Bàn về động lực thúc đẩy học sinh học tập.2.2.1. Các động lực thúc đẩy học sinh học tập. Mục đích học tập. Mục đích là một điểm cao để hướng tới, một ý định có ý nghĩa để học sinh cố gắng thực hiện qua việc học. Vai trò của mục đích học tập:+ Mục đích động viên, nỗ lực. Mục đích càng cao, nổ lực đóng góp càng nhiều.+ Mục đích làm tăng lòng nhẫn nại, nhất là đối với các mục đích cao xa.+ Mục đích mở đường cho những phương pháp mới nếu phương pháp cũ không giải quyết được vấn đề. Có 3 loại mục đích thường đề cập đến (Mục đích tiêu chuẩn, mục đích học hỏi, mục đích trình diễn) . Mỗi loại có vai trò khác nhau : + Mục đích tiêu chuẩn cung ứng khuôn mẫu để hoàn thành. Mục đích này có khuynh hướng hướng dẫn và khuyến khích, duy trì đức tính kiên nhẫn. + Mục đích học hỏi + Mục đích trình diễn: Học sinh thường né tránh thất bại và chú trọng vào việc đánh giá của người khác về họ. Những học sinh này không có khả năng học hỏi thích đáng muốn chứng tỏ là thông minh nhanh nhẹn, và che giấu những yếu điểm. Như vậy, Mục đích tiêu chuẩn và mục đích học hỏi là động lực thúc đẩy học tập nội tâm, còn mục đích trình diễn là động lực thúc đẩy học tập ngoại thức.b. Nhu cầu cá nhân
Trang 1Trường ĐH ………
Khoa ……….
Tiểu luận TLH lứa tuổi và TLH sư phạm
Tên đề tài:
GVHD:
SVTH:
MSSV:
Tp Hồ Chí Minh, tháng 01,năm 201
Trang 2Mục lục
Mục lục 1
1 MỞ ĐẦU 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 4
1.4 Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu 4
1.5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
1.6 Giả thuyết nghiên cứu 4
2 NỘI DUNG 5
2.1 Chương 1: Cơ sở lý luận của vần đề nghiên cứu 5
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
a Quan điểm thái độ 5
b Quan điểm nhân bản 5
c Quan điểm tri thức 6
d Quan điểm xã hội 6
2.1.2 Cơ sở lý luận 7
a Một số khái niệm: 7
b Phân loại động lực thúc đẩy học tập 7
2.2 Chương 2: Bàn về động lực thúc đẩy học sinh học tập 8
2.2.1 Các động lực thúc đẩy học sinh học tập 8
a Mục đích học tập 8
b Nhu cầu cá nhân 10
c Hứng thú 10
d Lòng tin tưởng vào khả năng 11
e Nỗi lo âu 12
2.2.2 Giáo viên và việc tạo động lực thúc đẩy học sinh học tập 12
a.Giá trị bài học và mục đích bài học 12
Trang 3b Phương pháp và phương tiện dạy học 13
c Nhân cách người giáo viên 14
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 16
Phụ lục: Chương trình giáo dục thực dụng 17
Tài liệu tham khảo 18
Trang 4“ Education is not be filling of a pail, but the lighting of a fire ”
( William Butler Yeats)
“Giáo dục không phải cho đầy một cái bình chứa, mà là thắp lên một ngọn lửa”
1 MỞ ĐẦU.
1.1 Lý do chọn đề tài
Sự phát triển của xã hội, cùng với nền văn minh của nhân loại đang tiến vào những thập niên đầu tiên của thế kỉ 21 Nền kinh tế thị trường và xu hướng khu vực hóa, toàn cầu hóa đòi hỏi con người ngày càng cao cả về năng lực lẫn phẩm chất.Vì thế mà, việc học và tự học trở nên bức thiết hơn bao giờ hết Tuy nhiên, học sinh ngày nay ít chăm chú vào việc học Họ không quan tâm lắm đến việc học và họ cảm thấy khó khăn trong việc phát triển động lực thúc đẩy học tập Học sinh với các hiện tượng cúp tiết, bỏ giờ để chơi game, thậm chí là bỏ học trở nên phổ biến Chất lượng giáo dục đang trên đà giảm sút có một phần khá quan trọng là thái độ học tập của học sinh Đã đến lúc chúng ta cần đặt sự quan tâm đúng mức đến vấn đề tạo động lực thúc đẩy học tập cho học sinh để có thể phát huy được tính tích cực học tập ở các em
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề “ động lực thúc đẩy học sinh học tập” đang nổi lên và là mối quan tâm của toàn xã hội Đây cũng
là lý do chọn đề tài:
“ Bàn về động lực thúc đẩy học sinh học tập”.
