Như chúng ta đã biết, ngày 27031946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân tập luyện TDTT. Từ đó phong trào luyện tập TDTT ngày càng được phát triển mạnh mẽ hơn. Từ năm 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thấy được tầm quan trọng của TDTT trong chiến lược phát triển con người nên đã đưa vào kế hoạch phát triển giáo dục trong các trường học: “Công tác giáo dục thể chất trong các trường học các cấp nhằm góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng con người mới, phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, sẳn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hiện nay, toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nổ lực đổi mới phương pháp dạy học, cùng với các môn khoa học khác GDTC cũng được quan tâm đổi mới. Với chương trình đổi mới đòi hỏi phải có sự đổi mới về phương pháp giáo dục: Giảm lý thuyết tăng thực hành, phát huy khả năng của học sinh trong đó có sự tự quản lý chỉ đạo và tự đánh giá nhận xét của các em. Qua thực tế tôi thấy việc phát huy hết vai trò của cán sự lớp trong tiết học môn Thể dục còn ít vì vậy GV hoạt động rất nhiều nên tạo tâm lý căng thẳng cho học sinh, ít gây hứng thú học tập nên chất lượng tiếp thu của HS chưa cao. Với khả năng hiện có của mình và những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn và viết sáng kiến “Phát huy vai trò của cán sự lớp trong tiết học môn Thể dục” 1.2. Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm phát huy vai trò của cán sự lớp trong tiết học môn Thể dục đồng thời lựa chọn, áp dụng một số biện pháp để kích thích sự tích cực, tạo hứng thú học tập của học sinh trong tiết học môn Thể dục. Từ đó góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn. 1.3. Đối tượng nghiên cứu Năm học 20152016: 161 học sinh gồm: Lớp 10A1 (40 HS), 10A3 (40 HS), 10A5 (41 HS), 10A7 (40 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm học 20162017: 162 học sinh gồm: Lớp 10A5 (41 HS), 10A6 (40 HS), 10A7 (39 HS), 10A8 (42 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm học 20172018: 115 học sinh gồm: Lớp 10A (30 HS), 10 Chuyên Văn (28 HS), 10 Chuyên Toán (27 HS) , 10 Chuyên Anh (30 HS) của trường THPT chuyên Lê Lợi. 1.4. Đối tượng khảo sát, thực nghiệm Năm học 20152016: 161 học sinh gồm: Lớp 10A1 (40 HS), 10A3 (40 HS), 10A5 (41 HS), 10A7 (40 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm học 20162017: 162 học sinh gồm: Lớp 10A5 (41 HS), 10A6 (40 HS), 10A7 (39 HS), 10A8 (42 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm học 20172018: 115 học sinh gồm: Lớp 10A (30 HS), 10 Chuyên Văn (28 HS), 10 Chuyên Toán (27 HS) , 10 Chuyên Anh (30 HS) của trường THPT chuyên Lê Lợi. 1.5. Phương pháp nghiên cứu 1.5.1. Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài, nhằm tìm hiểu tình hình phát triển TDTT nói chung và sự ảnh hưởng, tác động của các bài tập GDTC đối với học sinh nói riêng. Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT. 1.5.2. Phương pháp quan sát sư phạm Quan sát sự tiếp thu lượng vận động của HS cũng như sự hứng thú tập luyện của các em với các giải pháp được đưa ra để qua đó sử dụng cán sự lớp tốt hơn đồng thời điều chỉnh khối lượng, cường độ và sự phân bố các bài tập cho hợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể. 1.5.3. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Sau khi xác định và lựa chọn được một số giải pháp phù hợp, tôi đã tiến thực nghiệm các lớp tôi giảng dạy tại trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm (năm học: 20152016; 20162017) và tại trường THPT chuyên Lê Lợi (năm học: 20172018). 