Động viên trong quản lý trường học2.2.1 Các hình thức động viêna. Động viên thông qua việc thiết kế công việc. Mỗi công việc sẽ thực hiện 2 chức năng liên quan với nhau: Nó là đơn vị năng suất đối với tổ chức và đơn vị nghề nghiệp đối với cá nhân. Thiết kế công việc tốt là phải bảo đảm thỏa mãn được quan trọng khi thiết kế công việc là phài tạo ra những công việc có ý nghĩa, hấp dẫn và thách thức sự thông minh. Có 2 chức năng này. Vấn đề có 2 chiến lược cơ bản: bố trí người đúng việc và bố trí việc đúng người. Bố trí người đúng việc.Là để tạo ra sự phù hợp giữa công việc với con người. Cách tiếp cận đơn giản và phổ biến là thiết kế công việc xong rồi tìm người để bố trí vào. Có 3 giải pháp là: Xem xét công việc một cách thực tế; Luân phiên thay đổi công việc; và bỏ đi các giới hạn. Mỗi giải pháp này bao gồm điều chỉnh con người hơn là công việc trong việc hướng tới sự phù hợp con người công việc. Bố trí việc đúng người
Trang 1Khoa …
Tiểu luận môn học:
Tâm lý học quản lý Tên đề tài:
GVHD: TS………….
Lớp: .
Tp Hồ Chí Minh, năm 2018
Trang 2Mục Lục
Mục Lục 2
1 MỞ ĐẦU 3
1.1 Lý do chọn đề tài 3
1.2 Mục đích nghiên cứu 4
1.3 Phương pháp nghiên cứu 4
2 NỘI DUNG 4
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
a Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow 4
b Thuyết của Mc Clelland 5
c Thuyết E.R.G 5
d Thuyết hai nhân tố của F Herzberg 5
e Thuyết mong đợi 5
f Thuyết về sự công bằng 6
2.1.1 Cơ sở lý luận 6
a Khái niệm đông viên 6
b Khái niệm quản lý trường học 7
2.2 Động viên trong quản lý trường học 8
2.2.1 Các hình thức động viên 8
a Động viên thông qua việc thiết kế công việc 8
b Động viên thông qua sự tham gia của người lao động 9
c Động viên thông qua phần thưởng 10
d Động viên thông qua các kỹ thuật khác 11
2.2.2 Tác dụng của động viên 12
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 13
Tài liệu tham khảo 14
Trang 31 MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Thế giới đang chuyển mình sang một giai đoạn mới Trong đó giáo dục trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển.Vì vậy giáo dục là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia trên thế giới Nước Mỹ đặt trọng tâm vấn đề cải cách giáo dục vào các trường học Nhật Bản thì coi giáo dục là nền tảng của quốc gia Trung Quốc cũng coi giáo dục là một trong những trọng điểm phát triển kinh tế Còn Việt Nam coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển Nhìn chung, chính phủ mỗi nước đều có đều có những chính sách khác nhau nhưng để tạo nên xã hội học tập thì hai quá trình xã hội hóa giáo dục và giáo dục hóa xã hội phải luôn được gắn kết thống nhất với nhau
Những năm sắp tới, việc nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo đang đặt ra những vấn đề cần nghiên cứu giải quyết ở cả tầm quản lý giáo dục vĩ mô và cũng như quản lý vi mô ở từng đơn vị nhà trường Đặc biệt, “ nạn chảy máu chất xám” trở thành một đề tài nóng bỏng Nhà quản lý luôn hiểu rằng sự thành công của một tổ chức phụ thuộc rất lớn vào yếu tố con người, vào người lao động Và trên ý nghĩa đó, có thể nói
rằng “ Quản lý là thông qua lao động của người khác để thực hiện mục tiêu mà mình đặt ra cho tổ chức “ Vì vậy, “động viên” là một trong các ưu tiên hàng đầu của các
nhà quản lý “ Động viên ” giúp các nhà quản lý thu hút và lưu giữ nhân tài, khuyến khích tính tích cực chủ động, sáng tạo của các thành viên trong tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu của tổ chức Trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo thì động viên có vai trò hết sức quan trọng Như vậy, động viên vừa là nội dung vừa là một nghệ thuật trong công tác quản lý
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi nhận thấy vấn đề “ Động viên trong công tác quản lý” nói chung và “ Động viên trong quản lý trường học” nói riêng đang nổi lên và là mối quan tâm của toàn xã hội Đây cũng là lý do chọn đề tài:
“ Động viên trong quản lý trường học”
Trang 41.2 Mục đích nghiên cứu
Xác định được các hình thức động viên trong công tác quản lý nói chung và động viên trong quản lý trường học nói riêng Từ đó, thấy được tác dụng của sự động viên của nhà quản lý đối với nhân viên của mình
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu, chúng tôi sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: bằng con đường suy luận dựa trên các nguồn tài liệu thu thập được từ các nguồn khác nhau, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa lý thuyết tạo thành cơ sở cho đề tài
2 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
2.1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Động viên là một vấn đề phức tạp, do đó có nhiều quan điểm của các tác giả khác nhau được đưa ra xoay quanh chủ đề này Các thuyết về động viên nhìn chung được chia làm hai loại:
- Các thuyết theo nội dung theo đuổi và giải thích nguyên nhân của tình trạng động viên
- Các thuyết theo quá trình theo đuổi việc giải thích vận hành các tình trạng động viên
a Thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow
A Maslow cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu và những nhu cầu của con người được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp đến cao về tầm quan trọng ( Nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu tôn trọng, nhu cầu tự thể hiện) Nguyên tắc hoạt động của tháp nhu cầu này là chi đến khi nào những nhu cầu ở phía dưới còn chưa được thỏa mãn thì thật khó mà tiếp tục lên các nhu cầu ở cấp cao hơn Ông cho rằng, đầu tiên các nhu cầu ở cấp thấp nhất hoạt động, nó đòi hỏi được thỏa mãn; và như vậy nó là động lực thúc đẩy con người hành động – nhân tố động viên Khi các nhu cầu này được thỏa mãn thì các nhu cầu cấp cao hơn sẽ xuất hiện
Trang 5b Thuyết của Mc Clelland
David Mc Clelland cho rằng con người có 3 nhu cầu cơ bản: Nhu cầu thành tựu, nhu cầu liên minh và nhu cầu quyền lực Những nhu cầu này có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của động viên
c Thuyết E.R.G
Clayton Alderfer cũng cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu Song, ông cho rằng con người cùng một lúc theo đuổi 3 loại nhu cầu cơ bản: Nhu cầu tồn tại, nhu cầu quan hệ và nhu cầu phát triển
d Thuyết hai nhân tố của F Herzberg
Frederick Herzberg phân biệt 2 loại nhân tố:
- Các nhân tố liên quan tới sự thỏa mãn đối với công tác ( Nhân tố động viên bao gồm: Sự thách thức của công việc; các cơ hội thăng tiến; ý nghĩa của các thành tựu; sự nhận dạng khi công việc được thực hiện)
- Các nhân tố liên quan tới sự bất mãn ( nhân tố duy trì: phương pháp giám sát; hệ thống phân phối thu nhập; quan hệ với đồng nghiệp; điều kiện làm việc; chính sách của công ty; cuộc sống cá nhân; địa vị; quan hệ qua lại giữa các cá nhân)
Nhân tố động viên nếu được giải quyết tốt sẽ tạo ra sự thỏa mãn và từ đó sẽ động viên người lao động làm việc tích cực và chăm chỉ hơn Nhưng nếu không được giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không thỏa mãn chứ chưa chắc là sự bất mãn Trong khi đó nhân tố duy trì, nếu giải quyết không tốt sẽ tạo ra sự bất mãn, nhưng nếu giải quyết tốt thì tạo ra tình trạng không bất mãn chứ chưa chắc có tình trạng thỏa mãn
e Thuyết mong đợi
Victor H Vroom cho rằng động viên là kết quả của những mong đợi của một cá nhân Vì thế để động viên người lao động, nhà quản lý phải hiểu biết những mong đợi của nhân viên và gắn những mong đợi này với mục tiêu của tổ chức Khi muốn giải quyết được công việc, suy nghĩ về công việc và về cách thức hoàn thành nó, con người
đã tỏ ra nhận thức được tình thế và muốn nhận được một kết quả xứng đáng Vì thế việc động viên nhân viên thành công hay không sẽ phụ thuộc nhiều vào nhận thức của mỗi người, bao gồm:
1) Nhận thức về khả năng thực hiện nhiệm vụ
Trang 62) Nhận thức về giá trị của phần thưởng.
