1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

KHÁI NIỆM LỊCH SỬ

29 357 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khái Niệm Lịch Sử
Trường học Đại học Tổng hợp Hà Nội
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Bài giảng
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ấn Độ còn lại là sống ở Pakixtan, Nêpan và Bănglađét…Hinđu giáo thờ 3 thần chínhThần Brahma Thần sáng tạo, Thần Siva Thần hủy diệt, Thần Visnu Thần bảo vệ - Hồi giáo: là một trong ban tô

Trang 1

NHẬT BẢN

- Sô-gun (Tướng quân): Tước hiệu do Thiên hoàng phong cho những người cầm quyền

quân sự thời kì Mạc phủ ở Nhật Bản; là người đứng đầu chính quyền quân sự Chínhquyền Sô-gun tồn tại song song với chính quyền Thiên hoàng cho tới năm 1868, khiMạc phủ Tô- cư-ga-oa bị lật đổ Thực tế quyền hành trong nước tập trung trong taychính quyền quân sự của Tướng quân, còn Thiên hoàng chỉ là hư danh

- Minh Trị: tên Tiếng Nhật là Mây-gi Tên-nô là tên gọi vua Nhật Bản

Mut-sư-hi-tô, người tiến hành cuộc Duy Tân ở Nhật Bản từ năm 1868

- Duy tân Minh Trị: Cuộc cải cách do Minh Trị tiến hành sau khi lật đổ chế độ

Mạc phủ Thực chất đó cuộc cách mạng tư sản không triệt để, thủ tiêu chế độ phongkiến cát cứ, xóa bỏ những cản trở của chế độ phong kiến, thúc đẩy kinh tế tư bản Kếtquả, Nhật Bản trở thành một nước tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi sự thống trị, áp bức củachủ nghĩa thực dân phương Tây và một nước đế quốc, đi xâm chiếm thuộc địa

- Công ti độc quyền: Công ty lớn tư bản chủ nghĩa chi phối các mặt kinh tế và có

ảnh hưởng lớn về chính trị Một trong những biểu hiện cho thấy chủ nghĩa tư bản ởNhật chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa là sự xuất hiện các công ty độc quyềnnhư công ty độc quyền Mitxưi, công ty độc quyền Mitxumitxi

Trang 2

Ấn Độ còn lại là sống ở Pakixtan, Nêpan và Bănglađét…Hinđu giáo thờ 3 thần chínhThần Brahma (Thần sáng tạo), Thần Siva (Thần hủy diệt), Thần Visnu (Thần bảo vệ)

- Hồi giáo: là một trong ban tôn giáo lớn trên thế giới, xuất hiện đầu thế kỉ thứ

VII ở miền nam bán đảo Arập, do Môhamét sáng lập thờ thánh Ala, bộ kinh duy nhất làkinh Coran

Trong đạo luật Bengan, thực dân Anh đã lợi dụng sự khác biệt giữa hai tôn giáotrên để chia cắt xứ Bengan thành hai phần, là nguyên nhân cơ bản dẫn đến bùng nổnhững cuộc đấu tranh của nhân dân trong cao trào cách mạng 1905 – 1907

- Đảng Quốc Đại Ấn Độ: Đảng của giai cấp tư sản Ấn Độ, thành lập năm 1885 để

đấu tranh chống sự thống trị của thực dân Anh Người sáng lập là Găngđi với cươnglĩnh “kháng cự không bằng bạo lực”

Trong 20 đầu sau khi thành lập, Đảng Quốc đại phân chia thành hai phái “ôn hòa”

và phái “cực đoan”

- Phá ôn hòa : những người không chủ trương đấu tranh mạnh mẽ, quyết liệt

thường tự coi mình đứng giữa không ngả về phái cách mạng, cấp tiến cũng như pháiphản động, bảo thủ

- Phái cực đoan: do B Tilắc đứng đầu, phản đối thái độ thảo hiệp của phái ôn hòa

và đòi hỏi phải có thái độ kiên quyết chống thực dân Anh

- Đạo luật Bengan: Thực dân Anh ban hành đạo luật Bengan nhằm chia xứ này

làm đôi dựa vào những khác biệt về tôn giáo: miền Đông theo đạo Hồi và miền Tâytheo đạo ấn Thực tế đây là chính sách chia để trị

TRUNG QUỐC

- Chiến tranh thuốc phiện ("chiến tranh nha phiến"): Chiến tranh xâm lược Trung Quốc

của thực dân phương Tây Gồm 2 cuộc chiến tranh, nổ ra lần thứ nhất ( 1840 - 1842) vàlần thứ hai (1856 - 1860), do thực dân phương Tây, chủ yếu là Anh gây ra Chúng vịnvào cớ chính quyền Mãn Thanh đã cấm nhập, bán thuốc phiện và đốt nhiều hòm thuốcphiện mà không bồi thường cho chúng Thực chất đây là một cuộc chiến tranh xâm lược

Trang 3

nhằm mục đích cướp đoạt và nô dịch toàn bộ Trung Quốc Cả hai lần chiến tranh, triềuđình phong kiến Trung Quốc phải ký với các nước tư bản phương Tây nhiều điều ướcbất bình đẳng và mở đầu cho quá trình Trung Quốc trở thành nước phong kiến nửathuộc địa.

- Cách mạng Tân Hợi 1911: Cuộc cách mạng do giai cấp tư sản dân tộc Trung

Quốc lãnh đạo mà người đại diện là Tôn Trung Sơn Cách mạng nổ ra ngày

10-10-1911 (năm Tân Hợi) ở Vũ Xương, nhanh chóng lan ra cả nước Ngày 1-1-1912, thànhlập nền cộng hoà, Tôn Trung Sơn được cử làm tổng thống Do sự can thiệp, giúp đỡcủa các nước đế quốc, Viên Thế Khải đã thiết lập chế độ độc tài đàn áp cách mạng.Tháng 3-1913, Cách mạng Tân Hợi kết thúc

Đây là cuộc cách mạng có ý nghĩa lớn nhất trong thời kỳ cách mạng dân chủ củaTrung Quốc Nó lật đổ nền thống trị 260 năm của triều đại phong kiến Mãn Thanh, kếtthúc hơn 2000 năm chế độ quân chủ phong kiến chuyên chế, khai sinh ra nước TrungHoa dân quốc, có tác dụng nhất định trong việc góp phần thúc đẩy phong trào cáchmạng Trung Hoa phát triển

Cách mạng Tân Hợi và Chủ nghĩa tam dân có ảnh hưởng đến các nước châu Á,

trong đó có Việt Nam Nó là cuộc cách mạng dân chủ, đánh dấu sự thức tỉnh của nhândân châu Á vào đầu thế kỷ XX trong cuộc đấu tranh dành độc lập, tự do và các quyềndân chủ cho nhân dân

- Nghĩa hòa đoàn: Phong trào yêu nước của nhân dân Trung Quốc chống đế quốc

xâm lược (1898 - 1900) Lúc đầu nhà Thanh hợp tác với Nghĩa hoà đoàn chống đế quốc

Sau vì thấy Liên quân 8 nước (Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Nga, Italia, Áo, Hung, Nhật) hợp

lực đàn áp, nên triều đình quay sang cấu kết với đế quốc chống cuộc khởi nghĩa Phongtrào bị dập tắt vào tháng 8 -1900

- Thái Bình Thiên Quốc: Cuộc khởi nghĩa của nông dân Trung Quốc chống chế độ

phong kiến và triều đình Mãn Thanh nhằm xây dựng một xã hội thái bình (1851 1864) Phong trào phát triển dưới khẩu hiệu đấu tranh cho việc phân chia đều ruộng đất,cho sự bình đẳng về mọi mặt, cho lòng bác ái và cho việc thành lập một nước gọi là

-"Thái bình thiên quốc" Quân Thái bình thiên quốc, gọi là Thái bình quân Sau khi đã

