MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm... Đường biểu đồ MACD: là MACD trừ đi đường tín hiệu MACD Như vậy nếu M
Trang 1PHÂN TÍCH KỸ THUẬT ÁP DỤNG VÀO
1 Chỉ báo về giao động (Volatility Indicators)
Average True Range
Bollinger Bands
Commodity Channel Index
Moving Average (Variable)
ODDS Probability Cones
Relative Volatility Index
Standard Deviation
Standard Error Bands
Volatility, Chalkin's
2 Chỉ báo về xung lượng (Momentum Indicators)
Accumulation Swing Index
Chande Momentum Oscillator
Commodity Channel Index
Dynamic Momentum Index
Intraday Momentum Index
Linear Regression Slope
Relative Momentum Index
Relative Strength Index
Stochastic Momentum Index
Stochastic Oscillator
Swing Index
Trix
Ultimate Oscillator
Trang 2MESA Sine Wave Indicator
4 Chỉ báo cường độ thị trường (Market Strength Indicators)
Accumulation-Distribution
Chaikin Money Flow
Chaikin A/D Oscillator
Demand Index
Ease of Movement
Herrick Payoff Index
Klingler Oscillator
Money Flow Index
Moving Average (Volume Adjusted)
Negative Volume Index
On Balance Volume
Open Interest
Positive Volume Index
Price Volume Trend
Trade Volume Index
Fibonacci Arcs, Fans, Retracements
Gann Lines, Fans, Grids
Ichimoku Kinko Hyo
Trang 3Linear Regression Slope
Linear Regression Trendline
Raff Regression Channel
Standard Deviation Channel
Standard Error
Standard Error Bands
Standard Error Channel
TEMA
Time Series Forecast
Vertical Horizontal Filter
CHỈ SỐ SỨC MUA/BÁN TƯƠNG ĐỐI RSI
Năm 1978 J Welles Wilder giới thiệu chỉ số RSI, từ đó đến nay RSI và trở thành một trong các chỉ số phổ biến vàhiệu quả được sử dụng trong phân tích kỹ thuật Đây là một chỉ số thuộc nhóm các phương pháp tương quan phản ánh tương quan sức mạnh sự tăng giá và giảm giá trong một thời kỳ
1 Tính toán RSI
RSI phản ánh mối quan hệ giữa sức tăng giá và sức giảmgiá của một CP trong một thời kỳ , được xác định bằng cách :
Lấy tỷ số giá trung bình của các phiên tăng và giá trung bình các phiên giảm trong thời kỳ đó
Gọi n là số các phiên trong thời kỳ xác định cần tính RSI.Gọi giá trung bình các phiên tăng trong n phiên là AIn = Tổng giá các phiên tăng / n
Trang 4Gọi giá trung bình các phiên giảm trong n phiên là ADn = Tổng giá các phiên giảm / n
Chỉ số sức bền tương đối được tính bằng công thức
Trang 5RSI = 100 – 100/ (1 + AG/AL) = 75
2 Ý nghĩa
RSI xác định tương quan sức mạnh giữa phe mua và phe bán bằng cách phản ánh tỷ số tăng giá và tỷ số giảm giá vào giá trị của RSI Giá trị này nằm trong khoảng 0 đến
100
Giá trị 50 của RSI gọi là giá trị trung bình tại đây sức mua
và bán có tương quan ngang bằng nhau RSI lớn hơn 50
và càng lớn thì phản ánh sức mua càng lớn hơn sức bán, giá cả đang tăng RSI nhỏ hơn 50 và càng nhỏ thì phản hánh sức bán càng lớn hơn sức mua, giá cả đang xuống RSI có hai ngưỡng siêu mua và siêu bán là 70 và 30, nếu giá trị của RSI lớn hơn 70 thị trường đang ở trạng thái siêu mua với sự áp đảo của phe mua, nếu RSI nhỏ hơn
30 thị trường đang ở ngưỡng siêu bán và phe bán đang
• Siêu mua: mọi giá trị RSI ≥ 70 được gọi là siêu mua
• Siêu bán: mọi giá trị RSI ≤ 30 được gọi là siêu bán
• Trung bình: Ngưỡng 50 được gọi là trung bình, RSI >
50 báo hiệu về sự thắng thế của phe mua, RSI < 50 báo hiệu sự thắng thế của phe bán
Tín hiệu mua:
Trang 6Mua khi RSI cắt lên và nằm phía trên vạch có giá trị
30 (Vùng quá bán) và gia tăng tốc độ mua khi RSI tiến lên cắt qua 50
• Mua khi đường giá và đường RSI đều đang
tăng, với điều kiện đường RSI cắt và nằm trên lằn có giá trị là 50
• Bán khi đường giá và đường RSI đều đang
giảm, với điều kiện là RSI cắt và nằm phía dướilằn có giá trị là 50
Lưu ý: Khi RSI tăng hoặc giảm không liên tục thì những tín hiệu mua bán không xuất hiện Có thể thay đổi số phiên đang xét ít hơn; ví dụ như mặc định là 14 phiên và ta sẽ điều chỉnh thành 5
phiên Cần nhớ rằng khi giảm số phiên chỉ mangtính chất nhất thời, không ổn định, khi tăng số phiên xem xét thì tín hiệu mau bán sẽ chắc chắn hơn
/////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
MACD - TRUNG BÌNH ĐỘNG HỘI TỤ / PHÂN KỲ.
Kể từ khi được Gerald Appel giới thiệu, MACD đã trở thành một trong những công cụ phân tích kỹ thuật đơn giản và tin cậy nhất MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm
Trang 7phân tích tương quan: tương quan giữa trung bình động dài hạn
và trung bình động ngắn hạn
1 Tính toán
Về mặt tính toán MACD lấy một giá trị trung bình động của giá trong ngắn hạn trừ cho giá trị trung bình động trong dài hạn Thông thường MACD sử dụng EMA – 12 làm trung bình động ngắn hạn và EMA – 26 làm trung bình động dài hạn và cho hiệu số trên
1 Đường MACD: Đường trung bình giá trong 12 phiên gần nhất ( EMA 12 )
TRỪ đường trung bình giá trong 26 phiên gần nhất( EMA 26 )
2 Đường tín hiệu MACD: là
đường EMA (9) của đường MACD
3 Đường biểu đồ MACD: là
MACD trừ đi đường tín hiệu MACD
Như vậy nếu MACD > 0 thì trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn.Nếu MACD < 0 thì trung bìnhđộng dài hạn nhỏ hơn trung bình động ngắn hạn
Đồ thị các giá trị của MACD là một máy hiển thị dao động phản ánh tương quan giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn Thông thường đồ thị này được
vẽ kèm với đồ thị trung bình động EMA – 9 của chính MACD và đồ thị MACD – Histogram là hiệu số của MACD
và trung bình động EMA – 9 của chính MACD Về MACD Histogram sẽ được nêu trong một bài khác
-2 Ý nghĩa
So với các phương pháp phân tích khác, MACD thuộc về
cả hai nhóm phân tích xu thế và phân tích tương quan, MACD vừa chỉ ra xu thế của thị trường vừa xác định các tín hiệu mua và bán trên cùng một đồ thị
Trang 8Như đã biết trong bài viết về trung bình động, khoảng cách giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn thể hiện xu thế tăng hoặc giảm của thị trường Nếu trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là tăng giá và MACD có giá trị dương Nếu giá trị MACD dương và ngày càng lớn thì xu thế thị trường tăng ngày càng mạnh, phe bò tót ngày càng thắng
áp đảo Nếu trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là giảm giá và MACD có giá trị âm Nếu giá trị MACD âm và ngày càng nhỏ thì xu thế thị trường giảm ngày càng mạnh, phe gấu ngày càng thắng áp đảo Đường trung bình của MACD là 0 nơi mà trung bình động giá ngắn hạn gặp trung bình động giá dài hạn, tại đây bắt đầu có sự đổi chiều về xu thế của thị
đường trung bình động EMA của chính nó và đi
xuống dưới đường này thì đó là tín hiệu bán ra để cắt lỗ Nếu đường MACD cắt đường EMA của chính
nó và đi lên trên đường này thì đó là tín hiệu mua vào Sự giao cắt này được gọi là cò súng khai hỏa các tín hiệu mua và bán khá chính xác Tuy nhiên cũng chú ý rằng khi các tín hiệu này xảy ra thì