3) Nhận thức về khả năng nhận được phần thưởng nếu hoàn thành nhiệm vụ
f Thuyết về sự công bằng
Do luôn muốn được đối xử một cách công bằng, con người hay có xu hướng so sánh những đóng góp cống hiến của mình với những đãi ngộ phần thưởng mà họ nhận được (mong muốn công bằng cá nhân) Ngoài ra, họ còn so sánh chỉ số này của mình với những người khác (mong muốn công bằng xã hội) Qua so sánh người ta sẽ có nhận thức là bị đối xử bất công, được đối xử công bằng hay đã được ưu đãi Khi rơi vào tình trạng bị đối xử không công bằng, con người có xu thế là cố gắng điều chỉnh
để tự thiết lập sự công bằng cho mình Nhưng họ chỉ có thể chấp nhận và chịu đựng trong ngắn hạn Nếu tình trạng bất công kéo dài, sự bất bình sẽ tăng lên và người ta có thể phản ứng một cách mạnh mẽ và tiêu cực hơn
2.1.1 Cơ sở lý luận
a Khái niệm đông viên
-Động viên là một tiến trình thuộc về tâm lý nhằm đưa đến những chỉ dẫn và mục đích hành vi (Kreitner, 1995);
- Một khuynh hướng hành vi có mục đích để đạt được những nhu cầu chưa được thỏa mãn (Buford, Bedeian, & Lindner, 1995);
- Một định hướng từ bên trong để thỏa mãn nhu cầu chưa thỏa mãn (Higgins, 1994);
- Sự sẵn lòng để đạt được (Bedeian, 1993)
Vậy có thể nói, động viên là sự sẵn lòng thể hiện mức độ cao của nỗ lực để hướng tới các mục tiêu của tổ chức, trên cơ sở thỏa mãn nhu cầu của cá nhân
*Tại sao các nhà quản trị cần động viên nhân viên?
-Mỗi người đều có động cơ làm việc cũng như động cơ hoạt động Động cơ là
sự phản ánh thế giới khách quan vào trong bộ óc con người, nó thúc đẩy con người hoạt động theo một mục tiêu nhất định, nhằm thỏa mãn những nhu cầu tình cảm của con người
Một nhân viên có động cơ làm việc cao là một người năng động, chịu đầu tư sức lực
và tinh thần để hoàn thành công việc của mình và đạt mục tiêu đề ra
Trang 7Một nguyên tắc cơ bản trong mục tiêu quản lý là: Hiệu quả làm việc= f.(Năng lực động cơ)
Do đó nhiệm vụ của nhà quản lý là khơi nguồn động cơ và xây dựng hệ thống động viên có hiệu quả
- Câu trả lời là sự tồn tại (Smith, 1994)
- Động viên nhân viên giúp doanh nghiệp có thể tồn tại trước nhu cầu (của thời đại) là sự thay đổi chỗ làm nhanh chóng của nhân viên
- Động viên cũng giúp tổ chức nâng cao năng suất lao động Vì vậy, các nhà quản trị cần hiểu rõ động viên để có thể hoạt động một cách có hiệu quả
b Khái niệm quản lý trường học
- Quản lý là hoạt động, là tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục đích
- Quản lý trường học là hoạt động, là tác động có mục đích của cán bộ quản lý giáo dục đến đối tượng quản lý trong trường học nhằm làm cho trường học vận hành đạt được mục đích
* Nét đặc trưng của quản lý trường học
Trong bài viết nhỏ hẹp này, do hạn chế về thời gian và khả năng nên chúng tôi chỉ đề cập đến chủ thể quản lý là người hiệu trưởng và đối tượng quản lý là giáo viên
- Về người hiệu trưởng:
Hiệu trưởng vừa là nhà sư phạm, nhà hoạt động xã hội, người quản lý, vừa là người lãnh đạo.Vì vậy người hiệu trưởng đảm nhận đồng thời 2 vai trò: thủ trưởng ( người giám sát đôn đốc), và thủ lĩnh ( liên kết đa nhân cách)
Người quản lý trường học vừa biết giáo dục thuyết phục, vừa biết động viên khuyến khích và biết cưỡng chế ( Mà biện pháp chủ yếu là thuyết phục Vì đối tượng quản lý
là giáo viên – những người trí thức mang tác phong sư phạm) Từ đó sẽ tạo nên một tổ chức học hỏi (Learning Organization)
- Về người giáo viên:
“ Giáo viên giữ vai trò quyết định trong quá trình giáo dục và đặc biệt định hướng cho tương lai giáo dục”.
