1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán các khoản thu chi ngân sách nhà nước tại UBND xã quảng phú huyện thọ xuân tỉnh thanh hóa”

124 150 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 248,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức rõ tầm quan trọng của kế toán HCSN trong các đơn vị HCSNhoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước và được sự đồng ý của khoa Quản lý đấtđai trường CĐ Tài nguyên và Môi trường miền

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kinh tế nước ta đã và đang được đổi mới một cách toàn diện trong sựchuyển đổi cơ chế quản lý Trong cơ chế quản lý mới, kế toán HCSN với tư cách làmột bộ phận cấu thành của hệ thống các công cụ quản lý cũng được chú trọng quantâm

Trong quá trình hoạt động, các đơn vị hành chính sự nghiệp dưới sự quản lý củaĐảng và Nhà nước phải có nhiệm vụ chấp hành nghiêm chỉnh luật Ngân sách Nhànước, các tiêu chuẩn định mức, các quy định và chế độ kế toán hành chính sựnghiệp do Nhà nước ban hành Điều này nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý kinh tế -tài chính, tăng cường quản lý kiểm soát chi quỹ Ngân sách Nhà nước, quản lý tàisản công, nâng cao chất lượng công tác kế toán và hiệu quả quản lý các đơn vịhành chính sự nghiệp

Chính vì vậy, công việc của kế toán trong các đơn vị HCSN là tổ chức hệthống thông tin bằng số liệu để quản lý và kiểm soát nguồn kinh phí, tình hình sửdụng quyết toán kinh phí, tình hình quản lý và sử dụng các loại vật tư tài sản công,tình hình chấp nhận dự toán thu, chi và thực hiện các tiêu chuẩn định mức của Nhànước ở đơn vị Để quản lý một cách có hiệu quả các khoản chi tiêu của đơn vị cũngnhư chủ động trong việc chi tiêu, hàng năm kế toán HCSN trong đơn vị phải lập dựtoán cho từng khoản chi và dựa vào dự toán này NSNN cấp phát kinh phí cho đơn

vị Vì vậy, trong đơn vị HCSN không thể thiếu công tác kế toán HCSN

Nhận thức rõ tầm quan trọng của kế toán HCSN trong các đơn vị HCSNhoạt động dưới sự quản lý của Nhà nước và được sự đồng ý của khoa Quản lý đấtđai trường CĐ Tài nguyên và Môi trường miền Trung cùng với sự giúp đỡ củaPhòng kế toán xã Quảng phú, nên em quyết tâm học hỏi và nghiên cứu để nâng caohiểu biết về vị trí vai trò của công tác kế toán HCSN, em quyết định chọn đề tài

“Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán các khoản thu chi ngân sách nhà nước tại UBND xã Quảng Phú huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa”.

Được thực tập tại Phòng Kế toán xã, được tiếp cận làm quen với từng khâucủa công tác kế toán từ: Lập chứng từ kế toán, ghi sổ kế toán, lưu trữ hồ sơ tài liệu

kế toán Đã giúp em nhận thức rõ, sâu về tính chất tổng hợp của kế toán HCSN Và

Trang 2

có cái nhìn tổng quát về tình hình quản lý ngân sách ở một đơn vị HCSN Từ đó,đưa ra một vài nhận xét, kiến nghị về việc hạch toán và tổ chức công tác kế toán tạiđơn vị với mong muốn góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác kế toán tạiđơn vị.

2 Mục đích nghiên cứu

Qua quá trình thực tập tại đơn vị và khảo sát chung về tình hình thực tế hạchtoán kế toán, tìm hiểu công tác quản lý để thấy được công tác kế toán thu chi ngânsách xã từ khâu đầu vào và kế toán quá trình sử dụng đến khi quyết toán được thựchiện như thế nào?

Đi sâu vào tìm hiểu, phân tích đánh giá tình hình công tác kế toán

Rút ra những ưu nhược điểm, nhận xét và đề xuất một số giải pháp nhằmhoàn thiện công tác kế toán tại đơn vị

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán các khoản thu chi ngân sách nhà nước tại UBND

xã Quảng Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Phạm vi thời gian:

+ Thời gian thực tập tại UBND xã Quảng Phú từ ngày 21/01 đến ngày30/06/2015

+ Nghiên cứu số liệu: Số liệu của tháng 02 năm 2015

- Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên cứu tại UBND xã Quảng Phú, huyệnThọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

Để có được thông tin và số liệu về công tác kế toán thu chi ngân sách nhànước tại UBND xã Quảng Phú, em đã kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

- Phương pháp phỏng vấn về công tác kế toán

- Tiếp xúc thực tế, quan sát, mô tả

5 Kết cấu báo cáo

Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, báo cáo thực tập gồm 3 chương:

- Chương 1: Lý luận về kế toán thu chi ngân sách Nhà nước

- Chương 2: Thực trạng về công tác kế toán thu chi ngân sách nhà nước tại UBND

xã Quảng Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

- Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện công tác kếtoán thu chi ngân sách nhà nước tại UBND xã Quảng Phú, huyện Thọ Xuân, tỉnhThanh Hóa

Trang 4

M C L C U U

Trang 5

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THU CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 Tổng quan về ngân sách nhà nước

1.1.1 Lịch sử hình thành ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, nó phản ánhnhững mặt nhất định của các quan hệ kinh tế thuộc lĩnh vực phân phối sản phẩm xãhội trong điều kiện còn tồn tại quan hệ hàng hóa - tiền tệ và được sử dụng như mộtcông cụ thực hiện các chức năng của Nhà nước Điều này có nghĩa là sự ra đời vàtồn tại của NSNN gắn liền với sản xuất hàng hóa, với sự ra đời và tồn tại của Nhànước

Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh rằng, khi chế độ tư hữu xuất hiệnthì xã hội bắt đầu phân chia thành giai cấp và có sự đấu tranh giữa các giai cấptrong xã hội Trong điều kiện lịch sử đó, Nhà nước đã xuất hiện, đó là hình tháiNhà nước đầu tiên của xã hội loài người - Nhà nước của chế độ nộ lệ Khi Nhànước ra đời thì đồng thời Nhà nước cũng có những nhu cầu chi tiêu về: bộ máyquản lý, quân đội,…nhằm duy trì quyền lực của Nhà nước Những khoản nàyngười dân phải gánh chịu dưới các hình thức thuế, công trái,… và từ đây phạm trùngân sách ra đời

Ở chế độ phong kiến, vai trò quyết định trong thu - chi của Nhà nước thuộc

về nhà vua Nhà vua có toàn quyền và không chịu bất kỳ một sự kiểm soát nàotrong việc chi tiêu các nguồn tài chính Nhà nước Hàng năm, những khối lượng tàichính khổng lồ được được ném vào việc thỏa mãn những nhu cầu cá nhân và giađình nhà vua Bên cạnh đó, tầng lớp quan chức, quý tộc luôn luôn phô trương sựgiàu có của mình bằng những hành động vô cùng sa hoa, lãng phí Chính sự sa hoa,lãng phí này là nguyên nhân của tình trạng rối loạn tài chính nhà nước, làm kiệtquệ đời sống của nhân dân

Sự ra đời của chủ nghĩa tư bản, các nhà tư sản công nghiệp xuất hiện đã laovào cuộc đấu tranh chống lại luật lệ tài chính vô lý, đòi hỏi sự hỗ trợ tài chính củaNhà nước để phát triển sản xuất và yêu cầu sửa đổi hệ thống thuế khóa Kết quảcủa cuộc đấu tranh này đã xóa bỏ được độc quyền chi tiêu tài chính của người

Trang 7

đứng đầu Nhà nước, hình thành một chế độ tài chính mới và một ngân sách nhànước hoàn chỉnh Đó là một ngân sách được thiết lập và phê chuẩn hàng năm, cơchế vận hành cụ thể, rõ ràng theo hệ thống định mức và luật pháp công khai Mộtngân sách như vậy được xuất hiện đầu tiên ở nước Anh, nơi sự phát triển của chủnghĩa tư bản diễn ra sâu sắc nhất và nhanh chóng nhất

Nền kinh tế hàng hóa phát triển và hệ thống Nhà nước pháp quyền đã đẩyngân sách phát triển tới một trình độ cao hơn, được thiết kế phù hợp với văn minhdân chủ tư sản hoặc văn minh dân chủ xã hội chủ nghĩa Trong đó, NSNN được dựtoán, được thảo luận và phê chuẩn bởi những cơ quan pháp quyền, được giới hạnthời gian sử dụng, được quy định nội dung thu, chi, được kiểm soát bởi hệ thốngthể chế, báo chí và nhân dân

Nghiệp vụ chủ yếu của NSNN là thu, chi nhưng không đơn thuần là việctăng giảm số lượng tiền tệ mà còn phản ánh mức độ quyền lực, ý chí và sở nguyệncủa Nhà nước, đồng thời biểu hiện quan hệ kinh tế - tài chính giữa Nhà nước vớicác tác nhân khác nhau của nền kinh tế trong quá trình phân bổ các nguồn lực vàphân phối thu nhập mới sáng tạo ra

1.1.2 Bản chất ngân sách nhà nước

1.1.2.1 Khái niệm về ngân sách nhà nước

Theo từ điển Bách Khoa Toàn Thư của Liên Xô (cũ) (1971) cho rằng: “Ngânsách là bảng liệt kê các khỏan thu và chi bằng tiền của Nhà nước trong một giaiđoạn nhất định; là mọi kế hoạch thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơquan hoặc cá nhân nào trong một giai đoạn nhất định”

Từ điển Bách Khoa Toàn Thư về kinh tế của Pháp định nghĩa: “Ngân sách làvăn kiện được Nghị viện hoặc Hội đồng thảo luận và phê chuẩn mà trong đó, cácnghiệp vụ tài chính (thu, chi) của một tổ chức công (Nhà nước, chính quyền, địaphương, đơn vị công hoặc tư (doanh nghiệp, hiệp hội …) được dự kiến và chophép”

Từ điển kinh tế thị trường của Trung Quốc định nghĩa: “Ngân sách nhà nước

là kế hoạch thu chi tài chính hàng năm của nhà nước được xét duyệt theo trình tựpháp định”

Trang 8

Từ điển thuật ngữ tài chính tín dụng (1996) của Viện Nghiên cứu Tài chínhcho rằng: “Ngân sách được hiểu là dự toán và thực hiện mọi khoản thu nhập (tiềnthu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) của bất kỳ một cơ quan, xí nghiệp, tổ chức, giađình hoặc cá nhân trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

Riêng về khái niệm NSNN, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau:

“Thuộc nhóm thứ nhất, thì NSNN là một bản dự toán thu chi trong năm củaNhà nước Cách quan niệm đó đúng về hình thức, nhưng đó chỉ là một giai đoạncủa quá trình ngân sách và cũng chưa thể hiện được vị trí của NSNN

Một số tác giả thuộc nhóm thứ hai cho rằng, NSNN là quỹ tiền tệ tập trungcủa Nhà nước Cách quan niệm đó đúng ở chỗ, người ta đã thực thể hóa đượcNSNN và cũng nêu lên được vị trí của NSNN so với các quỹ tiền tệ khác Vì thực

tế cũng thường thấy, thu của Nhà nước đưa vào một quỹ tiền tệ và chi của Nhànước cũng xuất từ quỹ tiền tệ ấy Nhưng các quan điểm này chưa phản ánh được vịtrí cân đối vĩ mô của NSNN trong nền kinh tế quốc dân

Theo quan điểm thuộc nhóm thứ ba thì NSNN là hệ thống các quan hệ kinh

tế giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và phânphối các nguồn tài chính Chỗ đúng của quan niệm này là nói lên được NSNN chứađựng các quan hệ kinh tế, nhưng nó lại không nói lên được thực thể NSNN là gì?Quan hệ kinh tế đó có phải là quan hệ tài chính – ngân sách không?