Xác định được các động lực thúc đẩy học sinh học tập.Từ đó, tạo đông lực thúc đẩy học tập cho học sinh giúp các em cũng như bản thân có thái độ tích cực học tập để tiếp cận tri thức hình thành kĩ năng kĩ xảo đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới
Trang 51.3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng của đề tài nghiên cứu: là động lực thúc đẩy học tập
- Khách thể của đề tài nghiên cứu: là học sinh
1.4 Nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu về động lực thúc đẩy học sinh học tập phải nghiên cứu trên nhiều khía cạnh, góc độ Song, do hạn chế về thời gian và khả năng mà đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ giới hạn ở một số nhiệm vụ cơ bản sau:
-Phân tích hệ thống hóa cơ sơ lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu -Xác định được động lực thúc đẩy học sinh học tập.Vai trò của từng động lực đối với việc học của học sinh
-Đề xuất các biện pháp để giáo viên cùng học sinh tạo động lực thúc đẩy học tập
1.5 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: bằng con đường suy luận dựa trên các nguồn tài liệu thu thập được từ các nguồn khác nhau, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết tạo thành cơ sở cho đề tài
1.6 Giả thuyết nghiên cứu
Có nhiều động lực thúc đẩy học tập Mỗi dộng lực có vai trò riêng.Có thể
có các động lực sau là những động lực chủ yếu thúc đẩy hoạt động học tập của học sinh:
-Mục đích hướng dẫn và động viên nỗ lực của học sinh
-Nhu cầu phát huy tính tích cực của mỗi cá nhân
-Hứng thú làm tăng hiệu quả hoạt động học tập
-Lòng tin tưởng giúp học sinh tin tưởng và hành động
Trang 6-Nỗi lo âu giúp học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập nhanh chóng hơn.
2 NỘI DUNG
2.1 Chương 1: Cơ sở lý luận của vần đề nghiên cứu
Động lực thúc đẩy học tập là một đề tài rộng lớn và phức tạp nên đã có nhiều nhà nghiên cứu và một số lý thuyết được phát triển Sau đây, là một số quan điểm về động lực thúc đẩy học tập
a Quan điểm thái độ
Tác phẩm: “Science and human behavior-Khoa học và thái độ cá nhân” của Skinner
Quan điểm này nhận định về động lực thúc đẩy học tập của học sinh bắt đầu với những phần thưởng và khích lệ trong lớp học Phần thưởng là một lợi ích
có sức hấp dẫn và khả năng thay đổi thái độ học tập, tạo động lực thúc đẩy học tập Khích lệ là những lời lẽ khen tặng mỗi khi cố gắng Nhưng nếu những khích
lệ và phần thưởng vật chất bị lạm dụng, học sinh sẽ thụ động, dễ sinh lười biếng vì không còn mục đích, có thể tạo tinh thần ỷ lại
Điều này có khuynh hướng phát triển động lực thúc đẩy học tập ngoại thức( động lực thúc đẩy học tập nhờ yếu tố ngoại lai như: phần thưởng, áp lực xã hội, áp lực gia đình, giáo viên nhắc nhở…là động lực thúc đẩy học tập ngoại thức)
b Quan điểm nhân bản
Tác phẩm “Motivation and personality-Động lực thúc đẩy và nhân cách”;
“The farther reaches of human nature-Bản chất con người hướng tới” của Maslow