( TS Rafa Roysingh)
Vì vậy giáo viên là người truyền lại tinh hoa của dân tộc
Trang 8- Quản lý người thầy là giúp họ, vừa biết chỉ huy vừa biết điều phối, vừa là cố vấn vừa là trọng tài của học sinh trong quá trình chiếm lĩnh tri thức
- Quản lý người thầy là giúp họ vừa biết giảng giải, vừa biết hướng dẫn cho học trò ghi chép, vừa phải biết thiết kế để học trò thi công, vừa biết dẫn dắt để học trò giác ngộ và đưa người trò thành người hợp tác cộng tác với người thầy, với bạn để chiếm lĩnh tri thức một cách sáng tạo
2.2 Động viên trong quản lý trường học
2.2.1 Các hình thức động viên
a Động viên thông qua việc thiết kế công việc.
Mỗi công việc sẽ thực hiện 2 chức năng liên quan với nhau: Nó là đơn vị năng suất đối với tổ chức và đơn vị nghề nghiệp đối với cá nhân Thiết kế công việc tốt là phải bảo đảm thỏa mãn được quan trọng khi thiết kế công việc là phài tạo ra những công việc có ý nghĩa, hấp dẫn và thách thức sự thông minh Có 2 chức năng này Vấn
đề có 2 chiến lược cơ bản: bố trí người đúng việc và bố trí việc đúng người
- Bố trí người đúng việc
Là để tạo ra sự phù hợp giữa công việc với con người Cách tiếp cận đơn giản và phổ biến là thiết kế công việc xong rồi tìm người để bố trí vào Có 3 giải pháp là: Xem xét công việc một cách thực tế; Luân phiên thay đổi công việc; và bỏ đi các giới hạn Mỗi giải pháp này bao gồm điều chỉnh con người hơn là công việc trong việc hướng tới sự phù hợp con người công việc
- Bố trí việc đúng người
Là để đảm bảo sự phù hợp giữa con người và công việc là thiết kế những công việc cụ thể phù hợp với những con người mà tổ chức có Từ đó, làm tăng tiềm năng động viên, với 2 kĩ thuật thiết kế công việc cơ bản là: đa dạng hóa công việc và thú vị hóa công việc
=>Từ 2 chiến lược trên sẽ góp phần làm phong phú cũng như mở rộng công việc để động viên nhân viên của mình Nhà quản lý có thể thực hiện một số cách sau:
- 1 Để cho nhân viên có nhiều tự do hơn trong việc lựa chọn phương pháp làm việc, trình tự thực hiện công việc và nhịp độ tiến hành công việc (làm việc theo giờ giấc linh hoạt là một ví dụ)
Trang 9- 2 Khuyến khích nhân viên tham gia (vào các quyết định).