Các quan điểm trên không có sự khác nhau quá lớn, hoàn toàn có thể xích lạigần nhau Dựa trên cơ sở phân tích đó và quan sát hiện thực có thể khái niệmNSNN như sau: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu - chi của Nhà nước

đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong mộtnăm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Từ các tài liệu vừa nêu trên, có thể rút ra một số điểm đặc trưng của ngânsách như sau:

- Ngân sách là một bảng liệt kê, trong đó dự kiến và cho phép thực hiện cáckhỏan thu, chi bằng tiền của một chủ thể nào đó (Nhà nước, bộ, xí nghiệp, giađình, cá nhân)

- Ngân sách tồn tại trong một khoảng thời gian nhất định, thường là mộtnăm

Trang 9

Hai điểm đặc trưng trên đây là cơ sở để xác định khái niệm về ngân sách nhànước Nói cách khác, về mặt khái niệm, có thể hiểu ngân sách nhà nước là dự toán(kế hoạch) thu - chi bằng tiền của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định(thường là một năm).

Theo Luật NSNN đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNam khóa XI, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 16/12/2002 có hiệu lực thi hành từnăm ngân sách 2004, cho rằng: “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chicủa Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thựchiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, 5 nhiệm vụ của Nhànước” Khái niệm này có thể coi là cơ bản nhất trong các khái niệm đã nêu trong

đề tài

Năm ngân sách (còn được gọi là niên độ ngân sách hay năm tài chính hoặctài khóa), mà trong đó, dự toán thu, chi tài chính của Nhà nước đã được phê chuẩncủa quốc hội có hiệu lực thi hành Hiện nay, ở tất cả các nước, năm ngân sách đều

có thời hạn bằng một năm dương lịch, nhưng thời điểm bắt đầu và kết thúc nămngân sách ở mỗi nước một khác

Việc quy định năm ngân sách hoàn toàn là ý định chủ quan của Nhà nước.Tuy nhiên, ý định này cũng bắt nguồn từ những yếu tố tác động khác nhau, trong

đó có 2 yêu cầu cơ bản là:

- Đặc điểm hoạt động của nền kinh tế có liên quan tới nguồn thu của NSNN

- Đặc điểm hoạt động của cơ quan lập pháp (các kỳ họp của Quốc hội hoặcNghị viện để phê chuẩn NSNN) Ở nước ta, năm ngân sách bắt đầu từ 01/01 và kếtthúc vào 31/12 hàng năm Điều này phù hợp với các kỳ họp của Quốc hội

- Kỳ họp thứ nhất vào tháng 6, thường dành để xem xét tình hình chấp hànhNSNN

- Kỳ họp thứ hai vào tháng 11, tháng 12 để thảo luận và phê chuẩn NSNNnăm tài chính tiếp theo

1.1.2.2 Bản chất của ngân sách nhà nước

Những khái niệm hoặc định nghĩa trên về NSNN chỉ thể hiện về tính pháp lýhoặc hình thức hoạt động của NSNN, mà chưa đi sâu vào nội dung khoa học củaNSNN với tư cách nó là phạm trù kinh tế, lịch sử và gắn với bản chất, chức năng

Trang 10

của Nhà nước đương quyền Dựa trên cơ sở phân tích khoa học về quá trình phátsinh, tồn tại và phát triển của tài chính và ngân sách, hầu hết các nhà khoa học tàichính đều thừa nhận tài chính nói chung và ngân sách nói riêng là phạm trù kinh tế

- lịch sử Là phạm trù kinh tế, nó gắn với sự phát triển kinh tế - hàng hóa; là phạmtrù lịch sử nó gắn với sự ra đời và phát triển của Nhà nước và là công cụ kinh tếcủa Nhà nước Thông qua Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệphân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một

bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác

để đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của Nhà nước Việc thực hiện các quan hệphân phối nói trên, chủ yếu thông qua quyền lực chính trị của Nhà nước, bằng thểchế hóa của pháp luật, để động viên các nguồn tài chính có tính chất bắt buộc vàhình thành quỹ tiền tệ tập trung, phục vụ cho các chức năng của Nhà nước đươngquyền Do vậy, nếu nhìn về hình thức hoạt động của NSNN, chắc chắn có nhiềuquan điểm khác nhau về bản chất của NSNN

Để có cách nhìn nhận đầy đủ hơn về bản chất của NSNN một cách toàn diện

cả về phương diện khoa học và thực tiễn cần phải xem xét trên các góc độ sau:

- Thứ nhất, trên góc độ khoa học - ngân sách là phạm trù kinh tế - lịch sử(như đã đề cập trên)

- Thứ hai, nhìn từ góc độ kinh tế - xã hội - ngân sách phản ảnh tổng thể cácquan hệ kinh tế - xã hội thông qua quan hệ động viên các nguồn lực tài 7 chính vàphân phối các nguồn lực tài chính đó cho các mục tiêu KT – XH

- Thứ ba, trên góc độ nội dung vật chất - ngân sách nhà nước là quỹ tiền tệtập trung lớn nhất, được sử dụng để thực hiện các chức năng của Nhà nước

- Thứ tư, nhìn trên góc độ quản lý - ngân sách là kế hoạch tài chính cơ bảncủa Nhà nước hay là bảng cân đối thu – chi chủ yếu của Nhà nước

- Thứ năm, từ góc độ pháp lý - NSNN là đạo luật tài chính cơ bản trong nămtài chính

Từ cách tiếp cận đó, có thể rút ra về bản chất sâu sa của NSNN:

Ngân sách nhà nước là hệ thống (tổng thể) các quan hệ kinh tế, gắn liền vớiquá trình phân phối các nguồn lực tài chính của xã hội để hình thành quỹ tiền tệ tập

Trang 11

trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ KT - XH của Nhà nước trongtừng thời kỳ nhất định

Các quan hệ kinh tế thuộc phạm trù ngân sách nói trên bao gồm:

- Thứ nhất, quan hệ giữa NS (Nhà nước) với các tổ chức kinh tế (các doanhnghiệp) – Thông qua việc phân phối kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dướihình thức động viên thuế, phí để hình thành nguồn lực tài chính của Nhà nước.Ngược lại, NSNN thực hiện việc đầu tư và tài trợ hoạt động của các doanh nghiệpnhư: Xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, trợ giá, trợ vốn, bao tiêu để tạo điều kiệnthuận lợi cho các doanh nghiệp cạnh tranh phát triển Quan hệ giữa NSNN với cácdoanh nghiệp có thể được coi như mối quan hệ trung tâm của hệ thống tài chính, và

đó là quan hệ giữa khâu chủ đạo trong hệ thống tài chính ngân sách và khâu cơ sởcủa hệ thống tài chính (Tài chính doanh nghiệp) Quan hệ giữa NSNN và tài chínhdoanh nghiệp là đầu mối trong phân phối các nguồn lực tài chính, quyết định đếnquan hệ giữa tích tụ, tập trung vốn và ảnh hưởng đến cả quy mô và cơ chế vậnhành của hệ thống 8 tài chính Mặt khác, suy cho cùng, mối quan hệ giữa hai khâunày có tính chất quyết định đến việc hình thành cơ chế quản lý tài chính và trựctiếp tác động tích cực đến quá trình kinh tế Thông qua mối quan hệ đó, Nhà nướccòn thực hiện kiểm tra thường xuyên, toàn diện các hoạt động kinh doanh, môitrường kinh doanh và tuân thủ pháp luật tài chính Trên cơ sở đó, Nhà nước thựchiện điều chỉnh, hoàn thiện chính sách, cơ chế tài chính ngân sách thích ứng vớiquá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế

- Thứ hai, quan hệ giữa ngân sách (Nhà nước) với các cơ quan chức năngcủa Nhà nước (các cơ quan quản lý Hành chính sự nghiệp hay các lĩnh vực khôngsản xuất vật chất) Các cơ quan này tuy không trực tiếp sản xuất và tạo ra nguồnlực tài chính trong gián tiếp cũng góp phần phát triển kinh tế thông qua các hoạtđộng văn hóa, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội và an ninh - quốc phòng Quan hệngân sách và các cơ quan chức năng của Nhà nước thông qua việc cấp phát kinhphí của ngân sách cho các đơn vị dự toán từ trung ương đến địa phương thuộc lĩnhvực quản lý nhà nước, sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, xã hội,… Các hoạt độngnày sẽ tạo ra các nguồn lực tài chính tiềm ẩn và tạo ra những tiềm năng cho pháttriển kinh tế và khai thác gián tiếp các nguồn lực tài chính Điều đó được giải thích

Trang 12

khi mà tri thức và khoa học biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp Do vậy, có thểcoi đây cũng là quan hệ kinh tế của NSNN Trong cơ chế kinh tế thị trường cóquan hệ sau: Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các tổ chức xã hội Quan hệ kinh tếgiữa Nhà nước và các tầng lớp dân cư Quan hệ kinh tế giữa Nhà nước với các chủthể trên thị trường tài chính.