Trang 7Quan điểm nhân bản nhấn mạnh vào động lực thúc đẩy nội tâm như tự thực hiện, học tập nội tâm là động lực thúc đẩy học tập do bản năng, do cá tính bẩm sinh để thỏa mãn nhu cầu học hỏi, để thỏa mãn óc tò mò tìm hiểu, để thỏa mãn thú vui học tập) Học sinh có động lực thúc đẩy học tập nội tâm tự khuyến khích những thái độ nội tâm như: tự trọng, tự tin, tự quyết, tinh thần độc lập tự tìm hiểu, khám phá các giá trị nhân bản, thu nhặt kinh nghiệm quí giá để sinh tồn
Maslow đưa ra tháp nhu cầu với 5 loại từ thấp đến cao: nhu cầu sinh lí cơ bản, nhu cầu an toàn, nhu cầu sở thuộc, nhu cầu ngưỡng mộ và nhu cầu phát huy bản ngã Nhu cầu có vai trò quan trọng trong động lực thúc đẩy học tập, cá nhân
có khả năng tự quyết khi được thúc đẩy một số nhu cầu Nếu chấp nhận quan điểm này của Maslow thì cần đảm bảo các nhu cầu căn bản cho học sinh về sức khỏe, về
y tế và xã hội thì mới có thể giáo dục một cách hoàn hảo
c Quan điểm tri thức
Tác phẩm: “The Self-worth theory of achievement motivation-Lý thuyết giá trị bản thể trong việc thực hiện động lực thúc đẩy” của Covington
Quan điểm này cho rằng tri thức là hiệu quả của suy tưởng, dù có hay không có phần thưởng và khích lệ Cá nhân được xem như hoạt động và nổ lực vì sự say mê công việc và vì để hiểu biết mở rộng kiến thức Như vậy, Covington nhấn mạnh vào động lực thúc đẩy học tập nội tâm
d Quan điểm xã hội
Tác phẩm “Social learning theory-Lý thuyết tìm hiểu xã hội” của Bandura Quan điểm xã hội dựa vào hiệu quả của hoạt động, vai trò tư tưởng và lòng hy vọng Động lực thúc đẩy được xem như sản phẩm của hai động lực quan trọng là: lòng hi vọng đạt được mục đích của cá nhân và giá trị của mục đích đó Nếu một trong hai sức mạnh này không đáng kể, cá thể không thể thực hiện được động lực thúc đẩy Như vậy, Bandura nhấn mạnh vào cả động lực thúc đẩy học tập nội tâm lẫn ngoại thức
Trang 8*Từ những quan điểm về động lực thúc đẩy học tập, giúp chúng tôi thuận lợi trong việc xác định hướng nghiên cứu cho đề tài Tuy nhiên các quan điểm trên vẫn chưa đi sâu vào từng động lực thúc đẩy học tập cụ thể Vì thế chúng tôi sẽ cố gắng nghiên cứu thêm về vấn đề này
a Một số khái niệm:
- Sự thúc đẩy (drive): là tình trạng căng thẳng hay tình trạng cảnh giác tạo
ra sức thức đẩy khiến cho người ta có hành vi nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó
- Động lực thúc đẩy (motivation) liên hệ đến các nhân tố chi phối và tiếp sức cho hành vi và cư xử của con người cũng như của loài sinh vật khác Động lực thúc đẩy tìm cách khám phá động cơ hay các mong muốn đạt được, làm nền tảng cho các hành vi ấy Động lực thúc đẩy giúp nhận diện ra nguyên nhân khiến người
ta gây ra các sự việc mà họ đã làm
- Mối quan hệ giữa động lực thúc đẩy và xúc cảm: Động lực thúc đẩy liên quan đến các động lực chi phối hành vi trong tương lai, thì xúc cảm gắn liền với các tình cảm mà con người đã trải qua trong cuộc sống của mình.Vì vậy, các xúc cảm chẳng những có thể làm động cơ thúc đẩy hành vi mà còn có thể phản ánh động lực thầm kín chi phối chúng ta
- Động lực thúc đẩy học tập là một trạng thái nội tâm lâu dài có hiệu lực giúp học sinh duy trì hứng thú và ham muốn học hỏi tìm tòi, vượt qua những trở ngại để có thể giải quyết những trở ngại khó khăn
b Phân loại động lực thúc đẩy học tập.