1.5.4. Phương pháp tổ chức trò chơi Thường xuyên tổ chức các trò chơi để gây hứng thú học tập cho HS, phân công cán sự lớp làm người quản trò để phát huy vai trò của cán sự lớp đồng thời nghiên cứu kĩ các hoạt động và chuyển một số hoạt động thành trò chơi để thay đổi không khí học tập. 1.5.5. Phương pháp kiểm tra, đánh giá Việc kiểm tra, đánh giá chiếm vị trí rất quan trọng. Nếu việc kiểm tra, đánh giá không thường xuyên sẽ dẫn đến việc HS chủ quan, xem nhẹ và không chú ý học tập và rèn luyện. Sau mỗi bài, mỗi chương đều có bài kiểm tra, GV cần nghiên cứu kĩ những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng của bài đó, chương đó để kiểm tra cho sát kiến thức và đối tượng HS. Trong khi kiểm tra đánh giá, cán sự lớp và HS sẽ cùng GV thẩm định kết quả học tập của bạn bè. Việc kiểm tra đánh giá cũng rất chặt chẽ theo qui định chứ không làm qua loa đại khái để đánh giá thực chất kết quả học tập, rèn luyện của HS. 1.5.6. Phương pháp thống kê toán học Dùng phương pháp này để so sánh, đối chiếu quá trình thực nghiệm. 1.6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu 1.6.1. Phạm vi nghiên cứu Tìm hiểu, lựa chọn và phát huy vai trò của cán sự lớp đồng thời áp dụng một số biện pháp nhằm kích thích sự tích cực, hứng thú học tập của học sinh trong tiết học môn Thể dục của học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm trong năm học 20152016; 20162017 và trường THPT chuyên Lê Lợi trong năm học 20172018. 1.6.2. Thời gian nghiên cứu Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ năm 2015 đến nay. 2. NỘI DUNG 2.1. Những nội dung lý luận liên quan tới đề tài 2.1.1. Cơ sở lý luận Học sinh THPT đúng vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ của tuổi thanh niên. Sự trưởng thành về mặt sinh lý (dậy thì) là yếu tố quan trọng nhất dẫn đến mọi biến đổi tâm sinh lý của các em. Lứa tuổi này thường được coi là một thời kỳ “khó khăn” về mặt giáo dục. Điều đó không phải ngẫu nhiên, mà là do hai nguyên nhân sau: Một là có nhiều chuyển biến về chất lượng trong những đặc điểm cơ thể, tâm lý, sinh lý. Những chuyển biến này lại diễn ra trong một thời gian tương đối ngắn, có khi bất ngờ báo hiệu một quá trình phát triển mang tính chất nhảy vọt. Hai là, những thay đổi đó thường hay trùng với sự xuất hiện khó khăn chủ quan ngay chính bản thân của các em. Ở các em có nhiều biến đổi sâu sắc về sinh lý, báo hiệu sự đang trưởng thành về mặt thể chất. Sự biến đổi này diễn ra một cách mạnh mẽ và không cân đối. Hệ cơ được hoàn thiện và quá trình cốt hóa các xương vẫn đang tiếp tục.
Trang 2Từ năm 1992, Đảng và Nhà nước ta đã thấy được tầm quan trọng củaTDTT trong chiến lược phát triển con người nên đã đưa vào kế hoạch phát triểngiáo dục trong các trường học: “Công tác giáo dục thể chất trong các trường họccác cấp nhằm góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng con người mới, phát triểncao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng vềđạo đức, sẳn sàng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Hiện nay, toàn ngành giáo dục và đào tạo đang nổ lực đổi mới phươngpháp dạy học, cùng với các môn khoa học khác GDTC cũng được quan tâm đổimới Với chương trình đổi mới đòi hỏi phải có sự đổi mới về phương pháp giáodục: Giảm lý thuyết tăng thực hành, phát huy khả năng của học sinh trong đó có
sự tự quản lý chỉ đạo và tự đánh giá nhận xét của các em
Qua thực tế tôi thấy việc phát huy hết vai trò của cán sự lớp trong tiết họcmôn Thể dục còn ít vì vậy GV hoạt động rất nhiều nên tạo tâm lý căng thẳngcho học sinh, ít gây hứng thú học tập nên chất lượng tiếp thu của HS chưa cao.Với khả năng hiện có của mình và những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn và viếtsáng kiến “Phát huy vai trò của cán sự lớp trong tiết học môn Thể dục”