- Thứ ba, quan hệ giữa ngân sách với các tầng lớp dân cư thông qua nghĩa

vụ nộp thuế, phí đối với các thể nhân; các hình thức tín dụng nhà nước (trái phiếu,tín phiếu,…) và các nguồn đóng góp tự nguyện của người dân (Nhà nước và nhândân cùng làm, xổ số kiết thiết, đóng góp tự nguyện tiền, tài sản) Về phía Nhà nướcquan hệ này được hoàn trả gián tiếp bằng các công trình phúc lợi công cộng về KT– VH - XH Ngoài ra, Nhà nước còn thực hiện các khoản trợ cấp xã hội từ ngânsách như: chính sách thương binh xã hội, học bổng, cứu tế xã hội, trợ cấp chonhững người không nơi nương tựa và các chương trình phúc lợi an sinh như: nướcsạch, vệ sinh môi trường, trường học, bệnh viện, trạm xá và các công tác xã hộinhân đạo khác Tất cả những mặt trên suy cho cùng cũng là quan hệ kinh tế, vì mụcđích kinh tế và hướng tới an sinh cho mọi tầng lớp dân cư

- Thứ tư, quan hệ giữa Nhà nước với các định chế tài chính quốc tế với cácChính phủ và các tổ chức phi Chính phủ

Những quan hệ nói trên thể hiện rõ nội dung KT - XH của NSNN, nhìn trêngóc độ NSNN là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế trọng yếu của Nhà nước

Ngoài ra trong tư cách là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế của Nhànước; do vậy, khi xem xét bản chất của NSNN một cách đầy đủ và sâu sắc hơn,cũng cần gắn nó với các yếu tố sau:

- Thứ nhất, với các chính sách KT – XH của Nhà nước đương quyền, vớichính sách KT - XH đó thể hiện rõ bản chất của Nhà nước đề ra các chính sách đó

và bản chất của Nhà nước thẩm thấu vào bản chất của NSNN, với ngân sách làcông cụ đắc lực của chính sách Nhà nước đó

- Thứ hai, với phương thức sản xuất tương ứng cốt lõi là quan hệ sản xuất.Bởi phương thức sản xuất nào sẽ quyết định việc hình thành thể chế kinh tế, cơ chếtài chính, cũng như cơ chế quản lý tài chính và ngân sách

Trang 13

Tóm lại: Những phân tích trên đã hình thành những yếu tố quan trọng đểnhìn nhận một cách toàn diện, khoa học, thực tiễn về bản chất của NSNN, trong tưcách vừa là phạm trù kinh tế vừa là công cụ kinh tế của Nhà nước Trên cơ sở đó,vận dụng nó để xây dựng các chính sách và cơ chế quản lý tài chính, ngân sáchthích ứng, nhằm thúc đẩy quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách hiệuquả và bền vững

Bản chất của NSNN còn được thể hiện trong hoạt động thực tiễn thông quacác chức năng của NSNN

1.1.3 Chức năng của ngân sách nhà nước

1.1.3.1 Chức năng phân phối

Phân phối của NSNN không chỉ dừng ở khâu phân phối thu nhập mà bao gồm

cả phân phối các yếu tố đầu vào, cụ thể là phân bổ các nguồn lực tài chính cho các đối tượng sử dụng

- Đối tượng phân phối của NSNN là các nguồn lực tài chính do thu nhập quốc dân mới sáng tạo thuộc các thành phần kinh tế cùng với các khoản vay, mượn của Chính phủ, gắn với việc hình thành, sử dụng các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước trong quá trình thực hiện chức năng phân phối

- Phạm vi phân phối của NSNN được giới hạn ở các nghiệp vụ có liên quan đến quyền chủ sở hữu và quyền lực chính trị của Nhà nước, cụ thể như sau:

+ Phân phối nguồn lực tài chính và tài trợ vốn cho các doanh nghiệp, thường

là các doanh nghiệp mà Nhà nước chủ sở hữu toàn bộ hay một bộ phận dưới hình thức liên doanh liên kết hoặc chi cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hộibằng nguồn vốn tập trung từ NSNN

+ Phân phối thu nhập cho nhu cầu của các cơ quan và tổ chức kinh tế nằm trong cơ cấu bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương

- Đặc trưng cơ bản của phân phối NSNN:

+ Phân phối dưới hình thức giá trị, chủ yếu sử dụng tiền tệ làm đơn vị tínhtoán và phương tiện thanh toán

Trang 14

+ Phân phối và tái phân phối được thực hiện thông qua hệ thống động viêncác nguồn lực tài chính hình thành qua hệ thống NSNN bảo đảm quan hệ cân đốitrong nền kinh tế kinh tế quốc dân

+ Tham gia không đầy đủ vào quá trình phân phối các yếu tố đầu vào, chủ yếu

là Nhà nước đầu tư trực tiếp, cấp vốn kinh doanh, trợ cấp đối với nền kinh tế + Thực hiện phân phối kết quả của quá trình sản xuất, cung ứng hàng hóa,dịch vụ chủ yếu thông qua thuế, phí, lệ phí, thu nhập quyền sở hữu, các khoản chiNSNN cho cộng đồng

+ Phân phối NSNN tác động đến cả hai bên cung và bên cầu của nền kinh tế,gắn liền với sự hình thành và sử dụng quỹ NSNN của Nhà nước

+ Nhà nước luôn là chủ thể quyết định trong các quan hệ phân phối có liênquan đến NSNN, Nhà nước sử dụng tối đa quyền lực chính trị thực hiện chức năngphân phối của NSNN

+ Về cơ bản, quá trình phân phối lại của NSNN đa phần mang đặc tính khônghoàn trả

Về mục đích, suy cho cùng, phân phối của NSNN hướng vào việc giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội, thực hiện tái sảnxuất mở rộng, xác lập cơ cấu KT - XH hợp lý, làm nền tảng cho quá trình phát triển phù hợp với các quy luật khách quan

1.1.3.2 Chức năng giám đốc

Chức năng giám đốc là một thuộc tính khách quan vốn có của NSNN Giám đốc ở đây được hiểu là giám sát, đôn đốc, kiểm tra bằng đồng tiền, tiến hành một cách thường xuyên, liên tục cùng với quá trình vận động của các đối tượng phân phối NSNN

Đặc trưng cơ bản của giám đốc NSNN:

+ Giám đốc của NSNN là giám đốc bằng đồng tiền thông qua quá trình vận động của đồng tiền từ khâu huy động các nguồn lực tài chính đến khâu tái phân phối các nguồn lực đó cho các đối tượng sử dụng

Trang 15

+ Giám đốc NSNN được thực hành từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chu

kỳ phân phối của NSNN Hay nói cách khác, là được thực hiện ở tất cả các giai đoạn trước, trong và sau khi thực hiện

* Giám đốc trước khi thực hiện: là giám đốc ở khâu lập kế hoạch nhằm đảm bảo tính đúng đắn, chính xác và hợp lý hiệu quả của dự toán NSNN, trong kế hoạch tài chính của các tổ chức kinh tế, của các dự toán tại các cơ quan đơn vị Hành chính sự nghiệp Thông qua đó nhằm điều tiết các chỉ tiêu kinh tế, bảo đảm ngân sách từ khi lập dự toán

* Giám đốc trong khi thực hiện: là giám đốc quá trình chấp hành thu – chi NSNN, giám đốc thực hiện kế hoạch tài chính và dự toán kinh phí Khâu này nhằmgiữ vai trò quan trọng nhất trong quản lý NSNN, bởi vì thông qua kiểm tra thực hiện NSNN, nhằm bảo đảm NSNN thường xuyên cân đối và thực hiện điều hành NSNN khi các khoản thu – chi ngân sách không bảo đảm quan hệ cân đối cục bộ hay toàn cục

* Giám đốc sau khi thực hiện: là giám đốc tiến hành sau khi kết thúc chu kỳ vận động của các quỹ và vốn tiền tệ thông qua các báo cáo quyết toán tài chính, ngân sách, nhằm bảo đảm xác lập cân đối NSNN cho năm kế hoạch Trong các giaiđoạn giám đốc nêu trên thì giám đốc trong khi thực hiện là khâu quan trọng nhất,

vì khâu này là nhân tố quyết định đến việc biến kế hoạch thành hiện thực

+ Giám đốc NSNN bao gồm giám đốc tuân thủ và giám đốc hiệu quả

* Giám đốc tuân thủ: là giám đốc quá trình hình thành và sử dụng quỹ NSNN,xem xét trong quá trình đó, công việc thu, chi, tài trợ, cấp vốn, … có tuân thủ đúngchế độ, đúng dự toán được phê chuẩn, có nằm trong khuôn khổ luật pháp cho phép hay không

* Giám đốc hiệu quả: là thông qua phân phối thu, chi NSNN mà xem xétviệc phân phối và sử dụng NSNN có mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội không? Cólãng phí không? …

Về mục đích, giám đốc NSNN là hướng vào việc đảm bảo tính hiệu quả, tiếtkiệm trong việc huy động cũng như sử dụng đồng vốn của NSNN và giữ kỷ luật tàichính

Trang 16

Thực hiện tốt chức năng giám đốc NSNN mang lại những ý nghĩa vô cùngquan trọng, cụ thể:

+ Đảm bảo tính hợp lý trong mối quan hệ giữa tích tụ và tập trung vốn,cũng như giữa tích lũy và tiêu dùng xã hội

+ Cho phép khai thác mọi khả năng tiềm tàng sẵn có trong nền kinh tế quốcdân + Bảo đảm các quan hệ cân đối trong quá trình phát triển kinh tế, từ đó xác lập

cơ cấu kinh tế hợp lý

+ Duy trì kỷ cương, pháp luật tài chính, chống tham nhũng và các hiệntượng gây lãng phí của cãi xã hội

+ Phát hiện kịp thời những sai sót trong quá trình phân phối, từ đó thực hiệnviệc điều chỉnh nó để đảm bảo sự lành mạnh của các quan hệ kinh tế

Giữa chức năng phân phối và chức năng giám đốc của NSNN có mối quan

hệ hữu cơ với nhau trong quá trình hình thành và vận động của NSNN Trong đó,phân phối là chức năng trọng yếu của NSNN, chức năng phân phối vừa là tiền đề,vừa là cơ sở cho sự hình thành và vận động của chức năng giám đốc, thông quaphân phối mà thực hiện giám sát, kiểm tra; ngược lại nhờ có kiểm tra, giám sát màquá trình phân phối NSNN được thực hiện đúng pháp luật và có hiệu quả Chứcnăng phân phối chỉ mới cho thấy sự vận động của quỹ tiền tệ tập trung cho từnglĩnh vực phát triển của đất nước, còn về tính đúng đắn, tính hợp lý, phù hợp vớiyêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan muốn được đảm bảo đòi hỏi phải cóchức năng giám đốc Chức năng giám đốc có thể đi trước hoặc trong hoặc sau quátrình thực hiện phân phối, nhưng xét cho cùng giám đốc về NSNN chỉ có thể bắtnguồn từ quan hệ phân phối

Ngoài ra, giám đốc còn thông qua các biện pháp hành chính như: Giám đốc của các cơ quan lập pháp và hành pháp như: Nghị viện, Chính phủ thông qua các

cơ quan Thanh tra, Kiểm toán Nhà nước, Thống kê và dư luận xã hội

1.1.4 Vai trò của ngân sách nhà nước

1.1.4.1.Vai trò của NSNN trong nền kinh tế quốc dân

 Ngân sách nhà nước – công cụ huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầuchi tiêu của nhà nước

Trang 17

 Huy động các nguồn lực tài chính: Ngân sách nhà nước là một công cụ đắc lực củaNhà nước – NSNN giữ vai trò trọng yếu trong việc động viên và phân phối cácnguồn lực tài chính để bảo đảm việc thực thi các chức năng của Nhà nước đươngquyền, thông qua các chính sách thuế: thuế trực thu, thuế gián thu, phí và cácnguồn thu khác.

Thuế là khoản thu có tính chất bắt buộc được quyết định bởi quyền của Nhànước thông qua hệ thống pháp lý, đồng thời thuế là khoản thu không hoàn trả.Nhưng suy cho cùng với bản chất của Nhà nước, của dân, do dân và vì dân, nó sẽđược hoàn trả gián tiếp bằng những hình thức khác nhau thông qua các quan hệphân phối do Nhà nước thực hiện Ngoài thuế, phí,…, NSNN còn động viên cácnguồn tài chính khác dưới hình thức nợ công như: phát hành công trái (trái phiếuhay tín dụng nhà nước), vay nợ nước ngoài (ODA) và tín dụng quốc tế (IMF, WB,ADB,…)

Để bảo đảm nguồn thu cần thiết cho NSNN, thuế, phí thường được ấn định

từ 22 – 25%/GDP trong thời kỳ thực hiện công nghiệp hóa ở Việt Nam và mứcđộng viên này có thể được gia tăng cùng với quá trình phát triển Mặt khác, để giữvững cân đối thu – chi ngân sách và phát triển nguồn thu bền vững, thì quá trìnhhuy động các nguồn lực tài chính cho NSNN cũng cần phải tuân thủ các nguyêntắc cơ bản trong động viên các nguồn lực đó là:

• Trong quá trình huy động các nguồn lực cho NSNN, phải bảo đảm quan hệ cânđối, hợp lý giữa tích tụ vốn (tích lũy đối với các tổ chức kinh tế) và tập trung vốn(vào NSNN) để tạo điều kiện bồi dưỡng, tái tạo các nguồn lực tài chính lâu bền

• Quá trình động viên các nguồn lực vào NSNN cũng là quá trình điều chỉnh cácquan hệ kinh tế theo hướng kích thích hoặc hạn chế các hoạt động kinh doanh tùyvào lợi ích mà nó mang lại cho quốc kế dân sinh

• Bảo đảm công bằng XH và hợp lý đối với các loại hình kinh doanh thông qua ýnghĩa và vai trò của nó đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế

• Quá trình huy động vốn vào NS cũng là quá trình bồi dưỡng các nguồn thu và kíchthích tăng trưởng kinh tế, phù hợp với các định hướng phát triển kinh tế - xã hộicủa Nhà nước

Trang 18

 Bảo đảm nhu cầu chi tiêu của Nhà nước: Chi NSNN nhìn một cách bao quát là chỉ

để bảo đảm việc thực hiện các chức năng KT - XH của Nhà nước đương quyền.Trong đó, có thể phân thành 3 nội dung chi cơ bản: chi đầu tư phát triển, chithường xuyên và chi dự trữ quốc gia

• Chi đầu tư phát triển: là khoản chi xây dựng nền tảng của nền kinh tế như: kết cấu

hạ tầng, các công trình kinh tế trực tiếp tạo ra sản phẩm xã hội, tài trợ kinh doanhthuộc kinh tế Nhà nước, trợ giá, liên doanh, liên kết kinh tế (kể cả hợp tác công –tư) Chi đầu tư phát triển có ý nghĩa quyết định đến tăng trưởng và phát triển kinh

tế trong từng thời kỳ

• Chi thường xuyên: Chi về văn hóa, giáo dục, y tế, nghệ thuật, giải trí, an ninh quốc phòng, an sinh xã hội,… Đây là khoản chi bảo đảm hoạt động của bộ máyNhà nước, bảo đảm phúc lợi xã hội và đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầuphát triển của đất nước Khoản chi này chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu chi NSNN,bởi nội dung và phạm vi và quy mô chi của nó rất lớn

- Dự trữ quốc gia: Dự trữ quốc gia dùng để chi đảm bảo an ninh kinh tế Ngoài ra nócòn là nguồn lực để ứng phó với mọi rủi ro trong kinh tế và đối mặt những tìnhhuống khẩn cấp trong nước và quốc tế

Nhìn chung để thường xuyên bảo đảm cân đối thu – chi ngân sách và thực hiệnchính sách tài khóa tích cực, chi NSNN cần tuân thủ các nguyên tắc trong phânphối vốn NS như sau:

• Tiết kiệm tối đa và hợp lý trong tiêu dùng vốn NSNN

• Lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm đầu trong dùng vốn NSNN chi cho đầu tưphát triển

 Ngân sách nhà nước là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội

 Vai trò điều tiết vĩ mô của NSNN trong nền kinh tế thị trường

Kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao Kinh tế thịtrường là động lực mạnh mẽ của tăng trưởng và phát triển kinh tế, thúc đẩy tiến bộkhoa học công nghệ, đẩy nhanh tiến trình xã hội hóa kinh tế trong mỗi quốc giađến liên thông quốc tế Kinh tế thị trường cũng là môi trường phát triển tài năng,phát triển nguồn nhân lực cao trong cơ chế cạnh tranh kinh tế, đồng thời cũng làđộng lực thúc đẩy tiến trình văn minh, hiện đại và thực hiện công bằng xã hội

Trang 19

Tuy nhiên, bên cạnh các tính ưu việt đó, kinh tế thị trường cũng còn rấtnhiều khiếm khuyết như: nó là môi trường tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt, từ đó cóthể dẫn đến sự phát triển tự phát vô chính phủ, và vì lợi nhuận tối đa mà có thể triệthại lẫn nhau, hoặc đầu cơ tích trữ, kìm hãm việc ứng dụng các tiến bộ khoa họccông nghệ trong thời gian mà các nhà đầu tư còn chiếm giữ những ưu thế trongkinh doanh và phân hóa sâu sắc sự cách biệt giàu, nghèo, tạo nên phá sản trongkinh doanh, …

Những hiện trạng trên, nếu không có sự can thiệp từ điều tiết vĩ mô của Nhànước, thì dễ dẫn tới sự phát triển không lành mạnh, mất cân đối, gây lạm phát, thấtnghiệp, … ảnh hưởng đến chính trị - xã hội

Để khắc phục những khiếm khuyết trên, vai trò can thiệp của Nhà nướcthông qua điều tiết kinh tế vĩ mô có ý nghĩa rất quan trọng Ở Việt Nam với côngcuộc đổi mới kinh tế; chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấpsang cơ chế kinh tế thị trường với thời gian chưa lâu (trên 20 năm) nhưng Chínhphủ đã có nhiều thành công trong điều hành kinh tế vĩ mô bằng các biện pháp kinh

 Điều tiết kinh tế vĩ mô của NSNN thông qua các công cụ động viên tài chính:

Trước hết, cần nhấn mạnh rằng, một số quan niệm cho rằng: điều tiết kinh tế

vĩ mô của NSNN là một nội dung cấu thành “Chức năng của NSNN” Song, quanđiểm của chúng tôi, điều tiết vĩ mô ở đây là thuộc tính vốn có trong hoạt động củachức năng phân phối và thông qua quá trình phân phối của NSNN trong hoạt độngthực tiễn, bằng sự tác động của nó thể hiện vai trò của NSNN khi cộng hưởng vớicác chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước và với các yêu cầu trong hoạt độngthực tế Do vậy, ở công trình này coi điều tiết vĩ mô là vai trò của NSNN trong ứngphó với các quan hệ kinh tế - xã hội phát sinh

Trang 20

Đề cập đến vai trò điều tiết vĩ mô của NSNN; vai trò này được thực hiệnthông qua các công cụ động viên các nguồn tài chính dưới hình thức thuế, phí làcông cụ điều tiết vĩ mô rất nhạy cảm và hiệu quả, bởi thuế, phí luôn gắn chặt vớicác hoạt động kinh doanh mà các hoạt động kinh doanh là trụ cột của nền kinh tế.Vai trò điều tiết vĩ mô của thuế, phí được thông qua các chính sách thuế, mà chủyếu là thuế suất, chính sách ưu đãi thuế được xác định trên các loại sản phẩm tùythuộc vào mức độ của nó với nhu cầu xã hội và lợi ích của quốc kế dân sinh

Thông qua các nguyên tắc xây dựng thuế suất và chính sách ưu đãi, miễngiảm thuế đã tạo ra cho quá trình động viên các nguồn tài chính cũng là quá trình:

• Thu hút các nguồn vốn đầu tư thông qua chính sách thuế suất hợp lý và chính sách

ưu đãi có thời hạn đối với các công trình đầu tư (trong nước và của nước ngoài)phục vụ phát triển kinh tế theo chính sách khuyến khích đầu tư của Nhà nước, như:Các khu kinh tế trọng điểm, các khu công nghệ cao hoặc các ngành tạo nhiều việclàm cho người lao động

• Chính sách ưu đãi về thuế đối với đầu tư (nhập) công nghệ cao nhằm đẩy mạnhcông nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế

• Bảo đảm công bằng xã hội đối với các tầng lớp dân cư có mức thu nhập khác nhau,thông qua thuế suất thấp với các hàng hóa thiết yếu, phổ dụng và thuế suất cao đốivới hàng hóa cao cấp, xa xỉ, hoặc không khuyến khích sử dụng rộng rãi (rượu, bia,

mỹ phẩm cao cấp, …)

• Khuyến khích phân bổ và phân công lại lao động lao động xã hội bằng thuế suất ưuđãi với việc đầu tư khai thác các tiềm lực kinh tế, các vùng kinh tế khó khăn chậmphát triển hoặc khai hoang phục hóa,…

• Khuyến khích sản xuất sản phẩm mới, công nghệ cao có sự cạnh tranh, thông quachính sách miễn giảm thuế có kỳ hạn và chính sách lãi suất ưu đãi

• Tham gia bình ổn vật giá bằng cách điều chỉnh tăng hoặc giảm giá thích ứng trên

cơ sở bảo đảm nguyên tắc giá cả có thể tách biệt với giá trị trên những mặt hàng cábiệt, nhưng nhìn tổng thể kinh tế thì giá cả bằng tổng giá trị

• Can thiệp vào cân đối quan hệ tổng cung – tổng cầu xã hội tùy thuộc vào đặc điểm

và điều kiện kinh tế thông qua điều chỉnh tăng hoặc giảm thuế trên những mặt hàngcần thiết,…

Trang 21

Tất cả những minh chứng trên là nhằm khuyến khích đầu tư và khai thác cáctiềm năng kinh tế, thực hiện định hướng xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý và tái cấutrúc kinh tế cũng như tạo thêm nguồn thu quốc gia

 Điều tiết vĩ mô của NSNN thông qua đầu tư phát triển:

Đầu tư công từ vốn NSNN được huy động từ nhiều nguồn khác nhau,nhưng đều hướng tới mục tiêu: “xây dựng mô hình kinh tế hiện đại với một cơ cấukinh tế tiên tiến và hợp lý”.Trong đó, trọng tâm là đầu tư kết cấu hạ tầng công nghệcao, phát triển các vùng kinh tế động lực và khai thác các tiềm lực của nền kinh tếquốc dân Đó là cơ sở để bảo đảm cho tăng trưởng và phát triển bền vững Suy chocùng đây cũng chính là các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô thông qua hoạt độngcủa NSNN

Bên cạnh đó, việc huy động và sử dụng vốn vay của chính phủ (ODA) cũng

là biện pháp gián tiếp điều tiết kinh tế theo các định hướng được xác lập Mặt khác,

sự đầu tư mạo hiểm từ Nhà nước hoặc huy động vốn dưới hình thức hợp tác công

-tư đều nằm trong phạm trù điều hành hay điều tiết kinh tế vĩ mô bằng sự can thiệpvào việc xác lập cơ cấu kinh tế hay điều chỉnh cơ cấu kinh tế theo quan điểm hiệnđại, chi giáo dục – đào tạo, bảo đảm sức khỏe cộng đồng cũng là chi đầu tư pháttriển, chi cho tương lai, thì vai trò của NS đóng góp không nhỏ trong việc bảo đảmcân bằng các nguồn lực xã hội cho sự phát triển bền vững

Tất cả các khoản chi khác của NSNN, dù rất đa diện, nhưng cũng đều hướngtới điều tiết các mối quan hệ cân đối trong nền kinh tế quốc dân Ngoài ra dự trữ tàichính của NSNN, cũng là công cụ điều tiết quan trọng thông qua bảo đảm an ninhtài chính, hậu thuẫn để ứng phó với các động thái kinh tế nhằm vào ổn định kinh tế

- xã hội

 Kiểm tra, điều chỉnh các quan hệ kinh tế của NSNN

Kiểm tra tính hiệu quả của đầu tư vốn NSNN được thực hiện thông qua thuếtrực thu và thuế gián thu.Thuế trực thu (thuế thu nhập công ty) đánh giá chất lượnghoạt động kinh doanh và thuế gián thu (thuế GTGT) đánh giá về mặt số lượng hoạtđộng của doanh nghiệp Sự phối hợp của hai hình thức thuế này là cơ sở đánh giátoàn diện hiệu quả qua các hợp đồng kinh tế, đồng thời cũng là căn cứ để điềuchỉnh các hoạt động kinh doanh, bảo đảm cho sự phát triển bền vững Mặt khác,

Trang 22

thông qua kiểm tra hiệu quả vốn đầu tư từ NSNN, cũng là biện pháp để điều chỉnh

cơ cấu đầu tư thích ứng bảo đảm nhịp độ tăng trưởng và phát triển kinh tế một cáchhợp lý

Vai trò này còn được thể hiện thông qua việc thực hiện các khâu: lập, chấp hành

và quyết toán NSNN nhằm bảo đảm cân đối các chỉ tiêu kinh tế - xã hội với NSNN

và thực hiện việc điều chỉnh NSNN trong quá trình vận động của nền kinh tế,nhằm bảo đảm thường xuyên các mối quan hệ cân đối trong nền kinh tế quốc dân Tất cả những phân tích trên, được giải thích bởi vai trò của NSNN – chính sáchtài khóa của chính phủ - một đạo luật tài chính cơ bản của quốc gia và sự tác độnghữu cơ của nó giữa các chính sách tài chính với các chính sách kinh tế - xã hội

 Vai trò của NSNN trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và thị trường:

• Về mặt kinh tế

Để thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc định hướng hình thành cơ cấukinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền Rõ ràngNhà nước không thể bỏ qua công cụ ngân sách khi thực hiện vai trò này

 Ngân sách nhà nước cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kếtcấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành then chốt, đểtrên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển củacác doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác

 Việc hình thành các doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những biện phápcăn bản để chống độc quyền và giữ vững cho thị trường khỏi rơi vào tình trạngcạnh tranh không hoàn hảo

 Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước trong những trường hợpcần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cầu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấumới, cao hơn

 Thông qua các chính sách thuế, sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư,kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh

 Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và từ trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho nềnkinh tế Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay nợ của nhà nước cũng làmột vấn đề cần phải xem xét thận trọng khi quyết định thực hiện các biện pháp huyđộng tiền vay

• Về mặt xã hội:

Trang 23

 Đầu tư của ngân sách nhà nước để thực các chính sách xã hội, chi giáo dục – đàotạo, y tế, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi bảo đảm xãhội, sắp xếp lao động và việc làm, trợ giá mặt hàng,…

 Thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân nhằm điều tiết thunhập cao để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp

 Thuế gián thu góp phần hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, phù hợp với trình độ pháttriển kinh tế của đất nước

• Về mặt thị trường

Ngân sách nhà nước có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách

về ổn định giá cả, thị trường, kiềm chế và kiểm soát lạm phát Bằng các công cụthuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi NSNN, nhà nước có thể điều chỉnh được giá

cả, thị trường một cách chủ động

 Một chính sách ngân sách (chính sách tài khóa) thắt chặt hay nới rộng đều có thểtác động mạnh mẽ cung – cầu xã hội Như huy động của NSNN dưới hình thứcthuế, phí, lệ phí,…

 Trên thị trường tài chính, nếu nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ tác động tăngcung ứng vốn từ phía các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dùng để dành cho tương lai;đồng thời làm giảm lượng cầu về vốn đầu tư của doanh nghiệp các thành phần kinhtế

 Ở đây, cần nhấn mạnh đến dự trữ nhà nước Trong cơ chế thị trường nhà nướckhông thể bắt buộc các doanh nghiệp bán hàng theo giá cả quy định, mà ngược lại,giá cả là do thị trường quyết định, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu và các yếu tốkhác

 Kiềm chế và kiểm soát lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điềuchỉnh thị trường

 Ngân sách nhà nước có cân bằng hay không sẽ tác động sâu sắc đến sự cân bằngcủa cán cân thanh toán quốc tế Bởi vì: Cân bằng của NSNN tác động trực tiếp đến

sự cân bằng của cán cân thương mại; cân bằng của NSNN thực hiện được haykhông, nói lên khả năng trả nợ đến hạn của các khoản vay nước ngoài có thực hiệnđược hay không

1.1.4.2 Vai trò của NSNN trong hệ thống tài chính

Trang 24

Căn cứ tổ chức, bộ máy nhà nước, cơ cấu thành phần kinh tế và đặc điểm hìnhthành, phân phối và sử dụng các nguồn lực tài chính cùng với phạm vi tác động vàchức năng hoạt động, các chủ thể trong nền kinh tế thị trường, được chia thành 5khu vực thể chế và từ đó hình thành 5 khâu của hệ thống tài chính, đó là:

- Tài chính nhà nước (NSNN – Tài chính các DNNN)

- Tài chính các tổ chức kinh tế (Tài chính các doanh nghiệp thuộc các thànhphần kinh tế, các ngành kinh tế quốc dân, dưới các hình thức: Tài chính doanhnghiệp, Tài chính các tập đoàn, Tổng công ty hoạt động với mục đích sinh lợi)

- Các định chế tài chính trung gian (kinh doanh tiền tệ): Ngân hàng, tín dụngphi ngân hàng, các công ty tài chính, cho thuê tài chính, bảo hiểm,…

- Tài chính kinh tế cá thể và hộ gia đình

- Tài chính các tổ chức xã hội nghề nghiệp không vì mục đích sinh lợi và hỗ trợcác hoạt động xã hội, từ thiện

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

Tài chính Nhà

nước

Tài chính các tổchức kinh tế

Các định chế

TC trung gian

TC kinh tế cáthể và hộ GĐ

Trong nền kinh tế thị trường, ngân sách nhà nước không chỉ đóng vai trò huyđộng nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chi tiêu cho bộ máy nhà nước, cho

Trang 25

an ninh – quốc phòng và các mục đích khác nhằm củng cố quyền lực nhà nước, mà

nó còn có vai trò to lớn trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội Đó là vai trò địnhhướng phát triển sản xuất, điều tiết thị trường, bình ổn giá cả, điều chỉnh đời sống

xã hội,… Để thực hiện được vai trò này đòi hỏi NSNN phải có các nguồn vốnđược huy động từ các khu vực kinh tế, từ dân cư và từ các nguồn tài chính ngoàinước Từ đó, thực hiện các khoản chi về đầu tư kinh tế và ngoài kinh tế Hoạt độngthu, chi của NSNN làm nảy sinh các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội,giữa nhà nước này với các cơ quan chức năng của nhà nước hoặc các tổ chức kinh

tế, tài chính quốc tế Việc chi tiêu của NSNN cho các mục tiêu kinh tế và ngoàikinh tế sẽ có tác động làm gia tăng nguồn vốn bằng các con đường trực tiếp hoặcgián tiếp

1.1.5 Tổ chức hệ thống NSNN và phân cấp NSNN

1.1.5.1 Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN

Tổ chức hệ thống NSNN căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam, Luật NSNN, luật pháp hiện hành và theo yêu cầu của từng thời kỳphát triển của đất nước Mỗi cấp chính quyền nhà nước theo quy định của Hiếnpháp được phân định rõ ràng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm Vì vậy, mỗi cấpchính quyền phải có một ngân sách tương ứng để đảm bảo chủ động hoàn thànhchức năng, nhiệm vụ của mình Vì vậy, hiện nay mỗi cấp chính quyền có một ngânsách trong hệ thống NSNN và có thể phân cấp, phân quyền quản lý theo yêu cầuphát triển của từng thời điểm lịch sử

Nguyên tắc tổ chức hệ thống NSNN dựa trên hai nguyên tắc chủ yếu sau:

• Nguyên tắc thống nhất: Thể hiện qua hệ thống NSNN ở nước ta là một hệ thốngthống nhất từ trung ương đến địa phương thống nhất về chủ trương đường lối chínhsách, những quy định của Nhà nước về quản lý, tổ chức điều hành, cũng như vềcác chế độ, định chế về tài chính

Nguyên tắc thống nhất của NSNN yêu cầu mọi nguồn thu và mọi khoản chicủa NSNN đều phải tập trung đầy đủ và trọn vẹn vào NSNN Tất cả các cơ quan,đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ nhà nước giao, nếu phát sinh các khoản thu, chi liênquan đến các hoạt động của mình thì đều phải đặt trong hệ thống NSNN

Trang 26

Nguyên tắc thống nhất của NSNN còn thể hiện ở việc ban hành chế độ thu, chi

và các tiêu chuẩn định mức thống nhất trong toàn quốc Mọi hoạt động thu, chingân sách phục vụ cho các hoạt động chức năng của Nhà nước đều phải thực hiệntheo những quy định, chuẩn mực và thủ tục thống nhất chung do cơ quan Nhà nước

có thẩm quyền quyết định Ngoài ra không đơn vị, cá nhân nào được tự ý đặt ranhững chế độ, định mức thu, chi khác với những quy định chung của Nhà nước.Các quy định về trình tự, nội dung, thời gian lập, phê duyệt, chấp hành và quyếttoán NSNN cũng phải được quy định nghiêm ngặt, rõ ràng và thống nhất trongtoàn quốc

• Nguyên tắc tập trung dân chủ

Thể hiện qua 2 mặt:

- Mặt tập trung: Được biểu hiện là hầu hết, phần lớn NSNN tập trung ở NSTW nhằmgiải quyết những vấn đề lớn về KT - XH của đất nước Mặt khác, NS cấp dưới phảichịu sự chỉ đạo của NS cấp trên và NS cấp trên có quyền kiểm tra, quản lý, giám sát

từ khâu lập, chấp hành dự toán và quyết toán của NS cấp dưới trong việc thực hiệnchủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, cũng như việc chấp hànhcác chế độ quy định của Nhà nước

- Mặt dân chủ: Thể hiện qua mỗi cấp chính quyền nhà nước có một ngân sách theophân cấp quản lý, có quyền quyết định NS cấp mình trong việc thực hiện chức năngnhiệm vụ của chính quyền cấp mình một cách tự chủ, độc lập, phát huy tính năngđộng sáng tạo của cấp mình trong việc thực hiện chủ trương, đường lối chính sáchcủa Đảng, Nhà nước và nhiệm vụ phát triển KT - XH của cấp mình, cũng như chophép cấp ngân sách được quản lý theo quy chế riêng cho phù hợp với khả năng,trinh độ quản lý và điều kiện cụ thể của từng cấp NS, bảo đảm cho hoạt động củacác cấp chính quyền Nhà nước có hiệu quả hơn, tích cực khai thác mọi nguồn thu

và tiết kiệm chi tiêu hợp lý, đồng thời để phối hợp thực hiện tốt các mục tiêu kinh tế

- xã hội chung của Nhà nước

Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức hệ thống NSNN ở nước ta là một nguyên tắc xuyên suốt công tác tổ chức của nhà nước được sử dụng một cách linh hoạt trong từng thời kỳ, có lúc tăng cường tập trung

1.1.5.2 Hệ thống NSNN

Trang 27

Ở nước ta, trước cách mạng tháng 8/1945, NSNN là công cụ bóc lột thành quảlao động của dân chúng và phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị

Sau khi cách mạng tháng 8/1945 thành công, Nhà nước ta thực hiện quyền lực

về NSNN và đã có những chính sách mang tính chất cách mạng triệt để, làm nứclòng dân, như sắc lệnh về việc bãi bỏ thuế thân, hình thành hệ thống thuế mới vớiquan điểm giảm bớt gánh nặng thuế khóa cho dân nghèo

Đến năm 1967 chế độ phân cấp quản lý ngân sách ra đời Hệ thống NSNN baogồm: Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương (các tỉnh, thành phố phíaBắc) Như vậy, từ cách mạng tháng 8/1945 thành công đến năm 1967 chỉ có mộtNSNN

Năm 1972 Nhà nước ban hành “Điều lệ ngân sách xã”, ngân sách xã được xâydựng nhưng chưa được tổng hợp vào hệ thống NSNN

Năm 1978, chính phủ ra quyết định số 108/CP, ngân sách địa phương đượcphân thành 2 cấp: ngân sách cấp Tỉnh, ngân sách cấp Huyện

Với Nghị quyết 138/HĐBT ngày 19/11/1983, ngân sách xã được tổng hợp vào

hệ thống NSNN và hệ thống NSNN Việt Nam bao gồm 4 cấp: ngân sách Trungương, ngân sách cấp Tỉnh, ngân sách cấp Huyện và ngân sách cấp Xã

Luật NSNN nước ngày 23/3/1996 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 1997.Theo tinh thần của Luật NSNN, hệ thống ngân sách ở nước ta bao gồm 4 cấp: Ngânsách Trung ương, ngân sách cấp Tỉnh, ngân sách cấp Huyện và ngân sách cấp Xã.Điều này có thể được khái quát hóa bằng sơ đồ sau:

NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

CHXHCNVN

NGÂN SÁCHTRUNG ƯƠNG

NGÂN SÁCHĐỊA PHƯƠNGNgân sách cấp tỉnh

Ngân sách cấphuyện và tươngđương

Trang 28

Ngân sách cấp xã

và tương đương

Sơ đồ 1.2 Hệ thống ngân sách Nhà nước

Như vậy, NSNN bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chínhquyền địa phương (ngân sách địa phương)

- Ngân sách các cấp chính quyền địa phương gồm:

+ Ngân sách cấp Tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngânsách cấp Tỉnh)

+ Ngân sách cấp Huyện, Quận, Thị xã, Thành phố thuộc tỉnh (gọi chung làngân sách cấp Huyện)

+ Ngân sách cấp Xã, Phường, Thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp Xã)

- Quan hệ giữa ngân sách các cấp được thực hiện theo các nguyên tắc sau đây: + Ngân sách trung ương và ngân sách mỗi cấp chính quyền địa phương đượcphân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cu thể;

+ Thực hiện việc bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới để bảođảm công bằng, phát triển cân đối giữa các vùng, các địa phương Số bổ sung này làkhoản thu của ngân sách cấp dưới;

+ Trường hợp cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên ủy quyền cho cơ quan quản

lý Nhà nước cấp dưới thực hiện nhiệm vụ chi thuộc chức năng của mình thì phảichuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó; + Ngoài việc bổ sung nguồn thu và ủy quyền thực hiện nhiệm vụ chi vừa nêutrên, không được dùng ngân sách cấp này để chi cho nhiệm vụ của cấp khác

Luật ngân sách công bố ngày 27/12/2002 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2004 (Luật NSNN này thay thế Luật NSNN năm 1996 và Luật sửa đổi, bổ sung một sồ điều của Luật NSNN năm 1998) Theo tinh thần của Luật NSNN mới này, NSNN gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách của đơn vị hành chính các cấp có Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân

1.1.5.3 Nguyên tắc phân cấp NSNN

Dựa trên những nguyên tắc cơ bản như sau:

- Thứ nhất, đảm bảo tính thống nhất của hệ thống NSNN;

Trang 29

- Thứ hai, phân cấp thực hiện đồng bộ giữa phân cấp quản lý KT - XH với tổ chức bộ máy hành chính Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của từng cấp chính quyền nhà nước trong kế hoạch phát triển KT - XH của từng cấp;

- Thứ ba, đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW, đồng thời đảm bảo tính độc lập, tự chủ của NSĐP phù hợp với chỉ đạo cấp trên và điều kiện cụ thể của địa phương;

- Thứ tư, đảm bảo tính công bằng, tính minh bạch trong phân cấp

1.1.5.4 Phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách

Nguồn thu của ngân sách trung ương

Các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%:

* Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu;

* Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu;

* Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu;

* Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành;

* Các khoản thuế và thu khác từ các hoạt động thăm dò, khai thác dầu; khí, kể

cả thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, tiền thuê mặt đất, mặt nước;

* Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các cơ sở kinh tế, thu hồi tiền cho vay của ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ Quỹ dự trữ tài chính của trung ương, thu nhập từ vốn góp của ngân sách trung ương;

* Các khoản phí và lệ phí, phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật do các cơ quan, đơn vị thuộc trung ương tổ chức thu, không kể phí xăng, dầu và lệ phítrước bạ;

* Thu sự nghiệp, phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật của các đơn

vị do các cơ quan trung ương trực tiếp quản lý;

* Chênh lệch thu lớn hơn chi của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam;

* Các khoản thu hoàn vốn, thanh lý tài sản, các khoản thu khác của doanh nghiệp nhà nước do trung ương quản lý, phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật;

* Thu từ các khoản tiền phạt, tịch thu theo quy định của pháp luật;

* Thu kết dư ngân sách trung ương;

* Thu chuyển nguồn từ ngân sách trung ương năm trước sang ngân sách trungương năm sau;

* Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam;

* Các khoản thu khác của ngân sách trung ương theo quy định của pháp luật

Trang 30

Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương

và ngân sách địa phương:

* Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng từ hoạt động xổ số kiến thiết

* Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập của các đơn vị hạch toán toàn ngành và thuế thu nhập doanh nghiệp thu từ hoạt động xổ số kiết thiết

* Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao

* Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ dịch vụ, hàng hóa sản xuất trong nước, không

kể thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hoạt động xổ số kiến thiết

* Phí xăng, dầu

Chi ngân sách nhà nước

Khái niệm và vai trò của chi ngân sách nhà nước:

* Khái niệm chi ngân sách nhà nước:

Đứng về phương diện pháp lý, chi NSNN là những khoản chi tiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt được những mục tiêu công ích, chẳng hạn như: bảo vệ an ninh và trật tự, cứu trợ bảo hiểm, trợ giúp kinh tế, chống thất nghiệp,…

Về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước nhằm thực hiện tăng trưởng kinh tế, từng bước mở mang các sự nghiệp văn hóa - xã hội, duy trì hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và bảo đảm an ninh, quốc phòng

* Vai trò của chi ngân sách nhà nước:

▪ Chi NSNN là nguồn lực tài chính nhằm bảo đảm và duy trì sự hoạt động bình thường của hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương đến địa phương Hoạtđộng bộ máy chính quyền các cấp, không chỉ nhằm mục đích thống nhất quản lý các hoạt động của nền kinh tế quốc dân mà còn nhằm đảm bảo sự ổn định về chínhtrị: một trong những nhân tố có vai trò quyết định đến sự thành bại của công cuộc cải cách kinh tế

▪ Chi đầu tư xây dựng cơ bản của NSNN, đặc biệt là chi xây dựng hệ thống cơ

sở hạ tầng có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế, vì nó tạo điều kiện và môi trường thuận lợi cho việc bỏ vốn đầu tư của doanh nghiệp

▪ Trong những trường hợp đặc biệt, chi NSNN trợ cấp cho một số doanh nghiệp cũng góp phần không nhỏ cho sự phát triển của nền kinh tế

Trang 31

▪ Một trong những mục tiêu chính sách NSNN ta là đảm bảo công bằng xã hội Bên cạnh việc sử dụng thu NSNN để thực hiện công tác này, chi NSNN cũng

có vai trò hết sức quan trọng Cơ chế thị trường tạo ra sự phân hóa giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp trong xã hội Để làm giảm khoảng cách đó, Nhà nước phải sử dụng các hình thức trợ cấp từ NSNN Bên cạnh

đó các khoản trợ cấp cho giáo dục, y tế có ý nghĩa lớn đối với việc nâng cao dân trí

và đảm bảo sức khỏe cho dân cư

▪ Chi NSNN có tác động nhất định đến việc thực hiện mục tiêu ổn định kinh

tế Trường hợp chi vượt thu quá sẽ dẫn đến lạm phát Vì vậy, để kiềm chế lạm phát phải khống chế tiêu dùng của Chính phủ, đặc biệt đối với những nước đang phát triển, nơi lạm phát thường ở mức độ cao

▪ Chi NSNN có vai trò rất quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, vấn đề phát triển kinh tế đã trở thành mục tiêu xã hội cơ bản đối với nhiều quốc gia

Chi NSNN ở Việt Nam:

* Chi thường xuyên:

▪ Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, xã hội, văn hóa - thông tin, văn học nghệ thuật, thể dục – thể thao, khoa học và công nghệ, môi trường, các sự nghiệp xã hội khác;

▪ Các họat động sự nghiệp kinh tế;

▪ Các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội;

▪ Hoạt động của các cơ quan nhà nước;

▪ Hoạt động của cơ quan Đảng cộng sản Việt Nam;

▪ Hoạt động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam;

▪ Trợ giá theo chính sách của nhà nước;

▪ Phần chi thường xuyên thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án Nhà nước;

▪ Hỗ trợ Quỹ Bảo hiểm xã hội;

▪ Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội;

▪ Trợ cấp cho các tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp

▪ Các khoản chi thường xuyên khác theo quy định của pháp luật

* Chi đầu tư phát triển:

Trang 32

▪ Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng KT - XH không có khả năngthu hồi vốn;

▪ Đầu tư và hỗ trợ cho các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ phần liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của Nhà nước theo quy định của pháp luật;

▪ Chi bổ sung quỹ dự trữ nhà nước;

▪ Chi đầu tư phát triển thuộc các chương trình mục tiêu quốc gia, dự án nhà nước;

▪ Các khoản chi đầu tư phát triển khác theo quy định của pháp luật

* Chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền do Chính phủ vay

* Chi viện trợ của NSTW cho các Chính phủ và tổ chức ngoài nước

* Chi cho vay của NSTW

* Chi trả gốc và lãi các khoản huy động đầu tư xây dựng kết câu hạ tầng thuộcngân sách cấp tỉnh theo quy định của Luật NSNN

* Chi bổ sung Quỹ dự trữ tài chính theo quy định

* Chi bổ sung ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới

* Chi chuyển nguồn từ ngân sách năm trước sang ngân sách năm sau

1.2 Kế toán thu chi ngân sách trong đơn vị HCSN.

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và nhiệm vụ kế toán HCSN

Trước hết cần phải tìm hiểu đơn vị HCSN: Đơn vị HCSN là đơn vị do NNquyết định thành lập nhằm thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn nhất định hayquản lý NN về một lĩnh vực nào đó (các cơ quan chính quyền, cơ quan quyền lực

NN, cơ quan quản lý NN theo ngành, các tổ chức đoàn thể…) hoạt động bằngnguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần kinh phí và cácnguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiệnnhiệm vụ Đảng và NN giao cho từng thời kỳ

 Khái niệm:

Kế toán hành chính sự nghiệp là kế toán chấp hành ngân sách của nhà nướctại các đơn vị hành chính sự nghiệp, là công cụ điều hành, quản lý các hoạt độngkinh tế, tài chính của các đơn vị hành chính Do đó, để quản lý và chủ động trongcác khoản chi tiêu của mình, hàng năm các đơn vị hành chính sự nghiệp phải lập

dự toán cho từng khoản chi tiêu này Dựa vào báo cáo dự toán, ngân sách nhà nước

Trang 33

cấp kinh phí cho các đơn vị Chính vì vậy, kế toán không chỉ quan trọng đối vớibản thân đơn vị mà còn quan trọng đối với ngân sách nhà nước

 Đặc điểm:

Đơn vị HCSN bao gồm các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực phi sản xuất,thực hiện quản lý NN, quản lý hành chính, thực hiện sự nghiệp giáo dục, y tế, quốcphòng, thể dục thể thao… Các đơn vị này tạo ra dịch vụ công để đáp ứng nhu cầucủa xã hội

Bao gồm: - Hành chính thuần túy

- Sự nghiệp có thu

- Sự nghiệp kinh tế

- Tổ chức đoàn thể nghề nghiệp xã hội

Nguồn kinh phí đài thọ cho các đơn vị này thuộc NSNN cấp và từ các khoảnthu khác do luật định

Đơn vị HCSN là đơn vị kế toán phải có trách nhiệm thu thập, xử lý và cungcấp thông tin về hoạt động của đơn vị mình để phục vụ cho các đối tượng sử dụngtheo quy định Bao gồm:

- Báo cáo tài chính (quý, năm)

- Báo cáo quyết toán ngân sách năm

- Báo cáo quyết toán tổng hợp ngân sách năm (đơn vị kế toán cấp trên)

 Nhiệm vụ kế toán đơn vị HCSN:

- Thu thập, phản ánh, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về tình hình tiếp nhận,quản lý và sử dụng các nguồn kinh phí, tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản,tình hình thu, chi hoạt động sự nghiệp, tình hình tài sản, tiền quỹ, công nợ của đơnvị…

- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi, tình hình thựchiện các chỉ tiêu tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của nhà nước

- Kiểm tra việc quản lý sử dụng các loại vật tư, tài sản của đơn vị, kiểm tra tình hìnhchấp hành kỷ luật thu nộp ngân sách, kỷ luật thanh toán công nợ…

- Ghi chép và phản ánh chính xác số vốn ngoài ngân sách do đơn vị tự thu và đượcphép để lại sử dụng

Trang 34

- Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấpdưới, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán của các đơn vị cấp dưới.

- Lập và nộp đúng hạn báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý cấp trên và cơquan tài chính theo quy định

- Đồng thời cung cấp số liệu, tài liệu phục vụ cho công tác thống kê, nghiên cứuchính sách chế độ thu, chi tài chính

1.2.2 Tổ chức công tác kế toán trong đơn vị HCSN

Tổ chức vận dụng theo chế độ kế toán mới: quyết định số 19/2006/QĐ-BTCngày 30/03/2006 của Bộ tài chính và thông tư 185/TT-BTC/2010 ngày 15/11/2010

Cụ thể vận dụng theo 4 nội dung như sau: chứng từ, hệ thống tài khoản kế toán, sổsách kế toán, báo cáo tài chính

Công tác kế toán tại đơn vị HCSN cần chấp hành nghiêm các qui định sauđây:

- Căn cứ Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002

- Căn cứ Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 6 năm 2003 và Nghị định số128/2004/NĐ-CP ngày 31/05/2004 của chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫnthi hành một số điều của Luật kế toán áp dụng trong lĩnh vực kế toán Nhà nước

- Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tự chủ,

tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chínhđối với đơn vị sự nghiệp công lập

- Thông tư số 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫnchế độ kiểm soát chi đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, thực hiện quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tàichính

- Thông tư 113/2007/TT-BTC ngày 24/9/2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung

- Thông tư 71/2006/TT-BTC ngày 09/8/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiệnNghị đinh số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ quy định quyền tựchủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tàichính đối với đơn vị sự nghiệp công lập

Trang 35

- Thông tư số 185/2010 /TT -BTC ngày 15/11/2010 của Bộ tài chính – Hướng dẫn sửađổi, bổ sung chế độ Kế toán hành chính sự nghiệp ban hành kèm theo Quyết định

số 19/2006/QĐ-BTC ngày 30/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính

1.2.3 Nguyên tắc kế toán HCSN

Kế toán trong đơn vị HCSN phải tuân thủ các nguyên tắc tương tự như khi

áp dụng trong doanh nghiệp như:

o Hoạt động liên tục: báo cáo tài chính phải được lập trên cơ sở giả định là đơn vịđang hoạt động liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động bình thường trong tương lai gần,nghĩa là đơn vị không có ý định cũng như không buộc phải ngừng hoạt động hoặcphải thu hẹp đáng kể quy mô hoạt động của mình Trường hợp thực tế khác với giảđịnh hoạt động liên tục thì báo cáo tài chính phải lập trên cơ sở khác và phải giảithích cơ sở đã sử dụng để lập báo cáo tài chính

o Giá gốc: Tài sản phải được ghi nhận theo giá gốc Gía gốc của tài sản được tínhtheo số tiền hoặc khoản tương đương tiền đã trả, phải trả hoặc tính theo giá trị hợp

lý của tái sản đó vào thời điểm tài sảnđược ghi nhận Gía gốc của tài sản khôngđược tthay đổi trừ khi có quy định khác trong chuẩn mực kế toán cụ thể

o Thận trọng: Phải lập các khoản dự phòng nhưng không được lập quá lớn; khôngđánh giá cao hơn giá trị của các tài sản và các khoản thu; không đánh giá thấp hơngiá trị của các khoản nợ phải trả và chi phí; các khoản thu và chi chỉ được ghi nhậnkhi có bằng chứng chắc chắn

o Nhất quán: Các chính sách và phương pháp kế toán đơn vị đã chọn phải được ápdụng thống nhất ít nhất trong một kỳ kế toán năm

o Trọng yếu: thông tin phải thật chính xác, không làm sai lệch báo cáo tài chính

Ngoài các nguyên tắc trên thì trong đơn vị HCSN còn có hai nguyên tắckhác có tính đặc thù:

o Kết hợp giữa nguyên tắc cơ sở tiền mặt và cơ sở dồn tích trong đó cơ sở tiềnmặt được sử dụng phổ biến

o Thực hiện kế toán phải phù hợp với mục lục NSNN

Trang 36

1.2.4 Phương pháp nghiên cứu thu chi ngân sách nhà nước.

- Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Đề tài nghiên cứu dựa trên số liệuthứ cấp được thu thập từ các tài liệu có liên quan như các văn bản, thông tư, nghịđịnh, quyết định về kế toán tài chính cũng như sổ sách kế toán tại đơn vị như cácchứng từ, sổ chi tiết, sổ cái tài khoản, báo cáo quyết toán NSNN, báo cáo kế toántài chính Trên cơ sở đó tìm hiểu về kế toán nguồn kinh phí, các khoản chi vàthanh toán để thực hiện mục tiêu mà đề tài đã đặt ra

- Phỏng vấn về công tác kế toán cụ thể như: lập dự toán thu chi NSNN và vềcông tác thu chi tại đơn vị

- Tiếp xúc thực tế, quan sát, mô tả việc luân chuyển các chứng từ, về việchạch toán cũng như các loại sổ sách, các báo cáo tại đơn vị liên quan đến nội dung

đề tài

- Phương pháp mô tả: Phương pháp này được sử dụng trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài nhằm mô tả lại những diễn biến, công việc được thực hiện tại bộphận kế toán nhằm giải đáp các vấn đề liên quan đến mục tiêu tìm hiểu công tác kếtoán của đơn vị

1.2.5 Lập dự toán ngân sách xã

Đây là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nó đặt cơ sở nền tảng chonhững khâu tiếp theo Nó là qua trình phân tích, đánh giá khả năng và nhu cầu cácnguồn tài chính để từ đó xác lập các chỉ tiêu thu chi một cách đúng đắn, có căn cứkhoa học và thực tiễn; đồng thời trên cơ sở đó có thể xác lập những biện pháp lớn

về KT – XH để tổ chức tốt các chỉ tiêu đã đề ra

 Yêu cầu lập dự toán Ngân sách xã

- Dự toán ngân sách xã phải bám sát kế hoạch phát triển KT – XH có tácđộng tích cực đối với việc thực hiện kế hoạch phát triển KT – XH

- Dự toán ngân sách phải đảm bảo thực hiện đầy đủ và đúng đắn các quanđiểm của chính sách Tài chính quốc gia trong thời kỳ và yêu cầu của luật ngânsách

-Phải phản ánh một cách đầy đủ, chính xác các khoản thu chi dự kiến có thểphát sinh năm kế hoạch; sao cho khai thác nguồn thu của xã là tối đa, đồng thờitính toán phân bổ chi tiêu NSX tiết kiệm và hiệu quả

Trang 37

-Lập dự toán NSX phải đảm bảo cân đối theo nguyên tắc chi không vượtquá số thu quy định có thể khai thác năm kế hoạch Nghiêm cấm vay chiếm dụngvốn dưới mọi hình thức để cân đối NSX.

 Căn cứ lập dự toán Ngân sách xã

- Các nhiệm vụ phát triển KT – XH, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự antoàn xã hội của xã

- Chính sách, chế độ thu NSNN, cơ chế phân cấp nguồn thu nhiệm vụ chiNSX và tỷ lệ phân chia nguồn thu do HĐND cấp tỉnh quy định

- Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách hiện hành

- Số kiểm tra về dự tán NSX do UBND huyện thông báo

- Tình hình thực hiện dự toán NSX các tháng đầu năm và ước thực hiện dựtoán NSX các tháng cuối năm hiện hành Trong thực tế, có thể phát hiện ra tínhquy luật của các khoản thu, chi ngân sách

 Trình duyệt và quyết toán dự toán NSX

- Sau khi hệ thống biểu mẫu dự toán NSX được xây dựng đầy ddue, ban Tàichính xã có trách nhiệm lập bản thuyết minh dự toán nhằm tạo điều kiện cho việcxét duyệt dự toán NSX được nhanh, xác thực Cần phải chỉ roc căn cứ xác định cácchỉ tiêu trong dự toán; cơ cấu thu chi dự kiến năm kế hoạch có phù hợp với địnhhướng ổn định và phát triển KT – XH không? Sự thay đổi thu chi NSX dự kiếnnăm kế hoạch so với năm báo cáo là do đâu

- Trưởng ban Tài chin hs có trách nhiệm báo cáo với CT UBND xã xem xét

hồ sơ dự toán NSX Nếu cần thiết, CT.UBND xã có thể yêu cầu ban Tài chính xãsửa đổi cho hợp lý Sau khi dự toán đã chỉnh sửa chính xác và được thông qua thì

sẽ được gửi cho Phòng TC – KH huyện tổng hợp và gửi UBND huyện để báo cáo.1.2.6 Kế toán các khoản thu ngân sách nhà nước

1.2.6.1 Nguyên tắc kế toán thu Ngân sách xã

Trang 38

- Khái niệm thu ngân sách xã: Là toàn bộ cáca khản thu trong dự toán đãđược Hội đồng nhân dân xã quyết định và được thực hiện trong một năm để thựchiện các chức năng của chính quyền cấp xã.

- Nguyên tắc quản lý và hạch toán các khoản thu ngân sách xã:

+ Mọi khoản thu ngân sách xã đều phải được dự toán và do HĐND xã thảoluận, quyết định, kiểm tra thực hiện

+ thu ngân sách xã phải phản ánh qua kho bạc Nhà nước và được tổng hợpchung vào ngân sách Nhà nước

+ Tất cả các khoản thu ngân sách xã phải hạch toán theo Mục lục ngân sáchNhà nước áp dụng cho cấp xã

+ Hàng tháng UBND xã phải lập báo cáo tình hình thực hiện thu Ngân sách

xã gửi lên phòng Tài chính huyện

+ Những khoản thu ngân sách xã phải lập báo cáo tình hình thực hiện thuNgân sách Nhà nước áp dụng cho cấp xã như sau:

Những khoản thu ngân sách trong ngày nếu chưa kịp nộp vào Kho bạc thìphải nhập quỹ tiền mặt của xã và hạch toán tăng thu Ngân sách chưa qua Kho bạc.Khi nào xuất quỹ nộp tiền vào Kho bạc thì hạch toán thu ngân sách đã qua Khobạc

+ Đối với các khoản thu phân chia theo tỷ lệ và thu bổ sung từ ngân sách cấptrên: Khi nhận được giấy báo có hoặc chứng từ của kho bạc (bảng kê thu ngân sách

xã qua Kho bạc, sổ phụ của Kho bạc), căn cứ vào chứng từ kế toán hạch toán thungân sách đã qua Kho bạc

+ Đối với các khoản thu ngân sách bằng hiện vật: Căn cứ vào số lượng hiệnvật thu được quy ra giá trị để nhập kho và ghi vào thu ngân sách chưa qua Kho bạc.Khi xuất hiện vật ra sử dụng đến đâu thì phải làm thủ tục ghi thu, ghi chi Ngânsách Nhà nước tại Kho bạc đến đó Thường hợp hiện vật được mang sử dụng ngaykhông nhập kho, thì đồng thời hạch toán thu và chi ngân sách chưa qua Kho bạc.Sau đó làm thủ tục ghi thu, ghi chi ngân sách tại Kho bạc và chuyển sang thu, chingân sách đã qua Kho bạc Các khoản thu bằng ngày công lao động do nhân dânđóng góp được quy ra tiền và hạch toán vào thu ngân sách xã và chi ngân sách xã

Trang 39

chưa qua Kho bạc Sau đó lập bảng kê kèm theo chứng từ làm thủ tục ghi thu, ghichi ngân sách Nhà nước tại Kho bạc.

+ Không hạch toán vào thu ngân sách xã những khoản thu để hình thành cácquỹ công chuyên dụng của xã như quỹ đến ơn đáp nghĩa, quỹ an ninh quốcphòng những khoản thu hộ cơ quan cấp trên

+ Các khoản thu ngân sách xã được hạch toán chi tiết theo mục lục ngânsách xã để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán thu ngânsách

1.2.6.2 Chứng từ kế toán sử dụng

Chứng từ để hoach toán thu ngân sách xã:

+ Thông báo các khoản thu của xã (Mẫu số C61 – X)

+ Biên lai thu tiền (C27 – H)

+ Tổng hợp biên lai thu tiền

+ Giấy báo lao động ngày công đóng góp (C62 – X)

+ Bảng kê ghi thu, ghi chi ngân sách

+ Giấy nộp tiền vào ngân sách Nhà nước (02/TNS)

+ Bảng kê thu ngân sách xã qua Kho bạc Nhà nước

1.2.6.3 Tài khoản sử dụng kế toán ngân sách xã

Hạch toán thu ngân sách xã sử dụng các tài khoản sau:

 Tài khoản 714 “Thu ngân sách xã đã qua Kho bạc”

Tài khoản 714 dùng để phản ánh toàn bộ số thu ngân sách xã đã được phảnánh qua Kho bạc nhà nước và việc sử lý số thu ngân sách xã vào quyết toán thungân sách năm

Kết cấu:

+ Số thoái thu ngân sách xã

+ Kết chuyển số thu ngân sách xã đã

qua Kho bạc thuộc niên độ ngân sách

năm trước sang TK 914 “Chênh lệch

thu, chi ngân sách xã” sau khi HĐND

xã đã phê chuẩn quyết toán thu ngân

Trang 40

+ Số dư cuối kỳ: Phản ánh số thực thungân sách xã đã qua Kho bạc lũy kế từđầu năm đến cuối kỳ.

 Tài khoản 719 – Thu ngân sách xã chưa qua Kho bạc

Tài khoản này phản ánh các khoản thu ngân sách tại xã thu bằng tiềnmặt, hiện vật, ngày công lao động nhưng chưa làm thủ tục ghi thu Ngân sáchnhà nước tại Kho bạc và việc xử lý các khoản thu đó để ghi vào thu Ngânsách Nhà nước tại Kho bạc

Nội dung phản ánh vào tài khoản này:

+ Các khoản tạm thu ngân sách+ Các khoản thu ngân sách xã bằng tiền mặt thu bằng biên lai tàichính số tiền còn quản lý tại xã nhưng chưa kịp làm thủ tục nộp tiền vàoKho bạc

+ Các khoản thu ngân sách xã bằng hiện vật, ngày công lao động chưalàm thủ tục ghi thu – ghi chi Ngân sách Nhà nước tại Kho bạc

+ Thu kết dư ngân sách năm trước chưa làm thủ tục với Kho bạc.+ Các khoản thu về khoán (Khoán sử dụng đất công, khoán bến bãi,khoán đò, khoán chợ )

Những khoản thu trên khi phát sinh hạch toán vào ngân sách xã chưaqua Kho bạc Sau khi làm thủ tục với kho bạc hạch toán vào thu Ngân sách

đã qua Kho bạc theo chủng loại, khoản, mục của từng khoản thu đó

Ngày đăng: 05/11/2019, 19:20

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w