Học sinh có động lực thúc đẩy học tập cảm thấy có hứng thú, có nghị lực học bài, làm bài để thực hiện mục đích thu nhận kiến thức qua bài làm, bài học Nguồn sinh lực đã thúc đẩy thái độ học tập của học sinh là: nhu cầu học tập, sáng kiến cá nhân, mục đích, giáo dục, áp lực xã hội, tự tin, óc tò mò, nhận định dược
Trang 9thành công và thất bại, lòng tin tưởng, hiểu được giá trị của giáo dục, kỳ vọng vào tương lai…
Có thể phân loại động lực thúc đẩy học tập như sau:
-Động lực thúc đẩy học tập nội tâm (intrinsic motivation) là động lực thúc đẩy học tập do bản năng, do cá tính bẩm sinh để thỏa mãn nhu cầu học hỏi,
để thỏa mãn óc tò mò tìm hiểu, để thỏa mãn thú vui học tập
-Động lực thúc đẩy học tập ngoại thức (extrensic motivation) là động lực thúc đẩy học tập nhờ yếu tố ngoại lai như phần thưởng, áp lực xã hội, áp lực gia đình, giáo viên nhắc nhở, tương lai nghề nghiêp…
Động lực thúc đẩy học tập nội tâm đem đến sự tiếp nhận kiến thức một cách thấu triệt, ghi nhớ lâu dài trong kí ức dài hạn và có thể áp dụng kiến thức trong suốt đời người.Ngược lại, động lực thúc đẩy học tập ngoại thức chỉ có mục đích thiển cận, không có sự tiếp nhận kiến thức sâu rộng, không ghi nhận được nhiều kiến thức trong ký ức dài hạn Ngoài ra, động lực thúc đẩy học tập nội tâm còn chứng tỏ được khả năng “ tự quyết định”, động lực thúc đẩy học tập ngoại thức thì lệ thuộc vào ngoại cảnh Vì vậy, có thể nói, động lực thúc đẩy học tập nội tâm quan trọng hơn động lực thúc đẩy học tập ngoại thức
2.2 Chương 2: Bàn về động lực thúc đẩy học sinh học tập.
a Mục đích học tập.
-Mục đích là một điểm cao để hướng tới, một ý định có ý nghĩa để học sinh
cố gắng thực hiện qua việc học
-Vai trò của mục đích học tập:
+ Mục đích động viên, nỗ lực Mục đích càng cao, nổ lực đóng góp càng nhiều
Trang 10+ Mục đích làm tăng lòng nhẫn nại, nhất là đối với các mục đích cao xa + Mục đích mở đường cho những phương pháp mới nếu phương pháp cũ không giải quyết được vấn đề
- Có 3 loại mục đích thường đề cập đến (Mục đích tiêu chuẩn, mục đích học hỏi, mục đích trình diễn) Mỗi loại có vai trò khác nhau :
+ Mục đích tiêu chuẩn cung ứng khuôn mẫu để hoàn thành Mục đích này
có khuynh hướng hướng dẫn và khuyến khích, duy trì đức tính kiên nhẫn
Ví dụ như một học sinh chuẩn bị bài mới môn văn Đây là một mục đích rõ ràng
và dễ thực hiện Trong quá trình chuẩn bị bài mới, có nhiều tình huống có thể xảy
ra Học sinh có thể gặp khó khăn; vì thế, em có thể giải quyết bằng cách ôn lại kiến thức cũ hoặc là em có thể sử dụng từ điển, các tài liệu tham khảo khác…Điều này sẽ giúp em giải quyết được khó khăn và tìm hiểu bài mới cho cặn kẽ hơn
+ Mục đích học hỏi: Học sinh sẽ có gắng để tiến bộ dù gặp trở ngại, áp dụng tối đa việc thực hành các bài tập và không quan tâm lắm đến việc so sánh với các bạn trong lớp Học sinh có mục đích học hỏi luôn luôn đặt trọng tâm vào hoạt động dể đạt mục đích, luôn luôn có gắng dù là bài tập khó hay dễ, có tinh thần tự lập học tập và tự tin
Ví dụ như: An rất thích học toán Ngoài giờ học toán, em thường lấy bài tập toán
ra giải Em thường đến nhà sách, khi thấy bài toán hay em luôn suy nghĩ, tìm tòi Khi gặp trở ngại em thường tự tìm cách giải quyết vấn đề hoặc nhờ anh chị và thầy
cô hướng dẫn
+ Mục đích trình diễn: Học sinh thường né tránh thất bại và chú trọng vào việc đánh giá của người khác về họ Những học sinh này không có khả năng học hỏi thích đáng muốn chứng tỏ là thông minh nhanh nhẹn, và che giấu những yếu điểm
Ví dụ như Lan luôn muốn đạt điểm cao nên chỉ chọn bài tập dễ, đơn giản để xung phong làm, và học vẹt mà không chú trọng vào kiến thức