1.2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài nhằm phát huy vai trò của cán sự lớptrong tiết học môn Thể dục đồng thời lựa chọn, áp dụng một số biện pháp đểkích thích sự tích cực, tạo hứng thú học tập của học sinh trong tiết học môn Thểdục Từ đó góp phần vào việc nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Năm học 2015-2016: 161 học sinh gồm: Lớp 10A1 (40 HS), 10A3 (40HS), 10A5 (41 HS), 10A7 (40 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Năm học 2016-2017: 162 học sinh gồm: Lớp 10A5 (41 HS), 10A6 (40HS), 10A7 (39 HS), 10A8 (42 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trang 3
- Năm học 2017-2018: 115 học sinh gồm: Lớp 10A (30 HS), 10 ChuyênVăn (28 HS), 10 Chuyên Toán (27 HS) , 10 Chuyên Anh (30 HS) của trườngTHPT chuyên Lê Lợi
1.4 Đối tượng khảo sát, thực nghiệm
- Năm học 2015-2016: 161 học sinh gồm: Lớp 10A1 (40 HS), 10A3 (40HS), 10A5 (41 HS), 10A7 (40 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Năm học 2016-2017: 162 học sinh gồm: Lớp 10A5 (41 HS), 10A6 (40HS), 10A7 (39 HS), 10A8 (42 HS) của trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm
- Năm học 2017-2018: 115 học sinh gồm: Lớp 10A (30 HS), 10 ChuyênVăn (28 HS), 10 Chuyên Toán (27 HS) , 10 Chuyên Anh (30 HS) của trườngTHPT chuyên Lê Lợi
1.5 Phương pháp nghiên cứu
1.5.1 Phương pháp nghiên cứu và tổng hợp tài liệu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài, nhằm tìm hiểu tình hình pháttriển TDTT nói chung và sự ảnh hưởng, tác động của các bài tập GDTC đối vớihọc sinh nói riêng
Tìm hiểu về đặc điểm tâm sinh lí của học sinh THPT
1.5.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát sự tiếp thu lượng vận động của HS cũng như sự hứng thú tậpluyện của các em với các giải pháp được đưa ra để qua đó sử dụng cán sự lớp tốthơn đồng thời điều chỉnh khối lượng, cường độ và sự phân bố các bài tập chohợp lý, phù hợp với điều kiện cụ thể
1.5.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi xác định và lựa chọn được một số giải pháp phù hợp, tôi đã tiếnthực nghiệm các lớp tôi giảng dạy tại trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm (nămhọc: 2015-2016; 2016-2017) và tại trường THPT chuyên Lê Lợi (năm học:2017-2018)
1.5.4 Phương pháp tổ chức trò chơi
Thường xuyên tổ chức các trò chơi để gây hứng thú học tập cho HS, phâncông cán sự lớp làm người quản trò để phát huy vai trò của cán sự lớp đồng thờinghiên cứu kĩ các hoạt động và chuyển một số hoạt động thành trò chơi để thayđổi không khí học tập
1.5.5 Phương pháp kiểm tra, đánh giá
Việc kiểm tra, đánh giá chiếm vị trí rất quan trọng Nếu việc kiểm tra,đánh giá không thường xuyên sẽ dẫn đến việc HS chủ quan, xem nhẹ và khôngchú ý học tập và rèn luyện Sau mỗi bài, mỗi chương đều có bài kiểm tra, GVcần nghiên cứu kĩ những yêu cầu về kiến thức và kĩ năng của bài đó, chương đó
để kiểm tra cho sát kiến thức và đối tượng HS Trong khi kiểm tra đánh giá, cán
sự lớp và HS sẽ cùng GV thẩm định kết quả học tập của bạn bè Việc kiểm tra
Trang 4
đánh giá cũng rất chặt chẽ theo qui định chứ không làm qua loa đại khái để đánhgiá thực chất kết quả học tập, rèn luyện của HS
1.5.6 Phương pháp thống kê toán học
Dùng phương pháp này để so sánh, đối chiếu quá trình thực nghiệm
1.6 Phạm vi và thời gian nghiên cứu
1.6.1 Phạm vi nghiên cứu
Tìm hiểu, lựa chọn và phát huy vai trò của cán sự lớp đồng thời áp dụngmột số biện pháp nhằm kích thích sự tích cực, hứng thú học tập của học sinhtrong tiết học môn Thể dục của học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêmtrong năm học 2015-2016; 2016-2017 và trường THPT chuyên Lê Lợi trongnăm học 2017-2018