thường sự việc đã xảy ra rồi Tuy không thể mua đáybán đỉnh được nhưng việc bạn sớm mua vào hay bán ra ở đầu một xu thế lên giá hoặc giảm giá cũng
là một món hời
• Sự giao cắt giữa MACD và vạch 0 Sự giao cắt này chỉ là sự khẳng định lại tăng phần chắc chắn về xu thế mà các phép phân tích khác chỉ ra Thông
thường sự giao cắt này xảy ra khá muộn với độ trễ
Trang 9lớn nhất là khi sử dụng MACD với hai đường trung bình động trong 9 ngày và 26 ngày Do đó không thể dùng sự giao cắt này làm tín hiệu để phát lệnh
mua/bán
Các tín hiệu trên cần kết hợp với nhiều tín hiệu trên các phân tích khác để có kết quả chính xác hơn
• Xác định xu thế tăng hoặc giảm hoặc dập dềnh
• Các dấu hiện về phân kỳ âm, phân kỳ dương
• Ngưỡng siêu mua/siêu bán
Khi phối hợp các tín hiệu trên với nhau cần nhớ đến
nghịch lý của việc áp dụng phân tích kỹ thuật: Việc áp dụng và chờ đợi càng nhiều tín hiệu để tăng phần khẳng định chính xác hơn của một quyết định mua bán có thể làm tăng phần chậm trễ cho quyết định mua bán đó và ngược lại việc áp dụng quá ít tín hiệu để ra quyết định mua bán cho kịp thời cơ có thể lại kém phần chính xác Quyết định chính xác nhất là không quyết định
//////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
MACD- HISTOGRAM DỰ ĐOÁN MACD
Thomas Aspray giới thiệu MACD – Histogram vào năm
1968 như một giải pháp làm giảm thiểu độ trễ của MACD Như đã biết sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động EMA của chính nó là phát pháo lệnh cho các hành vimua và bán của nhà đầu tư Tuy nhiên nếu ngồi chờ phát pháo lệnh này thì sự việc có thể đã trễ Vì vậy MACD – Histogram được ra nhằm mục đích dự đoán sự xuất hiện của phát pháo lệnh trước khi nó xảy ra, nhờ đó nhà đầu
tư có thể ra quyết định mua/bán kịp thời hơn so với việc
Trang 10chờ đợi sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó
1 Tính toán
Giá trị của MACD – Histogram được tính bằng hiệu của MACD và giá trị trung bình động EMA của chính MACD Thông thường nếu chọn MACD được tính bằng hiệu hai đường trung bình động của giá là EMA – 12 và EMA – 26 thì giá trị trung bình động EMA của chính MACD được chọn là 9 phiên
Đồ thị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột Nếu MACD vượt
đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột quay lên trên Nếu
MACD nằm dưới đường trung bình động EMA của chính
nó thì MACD – Histogram âm và biểu đồ cột quay xuống dưới
MACD phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị của MACD và giá trị trung bình động EMA – 9 của chính MACD
Nếu giá trị của MACD – histogram dương và càng lớn thể hiện phe bò tót càng thắng thế trên thị trường Nếu giá trị MACD – histogram âm và càng nhỏ thì phe gấu càng thắng thế trên thị trường
Việc giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó là một hiệu lệnh cho hành vi mua vào hoặc bán
ra Tại điểm giao cắt này MACD – Histogram có giá trị 0 Bằng việc dựa vào sự tăng giảm của MACD – Histogram
để dự đoán việc MACD – Histogram bằng 0 sẽ xảy ra, nhờ đó MACD – Histogram đưa ra khuyến cáo về một hành vi mua bán của nhà đầu tư nên đến sớm hơn Kỹ thuật sử dụng để dự đoán như vậy chính là phân kỳ
dương và phân kỳ âm
3 Sử dụng
Trang 11Nếu đường MACD đang ở trên đường trung bình, giá cả đang lên nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì dấu hiệu này cảnh báo về sự giao cắt của MACD với trung bình động của chính nó và sẽ thấp hơn trung bình động Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định bán ra sớm hơn việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định bán
Nếu đường MACD đang ở dưới đường trung bình, giá cả đang xuống nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì dấu hiệu này cảnh báo sự giao cắtcủa MACD và đường trung bình động EMA của chính nó
và cao hơn trung bình động Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định mua vào sớm hơn là việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định mua
Chú ý rằng việc sử dụng MACD – Histogram để phán đoán cũng như sử dụng MACD giao cắt trung bình động EMA của chính nó được sử dụng dựa trên sự phối hợp bổtrợ với các phép phân tích khác
Ngoài ra vì MACD – Histogram dự đoán sự giao cắt của MACD nên dù có độ trễ ít hơn so với MACD nhưng tính chính xác lại kém hơn Sử dụng một biện pháp phỏng đoán gián tiếp qua một dấu hiện dự đoán khác thì sẽ kém
an toàn hơn là sử dụng phép dự đoán trực tiếp
///////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////////
Chỉ báo DMI hay ADX
Directional Movement Index (DMI)
DMI là 1 phần của chỉ báo ADX DMI bao gồm 2 đường DI+ và DI-, hiểu một cách đơn giản là DI+ cho tín hiệu mua và DI- cho tín hiệu bán
Trang 12Tín hiệu mua: Khi DI+ cắt và đi lên phía trên
DI-Tín hiệu bán: Khi DI- cắt và đi xuống phía dưới DI+
Lưu Ý: Khi sử dụng sự giao cắt của DMI để nhận
biết tín hiệu mua hoặc bán thì những tín hiệu này thường hay bị sai lệch Để khắc phục chúng ta sẽ dùng chỉ báo ADX để xác nhận lại sự giao cắt của DMI Chỉ báo ADX (Average Directional Movement Index) là một phần quan trọng không thể thiếu khi
sử dụng chỉ báo DMI
Average Directional Movement Index (ADX)
ADX là kỹ thuật chỉ báo thể hiện thị trường đang trong trạng thái có xu hướng hay không có xu hướng Khi ADX đã xác nhạn
có xu hướng thì kỹ thuật chỉ báo DMI sẽ chỉ ra những tín hiệu mua bán chắc chắn hơn
Một cách hiểu nào đó chúng ta có thể cho rằng mục đích chính của ADX là để xác định rõ xu hướng hiện tại của đường giá Nếu xác định rõ được xu hướng thị trường sẽ giúp ích cho
chúng ta rất lớn, vì nó sẽ chỉ dẫn và giúp cho nhà đầu tư sử dụngnhững kỹ thuật chỉ báo khác để phân tích
Điều đầu tiên và luôn luôn phải nhớ khi sử dụng ADX là chú ý hướng đi của đường giá Khi ADX dao động tăng hay giảm không có nghĩa là xác định được hướng chuyển động tiếp theo của đường giá
• Một xu hướng tăng giá mạnh đồng
nghĩa với ADX tăng liên tục.
• Một xu hướng giảm giá mạnh đồng
nghĩa với ADX tăng liên tục.
Diễn giải ADX:
• Dưới 20: thị trường không có xu hướng.
Trang 13• Tăng từ dưới lên trên 20: báo hiệu bắt
đầu một xu hướng mới Lúc này bắt đầu suy nghĩ đến việc mua hoặc bán trong xu hướng ngắn hạn hiện tại
• Dao động giữa 20 – 40: Nếu ADX tăng
theo hướng từ 20 lên 40; nó hàm ý xác nhận mạnh xu hướng mới đã hình thành trước đó và tiếp tục di chuyển theo hướng đã bắt đầu
Điều này có nghĩa là nhà đầu tư có thể sử
dụng lệnh mua hoặc bán khống (short-sell) tuỳtheo hướng đi của xu hướng thị trường Trong giai đoạn này, nhà đầu tư phải hạn chế sử
dụng chỉ báo Oscillator và các chỉ báo tiếp tục
xu hướng như là MA
• Trên 40: xu hướng hiện tại là rất mạnh.
• Cắt vạch 50 theo hướng tăng: xu hướng
Trang 14%D = (%K x + %K x-1 + %K x-2) / 3
Là trung bình 3 phiên của %K, trong đó x là số
phiên hiện hành
- Có 2 dạng stochastic: đường nhanh (fast
stochastic), đường chậm (low stochastic) Đường nhanh ảnh hưởng cực kỳ đến giá trong khi đó
đường chậm chỉ đơn thuần là kết quả cân bằng củađường nhanh
- Chì số stochastich được giới hạn từ 0 đến 100, nhưng phần lớn nó nằm quanh vị trí 20-80, nó phảnảnh các vùng quá bán (oversold) và vùng quá mua (oversbought) Đôi khi nó nằm ở những vùng 25-75
là những vùng hết sức nguy hiểm để thực hiện mua
và bán vì ở tại những vùng này thường không có nhiều thông tin hỗ trợ
Cách sử dụng chỉ báo Stochastic: đây là 1 trong những chỉ số dùng để nhận biết sự đảo chiều của thị trường
1 Thông thường những vùng overbought/oversold
là những vùng chỉ báo có sự biến động Tín hiệu bán khi chỉ báo stoc tăng mạnh lên trên 80 và cho tín hiệu mua khi stoc rơi xuống dưới 20
2 Khi fast stochastic (%K) các low stochastic (%D)
và hướng từ dưới lên sẽ cho tín hiệu mua, việc này
có hiệu quả cao khi nằm trong vùng dưới 20 Tương
tự, khi %K cắt %D từ trên xuống sẽ cho tín hiệu bán, điều này có hiệu quả cao khi nằm trong vùng trên 80
3 Phân kỳ: Khi đường giá tăng nhưng đường
stochastic giảm thì cho tín hiệu bán Khi đường giá
Trang 15giảm mà đường stochastic tăng thì sẽ cho tín hiệu mua.
Một tín hiệu mạnh xảy ra khi cả 3 tín hiệu trên đều cho ra 1 tín hiệu mua hay bán Đôi khi tại những lúc thị trường đạt đỉnh thì stochastic cũng nằm ở vị trí cao nhất và khi thị trường ở đáy thì stochastic cũng ở vị trí thấp nhất Đây cũng là dấu hiệu nhận biết để thóat ra hay nhảy vào của những nhà đầu tư
////////////////////////////////////////////////////////
Aroon thể hiện xu thế
Năm 1995, Tushar Chande giới thiệu Aroon với tư cách là phương pháp phân tích kỹ thuật xác định xu thế giá cả của thị trường và cho biết xu thế đó mạnh đến đâu?
Ý tưởng tính toán Aroon dựa trên việc xác định phiên có giá cao nhất (hoặc nhỏ nhất) cách phiên hiện tại bao xa trong số các phiên lấy dữ liệu tính Nếu phiên có giá cao nhất nằm cách xa phiên hiện tại thì xu thế thị trường có sựchuyển mình sang giảm giá, nếu phiên có giá thấp nhất nằm cách xa phiên hiện tại thì xu thế thị trường có sự chuyển mình sang xu thế tăng giá
Với vai trò nhận định xu thế giả trên thị trường, đồ thị giá trị của Aroon có hai loại: Loại thứ nhất bao gồm 2 đồ thị biểu thị hai giá trị là Aroon up và Aroon down thể hiện sức mạnh tăng và giảm giá trên thị trường Loại thứ 2 biểu thị
sự tương quan giữa sức tăng và sức giảm giá trên thị trường bằng cách lấy hiệu của Aroon up và Aroon down,
đồ thị loại này có dạng một máy dao động
1 Cách tính Aroon