*Như vậy, Mục đích tiêu chuẩn và mục đích học hỏi là động lực thúc đẩy học tập nội tâm, còn mục đích trình diễn là động lực thúc đẩy học tập ngoại thức
Trang 11b Nhu cầu cá nhân
- Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của cá nhân đối với hoàn cảnh, là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển
-Theo tháp nhu cầu của Maslow nếu học sinh có các nhu cầu về tri thức, thẩm mỹ và tự quyết ( nhu cầu tinh thần) thì sẽ có nhiều nổ lực tìm hiểu một số vấn đề, hiểu và tiếp nhận kiến thức Học sinh càng cố gắng, càng khám phá ra những kiến thức liên quan, và tưởng như không bao giờ có thể thể thỏa mãn nhu cầu tinh thần ấy Người học học hỏi đến già vẫn còn thấy ham muốn học hỏi và những nhu cầu tri thức không bao giờ chấm dứt Như vậy, nhu cầu có vai trò phát huy tính tích cực của cá nhân không ngừng học tập để hoàn thiện nhân cách của mình
Chẳng hạn như, nhu cầu tri thức và nhu cầu mong muốn thành công đã giúp Thành cách học cũ ( học thuộc lòng, từ chương) mà thay đổi phương pháp học ( học hiểu, học nhóm, thảo luận…) Chính điều này đã giúp Thành thành công trên giảng đường đại học: Tiếp thu được tri thức và đạy kết quả học tập cao hơn
Còn, nhu cầu tự quyết là một nhu cầu tinh thần quan trọng nhất do kinh nghiệm kiến thức đem lại liên quan đến quyết định Đây là lòng mong muốn do chính bản thân quyết định hơn là ảnh hưởng ngoại cảnh nhu phần thưởng…Học sinh tự quyết có khả năng nhận định được ý nghĩa giá trị của học vấn, tự quyết định về việc học tập, không cần người gây ảnh hưởng hay thúc giục
Ví dụ như: Mai hiểu được học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của mình, giá trị của tri thức trong cuộc sống.Vì thế mà em tự giác lập kế hoạch học tập cho mình và thực hiện một cách nghiêm túc
*Như vậy, nhờ các nhu cầu trên mà học sinh phát huy được tính tích cực trong học tập của mình
c Hứng thú
Trang 12Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân đối với đối tượng nào đó vừa có ý nghĩa trong đời sống vừa có khả năng mang lại khoái cảm
Hứng thú học tập là thái độ đặc biệt của người học đối với tri thức, kĩ năng
và nó có ý nghĩa trong đời sống cũng như mang lại niềm say mê thích thú cho người học
Hứng thú học tập có vai trò quan trọng:
+ Hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động nhận thức, hoạt động trí tuệ + Hứng thú làm tăng sức làm việc
+ Hứng thú làm nảy sinh khát vọng hành động hành động sáng tạo
Học sinh có hứng thú học tập thì sẽ học tập tích cực, tự giác và hiệu quả học tập sẽ cao hơn
Ví dụ như Hồng hứng thứ với môn văn thì ngoài giờ học, em lấy tác phẩm văn học, hay sách văn ra đọc Đối với em học văn vừa là công việc, vừa như một niềm vui, vừa như một cách thư giãn Dần dần khả năng về văn của em sẽ tăng lên ( về khả năng cảm thụ, phân tích, vốn từ vựng, kiến thức văn học…) và tất nhiên kết quả môn văn sẽ tốt hơn
d Lòng tin tưởng vào khả năng
- Lòng tin tưởng vào khả năng là một yếu tố quan trọng Không có lòng tin vào khả năng, một số học sinh đã thiết lập những mục đích, đã không thể hoàn thành được mục đích của mình và cũng có những học sinh hoàn toàn bỏ cuộc, không một chút tin tưởng vào khả năng
- Có 2 loại khả năng: khả năng thực thể ( do bẩm sinh) và khả năng gia tăng ( do cố gắng và rèn luyện).Cả 2 loại khả năng đều nên đặt mục đích học hỏi để phát triển kiến thức Và mỗi người phải phân biệt rõ giữa nổ lực, khả năng và thành quả để hành động đúng đắn
Ví dụ như: Sang đánh giá được khả năng của mình và em đặt mục tiêu vừa sức để phấn đấu học hỏi Vì có lòng tin tưởng vào khả năng mà em đạt được mục đích đề
ra và dần hoàn thiện mình