1.6.2 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu từ năm 2015 đến nay
2 NỘI DUNG
2.1 Những nội dung lý luận liên quan tới đề tài
2.1.1 Cơ sở lý luận
Học sinh THPT đúng vào thời kỳ phát triển mạnh mẽ của tuổi thanh niên
Sự trưởng thành về mặt sinh lý (dậy thì) là yếu tố quan trọng nhất dẫn đến mọibiến đổi tâm - sinh lý của các em Lứa tuổi này thường được coi là một thời kỳ
“khó khăn” về mặt giáo dục Điều đó không phải ngẫu nhiên, mà là do hainguyên nhân sau: Một là có nhiều chuyển biến về chất lượng trong những đặcđiểm cơ thể, tâm lý, sinh lý Những chuyển biến này lại diễn ra trong một thờigian tương đối ngắn, có khi bất ngờ báo hiệu một quá trình phát triển mang tínhchất nhảy vọt Hai là, những thay đổi đó thường hay trùng với sự xuất hiện khókhăn chủ quan ngay chính bản thân của các em
Ở các em có nhiều biến đổi sâu sắc về sinh lý, báo hiệu sự đang trưởngthành về mặt thể chất Sự biến đổi này diễn ra một cách mạnh mẽ và không cânđối
Hệ cơ được hoàn thiện và quá trình cốt hóa các xương vẫn đang tiếp tục.Điều đó làm cho các em lớn nhanh chiều cao, tăng nhanh hơn chiều ngang, ở cộtsống có nhiều đốt sụn Cơ thể các em dễ bị uốn cong, dễ bị lệch khi đứng, ngồikhông đúng tư thế, khi mang vác vật nặng quá lâu ở một phía hoặc tập luyệnkhông đúng phương pháp Sự gắn liền xương chậu (rất quan trong đối với các
em nữ) được kết thúc tương đối muộn, vào khoảng 20-21 tuổi Sự biến dạngxương chậu và các xương khác chưa được gắn liền có thể xảy ra khi các emnhảy xa thiếu sự hướng dẫn khoa học
Do đó việc đổi mới phương pháp dạy – học theo hướng phát huy tích cựcchủ động của học sinh cần chú ý những điểm sau:
2.1.1.1 Động cơ học tập
Trang 5
Hoạt động học tập dần được các em xem như để thỏa mãn nhu cầu vềnhận thức Tuy nhiên động cơ học tập rất đa dạng và chưa bền vững, biểu hiện ởnhững thái độ nhiều khi mâu thuẫn từ rất tích cực đến thờ ơ lười biếng, từ nổ lựchọc tập sang thụ động học tập
Để các em có động cơ, thái độ đúng đắn thì giáo viên phải biết gợi ý chohọc sinh nhu cầu tìm hiểu, giúp các em có phương pháp học tập phù hợp đểtránh bị thất bại gây tâm lý chán nản
Giáo viên cần dạy cho học sinh kĩ năng ghi nhớ lôgic, biết tìm ra điểm tựa
để nhớ, kĩ năng ghi nhớ bằng hành động
2.1.1.4 Về tư duy
Tư duy có trừu tượng hóa, khái quát hóa càng phát triển giúp cho việc lĩnhhội bản chất các khái niệm khoa học về môn học Tuy nhiên tư duy hình tượng
cụ thể vẫn giữ vai trò quan trọng
2.1.1.5 Quan hệ giao tiếp
Ở độ tuổi này thường nảy sinh cảm giác về sự trưởng thành và nhu cầuthừa nhận đã là người lớn, các em mong muốn được người lớn tôn trọng nhâncách, tin tưởng và mở rộng tính dộc lập của mình Nếu người lớn không thừanhận nhu cầu này để thay đổi quan hệ giao tiếp thì sẽ gây ra những phản ứng bấtlợi như bướng bỉnh, không vâng lời, xa vắng
Học sinh THPT có nhu cầu lớn trong giao tiếp với bạn bè, khao khát đượchành động chung với nhau, muốn được bạn bè tôn trọng, công nhận năng lựccủa mình
Chính vì vậy giáo viên phải nắm chắc đặc điểm này thì mới có tác dụngtốt đến giáo dục, tạo cho học sinh phát triển tốt quan hệ giao tiếp, hợp tác vớinhau trong họat động tập thể và uốn nắn các em hoạt động theo hướng phục vụcác mục tiêu giáo dục
2.1.2 Cơ sở thực tiễn
Việc áp dụng phương pháp tích cực vào dạy - học và phát huy tích cực vaitrò của cán sự lớp trong tiết dạy môn Thể dục không những giúp cho học sinh tự
Trang 6
giác chiếm lĩnh những kiến thức, kĩ năng mà còn tự hình thành cho học sinh tính