- 3 Giao trách nhiệm cá nhân đối với những công việc
- 4 Khuyến khích nhân viên giao lưu, tiếp xúc qua lại với nhau
- 5 Cho nhân viên thấy rằng vai trò của họ là quan trọng
- 6 Cho nhân viên thấy rằng công việc của họ phù hợp, hài hòa với mục tiêu của toàn công ty
- 7 Kịp thời cung cấp các thông tin phản hồi về hiệu quả công tác
- 8 Cho nhân viên phát biểu về điều kiện vật chất tại nơi làm việc Chất lượng đời sống nghề nghiệp (QWL), sử dụng những cam kết của bên quản trị – bên lao động
để đi đến thống nhất về phương thức nâng cao công việc là một hình thức làm phong phú công việc
* Người hiệu trưởng có thể sử dụng cả 2 chiến lược trên trong việc thiết kế
công việc Nhưng vẫn nên “giao việc cho người” hơn là “ giao người cho việc” Có
như thế thì hiệu quả quản lý sẽ cao hơn Chẳng hạn như, trong việc chọn giáo viên đi học đổi mới phương pháp giảng dạy, thì người hiệu trưởng sẽ cân nhắc trên số ứng cử viên từ đó giao việc cho họ bằng sự khuyến khích, giao trách nhiệm và cho họ thấy được tầm quan trọng của họ cũng như công việc được giao…
b Động viên thông qua sự tham gia của người lao động
Đây là một chủ đề lớn và đã tạo nên thành công của nhiều công ty trên thế giới nên các nhà lý luận và quản lý trên toàn thế giới tin rằng đây là kiểu quản lý của thế kỉ 21
Nhân viên của bạn sẽ cam kết gắn bó nhiều hơn với công việc nếu như họ được quyền phát biểu về chúng Họ có khuynh hướng tin tưởng và ủng hộ những quyết định
mà trong đó có phần của họ tham gia vào Điều này làm cho công việc sẽ có nhiều ý nghĩa hơn đối với nhóm cũng như cá nhân
- Quản lý có sự tham gia của người lao động là quá trình mở rộng quyền hạn của nhân viên Cho phép những nhân viên thực hiện những nhiệm vụ mà trước là công việc của người quản lý
- Sự tham gia của người lao động vào công tác quản lý có thể được thực hiện thông qua 4 hình thức:
1.Tham gia vào việc xác định mục tiêu
Trang 102 Tham gia ra quyết định
3 Tham gia giải quyết các vấn đề
4 Tham gia trong công việc thiết kế và thực hiện đổi mới tổ chức
* Người hiệu trưởng thực hiện việc động viên thông qua tham gia của người lao
động là thực hiện nguyên tắc dân chủ trong quản lý Nhưng dân chủ phải đi đôi với tập trung, có như thế thì công việc sẽ đạt hiệu quả và được tiến hành nhanh chóng.Ví dụ như trong việc chọn giáo viên đi học vừa nêu ở trên Người hiệu trưởng sẽ tổ chức một cuộc họp, cho các giáo viên tình nguyên dựa trên một số tiêu chí đã đề ra Nếu số lượng quá nhiều so với yêu cầu thì sẽ cho toàn thể giáo viên được tham gia đóng góp ý kiến vá có thể tổ chức một cuộc thi chẳng hạn
c Động viên thông qua phần thưởng
Phần thưởng được định nghĩa một cách rộng lớn là tất cả những gì ( vật chất hoặc tâm lý ) mà người lao động nhận được từ việc thực hiện nhiệm vụ của họ
Định nghĩa phần thưởng như trên cho thấy nhân viên có thể nhận được rất nhiều phần thưởng từ công việc của họ Các phần thưởng có thể đến từ nội tại bản thân người lao động khi họ thực hiện các công việc thú vị; từ nhà quản lý trong các tình huống cụ thể
Sau đây là một số phần thưởng:
- Được biểu dương là một nhu cầu rất quan trọng của hầu hết con người Nói đơn
giản, biểu dương là xác nhận và đánh giá cao công sức đóng góp đánh giá của một cá nhân hoặc một tập thể cho cơ quan Là một nhà quản lý bạn phải biết công nhận thành
tích của nhân viên khi nó xứng đáng Việc khen thưởng bằng hình thức công nhận
ngay sau khi một hành động xảy ra sẽ khuyến khích hành động tương tự được tái diễn
Có rất nhiều hình thức công nhận, có những hình thức rất ít tốn kém, thậm chí không
hề tốn kém vẫn động viên được nhân viên Một cái vỗ vai, một lời khen tặng… để tăng
sự chú ý thì nhà quản lý có thể khen thưởng, biểu dương công khai trước công ty
- Tiền bạc cũng là một yếu tố động viên Tiền là thước đo giá trị trong việc
đánh giá kết quả và hiệu quả của cá nhân và hơn nữa tiền có thể thỏa mãn rất nhiều nhu cầu của con người trong xã hội hiện nay Tuy nhiên tiền không phải là yếu tố động viên lâu dài: