Đánh giá tính bất dục, các đặc tính nông sinh học và khả năng kết h ợp của các dòng TGMS thuần ngắn ngày được lựa chọn.. K ết quả đánh giá độ bất dục hạt phấn và các đặc tính nông sinh
Trang 1B Ộ NÔNG NGHIỆP & PTNT B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VI ỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN PHỤ THANH
NGHIÊN C ỨU CHỌN TẠO MỘT SỐ DÒNG TGMS NGẮN NGÀY ĐỂ
T ẠO GIỐNG LÚA LAI CỰC NGẮN Ở CÁC TỈNH PHÍA BẮC
Chuyên ngành : Di truyền và Chọn giống cây trồng
Mã số : 9620111
Người hướng dẫn khoa học:
1 PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn
2 TS Hà Văn Nhân
Hà Nội - 2019
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các số liệu kết quả nghiên cứu được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác, các thông tin trích dẫn sử dụng trong
luận án đều ghi rõ nguồn gốc
Hà n ội, ngày 27 tháng 5 năm 2019
TÁC GI Ả
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo Viện Cây lương Thực và Cây thực phẩm, Viện khoa học Nông nghiệp Việt nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Trí Hoàn, TS Hà Văn Nhân đã nhiệt tình hướng dẫn khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành công trình nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Trâm, Cán bộ Viện nghiên cứu cây trồng và Cán bộ Học viện nông nghiệp Việt Nam đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban đào tạo Viện khoa học nông nghiệp Việt nam đã tạo điều kiện thuận lợi và nhiệt tình giúp đỡ tôi hoàn thành luận án Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và đồng nghiệp tại Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển lúa lai đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận án
Luận án được hoàn thành còn có sự giúp đỡ tận tình của nhiều Thầy cô giáo, bạn bè đồng nghiệp lớp cây trồng 41- Học viện Nông nghiệp Việt Nam,
Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học
Quốc gia Hà Nội, cùng sự hỗ trợ, động viên, khuyến khích vô cùng lớn lao
của Cha Mẹ và sự trợ giúp, ủng hộ nhiệt tình của Vợ, Con
Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà nội, ngày 27/5/2019
TÁC GIẢ
Nguy ễn Phụ Thanh
Trang 4M ỤC LỤC
L ỜI CAM ĐOAN ii
L ỜI CẢM ƠN iii
M ỤC LỤC iv
DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT viii
DANH M ỤC HÌNH ix
DANH M ỤC BẢNG x
M Ở ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CỞ SỞ KHOA HỌC VÀTỔNG QUAN TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài: 5
1.1.1 Ưu thế lai và khai thác sử dụng ưu thế lai ở lúa 5
1.1.2.Cơ sở di truyền của hiện tượng ưu thế lai 5
1.1.3 Cơ sở phân tử của hiện tượng ưu thế lai 7
1.1.4 S ự biểu hiện ưu thế lai ở lúa 7
1.1.5 H ệ thống bất dục đực sử dụng trong chọn giống lúa lai hai dòng 8
1.1.5.1 B ất dục đực di truyền nhân mẫn cảm nhiệt độ(TGMS) 9
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài 11
1.2.1 Điều kiện khí hậu thời tiết của các tỉnh phía Bắc Việt Nam 11
1.2.2 Cơ sở thực tế về sinh trưởng phát triển và gen của giống lúa cực ng ắn 12
1.2.3 Nghiên c ứu khả năng kết hợp của các dòng bố với các dòng TGMS13 1.2.4 Tình hình nghiên c ứu các dòng TGMS trên Thế giới và ở Việt nam 17
1.2.4.1 Tình hình nghiên c ứu các dòng TGMS trên Thế giới 17
1.2.4.2 Tình hình nghiên c ứu tạo dòng TGMS của Việt nam 25
1.2.5 Tình hình nghiên c ứu chọn tạo tổ hợp lúa lai 2 dòng trên Thế giới và Vi ệt Nam 28
1.2.5.1 Tình hình nghiên c ứu, chọn tạo tổ hợp lúa lai 2 dòng trên Thế giới 28
1.2.5.2 K ết quả chọn tạo các tổ hợp lúa lai 2 dòng ở Việt nam 30
1.2.6 Tình hình phát tri ển lúa lai trên Thế giới 34
1.2.7 Tình hình phát tri ển lúa lai của Việt Nam 39
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU 44
Trang 52.1 V ật liệu nghiên cứu (nguồn gốc phụ lục1) 44 2.1.1 V ật liệu sử dụng cho chọn tạo TGMS mới, thu thập cho đánh giá và
s ử dụng 44 2.1.1.1 V ật liệu sử dụng cho chọn tạo TGMS mới 44 2.1.1.2 V ật liệu TGMS thu thập cho đánh giá và sử dụng: T37S,T14S, T256S, 4TGMS, T6S, 15TGMS, 12TGMS, 25S, Kim76S, TG1 44 2.1.2 V ật liệu TGMS cho đánh giá ngưỡng nhiệt độ, các đặc tính nông sinh h ọc, thử khả năng kết hợp: T37S, T14S, T256S, 4TGMS, TH17S-16, TH3-3 44 2.1.3 V ật liệu làm bố cho lai tạo và tìm tổ hợp lai cực ngắn ngày mới: 44 2.1.4 V ật liệu cho nhân dòng mẹ, thử sức sống của vòi nhụy, đánh giá các
t ổ hợp lai triển vọng: T256S, TH17S-16, RT201, RT205, RT203, LT3 44 2.2 N ội dung nghiên cứu 44 2.2.1 Nghiên c ứu lai tạo, thu thập, chọn lọc và đánh giá các dòng TGMS
ng ắn ngày 44 2.2.1.1 Lai t ạo và chọn lọc các dòng TGMS ngắn ngày 44 2.2.1.2 Thu th ập và chọn thuần các dòng TGMS ngắn ngày 44 2.2.2 Đánh giá tính bất dục, các đặc tính nông sinh học và khả năng kết
h ợp của các dòng TGMS thuần ngắn ngày (được lựa chọn) 45 2.2.2.1 Đánh giá tính bất dục của các dòng TGMS thuần được lựa chọn 45 2.2.2.2 Đánh giá đặc tính hình thái và đặc tính nông sinh học của các dòng TGMS thu ần được lựa chọn 45 2.2.2.3 Đánh giá KNKH của các dòng mẹ TGMS mới và các dòng bố 45 2.2.3 Nghiên c ứu về lựa chọn TGST của dòng bố để chọn tạo các tổ hợp lai c ực ngắn; đánh giá so sánh một số tổ hợp lai được lựa chọn 45 2.2.3.1 Nghiên c ứu về lựa chọn TGST của dòng bố để chọn tạo các tổ hợp lai c ực ngắn 45 2.2.3.2 Đánh giá một số tổ hợp lai cực ngắn ngày triển vọng được lựa chọn 45 2.2.4 Nhân dòng m ẹ và nghiên cứu sức sống vòi nhụy của dòng mẹ T256S, TH17S- 16, bước đầu đưa ra hướng dẫn kỹ thuật sản xuất tổ hợp lai triển
v ọng 45 2.2.4.1 Nhân dòng m ẹ TGMS: T256S, TH17S-16 45 2.2.4.2 Nghiên c ứu sức sống vòi nhụy của dòng mẹ T256S, TH17S-16 45
Trang 62.2.4.3 Bước đầu đưa ra hướng dẫn kỹ thuật sản xuất các tổ hợp lai triển
v ọng 45 2.3 Phương pháp nghiên cứu: 45 2.3.1 Lai t ạo, chọn lọc các dòng TGMS 45 2.3.2 Phương pháp đánh giá đặc điểm nông sinh học và đặc tính bất dục
c ủa các dòng TGMS 48 2.3.3 P hương pháp đánh giá KNKHcác dòng bố mẹ trong TN Line xTester 51 2.3.4 Phương pháp đánh giá so sánh tổ hợp lai triển vọng, nghiên cứu xây
d ựng quy trình sản xuất hạt lai F1 và nhân dòng TGMS 54
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 55
3.1 Nghiên c ứu chọn tạo, thu thập, làm thuần và đánh giá các dòng
TGMS 55 3.1.1 Lai t ạo, chọn lọc và đánh giá các dòng TGMS mới 55 3.1.1.1 Lai t ạo và chọn lọc các dòng TGMS mới 55 3.1.1.2 Đánh giá một số đặc điểm sinh trưởng, hình thái của các dòng TGMS m ới chọn tạo 66 3.1.2 Thu th ập và chọn lọc các dòng TGMS ngắn ngày hiện có trong nước 72 3.2 K ết quả đánh giá độ bất dục hạt phấn và các đặc tính nông sinh học,
kh ả năng kết hợp của các dòng TGMS ngắn ngày tốt được lựa chọn 74 3.2.1 Nghiên c ứu đặc tính mẫn cảm nhiệt độ, độ bất dục của hạt phấn của
m ột dòng TGMS tốt được lựa chọn 74 3.2.2 K ết quả đánh giá các đặc tính hình thái và tính trạng nông sinh học
c ủa các dòng TGMS được lựa chọn 79 3.2.3 Nghiên c ứu khả năng kết hợp của các dòng TGMS ngắn ngày triển
v ọng được lựa chọn 86 3.2.3.1 Đặc điểm nông sinh học, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất
c ủa các dòng bố mẹ trong nghiên cứu KNKH 86 3.2.3.2 Đặc điểm nông sinh học, các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất
c ủa các tổ hợp lai F1 giữa các dòng bố mẹ trong NC KNKH 88 3.2.3.3 K ết quả đánh giá KNKH chung (GCA) của các dòng bố mẹ 91 3.2.3.4 K ết quả đánh giá KNKH riêng (SCA) của các dòng bố mẹ 95
Trang 73.3 Nghiên c ứu về lựa chọn TGST của các dòng bố để tạo ra các tổ hợp
lai c ực ngắn ngày , so sánh các tổ hợp lai được lựa chọn 105
3.3.1 Nghiên c ứu về lựa chọn TGST của các dòng bố để chọn tạo các tổ h ợp lai cực ngắn 105
3.3.2 Đánh giá một số tổ hợp lai cực ngắn ngày được lựa chọn 110
3.3.2.1 K ết quả đánh giá một số tổ hợp lai được lựa chọn 110
3.3.2.2 Đánh giá chất lượng gạo củamột số tổ hợp lai triển vọng 118
3.4 Nhân dòng m ẹ, nghiên cứu sức sống của vòi nhụy dòng mẹ có KNKH chung cao, bước đầu đưa ra quy trình sản xuất hạt lai F1 các tổ hợp triển v ọng 120
3.4.1 Bước đầu nhân thử dòng mẹ TGMS: T256S,TH17S-16 120
3.4.2 Nghiên c ứu sức sống vòi nhụy của 2 dòng mẹ : T256S, TH17S-16 và bước đầu đưa ra hướng dẫn kỹ thuật sản suất hạt lai các tổ hợp triển vọng 123
K ẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 129
DANH M ỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ 131
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 131
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 132
Trang 8DANH M ỤC CHỮ VIẾT TẮT
TGMS: Thermo-sensitive Genic male Sterility- Bất dục đực di
truyền nhân mẵn cảm với nhiệt độ, ký hiệu là dòng S PGMS: Photoperiodic-sensitive Genic Male Sterility- Bất dục
đực di truyền nhân mẵn cảm với quang chu kỳ
P(T)GMS: Photo-Thermo Sensitive Genic Male Sterile- Bất dục
đực di truyền nhân mẵn cảm với quang chu kỳ và nhiệt
độ
Dòng B: Maintainer line – Dòng duy trì bất dục đực cho dòng A Dòng R: Restorer line – Dòng phục hồi hữu dục cho dòng A GCA: General Combining Ability- Khả năng kết hợp chung SCA Special Combining Ability- Khả năng kết hợp riêng F: Fertile: Hữu dục
TBNN: Trung bình nhiều năm
TTDBKTTVTƯ: Trung tâm dự báo khí tượng thủy văn Trung ương BCĐPCLBTƯ: Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Trung ương
Trang 9DANH M ỤC HÌNH
TT
hình
Hình 2.1: Sơ đồ chọn lọc các dòng TGMS theo phương pháp phả hệ 46
Hình 3.1: Hình ảnh hoa nở của dòng mẹ T256S 101
Hình 3 2: Hình ảnh hoa nở của dòng mẹ TH17S-16 101
Hình 3.3: Hình ảnh dòng mẹ T256S trên ruộng TN 102
Hình 3.4: Hình ảnh dòng mẹ TH17S-16 trên ruộng TN 102
Hình 3.5: Ảnh dòng mẹ TGMS T256S trồng trong xô 103
Hình 3 6: Ảnh dòng mẹTH17S-16 trồng trong xô 104
Hình 3.7: Ảnh ruộng đánh giá, so sánh một số tổ hợp lai 2 dòng cực ngắn ngày 116
Hình 3.8: Tổ hợp lai F1 T256S/RT205 117
Hình 3.9: Tổ hợp lai F1 T256S/RT201 117
Hình 3.10: Ảnh tổ hợp TH17S-16/ RT203 vụ 118
Hình 3.11: Hình ảnh dòng mẹ T256S khi nhân hạt, 122
Hình 3.12: Hình ảnh dòng mẹ TH 17S-16 khi nhân hạt, 122
Trang 10DANH M ỤC BẢNG
Bảng 1.1 Danh sách các dòng bất dục nhiệt độ của một số nước từ năm
1986-2003 19
Bảng 1.2 Nguồn gốc và đánh giá các dòng TGMS ( Latha và CS, 2004) 23
Bảng 1.3 Các dòng TGMS phát triển và sử dụng ở Việt Nam 26
từ 2001-2005 26
Bảng 1.4 Các tổ hợp lúa lai được công nhận 2003 29
Bảng 1.5 Lúa lai 2 dòng của Việt Nam được công nhận 2007 32
Bảng 1.6 Diện tích và năng suất trong sản xuất lúa lai đại trà của 41
Việt Nam từ 2008-2018 41
Bảng 1.7 Diện tich và năng suất sản xuất hạt giống lúa lai F1 ở Việt Nam 42
giai đoạn 2008-2018 42
Bảng 1.8 Công thức xử lý ngưỡng chuyển đổi tính dục các dòng 50
Bảng 1.9 Công thức xử lý ngưỡng chuyển đổi tính dục các dòng TGMS 51
Bảng 3.1 Thời gian từ gieo đến trỗ của một số dòng R và dòng TGMS cho lai tạo dòng TGMS mới, 56
Bảng 3.2 Mức độ cây bất dục đời F2 của một số tổ hợp được phân lập, 59
Bảng 3.3 Độ bất dục hạt phấn và thời gian sinh trưởng của một số dòng bất dục, 60
Bảng 3.4 Đặc điểm của một số dòng bất dục từ F2 được tiếp tục chọn lọc ở các thế hệ tiếp theo 61
Bảng 3.5 Kết quả phân lập cây F3 bất dục từ cây F2 hữu thụ 63
Bảng 3.6 Độ bất dục hạt phấn và thời gian từ gieo đến trỗ của một số cá thểbất dục thế hệ F3 64
Bảng 3.7 Sự thay đổi về thời gian sinh trưởng của các dòng TGMS qua quá trình chọn lọc, qua các đời tự thụ 65
Bảng 3.8 Một số đặc điểm sinh trưởng, hình thái của các dòng TGMS 66
Bảng 3.9 Đặc điểm về lá đòng, màu sắc lá đòng 68
Bảng 3.10 Đặc điểm về hạt phấn, vòi nhụy, màu sắc hoa, hạt, 69
Bảng 3.11 Đặc điểm về bông và hoa của các dòng TGMS 70
Bảng 3.12 Khả năng chống chịu một số loại sâu bệnh chính 71
Trang 11Bảng 3.13 Kết quả đánh giá độ thuần của các dòng TGMS ngắn ngày, 72
Bảng 3.14 Các dòng TGMS được thu thập và đánh giá sơ bộ 73
Bảng 3.15 Thời gian sinh trưởng, độ thuần, độ bất dục hạt phấn của các dòng TGMS mới được lựa chọn 74
Bảng 3.16 Tỷ lệ hạt phấn hữu dục và tỷ lệ kết hạt của các dòng TGMS qua các tháng trong điều kiện tự nhiên 76
Bảng 3.17 Thời kỳ cảm ứng nhiệt độ và tỷ lệ hạt phấn hữu dục (%) của các dòng TGMS ở các chế độ nhiệt khác nhau 78
Bảng 3.18 Ảnh hưởng của các mức nhiệt độ xử lý đến sự chuyển hóa
hữudục hạt phấn của các dòng TGMS có triển vọng 79
Bảng 3.19 Một số đặc tính hình thái của một số dòng TGMS thuần triển
Bảng 3.26 Đặc điểm nông sinh học, các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của các tổ hợp lai F1 giữa các dòng mẹ mới và các dòng bố 90
Bảng 3.2 Giá trị khả năng kết hợp chung (GCA) ở một số tính trạng của các dòng bố mẹ 94
Bảng 3.28 Giá trị SCA của các dòng bố mẹ ở tính trạng năng suất thực thu 96
Bảng 3.29 Giá trị SCA ở tính trạng thời gian từ gieo đến trỗ 97
Bảng 3.30 Giá trị SCA ở tính trạng chiều cao cây 99
Bảng 3.31 Đánh giá thời gian sinh trưởng của các tổ hợp lai so với bố mẹ.106
Bảng 3.32 Thời gian sinh trưởng của một số tổ hợp F1 so với bố mẹ 109
Trang 12Bảng 3.33 Đánh giá so sánh một số tổ hợp lai triển vọng 111
Bảng 3.34 Đánh giá sâu bệnh các dòng trong điều kiện tự nhiên 112
Bảng 3.39 Tỷ lệ kết hạt sau ngày nở hoa của dòng T256S và TH17S-16 123
Bảng 3.40 Kết quả sản xuất thử một số tổ hợp lai vọng 128
Trang 13M Ở ĐẦU
1 Tính c ấp thiết của đề tài
Các tỉnh phía Bắc hàng năm thường có rét đậm, rét hại vào tháng cuối năm trước đến tháng đầu năm sau (tháng 12, tháng 1), đặc biệt là các tỉnh
miền núi, có những năm rét sâu, nhiệt độ xuống dưới 00
C Các tỉnh miền núi như Lào Cai, Lai Châu, Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Cạn,Yên Bái, Hà Giang,
Lạng Sơn, Điện Biên đợt rét ngày 12 tháng 1 năm 2015 nhiệt độ trung bình
ra ngập lũ, lũ thường bắt đầu từ tháng 6 đến tháng 8 hàng năm, đây cũng là
yếu tố gây thiệt hại rất lớn cho đời sống và cho sản xuất lúa Như vậy để tránh rét đậm, rét hại vào đầu vụ Xuân của các tỉnh đồng bằng và các tỉnh miền núi phía Bắc và né tránh ngập lũ cho vụ hè thu cho các tỉnh Bắc Trung bộ và các
tỉnh Miền Trung thì cần có các giống lúa cực ngắn ngày (TGST< 100 ngày trong vụ Mùa), năng suất cao, đảm bảo gieo cấy vào tháng 2, tháng 3 thu
hoạch tháng 5, tháng 6 trong vụ Xuân muộn, hoặc gieo cấy cuối tháng 4, tháng 5 thu hoạch tháng 8 trong vụ Hè thu, Mùa cực sớm Lúa mùa cực sớm còn đóng vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, thuận lợi cho
sản xuất cây rau mầu vụ Đông có giá tri kinh tế cao ở các tỉnh phía Bắc
Hiện tại Việt Nam đã có các giống lúa thuần cực ngắn ngày nhưng năng suất ở các tỉnh phía Bắc còn hạn chế, năng suất mới chỉ đạt 4,5-5,5
tấn/ha như giống P6ĐB, giống N25 năng suất 5,5-6,5 tấn/ha Trong khi đó lúa lai năng suất cao hơn lúa lùn cải tiến có thời gian sinh trưởng tương đương từ 20-30% Do vậy việc nghiên cứu chọn tạo các giống lúa lai 2 dòng cực ngắn ngày có năng suất cao là cần thiết cho các tỉnh phía Bắc
Trang 14Trước hạn chế là các dòng mẹ TGMS hiện có trong nước hầu hết có
thời gian sinh trưởng trung và dài ngày, nên không phù hợp cho lai tạo lúa lai
cực sớm Để khắc phục những hạn chế trên của các dòng TGMS cho lai tạo
giống lúa lai cực sớm ở Việt Nam và đáp ứng được nhu cầu cấp thiết của sản
xuất chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu chọn tạo một số
dòng TGMS ng ắn ngày để tạo giống lúa lai cực ngắn ở các tỉnh phía Bắc”
2.M ục tiêu của đề tài
- Tạo và chọn lọc được các dòng TGMS ngắn ngày có các đặc tính nông sinh học tốt, độ bất dục ổn định, có khả năng kết hợp cao để tạo được các tổ hợp lúa lai hai dòng cực ngắn ngày (≤100 ngày trong vụ Mùa) năng
suất cao, chất lượng khá phục vụ cho sản xuất lúa ở các tỉnh phía Bắc
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Gồm các dòng mẹ TGMS (dòng bất dục đực
di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ), các dòng lúa thuần và một số tổ hợp lai hai dòng được tạo ra từ các vật liệu nói trên
bệnh trong điều kiện tự nhiên, khả năng kết hợp của các dòngTGMS thuần và
sức sống vòi nhụy của các dòng TGMS có KNKH chung cao Chọn tạo các tổ
hợp lai hai dòng cực ngắn ngày ≤100 ngày (trong vụ Mùa) có năng suất cao,
chất lượng tốt
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1.Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài cung cấp thêm luận cứ khoa học cho lai
tạo và chọn lọc các dòng mẹ bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ
Trang 15có thời gian sinh trưởng ngắn ngày và các tổ hợp lúa lai cực ngắn ngày năng
suất cao
- Luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà nghiên cứu chọn tạo giống, cho công tác giảng dạy tại các trường Đại học chuyên ngành sinh học và nông nghiệp
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đã chọn tạo được 2 dòng TGMS: T256S, TH17S-16 và 2 dòng bố RT205, RT201 có khả năng kết hợp chung cao về năng suất Dòng T256S còn
có khả năng kết hợp thấp về TGST và chiều cao cây cuối cùng, đặc tính này
rất phù hợp cho dòng mẹ của tổ hợp lúa lai cực sớm, chống đổ tốt
- Chọn tạo được 3 tổ hợp lai triển vọng: T256S/RT205, T256S/RT201
và TH17S-16/RT203 có TGST cực sớm, năng suất cao, chất lượng khá là nguồn giống tốt cho ứng phó với rét đậm, rét hại ở phía Bắc, né lũ và tiết
kiệm nước ở Miền Trung Ngoài ra giống trồng trong vụ mùa cực sớm còn
tạo điều kiện cho sản xuất rau mầu, cây vụ Đông sớm có giá trị kinh tế cao trên đất lúa của các tỉnh phía Bắc
5 Nh ững đóng góp mới của luận án
5.1.Nh ững đóng góp mới về lý luận cho sự phát triển của khoa học chuyên ngành: Di truy ền và Chọn giống cây trồng
- Để tạo dòng mẹ TGMS ngắn ngày mới: Dùng các dòng bố ngắn ngày lai với các dòng mẹ TGMS và chọn lọc các tổ hợp lai F1 có thời gian sinh trưởng ngắn, tiếp tục phân lập và chọn lọc cây bất dục và cây hữu dục từ thế
hệ F2, F3 có thời gian sinh trưởng cực ngắn theo phương pháp phả hệ sẽ chọn
được các dòng TGMS có thời gian sinh trưởng ngắn ngày, cực ngắn ngày
- Để tạo các tổ hợp lai F1 có thời gian sinh trưởng cực ngắn ngày: thì
chọn dòng bố có TGST từ gieo đến trỗ nhỏ hơn hoặc bằng 75 ngày lai với dòng mẹ có TGST cực ngắn ngày, sẽ tạo ra các tổ hợp lai cực ngắn ngày mới
5.2 Nh ững đóng góp mới phục vụ sản xuất
Trang 16- Chọn tạo được dòng mẹ T256S, TH17S-16 và 3 tổ hợp lai cực ngắn ngày T256/RT201, T256/RT205, TH17S-16/RT203 có năng suất cao, có chất lượng tốt, có thời gian sinh trưởng cực ngắn ngày ≤ 100 ngày, có khả năng đáp ứng tốt cho các vùng tránh lũ, cho chuyển đổi cơ cấu cây trồng và là
giống dự phòng trong vụ Xuân sớm khi lúa Xuân sớm chết do gặp rét hại
Trang 17CHƯƠNG I
C Ở SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài:
1.1.1 Ưu thế lai và khai thác sử dụng ưu thế lai ở lúa
Ưu thế lai (heterosis) là một thuật ngữ để chỉ tính hơn hẳn của con lai F1 so với bố mẹ chúng về các tính trạng hình thái, khả năng sinh trưởng, sức
sống, sức sinh sản, khả năng chống chịu và thích nghi, năng suất, chất lượng
Trong việc khai thác ưu thế lai ở lúa, lúa lai hai dòng đã tỏ ra có nhiều
ưu điểm hơn lúa lai ba dòng: khi nghiên cứu và sản xuất chỉ sử dụng hai dòng
bố mẹ, không cần dòng duy trì bất dục, cơ hội tìm dòng cho phấn dễ dàng hơn, ưu thế lai cao hơn từ 5-10%, chất lượng gạo dễ cải thiện Ngoài ra còn
tạo ra nhiều thuận lợi cho việc nghiên cứu ứng dụng ưu thế lai của các tổ hợp Indica/Japonica (Nguyễn Việt Long, 2006)
Hệ thống lúa lai hai dòng liên quan đến dòng bất dục có thể là bất dục
chức năng, có thể là bất dục phấn phụ thuộc vào nhiệt độ hoặc ngày dài (Galal
Anis et al., 2017)
Điều kiện khí hậu Việt Nam có hai mùa nóng lạnh tương đối rõ rệt nên
có thể lợi dụng sự thay đổi nhiệt độ trong năm để duy trì các dòng TGMS và
sản xuất hạt giống lúa lai hệ hai dòng, thuận lợi cho việc nghiên cứu và ứng
dụng các dòng mẹ TGMS (bất dục di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ)
1.1.2 Cơ sở di truyền của hiện tượng ưu thế lai
Trang 18Ưu thế lai đã được sử dụng rộng rãi trong chọn giống cây trồng Tuy nhiên các nhà khoa học chưa đưa ra được một thuyết duy nhất để giải thích
hiện tượng ưu thế lai Hiện nay có nhiều giả thiết để giải thích hiện tượng này nhưng có 2 giả thuyết quan trọng nhất là: Giả thuyết tính trội của Davenport đưa ra năm 1908 và giả thuyết siêu trội của East đưa ra năm
1936 (trích theo Vũ Văn Liết và CS., 2013)
+ Gi ả thuyết về sự tác động tương hỗ giữa các gen trội (hay còn gọi là giả thuy ết tính trội) Giả thuyết này cho rằng ưu thế lai là kết quả của sự tác động
tương hỗ giữa các gen trội có lợi cho sự sinh trưởng
Các tính trạng có lợi cho sự sinh trưởng của cơ thể do nhiều gen trội kiểm soát, còn gen lặn tương ứng có tác dụng ngược lại Khi đem giao phối chúng
với nhau, thì con lai ở nhiều vị trí gen, các gen trội sẽ lấn át các gen lặn, số vị trí gen chứa gen trội sẽ tăng lên Do vậy xuất hiện hiện tượng ưu thế lai, đồng
thời thể hiện tính đồng đều của con lai F1, do các con lai có kiểu gen giống nhau chúng sẽ có hình thái giống nhau
+ Gi ả thuyết tính siêu trội (hay còn gọi là giả thuyết dị hợp tử): Vì
thuyết tính trội chưa giải thích đầy đủ được một số trường hợp về ưu thế lai,
do vậy thuyết siêu trội được đưa ra và thu hút nhiều người chú ý
Theo thuyết này thì chính bản thân dị hợp tử là nguyên nhân quan trọng
tạo nên ưu thế lai Cơ sở của giả thuyết này là quan niệm cho rằng: Trong một
số trường hợp, mỗi tác động tương hỗ giữa 2 alen trong cùng một locus có thể
dẫn đến cơ thể di hợp tử Aa có sức mạnh vượt qua cả 2 thể đồng hợp tử AA
và aa
Giả thuyết tính trội và siêu trội cho rằng ưu thế lai là do sự tương tác giữa các allel trong một locus, giả thuyết lấn át gen cho rằng ưu thế lai là do tương tác giữa các gen ở locus khác nhau
Do tính chất phức tạp của ưu thế lai và mối liên quan nhiều mặt của nó
với các vấn đề khác của di truyền học, cho nên các giả thuyết đã nêu trên,
Trang 19không những không bài trừ lẫn nhau mà còn bổ sung cho nhau để giải thích
hiện tượng ưu thế lai ở sinh vật (Nguyễn Công Tạn và CS., 2002)
1.1.3 Cơ sở phân tử của hiện tượng ưu thế lai
Ở mức phân tử có hai mô hình giải thích ưu thế lai: thứ nhất là do hai alen khác nhau của hai gen khác nhau và cùng biểu hiện; thứ hai là sự tổ hợp
của các alen khác nhau tạo ra tương tác là cơ sở biểu hiện của ưu thế lai Thách thức của mô hình phân tử giải thích ưu thế lai là xác định chính xác liên kết tương quan giữa kiểu hình và phân tử xảy ra trong con lai ưu thế lai (
Xu, 2010)
1.1.4 Sự biểu hiện ưu thế lai ở lúa
Ưu thế lai biểu hiện trên các cơ quan sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực, những biểu hiện này thể hiện trên tất cả các tính trạng hình
thái và sinh lý như cường độ quang hợp, cường độ hấp thụ, diện tích lá…
- Ưu thế lai ở hệ rễ: Con lai F1 rễ ra sớm, số lượng nhiều, rễ ăn sâu và
rộng Thể hiện ở độ dày của rễ, trọng lượng chất khô, số lượng rễ phụ, số lượng lông hút và hoạt động của bộ rễ khi hút chất dinh dưỡng từ đất vào cây (Burton,1983)
- Ưu thế lai về khả năng đẻ nhánh: Lúa lai F1 vừa đẻ khỏe vừa có tỷ lệ
nhánh hữu hiệu cao, đẻ sớm và tập trung (Lin và Yuan, 1980)
- Ưu thế lai về chiều cao cây: Tuỳ từng tổ hợp, chiều cao cây của F1 có
lúc biểu hiện ưu thế lai dương, có lúc nằm trung gian giữa bố mẹ, có lúc xuất
hiện ưu thế lai âm Vì chiều cao cây có liên quan tới tính chống đổ trên đồng
ruộng nên khi chọn bố mẹ phải chú ý chọn các dạng nửa lùn để con lai có
dạng cây nửa lùn (Chang,1967)
- Ưu thế lai về thời gian sinh trưởng: Lin và Yuan (1980) cho rằng đa
số con lai F1 có thời gian sinh trưởng khá dài và thường dài hơn bố mẹ sinh trưởng dài nhất Một số kết quả nghiên cứu khác xác định thời gian sinh trưởng của con lai tương đương hoặc ngắn hơn thời gian sinh trưởng của dòng
bố hoặc dòng mẹ chín muộn (Ponnuthurai,1984)
Trang 20- Ưu thế lai về một số đặc tính sinh lý: Nhiều nghiên cứu phát hiện thấy
lúa lai có diện tích lá lớn, hàm lượng diệp lục trên một đơn vị diện tích lá cao
do đó hiệu suất quang hợp cao Trái lại cường độ hô hấp của lúa lai thấp hơn lúa thường Con lai F1 có cường độ quang hợp cao hơn dòng bố khoảng 35%, cường độ hô hấp thấp hơn lúa thường từ 5-27% Hiệu suất tích luỹ chất khô
của lúa lai hơn hẳn lúa thường nhờ vậy mà tổng lượng chất khô trong cây tăng, trong đó lượng vật chất tích luỹ vào bông hạt tăng mạnh còn tích luỹ vào các cơ quan như thân lá lại giảm mạnh (Kasura, 2007)
- Ưu thế lai về khả năng chống chịu: Con lai F1 có khả năng chống
chịu với những điều kiện bất thuận: lạnh, hạn, ngập, mặn, chua Sức chịu
lạnh của lúa lai cao ở thời kỳ mạ nhưng lại chịu lạnh kém ở thời kỳ chín sáp Lúa lai có khả năng tái sinh chồi và khả năng chịu nước sâu cao (Sirajul Islam, 2007)
- Ưu thế lai về các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất: Kết quả
nghiên cứu của một số tác giả cho thấy con lai có năng suất cao hơn bố mẹ từ 21% - 70% khi gieo cấy trên diện rộng và hơn hẳn các giống lúa lùn cải tiến
tốt nhất từ 20% - 30% Đa số các tổ hợp lai có ưu thế lai cao về số bông/khóm, khối lượng trung bình bông, tỷ lệ hạt chắc và khối lượng 1000
hạt (Virmani, 1981)
1.1.5 Hệ thống bất dục đực sử dụng trong chọn giống lúa lai hai dòng
Bất dục đực là hiện tượng cây không có khả năng sản sinh ra hạt phấn,
hoặc sản sinh ra hạt phấn nhưng lại không có khả năng giải phóng hạt phấn,
hoặc sản sinh ra các hạt phấn bất dục, các hạt phấn bất dục thường dị dạng và quan trọng nhất là chúng không có khả năng nảy mầm trên đầu nhụy, vì vậy không thể thực hiện được quá trình thụ tinh Tính bất dục của các dòng mẹ
của lúa lai hai dòng được kiểm soát bởi các gen trong nhân mẫm cảm với môi trường
Khác với phương pháp khai thác ưu thế lai ba dòng thì ở phương pháp này người ta sử dụng 2 dòng bố mẹ để sản xuất hạt lai F1 Có 2 kiểu dòng mẹ
Trang 21được dùng là: Kiểu (1) dòng bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm
với nhiệt độ (Thermo-sensitive Genic Male Sterility – TGMS) và kiểu (2) là dòng bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với chu kỳ chiếu sáng (Photoperiodic – sensitive Genic Male Sterility – PGMS) Sự chuyển hóa tính
dục từ bất dục sang hữu dục (và ngược lại) của 2 kiểu dòng này gây ra bởi điều kiện môi trường vì vậy mà kiểu bất dục này được gọi là bất dục đực chức năng di truyền nhân mẫn cảm với điều kiện môi trường (Environmental Sensitive Genetic Male Sterile – EGMS)
Do đề tài chỉ liên quan đến nghiên cứu dòng mẹ mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) nên dưới đây chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu về dạng bất dục nhân mẫn
cảm với nhiệt độ (TGMS)
1.1.5.1 B ất dục đực di truyền nhân mẫn cảm nhiệt độ (TGMS)
Dạng bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) do yếu
tố nhiệt độ quyết định, ở nhiệt độ cao thì bất dục nhưng ở nhiệt độ thấp hữu
dục bình thường (Chen et al., 2010) Sự di truyền tính bất dục dạng TGMS do
cặp gen lặn tms trong nhân kiểm soát (Zhang et al., 2013)
Các dòng TGMS khác nhau thì có ngưỡng nhiệt độ chuyển hóa không
giống nhau Nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc và một số nước khác trên thế giới đã cho thấy nhiệt độ chuyển hóa của các dòng TGMS rất khác nhau tùy thuộc vào bản chất gen của mỗi dòng Dựa vào ngưỡng phản ứng với nhiệt độ, các dòng TGMS có thể được xếp vào 3 nhóm sau:
Nhóm dòng có ngưỡng chuyển hóa nhiệt độ thấp: Đại diện cho nhóm này là các dòng Peiai 64S, 735S, HN5-2S, 8906S, K14S…(Lu, 1994) ngưỡng nhiệt độ chuyển hóa bất dục - hữu dục của nhóm này khoảng 23,50
C Vì vậy nhóm này có đặc tính bất dục tốt, ổn định và an toàn trong sản xuất hạt lai Tuy nhiên khả năng nhân dòng TGMS là khó khăn và thường đạt năng suất
thấp
Trang 22Nhóm dòng TGMS có ngưỡng nhiệt độ chuyển hóa hữu dục cao (260C): Các dòng bất dục nhóm này dễ duy trì và thường đạt năng suất cao trong nhân dòng Đại diện nhóm này là các dòng: 8902S, 5047S…
Nhóm dòng có ngưỡng nhiệt độ cao gây hữu dục và nhiệt độ thấp gây
bất dục Sự chuyển hóa hữu dục cuả nhóm này được gây ra bởi độ dài chiếu sáng trong một khoảng nhiệt độ ở thời kì phản ứng sáng, trong điều kiện tự nhiên chúng hầu như bất dục hoàn toàn Đại diện cho nhóm này gồm các dòng: W6154S, W7415S, 8801S… Trong nhóm này cũng có các dòng chỉ
mẫn cảm với nhiệt độ (Dianxin1A, 1VA Diannong S-1) Khi nhiệt độ thấp hơn 240
C thì chúng bất dục và nhiệt độ cao hơn 260
C chúng hữu dục (Jiang
Yiming et al.,1997) Nghiên cứu về bản chất di truyền của sự thay đổi nhiệt
độ tới hạn cho bất dục phấn, Wu và cộng sự cho biết nhiệt độ chuyển hóa thấp
là tính trạng trội được kiểm soát bởi 2 gen trội L1, L2 Hai gen này có khả năng làm giảm ngưỡng nhiệt độ chuyển hóa bất dục của dòng TGMS Vì vậy tùy thuộc vào kiểu gen của dòng TGMS khác nhau mà chúng duy trì nhiệt độ
tới hạn gây bất dục khác nhau (23-290
C) Ngoài ra còn một số dòng TGMS nghịch: Hữu dục trong điều kiện nhiệt độ cao và bất dục trong điều kiện nhiệt
độ thấp
Giai đoạn cảm ứng nhiệt độ của các dòng TGMS khác nhau cũng khác nhau do nguồn gen và cơ sở di truyền của từng dòng quyết định (Borkakati và Virmani, 1997) Nhiều nghiên cứu cho thấy giai đoạn cảm ứng của dòng TGMS từ giai đoạn 16 ngày đến 3 ngày trước trỗ Giai doạn phân chia tế bào
mẹ hạt phấn (khoảng 11- 8 ngày trước trỗ) là giai đoạn mẫn cảm nhất với nhiệt độ
Các nhà khoa học cũng xác định có các gen ký hiệu là tms, tms2, tms,
tms4(t), tms6, tmsX kiểm soát tính trạng bất dục đực mẫn cảm với nhiệt độ Gen tms1 phát sinh nhờ đột biến tự nhiên ở giống lúa IR54, nằm trên nhiễm
sắc thể thứ 8 Gen tms2 do Maruyama et al (1991) tạo ra bằng phương pháp
gây đột biến phóng xạ giống lúa Reimei, nằm trên nhiễm sắc thể số 7 Gen
Trang 23tms3 do Subudhi tạo ra bằng phương pháp gây đột biến phóng xạ giống lúa IR32364, nằm trên nhiễm sắc thể số 6 (Lê Duy Thành, 2001) Ở Việt Nam,
Phạm Văn Đồng (1999), đã dùng kỹ thuật sinh học phân tử (phương pháp phân tích BSA kết hợp với kỹ thuật AFLP và RFLP) để định vị gen tms4(t) từ
dòng TGMSVN1, gen này nằm cạnh tâm động trên vai ngắn của nhiễm sắc
thể số 4 Gentms9 nằm trên NST số 2 được tìm thấy khi nghiên cứu dòng
Zhu1 l dòng TGMS có ngưỡng chuyển đổi tính dục thấp, khả năng kết hợp cao, khi lập bản đồ gen tms9 cho thấy nó nằm ở đoạn chèn vào-mất đi (Indel)
của 2 chỉ thị Indel37 và Indel57, khoảng cách di truyền từ gen tms9 đến 2 chỉ
thị là 0.12 và 0.31cM, khoảng cách vật lý giữa 2 chỉ thị khoảng 107.2kb
(Sheng et al., 2013)
1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.2.1 Điều kiện khí hậu thời tiết của các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Các tỉnh phía Bắc thường có rét đậm, rét hại vào tháng 1 và lạnh vào tháng 12 năm sau và thường hay có lũ xảy ra từ tháng 6 đến cuối vụ Mùa, vụ
Hè thu hàng năm Hai tác nhân rét đậm, rét hại và lũ lụt tồn tại từ nhiều năm nay làm ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sản xuất, đặc biệt là việc trồng lúa
ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam
Theo TTKTTVTƯ (các năm :2014, 2015, 2016, 2017 và 2018), hàng năm đã xảy ra 5 đợt rét đậm, rét hại trên diện rộng ở các tỉnh Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Riêng năm 2017chỉ có 2 đợt rét đậm, rét hại xẩy ra Tuy nhiên trong năm 2013, chỉ xuất hiện 1 đợt rét đậm Tổng số ngày rét đậm rét hại hàng năm biến động từ 19 - 21 ngày cho các năm rét nhiều như năm 2014,
2015 và 2016 Vào những năm rét ít (2013, 2016 và 2018) rét đậm rét hại chỉ
xẩy ra trong 6 - 9 ngày
Trong các đợt rét đậm, rét hại, số ngày kéo dài của từng đợt là không
giống nhau
* Diễn biến mưa, lũ Để thấy được tình hình mưa lũ ở các tỉnh phía Bắc,
chúng ta so sánh mức độ mưa lũ của năm 2014 (là năm có số trận lũ vừa và
Trang 24lớn trên các sông toàn quốc ít hơn so với TBNN) so với số liệu trung bình mưa lũ nhiều năm ở các tỉnh phía Bắc Năm 2014 theo thống kê trên 20 sông chính đã xảy ra 71 trận lũ với biên độ nước lên trên 1m, thấp hơn nhiều so
với TBNN (1997-2013: 101 trận); trong đó ở Bắc bộ đã xảy ra 48 trận lũ, ít hơn mức TBNN: 20 trận; Trung bộ xảy ra 23 trận, ít hơn TBNN: 19 trận
Trận lũ từ 17-19/9/2014 ngập lụt trên diện rộng đã xảy ra ở nhiều nơi thuộc các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Cạn Đợt mưa
diện rộng trên toàn Bắc bộ từ ngày 19-21/07/2014 đã gây đợt lũ khá lớn ở thượng lưu hệ thống sông Hồng Nhiều nơi trên hệ thống sông Hồng đã đạt đỉnh lũ cao nhất năm Lũ trên sông Đà đến hồ Sơn La và sông Chảy tại Bảo Yên đều vượt mức BĐ3 Đỉnh lũ trên sông Thao tại Yên Bái, sông Lô tại Hà Giang đều vượt mức BĐ2; Trong đợt mưa, lũ này đã có 10970 ha lúa bị thiệt
hại; 5.520 ha hoa mầu bị thiệt hại Tổng thiệt hại khoảng 1262 tỷ đồng (nguồn từ BCĐPCLBTƯ)
Qua số liệu và tình hình thời tiết rét đậm rét hại, lũ lụt của các tỉnh phía
Bắc trong 5 năm trở lại đây, chúng ta thấy cần phải nghiên cứu chọn tạo các
giống ngắn ngày để tránh rét đầu vụ Xuân và tránh lũ đầu vụ Mùa và cuối vụ
Hè thu ở các tỉnh phía Bắc Trong thực tế đã có các giống lúa thuần cực ngắn ngày đáp ứng được về mặt thời gian tránh rét, tránh lũ, song năng suất tại các
tỉnh phía Bắc còn hạn chế như: P6ĐB, N25 năng suất thấp hơn 6,5 tấn/ha
1.2.2 Cơ sở thực tế về sinh trưởng phát triển và gen của giống lúa cực
ng ắn
Sinh trưởng phát triển của cây lúa chia làm 3 giai đoạn: giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng (từ nảy mầm đến hình thành hoa), giai đoạn sinh trưởng sinh thực (hình thành hoa đến nở hoa), giai đoạn hình thành hạt (nở hoa đến chín) Ở
giống lúa chín sớm (giống cực ngắn) thì có sinh trưởng ngắn trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, một số giống có sự sinh trưởng ngắn trong cả giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Giai đoạn nở hoa đến
Trang 25chín có thể từ 25-40 ngày và cũng có thể 35 ngày ở vùng nhiệt đới và đến 65 ngày ở vùng thời tiết lạnh (Calvert et al., 2006)
Trong điều kiện ngày ngắn, protein Hd1 là chất hoạt hóa biểu hiện gene Hd3a Hệ thống tương tác OsGI-Hd1-Hd3a sẽ khởi động quá trình ra hoa Trong đó sự hoạt hóa promoter của gen Hd3a do sự tăng nồng độ protein sản
phẩm của gen Hd1 và PRR37 đã được kiểm chứng bởi Goretti et al (2017)
Một số giống lúa thuộc nhóm japonia thích nghi với điều kiện ngày dài
chỉ sinh trưởng và ra hoa vào mùa hè vùng ôn đới Quá trình thích nghi từ vùng nhiệt đới ngày ngắn di chuyển lên phía bắc là kết quả của sự thay đổi hệ
thống điều hòa các gen điều khiển ra hoa ở cây lúa (Naranjo et al., 2014)
Lin et al (1998) khi phân tích các tính trạng số lượng tương ứng với
thời gian trỗ trong phép lai giữa Nipponbare và Kasalath đã phát hiện 2 locus tính trạng số lượng QTL là Hd-1 và Hd-2 nằm tương ứng trên NST 6 và 7 2
locus này đều có vai trò rút ngắn thời gian từ gieo đến trỗ Ngoài ra, 3 locus
phụ khác là Hd-3, Hd-4, Hd-5 có nguồn gốc từ Nipponbare cũng có tác động
giảm thời gian từ gieo đến trỗ
1.2.3 Nghiên cứu khả năng kết hợp của các dòng bố với các dòng TGMS
Khả năng kết hợp (combining ability) có liên quan tới khả năng của
một kiểu gen có thể chuyển những đặc tính tốt của nó sang cho thế hệ sau hay
khả năng phối hợp là khả năng cho ưu thế lai của các dòng tự phối trong các
tổ hợp lai (Trần Duy Quý, 2000)
Khả năng kết hợp chung (General Combining Ability) là sự biểu hiện giá trị trung bình của bố mẹ trong một loạt các dạng lai KNKHC được xác định bằng giá trị trung bình ưu thế lai của tất cả các tổ hợp lai có mẫu tham gia vào lai thử (Trần Duy Quý, 2000)
Khả năng kết hợp riêng (Specific Combining Ability) là sự lệch trong
biểu hiện của dạng lai trong sự biểu hiện được báo trước trên cơ sở khả năng
Trang 26kết hợp chung của bố mẹ chúng Hay KNKHR là độ lệch của một tổ hợp lai
cụ thể nào đó với ưu thế lai trung bình của nó (Nguyễn Văn Hoan, 2006)
Kiểu gen F1 được hình thành do kết hợp giao tử đực và giao tử cái của các bố mẹ, đánh giá khả năng kết hợp của các dòng bố mẹ chính là xác định
hiệu quả tác động của các gen thu được ở F1 trong sự thể hiện tính trạng Một dòng nào đó khi lai với nhiều dòng khác cho các F1 mà có giá trị trung bình
về độ lớn của tính trạng cao, ta nói dòng ấy có khả năng kết hợp chung cao
Nếu trong các F1 đó có kiểu nào cho thể hiện tính trạng vượt trội hơn hẳn giá
trị trung bình trên, ta nói tổ hợp lai cụ thể ấy có khả năng kết hợp riêng cao (Trần Duy Quý, 2000)
KNKH chung là tiêu chuẩn đáng tin cậy trong việc chọn cặp bố mẹ để đưa vào lai tạo giống Việc ước lượng tác động của khả năng kết hợp chung (GCA) giúp cho việc chọn các dòng bố mẹ có khả năng kết hợp cao, trung bình và thấp Về tổng thể, chọn các dòng bố mẹ có GCA cao sẽ làm tăng khả năng cho ưu thế lai ở con lai Tuy nhiên, thí nghiệm trên đối tượng lúa chỉ ra
rằng con lai có ưu thế lai có thể tạo thành từ lai các cặp bố mẹ có GCA như sau: cao x thấp và cao x cao Các nghiên cứu ở IRRI chỉ ra rằng các tổ hợp có SCA cao và ưu thế lai cao thường tạo thành từ ít nhất một bố mẹ có GCA cao
và một bố mẹ kia có GCA có thể thấp, trung bình hoặc cao Tuy nhiên, một vài tổ hợp có ưu thế lai với giá trị SCA cao lại được tạo thành từ cả hai dạng
bố mẹ có GCA thấp; điều này chỉ ra rằng việc dự đoán ưu thế lai dựa vào GCA không phải lúc nào cũng chính xác (Nguyễn Văn Hoan và Vũ Hồng
Quảng, 2006)
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hải (2007) trên 110 tổ hợp (22 bố và 5mẹ), tính trên cả 7 tính trạng quan sát, tỷ số SCA(+)/SCA(-) với
kiểu kết hợp bố mẹ dạng kết hợp bố mẹ có GCA cao là 19/0, bố mẹ dạng kết
hợp giữa một bố/mẹ có GCA cao với một bố/mẹ có GCA thấp và dạng kết
hợp bố mẹ có GCA thấp tương ứng là 31/27 và 8/86 Trong khi đó, KNKH
Trang 27riêng là đặc điểm của giống chỉ có trong một số tổ hợp nhất định KNKH riêng phụ thuộc nhiều vào mức độ phản ứng của kiểu gen tham gia vào tổ hợp lai do vậy biến động nhiều hơn Vì vậy, KNKH riêng không có nhiều ý nghĩa trong việc chọn cặp bố mẹ để đưa vào lai tạo giống Tuy nhiên, giá trị KNKH riêng cho nhà chọn giống đánh giá được những tổ hợp lai ưu tú và tương ứng
với nó là các cặp bố mẹ ưu tú vì khả năng kết hợp riêng có mối quan hệ rất
gần với ưu thế lai (Trần Duy Quý, 2000)
Chính vì vậy, trong quá trình tạo và chọn lọc các dòng tự phối, thường thì sau khi đã xác định KNKHC người ta mới tiến hành xác định KNKHR Tuy nhiên, khi xét KNKHC nếu ta loại bỏ các dòng một cách quá chặt chẽ thì đôi khi có thể để mất một số dòng có giá trị về sau
Việc đánh giá khả năng kết hợp của các dòng bố mẹ ban đầu là hết sức
hữu ích trong chương trình chọn giống lai, đặc biệt khi mà có sẵn rất nhiều dòng bố mẹ triển vọng và một dòng triển vọng nhất được tìm ra trên nền tảng
của khả năng kết hợp của chúng để tạo các dạng lai cao hơn Theo tính toán
của các nhà nghiên cứu thì có khoảng 0,01- 0,1% các dòng thuần được tạo ra
là có khả năng cho ra các con lai có ưu thế lai cao Đó chính là các dòng có KNKH cao Muốn tìm được các dòng đó phải thử KNKH của chúng bằng cách lai thử Dựa trên sự biểu hiện các tính trạng của con lai mà ta có thể xác định được tiềm năng tạo ưu thế lai của các dòng; và chỉ những dòng cho ƯTL cao mới được giữ lại Phương pháp line × tester (Kempthorne 1957) được sử
dụng thông dụng cho mục đích này
Phân tích phương sai Line x tester: cần tiến hành phân tích phương sai
do cặp lai, do line, do tester và do Line x Tester; bảng phân tích phương sai này cho biết sự khác nhau về di truyền của các vật liệu tham gia, sự đóng góp
thể hiện do hiệu quả của tương tác gen cộng tính hay không cộng tính đến
biểu hiện tính trạng và vai trò của bố, mẹ trong biểu hiện tính trạng (đó là có
sự đóng góp hiệu quả của gen cộng tính) Nếu phương sai do LxT có ý nghĩa
Trang 28đó là sự đóng góp có ý nghĩa của các con lai F1 Nếu phương sai do Lines và Tester có ý nghĩa trên tính trạng nào thì tính trạng đó được tác động tích cực
của các gen không cộng tính Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Như Hải
và Nguyễn Văn Hoan (2005), bảng phân tích phương sai Line x tester cho biết
ở các tính trạng năng suất, số bông/khóm, số hạt/bông, khối lượng 1000 hạt, chiều cao cây và thời gian sinh trưởng đều có sự đóng góp tích cực của các gen cộng tính và không cộng tính, riêng tính trạng tỉ lệ hạt chắc, gen cộng tính
có vai trò tích cực hơn Về sự đóng góp của bố, mẹ trong biểu hiện tính trạng
của con lai F1: bố có vai trò quan trọng hơn trong tính trạng số hạt trên bông,
mẹ có vai trò quan trọng hơn trong tính trạng năng suất, số bông/khóm, tỉ lệ
hạt chắc, chiều cao cây và thời gian sinh trưởng Riêng với tính trạng P1000 thì hai bố mẹ có đóng góp tương đương nhau
Trần Mạnh cường và CS (2013), các dòng TGMS thơm mới được chọn
lọc phân ly từ cùng một tổ hợp lai giữa dòng TGMS thơm 135S và dòng bố Hoa sữa Mỹ có khả năng kết hợp chung cao về các tính trạng số hạt trên bông
và năng suất cá thể Dòng E15S-14 có khả năng kết hợp chung cao trên tất các
yếu tố cấu thành về năng suất và năng suất cá thể, có thể sử dụng để phát triển lúa lai hai dòng năng suất cao, chất lượng tốt và gạo có mùi thơm ở Việt Nam
Phạm Văn Thuyết và CS (2016), cho rằng dòng mẹ TGMS E13S do
Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng chọn tạo có khả năng kết hợp chung cao về số bông/khóm, số hạt/bông và năng suất thực thu Dòng bố R11 có khả năng kết hợp chung cao về số bông/khóm, dòng bố R2 có khả năng kết hợp chung cao về số hạt/bông và năng suất thực thu Dòng mẹ E30S và dòng bố R2 có khả năng kết hợp riêng cao về số bông/ khóm và năng suất thực thu Dòng mẹ E17S và dòng bố R527 có khả năng kết hợp riêng cao về số hạt
chắc/bông, khối lượng 1000 hạt và năng suất thực thu
Hai dòng mẹ AT24 và AT27 có khả năng kết hợp chung cao về số
hạt/bông, số hạt chắc/bông, khối lượng 1000 hạt và năng suất thực thu Dòng
Trang 29bố RA28 có khả năng kết hợp chung cao về số bông/khóm, số hạt/bông và năng suất thực thu Dòng mẹ AT27 có khả năng kết hợp chung cao về tỷ lệ
gạo xát, tỷ lệ trắng trong, hàm lượng protein và độ ngon cơm Dòng bố RA28
có khả năng kết hợp chung cao về tỷ lệ gạo xát, tỷ lệ trắng trong và độ ngon
của cơm (Nguyễn Văn Mười và CS., 2016)
Đánh giá khả năng kết hợp 24 tổ hợp lai của 11 dòng bố mẹ (03 dòng CMS và 08 dòng phụ hồi) theo phương pháp Lines x Tester, kết quả cho thấy:
Phần lớn các dòng có sự sai khác có ý nghĩa về chiều cao cây, chiều dài hạt và chiều rộng hạt; Đối với cây thử có sự sai khác có ý nghĩa số nhánh vô hiệu, chiều dài và chiều rộng lá đòng; Các dòng có khả năng kết hợp chung cao về các tính trạng như: thời gian trỗ, số dảnh hữu hiệu, khối lượng 1000 hạt, tỷ lệ D/R Các tổ hợp lai IR58025A x RNR21301, JMS 13A x RNR2604 và 58025A x RNR21218 có khả năng kết hợp riêng cao về năng suất và các yếu
tố cấu thành năng suất (Ramesh et al., 2018)
Tóm lại, dựa trên kết quả đánh giá đúng về KNKH của các vật liệu, các nhà chọn giống có thể tìm ra được các dòng bố mẹ có KNKH chung cao và các tổ hợp có KNKH riêng cao Từ đó định hướng sử dụng chúng theo từng
mục đích chọn tạo Đây là công tác quan trọng và rất cần thiết giúp cho chương trình chọn giống lúa lai đạt hiệu quả
1.2.4 Tình hình nghiên c ứu các dòng TGMS trên Thế giới và ở Việt nam
1.2.4.1 Tình hình nghiên c ứu các dòng TGMS trên Thế giới
Hệ thống bất dục đực mẫn cảm nhiệt độ được điều khiển bởi gen nhân, tác động bởi nhiệt độ, ngày dài hoặc cả hai Hệ thống này được đưa ra đầu tiên bởi Martin và Crowford năm 1951 Chúng chỉ được khai thác thương mại tiên phong bởi các nhà khoa học Trung Quốc trên cây lúa, (Virmani et al.,
2003) như bảng 1.1 Khi lai Nongken58S với các giống indica và japonica khác rồi chọn ở các đời phân ly sẽ được các dòng PGMS và TGMS mới (Yin Hua Qi và Zhuje, 1996) Có thể nói rằng Nongken58S được dùng làm nguồn
Trang 30cho gen để truyền gen bất dục đực vào nhiều giống khác nhau làm cho ngày càng phong phú thêm nguồn bất dục đực di truyền nhân Thực tế đã có hàng
loạt các dòng EGMS mới được tạo ra có nguồn gốc từ Nongken58S như N5047S, 311S, WD -1S, 7001S, 0407S, 8902S, Peiai64S…(Mou, 2000)
Xác định các dòng TGMS triển vọng với đặc tính nở hoa và lai ngoài được gieo trồng trong vụ hè 2017 và quan sát sự bất dục trong điều kiện môi trường Trong 7 dòng TGMS thì 4 dòng biểu hiện ổn định và 2 dòng TNAU45S, TNAU 60S chỉ ra hoàn toàn bất dục trong mùa hè Độ biến thiên
về các đặc tính biểu hiện góc mở vỏ trấu, % thò vòi nhụy, phần % lai ngoài
chỉ ra có khả năng kết hợp chung cao
Trang 31B ảng 1.1 Danh sách các dòng bất dục nhiệt độ của một số nước từ năm
1986 - 2001 Tên dòng Nhóm Ngu ồn gốc Tác gi ả, chọn tạo năm
5460S Indica Đột biến phóng xạ,
Trung Quốc Yang et al.,1990
IR32364 Indica Đột biến phóng xạ,
Annong 1S Indica Đột biến tự nhiên,
Trung Quốc Tan et al.,1990
R 59TS Indica Đột biến phóng xạ,
Trung Quốc Yang và Wang,1990
Xiang quang Indica Chọn tạo quần thể,
Trung Quốc Cheng et al.,1995
26 Zhi Zao
S Indica
Đột biến phóng xạ, Trung Quốc Shen et al.,1993
N5088S Indica Từ nongken 58S,
Trung Quốc Zhang et a.,1994
SM5 Indica Đột biến tự nhiên, Ấn
Trang 32Dianxin/A Japonica CMS, Trung Quốc Lu et al,1994
Hennong S Indica Lai tạo, Trung Quốc Lu et al,1994
IV A Indica Lai tạo, Trung Quốc Zhang et al.,1991
J 207S Indica Đột biến tự nhiên,
Trung Quốc Jai et al., 2001
Di truyền và ưu thế lai có thể sử dụng có hiệu quả trong chọn giống 4 dòng TGMS: TNAU 39S, TNAU 45S, TNAU 60S, TNAU 95S chỉ ra có giá trị cao nhất với góc mở vỏ trấu lớn hơn 35%, tỉ lệ thò vòi nhụy lớn hơn 65%, hoa nở lớn hơn 90% Từ những nghiên cứu này cho thấyTNAU 39S, TNAU 45S, TNAU 60S và TNAU 95S là những dòng có thể sử dụng cho phát triển
lúa lai 2 dòng (Kanimozhi, 2018)
Bất dục đục di truyền nhân là hệ thống bất dục gen trong cây trồng nó ảnh hưởng đến bất dục và hữu dục khi phản ứng với nhiệt độ 8 dòng TGMS, DDR 1S, DDR 18S, DDR 19S, DDR 20S, DDR 23S, DDR 27S, DRR 28S and DDR 29S chỉ ra đậu hạt ở vĩ độ cao, nhưng hoàn toàn bất dục ở vĩ độ
thấp Ở vĩ độ thấp với ngưỡng nhiệt độ 35,4 độ thì dòng DRR 19S, DRR 20S and DRR 29S biểu hiện bất dục khi nở hoa Dòng DRR 1S thì ở nhiệt độ 36.6
Trang 33hoàn toàn bất dục khi nở hoa 7 dòng còn lại thì nhiệt độ hoàn toàn bất dục ở nhiệt độ từ 33,9 đến 35,8 ở vĩ độ thấp (Salgotra et al., 2012)
Với mục đích đưa đặc tính trội từ gen trội sang các dòng TGMS mang gen lặn hiện có, một dạng lúa hoang dại (Chaling), có tính trội về hạt, vòi
nhụy đen lớn, tỉ lệ vòi nhụy cao được lai tạo với các dòng TGMS lúa chín
sớm “Zhu 1S” Sau khi sàng lọc các dòng chín sớm và có tính trội về hạt Các dòng lúa sớm “Yezao S” và “Yezhuzao S” với các đặc tính trội về hạt được
lựa chọn Ngưỡng bất dục nhiệt độ cao của 2 dòng này 23,50
C Vòi nhụy của
“Yezao S” đen và tỉ lệ thò vòi nhụy 79,9%, trong khi “Yezhuzao S” có vòi
nhụy màu, có tỉ lệ thò vòi nhụy 76,8% Biểu lộ gen OsNCEDs trong “Yezao S” và “Yezhuzao S” là có ý nghĩa hơn “Zhu 1S” sau 15 ngày nở hoa, và hàm lượng a xít ABA cũng cao hơn “Zhu 1S” sau 20 ngày nở hoa Kết quả chỉ ra đặc tính trội từ lúa hoang “chaling” chuyển sang dòng TGMS chín sớm là có
hiệu quả bảo vệ hạt không nảy mầm trước khi thu hoạch (Chen et al., 2018)
Mục đích là đặt cơ sở cho ứng dụng dòng phản ứng nhiệt độ và ánh sáng LY172S trong chọn giống lúa Quá trình chọn tạo đặc tính, khả năng bất
dục, kháng sâu bệnh, kỹ thuật sản xuất của LY172S đã được giới thiệu LY172S được tạo ra từ việc lai 189S với Xieqing zao B, là một kiểu PTGMS indica mới Nó được phát triển bởi công ty AnHui Green rain Seed Co.Ltd…Bất dục ổn định, ngưỡng bất dục thấp, tỉ lệ thụ phấn cao, chất lượng
hạt tốt, khả năng phối hợp cao (Liu Bin et al., 2013)
Dòng TGMS 33S là dòng có kiểu hình đẹp, vòi nhụy không màu, là dòng PTGMS chọn lọc trực tiếp từ Peiai 64 và dòng 201B (dòng duy trì của
hệ thống ba dòng, 33S là dòng TGMS được chọn lọc theo phả hệ hơn 5 năm) TGMS 33S là dòng có kiểu hình đẹp, số hoa nhiều, ngưỡng nhiệt độ hữu dục
là 230C, chống đổ, tập tính nở hoa tốt, thời gian nở hoa sớm (95,1% trước
buổi sáng), tỉ lệ nhận phấn ngoài cao (Guo hua et al., 2013)
Trang 34Các dòng TGMS được phát triển ở TNAU như TNAU 45S, TNAU 60S, TNAU 95S, TNAU 19S and TNAU39S được đánh giá về sự ổn định bất
dục hạt phấn dưới chế độ môi trường khác nhau Trong giai đoạn nở hoa tất
cả các dòng chỉ ra 100% hạt phấn bất dục ở tất cả các địa phương Ở giai đoạn
nở hoa hạt phấn hữu dục được quan sát có sự quay trở lại hữu dục lớn hơn
90% (Manonmani et al., 2016)
Sử dụng hệ thống gen mẫn cảm với nhiệt độ đã tạo tiềm năng lớn cho
cuộc cách mạng sản xuất lúa lai ở những nước nhiệt đới Để thành công trong
sử dụng hệ thống lý thuyết bất dục đực trong chọn giống lúa lai, thì kiến thức
về tập tính bất dục cúa các dòng TGMS là cần thiết Sáu dòng TGMS triển
vọng ở đại học nông nghiệp Tamil Nadu, Coimbatore, India viz, đã được mô
tả về đặc tính bất dục của chúng trong điều kiện đồng ruộng Hạt phấn hữu
thụ hoa đã được ghi lại ở những cây trồng trong khoảng 15 ngày bộc lộ ở tất
cả các dòng có bất dục ổn định 100% hạt phấn bất dục trong hơn 50 ngày liên
tục trong nhiệt độ cao (300
C maximum) và nhiệt độ thấp 200
C (minimum) và
có sự hữu dục trở lai ở điều kiện nhiệt độ thấp hơn (thấp hơn 30/200
C) với 60% hạt phấn và hoa hữu thụ Ngưỡng nhiệt độ của giai đoạn mẫn cảm là 24 đến 260C Thêm vào đó độ ẩm và ánh sáng cũng ảnh hưởng đến sự hữu thụ
của một số dòng Điều này là do khác nhau về nguồn gốc gen bất dục, nền
gen khác nhau (Latha et al., 2004)
Trang 35Bảng 1.2: Nguồn gốc và đánh giá các dòng TGMS (Latha et al., 2004)
C và nó sẽ hữu thụ khi nhiệt độ dưới ngưỡng kéo dài trong 5 ngày Dòng TGMS HD9802S được điều khiển bởi 1
cặp gen lặn Gen bất dục thì không như Peiai 64S và 1103S, nhưng tương tự như Xiang 125S và Zhu 1S HD9802S có chất lượng hạt cao, có F1 ngắn ngày như Liangyou 287, Liangyou 25, Liangyou42, Liangyou 17 và Liangyou 1,
những tổ hợp này có năng xuất hạt cao và chất lượng hạt tốt (Zhou yong et
al., 2008)
N55S được tạo ra từ lai N5088S và japonica R2000, là một dòng TGMS japonica mới, với ngưỡng nhiệt độ chuyển hóa hữu dục thấp Dưới điều kiện tự nhiên Vũ hán N55S có sự ổn định bất dục 28 ngày từ bắt đầu tháng 8 tới tháng 10 Nó có chất lượng hạt và khả năng phối hợp tốt dễ dàng trong quá trình nhân và sản xuất hạt lai Năm 2014 tổ hợp lai 5519
(N55S/R19) đã được công nhận sản xuất thương mại (Hu Gang et al., 2014)
Trang 36119 dòng TGMS được sử dụng để nghiên cứu mức độ đa dạng di truyền trên
10 đặc tính sử dụng trong phân tích Mahalannobis D2
Dựa trên phân tích phân nhóm Torcher’s 119 dòng được phân thành 9 nhóm Nhóm I với nhiều
nhất 85 dòng, nhóm II với 15 dòng, nhóm III với 11dòng Nhóm IV, VI, VII, VIII và nhóm IX là nhóm đơn với 1 dòng Khoảng cách xa nhất giữa nhóm là nhóm V và nhóm IX theo sau là nhóm V và nhóm VIII, điều này chỉ ra giữa các nhóm có sự đa dạng lớn về di truyền Khoảng cách xa nhất trong nhóm được quan sát là nhóm III (22.08) Trong các đặc tính, số hạt/hoa (49,76%) do
số chồi sinh ra (23,43%), hoa hữu thụ(14,46%) và phấn hữu thụ (9,93%) đóng góp lớn về di truyền giữa các dòng trong nghiên cứu Những đặc tính này được coi là quan trọng trong việc cải tiến giống cây trồng (Rahul Roy and Kumaresan, 2018)
Để phát triển các dòng mẹ, dự án đánh giá quần thể 206 F2 và 1717 dòng F3-F6 trong điều kiện môi trường bất dục trong khi 1462 cây là dao động môi trường hữu dục và tăng lượng hạt 5 dòng TGMS được đánh giá
giai đoạn cuối Nhiều dòng TGMS được sử dụng để phát triển tổ hợp lai mới cho đánh giá khả năng kết hợp và khả năng năng suất hạt F1 16 dòng F6 được đánh giá giai đoạn cuối ở điều kiện môi trường hữu dục 20 dòng TGMS
mới ổn định được đưa vào sản xuất vào năm 2020 (Mel Anthony and Talavera, 2017)
Số liệu chỉ ra rằng giai đoạn mẫn cảm của hầu hết các dòng TGMS xảy
ra trong giai đoạn phát triển hình thành hoa xấp xỉ 26 tới 5 ngày trước khi nở hoa Hạt phấn bất dục được ghi trên cây tăng khoảng tuần cuối bộc lộ ở tất cả các dòng có giai đoạn ổn định bất dục với 100% hạt phấn bất dục cho hơn 40 ngày liên tiếp trong điều kiện nhiệt độ cao Những dòng TNAU45S, TNAU60S, TNAU95S, GDR 61S và GDR 70S được xác định là có ngưỡng
bất dục nhiệt độ ở khoảng 290
C Các dòng TNAU 45S, TNAU60S, TNAU 95S và GDR61S được biểu thị là dòng ổn định thậm chí có thay đổi nhẹ về
Trang 37nhiệt độ, những dòng này là những dòng ổn định có thể đưa vào sản xuất hạt
(Sai RekhaK et al., 2017)
1.2.4 2 Tình hình nghiên cứu tạo dòng TGMS của Việt nam
Trong giai đoạn 2001-2005, Viện KHKTNN Việt Nam đã lai tạo được
3 dòng TGMS mới: AMS31S, AMS32S, AMS33 những dòng này được tạo ra
từ các tổ hợp lai: CL64S/VN292, CL64S/BM9820, phục vụ cho công tác chọn giống Phân lập từ vật liệu phân ly nhập nội chọn tạo ra các dòng TGMS: CL64S, P47S, 7S, AMS27, 11S, 534S(AMS29S), 827S(AMS30S) đưa vào lai tạo giống lúa lai 2 dòng (Nguyễn Trí Hoàn, 2007; Hà Văn Nhân, 2000; Nguyễn Thị Gấm, 2003)
Hiện nay các nhà khoa học Việt Nam đã chọn tạo được khoảng 20 dòng bất dục đực di truyền nhân mẫn cảm với nhiệt độ (TGMS) như: VN-TGMS1, VN-TGMS 2, VN-TGMS 3, VN- TGMS12, AMS31S, AMS32S, AMS33S của Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm;103S,T1S-96,T24S,T25S, T26S,T27S, T29S, của Trường Đại học Nông nghiệp I Hà nội; TGMS-VN01, TGMS-VN1, D101S, D103S, TGMS18-2 của Viện Di truyền Nông nghiệp; TG1, TG2, TG4, TG22 của Trung tâm Khảo nghiệm giống, sản phẩm cây
trồng và phân bón Quốc gia (Phạm Đồng Quảng, 2006)
Bằng phương pháp lai tạo, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm đã chọn lọc thành công nhiều dòng mẹ TGMS mới từ các nguồn Việt Nam, Trung Quốc, IRRI Các dòng tính bất dục ổn định như : AMS33S, AMS29S, AMS35S… và một số dòng mẹ có gen tương hợp rộng như: D64S, D52S, D116S, D66S, D67S, D68S, D161S… cho phép khai thác ưu thế lai khác loài
phụ và chọn tạo giống lúa lai siêu cao sản (Nguyễn Trí Hoàn và CS., 2011)
như bảng 1.3
Trang 38B ảng 1.3 Các dòng TGMS phát triển và sử dụng ở Việt Nam
t ừ 2001- 2005
Tên dòng Nguồn gốc Đơn vị
tác giả
Ngưỡng chuyển hóa bất dục
Ngưỡng chuyển hóa hữu dục
Mức độ sử dụng
T196S,103S T1S/Pei64 HAU 25.5 22-23 Thương mại P5S T1S/Peiai64 HAU 25 và
thần
VASI 25 23.5 Dùng cho
chọn tạo AMS28S TGMS/lúa
thuần
VASI 25 23.5 Dùng cho
chọn tạo AMS28S Chọn lọc từ
vật liệu phân ly
VASI 24.5 23 Triển vọng
AMS30S Chọn lọc từ
vật liệu phân ly
VASI 24.5 23 Thương mại
9820-11
VASI 25.5 ≤ 23 Chọn tạo
Trang 39TGMS1 Lai tạo FCRI 25 ≤24 Chọn tạo TGMS20 Nuôi cấy
bao phấn TGMS6/Xi23 Lai tạo FCRI 25 ≤24 Chọn tạo tổ
hợp triển vọng LDH4 D101S VN1/DT12 AGI >24 ≤24 Chọn tạo D102S VN1/DT12 AGI >24 ≤24 Chọn tạo D103S VN1/DT12 AGI >24 ≤24 Chọn tạo TGMS 18-2 H84/CR203 AGI >24 <24 Chọn tạo
Các dòng TGMS có thời gian sinh trưởng trong vụ Xuân biến động từ
140 - 163 ngày, có số lá trên thân chính từ 14 - 16 lá, cây thấp (62,2- 84,6cm), bông dài trung bình (19,5 - 25,8cm), lá đòng ngắn, trỗ nghẹn, có kiểu đẻ nhánh gọn hoặc chụm, tỷ lệ vươn vòi nhụy rất cao, thời gian nở hoa trên bông khá dài (4 - 10 ngày), có số hạt trên bông khác cao (168,8-208,8 hạt), khối lượng 1000 hạt của các dòng biến động từ 19,3 - 26,2g Tất cả 16 dòng TGMS hiện đang sử dụng ở Việt Nam đều mang gen tms5, duy nhất có dòng 827S đồng thời mang 2 gen là tms4 và tms5 (Phạm Văn Thuyết và CS., 2015)
Trang 40Chọn lọc được 2 dòng TGMS kháng rầy Bph3 ở dạng đồng hợp tử: KR95S màn gen kháng rầy Bph3, BphZ và KR142S mang gen kháng rầy Bph9, nhiệt độ gây bất dục hoàn toàn > 240
C, tỷ lệ thò vòi nhụy cao >70% (
Lê Hùng Phong và CS., 2018; Lê Hùng Phong, 2019)
Chọn lọc được 2 dòng TGMS kháng bạc lá AMS35S-KBL (có gen Xa4) và dòng AMS30S-KBL (có gen Xa7), nhiệt độ gây bất dục hoàn toàn > 23,50C, tỷ lệ thò vòi nhụy cao từ 70% -75,8 % (Lê Hùng Phong và CS., 2018)
5 dòng mẹ TGMS mang gen tương hợp rộng (WC) đã được chọn tạo để phục vụ công tác lai xa, cho việc chọn tạo lúa lai siêu cao sản: D52S, D60Mtr, D116Mtr, D59S, D64S Các dòng TGMS có ngưỡng chuyển hóa bất dục từ 24-250C, lá đứng, bông to nhiều hạt, tỉ lệ bất dục hạt phấn 100%, tỷ lệ thò vòi nhụy lớn hơn 70% (Nguyễn Trí Hoàn và CS., 2012)
1.2.5 Tình hình nghiên c ứu chọn tạo tổ hợp lúa lai 2 dòng trên Thế
gi ới và Việt Nam
1.2.5.1 Tình hình nghiên c ứu, chọn tạo tổ hợp lúa lai 2 dòng trên Thế giới
Theo ESCAMOS dự án phát triển các dòng TGMS và TGMS cơ sở của lúa lai hai dòng (lai tạo giữa các cây có khoảng cách xa về di truyền) bắt đầu từ năm 1999 dưới sự bảo trợ của UPLB và PHILRICE Hệ thống TGMS phát triển đã đem lại nhiều lợi nhuận cho Philippin từ sự tồn tại khác biệt nhiệt độ, độ cao, vĩ độ và thời gian của năm
Sau khi cải tiến cho công nhận giống thương mại bởi NSIC, 2 giống đã được đưa ra: NSIC Rc202H hoặc ‘Mestio 19’ và NSIC Rc 204H hoặc ‘Mes tiso 20’ Lợi ích của 2 giống là rất lớn: Mestiso 19 là một giống ngắn ngày, có năng suất tiềm năng 10,7 tấn/ha, theo vùng năng suất trung bình 7,0 tấn/ha Năng suất này vượt 17% so với lúa thuần PSB Rc82 Mestio 19’ có khả năng chống đạo ôn và vàng lùn, phản ứng với sâu đục thân và rầy và cũng có khả năng chống đổ Mestiso 20 là giống có thời gian sinh trưởng trung bình 120