tự giác trong học tập, biết sai và tự sửa sai Như vậy việc phát huy vai trò củacán sự lớp đòi hỏi giáo viên phải biết lựa chọn và bồi dưỡng đội ngũ cán sự lớp,xây dựng thói quen tập luyện của học sinh dưới sự chỉ đạo của cán sự lớp, bêncạnh đó giáo viên cần phải đổi mới về cách sọan giáo án, thay đổi về cách nhậnxét đánh giá học sinh tránh tình trạng nhận xét chung chung Giáo viên phải xâydựng cho học sinh về những khái niệm về kiến thức động tác khi ôn động tác cũcũng như khi học động tác mới, khi xây dựng giáo viên thị phạm về động tácmẫu chính xác, đẹp và phân tích kĩ từng chi tiết động tác để từ đó học sinh cóthể tự hình thành và nắm bắt rõ từng chi tiết của động tác để quản lí và nhận xétđánh giá một cách toàn diện hơn
2.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
2.2.1 Thái độ của học sinh đối với nội dung môn học
Tôi tìm hiểu thái độ học tập của học sinh để làm “bước đệm” tìm hiểu thái
độ đối với môn Thể dục Mặc khác, tôi còn quan sát trực tiếp thái độ học tập củahọc sinh trong quá trình học trên lớp, tìm hiểu kết quả học tập, rèn luyện củahọc sinh trong việc học để đánh giá Tôi nghiên cứu thái độ học tập của học sinhqua:
- Nhận thức của học sinh: việc đánh giá lợi ích mônhọc
- Hành vi của học sinh: thể hiện qua các mức độ tíchcực trong học tập
- Thái độ của học sinh: mức độ nhận thức, hứng thúđối với môn học
Sau đây là bảng khảo sát thực tế:
+ Năm học 2015-2016: Khảo sát 161 học sinh trường THPT Nguyễn Bỉnh
Trang 8
Qua khảo sát ở bảng 1, bảng 2, bảng 3 ta thấy sở thích của học sinh ở từng nộidung học tập môn TD khác nhau, từ kết quả này giúp GV nắm được sở thíchcủa HS để từ đó có giải pháp, phương pháp giảng dạy phù hợp với từng đốitượng HS, từng nội dung học cụ thể Đồng thời lựa chọn và phát huy vai trò củacán sự lớp thích hợp với từng nội dung học tập
2.2.2 Thái độ của học sinh đối với các điều kiện học tập và rèn luyện TDTTTôi tìm hiểu thái độ của học sinh đối với các điều kiện học tập và rèn luyệnTDTT để làm cơ sở cho việc vận dụng các phương pháp giảng dạy phù hợp Sau đây là bảng khảo sát thực tế:
+ Năm học 2015-2016: Khảo sát 161 học sinh trường THPT Nguyễn BỉnhKhiêm
Bảng 4: Sự hài lòng của học sinh đối với điều kiện học tập và rèn luyện TDTT
TT
Điều kiện
Các mức độ Rất hài lòng Hài lòng Không hài
Trang 92.3 Mô tả, phân tích các giải pháp
2.3.1 Lựa chọn và bồi dưỡng cán sự lớp
2.3.1.1 Lựa chọn
Một trong những yếu tố thành công của người chỉ huy là khả năng chỉđạo, có sự thông minh, nhanh nhẹn, giọng nói, thái độ và cử chỉ rõ ràng, nghiêmtúc, vui vẻ và hòa đồng
Thông thường giáo viên dạy thể dục lấy ngay cán sự lớp ở các tiết họcvăn hóa trong lớp Song không hẳn đội ngũ đó đã có tác dụng lớn trong tiết họcthể dục và đó cũng chính là yếu tố làm giảm khả năng phát huy vai trò và tínhtích cực trong tiết học Thể dục
Chính vì vậy, người giáo viên dạy Thể dục phải là người nhạy bén trongvịêc lựa chọn đội ngũ cán sự thể dục, giáo viên có thể giữ nguyên hay cũng cóthể thay đổi đội ngũ cán sự Giáo viên nên quan sát, phân tích các yêu cầu cầnđạt được để lựa chọn các cán sự có năng lực chỉ đạo điều hành lớp trong tiết họcmôn Thể dục Môt yếu tố để các thành viên khác trong lớp, tổ, nhóm thực hiệntốt các hoạt động dưới sự chỉ đạo của cán sự lớp đó là sự tin tưởng, sự đồng ývào khả năng chỉ huy của cán sự Chính vì vậy người giáo viên nên định hướngcho học sinh bầu ra ban cán sự để từ đó vai trò chỉ đạo của ban cán sự có hiệuquả cao
2.3.1.2 Bồi dưỡng thường xuyên
Nếu ngay từ đầu năm học trong các tiết học đầu tiên, người thầy chỉ đạo
là chủ yếu còn cán sự là thứ yếu thì sẽ tạo ra sức ỳ, thói quen “ỷ lại” sự chỉ đạocủa thầy Chính vì vậy ngay từ buổi đầu tiên tiếp xúc với môn học, người giáo
Trang 10
