vạch trần thủđoạn của thực dân; Thể hiện giọng xót xa, thương cảm khi phơi bày nỗi thốngkhổ của người dân nô lệ
Khi có học sinh đọc không đúng yêu cầu, tôi cho nhận xét, sau đó tôi chỉ
rõ đúng sai, hướng dẫn để học sinh nắm vững cách đọc để đọc tốt văn bản
Như vậy, đọc tốt vừa gợi được không khí, vừa tạo được sự truyền cảm,gây hứng thú cho học sinh, xoá đi trong các em cảm tưởng văn cổ khó hiểu, íthấp dẫn
3.3 Giảng bình trong giờ đọc – hiểu văn bản nghị luận.
Giảng bình là một phương pháp giảng văn truyền thống lâu đời trong nhàtrường Việt Nam Giảng bình là phương pháp đặc thù của cảm thụ và giảng dạyvăn học Một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả một giờgiảng văn là khả năng truyền cảm, là cảm xúc, sự rung động thẩm mĩ ở học sinhđược gợi lên từ bài học, giờ học Phương pháp giảng bình đóng vai trò quyếtđịnh trong việc thực hiện nhiệm vụ này Trong giảng văn truyền thống, giảngbình là một bí quyết Cho đến nay, bí quyết ấy vẫn còn nguyên giá trị Cái haycủa một giờ giảng văn không chỉ phụ thuộc vào bài văn mà còn phụ thuộc vàolời giảng, bài giảng, giọng giảng, nghệ thuật giảng Giảng bình vừa có tác dụngkhơi gợi cảm xúc, sự rung động mạnh mẽ trong tâm hồn, tình cảm của học sinh,vừa có tác dụng khắc sâu ấn tượng, hình ảnh; lắng đọng cảm xúc, khắc sâu kiếnthức Giảng bình hay là làm cho học sinh yêu văn, thích văn, đồng thời là cơ sởcho sự cảm thụ sáng tạo ở học sinh phát triển
Tuy nhiên, khi sử dụng phương pháp giảng bình tôi luôn ý thức về mứcđộ: gợi dẫn, tạo đường viền, định hướng hoặc tổng kết, khắc sâu và mở rộngkiến thức chứ không lạm dụng Bởi lẽ, lạm dụng phương pháp này sẽ rơi vàodạy học văn truyền thụ – tiếp nhận thụ động Việc lựa chọn phương pháp bìnhphải căn cứ vào đặc điểm; tùy vào giá trị nội dung, nghệ thuật, đặc trưng thể loại
Trang 10của từng văn bản mà sử dụng lời bình cho phù hợp
Ví dụ: Dạy văn bản Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn.
Khi kết thúc phần tìm hiểu chung văn bản, để khắc sâu về tác giả Lí Công
Uẩn tôi có lời bình như sau: “Hơn một 1.000 năm đã trôi qua, kể từ ngày Lí
Công Uẩn quyết định dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La “Mưu toan việc lớn, tính kế muôn đời cho con cháu” Quyết định táo bạo, sáng suốt đó của ông không chỉ đặt nền móng vững chắc cho sự tồn tại và phát triển rực rỡ của tám vương triều nhà Lý kéo dài suốt 214 năm trong lịch sử nhà nước phong kiến Việt Nam Quyết định ấy của ông còn là một cống hiến vĩ đại cho dân tộc, đất nước và có giá trị tới hàng nghìn năm sau Bởi từ Năm Canh Tuất 1010 đến nay, Thăng Long – Đông Đô – Hà Nội luôn là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của cả nước, luôn vững vàng trước những thử thách của lịch sử Phải là người có tầm nhìn xa trông rộng, một tầm nhìn thấu cả tương lai mới có thể có được quyết định đúng đắn đến như vậy!”
Ví dụ: Dạy văn bản Nước Đại Việt ta của Nguyễn Trãi.
Sau khi hướng dẫn học sinh nắm được những yếu tố mà Nguyễn Trãi đưa
ra để khẳng định chủ quyền độc lập của dân tộc và so sánh với “Sông núi nướcNam” của Lí Thường Kiệt vì có sự kế thừa và phát triển, tôi có lời bình như sau
để khắc sâu kiến thức, thấy được quan niệm của Nguyễn Trãi là đúng đắn, toàn
diện, sâu sắc và mới mẻ: Ngoài chủ quyền và lãnh thổ, để khẳng định nền độc
lập của một dân tộc, Bình Ngô Đại Cáo còn bổ sung thêm ba phương diện quan trọng: Văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử Với những yếu tố căn bản này, Nguyễn Trãi đã phát biểu một cách khá hoàn chỉnh quan niệm về quốc gia, dân tộc So với thời Lí, nhận thức về vấn đề dân tộc đã phát triển cao hơn nhiều bởi tính toàn diện và sâu sắc của nó Văn hiến, phong tục tập quán và lịch sử là linh hồn của một quốc gia Quan niệm của Nguyễn Trãi, vì thế, sâu sắc và rất mới so với đương thời.
Như vậy, phương pháp giảng bình mà tôi vận dụng đã khuyến khích, gâydựng được niềm đam mê, sự hứng khởi cho học sinh khi tiếp nhận kiến thức củavăn bản
3.4 Liên hệ với thực tế.
Để xóa bỏ khoảng cách quá xa giữa văn học nhà trường và đời sống xãhội, gắn tác phẩm với đời sống của cá nhân học sinh là một quan điểm lớn củachương trình, sách giáo khoa Ngữ văn Cùng với các văn bản nhật dụng, các vănbản nghị luận được chọn đọc – hiểu góp phần quan trọng vào việc hiện thực hoáquan điểm trên Kể cả các văn bản nghị luận trung đại đã cách xa chúng ta nhiềuthế kỉ, song những vấn đề mà tác phẩm đặt ra vẫn có ý nghĩa thời sự đối với thờiđại chúng ta
Trang 11Để giờ học thực sự sinh động và có ý nghĩa giáo dục, giáo viên cần hướngmối quan tâm của học sinh vào những vấn đề có ý nghĩa thiết thực với đời sốnghôm nay, tổ chức cho học sinh trao đổi, tranh luận về những vấn đề phức tạp.
Ví dụ:
- Từ lối học xưa, em có liên tưởng, suy nghĩ gì về mục đích và phương pháp học
của chúng ta ngày nay? (Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp)
- Từ việc đọc – hiểu văn bản, em hãy bày tỏ suy nghĩ của bản thân về việc bảo
vệ chủ quyền lãnh thổ của đất nước ta hiện nay? (Nước Đại Việt ta của Nguyễn
Trãi)
Liên hệ như vậy vừa giúp học sinh hiểu tác phẩm hơn, vừa gắn với thực
tế, vừa tạo điều kiện cho học sinh bộc lộ quan điểm, tư tưởng, chính kiến riêng,qua đó góp phần hình thành kĩ năng sống, bản lĩnh đối mặt với những vấn đềđang đặt ra trong cuộc sống
3.5 Tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm khi dạy đọc – hiểu văn bản
Hoạt động nhóm hay học hợp tác là biện pháp tích cực hóa hoạt độngnhận thức của học sinh, một hình thức dạy học phổ biến ở các môn học Trongdạy học Ngữ văn nói chung, văn bản nghị luận lớp 8 nói riêng hoạt động nhóm
là hình thức tổ chức cho học sinh đọc, cảm thụ tác phẩm theo từng nhóm, cùngnhau trao đổi, thảo luận về một yếu tố, hình tượng, chi tiết phức tạp trong tácphẩm; cùng nhau giải quyết một câu hỏi, một tình huống có vấn đề đặt ra từ vănbản, qua đó giúp các em tự khám phá, chiếm lĩnh các giá trị văn học, phát triểncác kĩ năng học văn một cách sáng tạo dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáoviên
Căn cứ vào mục tiêu, bản chất, quy trình thực hiện của phương pháp hoạtđộng nhóm, tôi đã áp dụng vào trong dạy đọc – hiểu văn bản nghị luận lớp 8.Hoạt động nhóm được tôi tổ chức dưới nhiều hình thức: Giải thích, cắt nghĩa,phân tích theo nhóm; luyện tập theo nhóm; ngoại khoá theo nhóm …
Tổ chức cho học sinh học theo nhóm có ý nghĩa nhiều mặt, học sinh sẽthấy có thể có nhiều câu trả lời, nhiều giải pháp, nhiều ý kiến, nhiều quan điểmkhác nhau cho cùng một vấn đề Từ đó sẽ khuyến khích phát triển tư duy độclập, sáng tạo của học sinh Ngoài ra, hoạt động nhóm dựa trên nguyên tắc dânchủ và tương hỗ nên tất cả học sinh từ giỏi, khá, trung bình, yếu và kém đều cóthể tham gia
Cách thức, biện pháp chủ yếu để tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm làthông qua một hệ thống câu hỏi, bài tập, tình huống có vấn đề Có rất nhiều dạngcâu hỏi, bài tập cho học sinh hoạt động nhóm tuỳ thuộc vào mục tiêu bài học,đặc trưng thể loại, giá trị nội dung, nghệ thuật của văn bản, phân phối thời giancủa giờ học, năng lực của học sinh, … Số lượng học sinh trong nhóm tuỳ thuộc