viên phải xây dựng, hình thành và rèn luyện cho cán sự những kĩ năng chỉ đạolớp từ khâu tập trung, báo cáo, khởi động và các hoạt động tập luyện đến việcthả lõng, nhận xét, đánh giá Để đạt được điều này, giáo viên phải hướng dẫncác em tỉ mĩ, cụ thể đồng thời giáo viên phải theo dõi uốn nắn, sữa chữa kịp thờicho cán sự trong các tiết tiếp theo Trong một tiết học giáo viên nên giao nhiệm
vụ cho lớp trưởng sau đó lớp trưởng giao nhiệm vụ cho các thành viên kháctrong lớp hoặc giáo viên có thể giao nhiệm vụ trực tiếp cho các thành viên tronglớp
Không chỉ có vậy mà khả năng nhận xét đánh giá về kĩ thuật động tác,thái độ tập luyện cũng rất quan trọng Nên giáo viên cần xây dựng mối quan hệđánh giá hai chiều và phải là người trọng tài trong việc đánh giá nhận xét
2.3.2 Xây dựng thói quen tập luyện cho học sinh dưới sự chỉ đạo của cán
Người giáo viên phải nhận thấy rõ yếu tố này từ đó có biện pháp xây dựngthói quen luyện tập Thường xuyên nhắc nhở ban cán sự có thái độ hòa nhã,đồng thời thể hiện tốt khả năng chỉ đạo để các bạn thực hiện nghiêm túc theo sựchỉ đạo của mình
Giáo viên phải quan tâm động viên, nhắc nhở các học sinh khác tập luyện
có ý thức
Ngoài ra không chỉ có ban cán sự chỉ đạo lớp hoạt động mà giáo viên cầnrèn luyện cho tất cả các học sinh trong lớp đều có thể tự điều khiển tập luyện
2.3.3 Các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực
2.3.3.1 Dạy học thông qua tổ chức các hoạt động học của học sinh
Nhân cách các em được hình thành và phát triển thông qua các hoạt độngchủ động, thông qua các hoạt động có ý thức Trí tuệ của các em nhờ sự “đốithoại” giữa chủ thể với đối tượng và môi trường Mối quan hệ giữa học và làm
là “suy nghĩ tức là hành động” và “cách tốt nhất để hiểu là làm” Chủ tịch Hồ
Trang 11đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức mới, kĩ năngmới bộc lộ và phát huy tiềm năng và sáng tạo.
2.3.3.2 Dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học
Đã từ lâu các nhà khoa học đã nhận thức được ý nghĩa của việc dạyphương pháp học Đây là cách hữu hiệu chuẩn bị cho sự kế tục thích ứng với xãhội học tập trong đó mỗi người phải có năng lực học tập liên tục suốt đời
Trong phương pháp học thì cốt lõi là phương pháp tự học Nếu rèn luyệncho người học có được phương pháp, kĩ năng, thói quen tự học thì sẽ tạo ra lòngham học, khơi dậy tiềm năng vốn có của mỗi người thì dễ dẫn đến sự thànhcông
2.3.3.3 Tăng cường học tập cá thể phối hợp với học tập hợp tác
Phương pháp tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi
HS trong quá trình tự lực dành lấy kiến thức mới Ý chí và năng lực của HStrong một lớp không đồng đều do đó phải chấp nhận sự phân hóa về cường độ
và tiến trình hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học được thiết kếthành một chuỗi công tác độc lập, được giao cho từng cá nhân thực hiện
Trong kiểu dạy thông báo đồng loạt, thông tin đi từ thầy đến trò, quan hệgiao tiếp chủ yếu là thầy - trò Trong phương pháp học tập hợp tác vẫn có thểgiao tiếp thầy – trò nhưng nổi lên là mối quan hệ giữa trò – trò
Trong giáo dục việc học tập được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, hoặc trườngnhưng được sử dụng phổ biến nhất trong dạy học là hợp tác nhóm nhỏ từ 4 – 6người
2.3.3.4 Kết hợp đánh giá giữa thầy và trò
Trong dạy học việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhậnđịnh thực trạng dạy để điều chỉnh hoạt động học tập của học trò mà còn tạo điềukiện nhận định thực trạng dạy để điều chỉnh hoạt động dạy của thầy Trước đây,giáo viên giữ chủ đạo đánh giá, học sinh là đối tượng được đánh giá
Ngày nay, trong phương pháp tích cực để chuẩn bị cho học sinh khả nănghọc tập liên tục suốt đời thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển nănglực tự đánh giá để điều chỉnh cách học
2.3.4 Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực
Phương pháp tích cực có mầm móng từ xa xưa Ngày nay do có nhữngyêu cầu đổi mới giáo dục phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trang 12
trong thời đại công nghiệp hóa – hiện đại hóa, phương pháp tích cực cần được
sự phát triển nhanh chóng trở thành phổ biến trong nhà trường của chúng ta
Tuy nhiên, nó không thể loại trừ, không thể thay thế hoàn toàn cácphương pháp dạy học truyền thống Không phải mọi kiến thức đều có thể do họcsinh chiếm lĩnh bằng họat động tự lực dù có đủ phương tiện học tập Không phảimọi học sinh đều tự nguyện, tự giác tham gia các hoạt động tích cực
Phương pháp tích cực đòi hỏi một số điều kiện, trong đó quan trọng nhất
là người giáo viên Phương pháp tích cực không hạ thấp hay giảm nhẹ vai tròcủa người giáo viên Giáo viên phải được đào tạo chu đáo để thích ứng vớinhiệm vụ đa dạng Từ dạy học thông báo, giải thích, minh họa sang dạy học tíchcực, giáo viên không còn đơn thuần là người truyền đạt kiến thức mà giáo viêntrở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động đậc lập học theonhóm để học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới, hình thành kĩ năng, thái độ theo yêucầu của chương trình Trên lớp học học sinh hoạt động là chính nhưng trước đókhi sọan bài giáo viên phải đầu tư nhiều công sức và thời gian mới có thể thựchiện bài lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn trong cáchoạt động tìm tòi, hào hứng, tranh luận của học sinh Giáo viên phải có tri thức
bộ môn sâu rộng, vừa có trình độ sư phạm lành nghề biết xử lý và sử dụng cácphương tiện dạy học hiện đại để có thể định hướng sự phát triển của học sinhnhưng cũng đảm bảo sự tự do của học sinh trong hoạt động học tập
Dưới sự chỉ đạo của giáo viên, học sinh phải dần có được những phẩmchất, năng lực, thói quen thích ứng với các phương pháp tích cực như giác ngộmục đích học tập, tự nguyện tham các hoạt động học tập, có ý thức trách nhiệm
về kết quả học tập của mình và kết quả chung của lớp
Hình thức tổ chức lớp học phải dễ dàng thay đổi linh hoạt, phù hợp với cáthể, dạy học hợp tác
Việc kiểm tra đánh giá học sinh phải có những chuyển biến mạnh mẽ vềnội dung, hình thức, tổ chức theo hướng phát huy trí thông minh sáng tạo củahọc sinh, khuyến khích vận dụng linh hoạt các kiến thức, kĩ năng đã học vàothực tế Việc kiểm tra đánh giá học sinh chừng nào chưa thoát khỏi quỹ đạo họctập thụ động, sách vở thì chưa phát triển học tập tích cực
2.3.5 Đổi mới sọan giáo án
Để nâng cao chất lượng một tiết dạy học thì đòi hỏi giáo viên phải có sựchuẩn bị tốt về:
+ Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất và dụng cụ tập luyện
+ Giáo án lên lớp phải chuẩn bị thật kĩ, chuẩn kiến thức
+ Đảm bảo các bước lên lớp và đủ thời gian
+ Phương pháp giảng dạy hợp lí và khoa học
+ Về mục tiêu: Phân định rõ mức độ hoàn thành công việc của học sinh làmcăn cứ đánh giá hiệu quả Giáo viên phải hình dung được học sinh có thái độ gì?
Trang 13- Lựa chọn và bồi dưỡng ban cán sự.
- Rèn luyện thói quen tập luyện dưới sự chỉ đạo của ban cán sự
- Các dấu hiệu đặc trưng của phương pháp tích cực
- Điều kiện áp dụng phương pháp dạy học tích cực
- Đổi mới cách sọan giáo án
Tôi đã tiến hành áp dụng thực tế vào giảng dạy để kiểm chứng:
TUẦN 01: Giáo viên chỉ đạo chủ yếu và cán sự chỉ đạo chủ yếu ở các lớp là
lớp trưởng, tổ trưởng
- Đối với cán sự lớp: Tập trung lớp; điểm danh; báo cáo sĩ số, tổ chức chocác bạn trong lớp chấp hành và thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ tiết học
- Đối với Giáo viên: Tổ chức tiến trình tiết học như: Phần khởi động chung
và chuyên môn; phân tích kỹ thuật; làm mẫu động tác; quan sát; hướng dẫn vàsửa sai cho HS
Ví dụ minh hoạ cụ thể cho tiết 02 lớp 10: Thể dục nhịp điệu – Chạy bền
* Đối với GV: Là người chỉ đạo điều khiển, tổ chức lớp học; làm mẫu, quan sát
và sửa sai cho HS, đồng thời cũng chia nhóm cho HS tập luyện Biết nhận biết(phát hiện) hoặc đào tạo người cán sự tốt có thể giúp đỡ cho GV trong các giờhọc sau vì thông thường các cán sự lớp ngay ở đầu năm học thông thường là lớptrưởng hoặc lớp phó
- GV tập trung lớp, cho HS điểm số, điều chỉnh hàng và báo cáo sĩ số; phổbiến yêu cầu, nhiệm vụ tiết học (yêu cầu Cán sự lớp quan sát kỹ để sau này ápdụng vào các tiết học sau)
- GV cho HS khởi động chung và chuyên môn
+ Nội dung 1: Thể dục nhịp điệu: GV phân tích và thực hiện mẫu động tác 1,
2, 3 bài thể dục nhịp điệu, sau đó tổ chức cho cả lớp tập luyện đồng loạt rồi chianhóm luyện tập, quan sát, nhắc nhở và sửa sai kĩ thuật động tác cho HS
+ Nội dung 2: Chạy bền (chạy tăng tốc đoạn 60m x 3 lần): GV tiếp tục hướng
dẫn HS tập luyện, quan sát, nhắc nhở HS
- GV củng cố, dặn dò và tổ chức xuống lớp
* Đối với cán sự: Lúc này bắt đầu là người giúp việc tham gia cùng GV điều
khiển các bạn trong lớp (thường là lớp trưởng hoặc lớp phó); và cũng lúc nàycán sự lớp thường được GV yêu cầu là người đứng đầu nhóm (tổ) lên làm mẫu,thị pham lại kỹ thuật động tác, sau đó GV nhận xét cho cả lớp biết kết quả về ưu
Trang 14TUẦN 02: Học sinh bắt đầu hình thành các kĩ năng chỉ đạo của GV và cán sự
lớp: các bạn HS khác thực hiện theo nhóm, tổ và GV vẩn chỉ đạo là chủ yếu,còn cán sự lớp là phụ
Cụ thể: - Đối với cán sự lớp: Tập trung lớp; điểm danh; báo cáo sĩ số, tổ chức
các bạn trong lớp chấp hành và thực hiện tốt yêu cầu, nhiệm vụ tiết học Bướcđầu làm theo sự chỉ đạo của GV và tham gia cùng GV tập luyện, sửa sai cho cácbạn có kĩ thuật động tác yếu hơn trong lớp, trong nhóm, trong tổ của mình
- Đối với Giáo viên: Tổ chức tiến trình tiết học như: phân tích kỹ thuậtđộng tác; làm mẫu; quan sát ; hướng dẫn và sửa sai…kết hợp với việc hướngdẫn cán sự lớp biết cách tổ chức lớp, nhóm, tổ tập luyện, hướng dẫn và sửa saicho HS
Ví dụ minh hoạ cụ thể cho tiết 03 lớp 10: Thể dục nhịp điệu Chạy ngắn Chạy bền.
* Đối với GV: Là người chủ đạo điều khiển, tổ chức lớp học; làm mẫu, quan
sát và sửa sai cho HS, đồng thời cũng chia nhóm cho HS tập luyện Bước đầuđào tạo người cán sự tốt có thể giúp đỡ cho GV trong các tiết học
- GV nhận lớp, phổ biến nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ tiết học
+ Nội dung 1: Thể dục nhịp điệu: GV tiếp tục phân nhóm cho HS ôn lại và
hoàn thiện động tác 1, 2, 3 bài thể dục nhịp điệu đã học
+ Nội dung 2: Chạy ngắn: GV giới thiệu kỹ thuật chạy ngắn, cách sử dụng bànđạp, xuất phát; phân tích và thị phạm bài tập chạy bước nhỏ, chạy nâng cao đùi,chạy nhanh 30-40m
+ Nội dung 3: Chạy bền trên địa hình tự nhiên: GV phổ biến cự li chạy, nhắcnhở HS một số điểm cần lưu ý khi chạy bền
- GV củng cố, dặn dò và tổ chức xuống lớp
* Đối với cán sự: Tập trung lớp, điều chỉnh hàng, nắm sĩ số lớp và báo cáo sĩ
số cho GV
- Cho lớp khởi động chung và chuyên môn
- Cán sự lớp lúc này bắt đầu là người giúp việc tham gia cùng GV điều khiểncác bạn trong lớp và cũng lúc này cán sự lớp thường được GV yêu cầu là ngườiđứng đầu nhóm (tổ) lên làm mẫu, thị pham lại kỹ thuật động tác, sau đó GVnhận xét cho cả lớp biết kết quả về ưu - nhược điểm Bước đầu điều khiển ở cấp
độ nhóm (tổ) dưới sự điều khiển và quan sát của GV
- Hướng dẫn cho lớp thả lỏng dưới sự quan sát của GV