đánh tan những đội quân của Chính phủ và của bọn phong kiến địa phương, đến cuối

1852, "Thái bình thiên quốc" đã tiến đến sông Trường Giang, và tháng 3 - 1853, chiếmNam Kinh, tuyên bố thành phố này là thủ đô của nước mình, đứng đầu Nhà nước là

Trang 4

Hồng Tú Toàn Triều đình Mãn Thanh đã liên kết với bọn thực dân Anh, Pháp, Mỹ tấncông quân khởi nghĩa Năm 1864, cuộc khởi nghĩa đã bị đàn áp dã man Thái BìnhThiên Quốc có nhiều chính sách tiến bộ (chia đều ruộng đất cho nông dân, nam nữ bìnhđẳng, quyền độc lập dân tộc…), song cũng có một số hạn chế (tư tưởng bình quân, chiarẽ, tranh giành quyền lực…).

- Thuộc địa - nửa phong kiến: Những nước bị các nước đế quốc chủ nghĩa cai trị,

bóc lột Về thực chất đó là một nước thuộc địa, nhưng vẫn được duy trì chế độ phongkiến bằng cách nuôi dưỡng, sử dụng bọn tay sai phong kiến bản địa để tăng cườngthống trị, đàn áp nhân dân

- Duy tân: Phong trào đấu tranh đòi thay đổi theo cái mới, cái tiến bộ, bỏ cái cũ,

cái lạc hậu trong đời sống xã hội, xây dựng đất nước Cuộc Vận động Duy Tân ở TrungQuốc diễn ra năm 1898 do hai nhà yêu nước Khang Hữu Vi và Lương Khải Siêu lãnhđạo Phong trào hoạt động chủ yếu trong tầng lớp sĩ phu tiến bộ, không dựa vào nhândân, nên nhanh chóng thât bại khi gấp phải sự phản đối của phái phong kiến thủ cựu

- Xâu xé: Dùng sức mạnh để tranh giành chia nhau đất đai Các nước đế quốc tranh

giành xâu xé Trung Quốc cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX

- Chủ nghĩa tam dân: Học thuyết của Tôn Trung Sơn với mục đích dân tộc độc

lập, dân quyền tự do và dân sinh hạnh phúc

ĐÔNG NAM Á

- Thiên chúa giáo: Một trong hai giáo phái của Cơ đốc giáo Cuối thế kỷ IV (năm

395), khi đế quốc Rôma phân chia thành hai quốc gia (Đông bộ và Tây bộ đế quốcRôma), hai tổ chức giáo hội có ảnh hởng lớn nhất ở hai khu vực ấy Trong đế quốcRôma luôn tranh giành thế lực với nhau trong thế giới Cơ đốc giáo Sự tranh giành ấybiểu hiện ở những cuộc tranh chấp về những vấn đề giáo lý, ghi lễ và cuối cùng dẫn đếnchỗ giáo hội Cơ đốc tách thành giáo hội Thiên chúa (ở phơng Tây) và giáo hội Chínhthống (ở phơng Đông) Giáo lý chủ yếu của Thiên chúa giáo là học thuyết về địa vị báchủ của Giáo hoàng Rôma trong giáo hội, thừa nhận Giáo hoàng "đại diện toàn quyềncủa Chúa cứu thế trên Trái Đất", "không bao giờ sai lầm trong công việc tín ngưỡng"

Trang 5

dùng mọi phơng tiện để gây ảnh hởng trong quần chúng, bảo vệ chế độ phong kiến.Trong thời kỳ cách mạng t sản, Thiên chúa giáo là ngọn cờ và vũ khí tinh thần của thếlực phản động phong kiến chống các lực lợng cách mạng Thời kỳ t bản chủ nghĩa, giáohội Thiên chúa bảo vệ quyền lợi cho giai cấp t sản Hiện nay giáo hội Thiên chúa giáo làmột trong những giáo hội có tín đồ đông nhất thế giới.

- Bạo động: Dùng sức mạnh vũ trang nhằm lật đổ, thay đổi những người thống trị,

hoặc để chống lại lực lượng tiến bộ

- Cải cách: Đổi mới cho tiến bộ hơn, cho phù hợp với sự phát triển chung của xã

hội mà không đụng tới xã hội hiện hành

- Xâm chiếm: Dùng các biện pháp quân sự, chính trị giành lấy đất đaicủa một

nước khác

CHÂU PHI V À KHU VỰC MĨ LA TINH

- Ai Cập trẻ: Tổ chức chính trị bí mật của một số trí thức và sĩ quan yêu nước ở Ai

Cập, do Đại tá Át-mét A-ra-bi đứng đầu, được thành lập năm 1879 Tổ chức này tậphợp những thanh niên yêu nước, thực hiện nhiều cải cách mang tính chất tư sản, nhưngcuối cùng các nước đế quốc đã dùng quân sự để can thiệp, ngăn chặn cuộc đấu tranhyêu nước của tổ chức này

- Học thuyết “Liên minh dân tộc các nước cộng hòa châu Mĩ” (gọi tắt là Liên

Mĩ): Học thuyết này được thành lập năm 1889, do các nhà chính trị, tư tưởng, xã hội Mĩtuyên truyền rộng rãi Theo họ, đây là tư tưởng thống nhất quyền lợi và đoàn kết giữacác nước châu Mĩ, dựa trên quan điểm cho rằng những nước này giống nhau về nhânchủng, kinh tế và văn hóa Nước Mĩ lợi dụng tư tưởng này để che giấu những chínhsách bành trướng thế lực của mình ở khu vực Mĩ La-tinh Mĩ tuyên truyền học thuyếtnày cũng nhằm chống lại cuộc đấu tranh của các dân tộc khu vực Mĩ La-tinh giành độclập dân tộc và tự do phát triển kinh tế, chính trị theo xu hướng tiến bộ (vì đã giống nhau

về nhân chủng, kinh tế và văn hóa thì không nên đấu tranh, chống lại nhau)

- “Học thuyết Mơn- rô”: Tên gọi một học thuyết, bắt nguồn từ tuyên bố của Tổng

thống Mỹ Mơn-rô về các vấn đề đối ngoại, được gửi lên Quốc hội Mĩ ngày 2-12-1923

Trang 6

Học thuyết Mơn-rô đưa ra nhằm gạt bỏ ảnh hưởng của các nước châu Âu khỏi khu vực

Mĩ La-tinh, thực hiện theo chủ trương “Châu Mĩ của người châu Mĩ”

Học thuyết Mơn-rô đã mở đầu cho quá trình bành trướng và xâm lược của tư bản

Mĩ vào khu vực Mĩ La-tinh ngay sau đó

- Chính sách “Ngoại giao bằng đồng đô la”: Chính sách của Mĩ trong quan hệ đối

ngoại, nhằm thông qua viện trợ kinh tế, tiền tệ và đầu tư để bành trướng ra bên ngoài,lôi kéo các nước vào quỹ đạo của mình

Thuật ngữ “Ngoại giao bằng đồng đô la” được bắt đầu sử dụng dưới thời Tổngthống Mĩ Ta-pha-ta (1909-1913) trong việc tăng cường ảnh hưởng của Mĩ sang cácnước Mĩ La-tinh và được các tổng thống kế nhiệm thực hiện

- Chính sách “Cái gậy lớn” (còn được gọi là Cái gậy lớn và củ cà rốt): Chính sách

đối ngoại của các nước đế quốc, đặc biệt là Mĩ dựa trên thế mạnh để bắt nạt các nướcnhỏ, song lại tỏ ra “nhân đạo”, như hỗ trợ kinh tế, viện trợ đô la, giúp đỡ để mà ràngbuộc chặt chẽ hơn Đây là trò lừa bịp, che đậy dã tâm xâm lược của chủ nghĩa đế quốc,

bị nhân dân thế giới lên án Từ cuối thế kỉ XIX, để gạt bỏ bỏ ảnh hưởng của các nướcchâu Âu khỏi khu vực Mĩ La-tinh và thực hiện chủ trương “Châu Mĩ của người châuMĩ”, các đời tổng thống Mĩ đã đưa ra nhiều chính sách, trong đó có chính sách “Cái gậylớn” và “Ngoại giao bằng đồng đô la”

CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤT

- Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914-1918): Chiến tranh đế quốc, phi nghĩa, do

kết quả của cuộc khủng hoảng của hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thế giới và cuộcđấu tranh giữa các nước đế quốc chủ nghĩa lớn nhằm phân chia lại thế giới và phạm viảnh hưởng Đầu thế kỷ XX, những mâu thuẫn giữa hai khối đế quốc chủ nghĩa là pheHiệp ước gồm Anh, Pháp, Nga với phe Liên minh Đức, Áo, Hung và Italia trở nên hếtsức gay gắt Mùa hè 1914, chiến tranh bùng nổ và đến tháng 11 - 1918 thì kết thúc.Thắng lợi thuộc về phe Đồng minh Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đã cuốn hút 33nước với hơn 1.500 triệu người tham gia vào vòng chiến Nhân loại đã bị tổn thất lớn

Trang 7

và bị nhiễm hơi độc; nhiều tài sản bị phá hủy trị giá hàng nghìn tỷ đôla.

- Phòng ngự: Giai đoạn chiến tranh có đặc điểm nổi bật là một bên (hoặc cả hai

bên) hành động chủ yếu nhằm bảo vệ lực lượng của mình khỏi bị đối phương tiêu diệt,không tiến hành những cuộc tiến công chiến lược

- Trung lập : Nước tuyên bố không tham gia chiến tranh, không đứng về một bên nào

trong hai phe đối địch

- Đầu hàng: Chịu thua trong chiến tranh và tuân thủ các điều kiện của bên thắng trận

VĂN HOÁ THỜI CẬN ĐẠI

- Văn hóa: Là khái niệm, phạm trù lớn dùng để chỉ toàn bộ những giá trị vật chất

và tinh thần được con người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của nhân loại Song, ởbài này chỉ giới hạn về những thành tựu văn học, nghệ thuật, tư tưởng,… để bổ sungcho những kiến thức HS đã học về khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật

- Học thuyết “Chủ nghĩa xã hội không tưởng”: Học thuyết xây dựng một xã hội xã

hội chủ nghĩa trong chế độ tư bản, do Xanh-xi-mông (1760-1825), Phu-ri-ê (1772-1837)

ở Pháp và Ô-oen (1771-1858) ở Anh sáng lập hồi đầu thé kỉ XIX

Chủ nghĩa xã hội không tưởng đã góp phần tố cáo mạnh mẽ sự bóc lột của chủnghĩa tư bản đối với nhân dân lao động, nhưng không đề ra được con đường đấu tranhcách mạng đúng đắn để giải phóng giai cấp công nhân và người dân lao động Họ chỉdừng lại ở ước mơ muốn có một xã hội tốt đẹp, công bằng, một cuộc sống không có

Trang 8

nghèo khổ và áp bức Họ chỉ tuyên truyền, cổ động mà không đấu tranh, không muốnxóa bỏ chế độ tư bản  mọi ý tưởng của họ đưa ra không thực hiện được, gọi là khôngtưởng.

- Học thuyết “Chủ nghĩa xã hội khoa học”: Học thuyết do C.Mác và Ăngghen

sáng lập, được Lê-nin tiếp tục phát triển Học thuyết nói về sự phát triển của xã hội, vềnhững quy luật chung, về con đường và hình thức đấu tranh của giai cấp vô sản, về cáchmạng xã hội chủ nghĩa và việc xây dựng chế độ mới tiến bộ hơn, tiến đến chế độ cộngsản chủ nghĩa

Ngày nay, chủ nghĩa xã hội khoa học là một bộ phận của chủ nghĩa Mác-Lênin(được hình thành dựa trên ba yếu tố là Triết học cổ điển Đức – triết học duy vật biệnchứng, Kinh tế chính trị Anh và Chủ nghĩa xã hội không tưởng) Chủ nghĩa xã hội khoahọc còn được hiểu là Chủ nghĩa cộng sản khoa học

- Triết học Ánh sáng: Trào lưu triết học của giai cấp tư sản đang lên ở châu Âu

(thế kỉ XVI, nhất là thế kỉ XVIII –XIX), nổi bật ở Pháp, diễn ra vào “Thế kỉ Ánh sáng”(còn được gọi là Chủ nghĩa khai sáng) Những nhà tư tưởng tiến bộ của giai cấp tư sảnkịch liệt tố cáo sự áp bức, bóc lột của chế độ quân chủ chuyên chế va công khai đả kíchGiáo hội Thiên chúa – chỗ dựa tinh thần của phong kiến Đây là công cuộc chuẩn bị vềmặt tư tưởng cho các cuộc cách mạng tư sản bùng nổ

- Bách khoa toàn thư: Những nhà khai sáng Pháp tham gia soạn thảo bộ ‘Bách

khoa toàn thư” ở Pháp vào cuối thế kỉ XIX, do Đi-đơ-rô đứng đầu Đại diện cho một hệ

tư tưởng mới đang lên, họ đấu tranh chống lại chế độ phong kiến chuyên chế và giáo hộiThiên chúa, nêu lên những nguyên tắc chủ yếu của Nhà nước tư sản mới Họ là tác giả

bộ “Bách khoa toàn thư”, giới thiệu những thành tựu của nhiều ngành khoa học lúc bấygiờ Phái Bách khoa toàn thư Pháp có vai trò to lớn trong việc chuẩn bị về mặt tư tưởngcho cuộc Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ và giành thắng lợi trong những năm 1789 –1794

Mô-da (1756-1791)

Trang 9

Mô-da, nhạc sĩ, nhà soạn nhạc thiên tài người Áo, sinh năm 1756 trong một giađình nhạc sĩ nghèo ở thành phố Đan-xbuốc, miền Nam nước Áo, cha là phó nhạc sưtrong dàn nhạc giáo đường của tòa Giám mục Đan-xbuốc

Ngay từ nhỏ, Mô-da đã nổi tiếng là thần đồng âm nhạc Lên 5 tuổi, Mô-da đã thamgia biểu diễn trong dàn nhạc Giáo đường Đan-xbuôc cùng với cha mình Người Áo đếnnay còn lưu truyền và tự hào về một câu chuyện nổi tiếng về thần đồng Mô-da Lúc ấy,cậu bé chưa đầy 5 tuổi Nhân ngày sinh của cô con gái một người bạn thân, cha của Mô-

da giao cho con trai đem một bản nhạc mới sáng tác đến cho cô bé ấy Khi qua mộtchiếc cầu lớn, cậu bé Mô-da vì sơ ý đã làm rơi mất bản nhạc, không thể quay trở về,cũng không thể tiếp tục đi nếu trong tay không có bản nhạc, thế là cậu bé Mô-da lấyngẫu hứng viết ngay một bản nhạc khác thay cho bản nhạc vừa đánh mất

Trong buổi sinh nhật ngày hôm sau, bạn của người cha tỏ ý cảm ơn về bản nhạctuyệt vời ông đã viết riêng cho con gái họ và mời quan khách cùng thưởng thức bảnnhạc do chính con gái ông biểu diễn Tất cả mọi người lặng đi đều thán phục, chính chacủa Mô-da cũng bị cuốn hút vào những âm thanh tươi vui hạnh phúc và giai điệu tuyệtvời của bản nhạc Nhưng trước con mắt ngạc nhiên của bạn bè và các quan khách, ngườicha từ chối không nhận bản nhạc do mình sáng tác mà nói rằng đó là bản nhạc do contrai mình sáng tác Mọi người cùng dồn mắt về phía Mô-da trầm trồ khen ngợi Cònngười cha lặng đi xúc động vì đứa con trai tài năng của mình

Năm 12 tuổi, Mô-da nhận viết một vở kịch cho nhà hát kịch Ô-pê-ra ở Viên Năm

14 tuổi, Mô-da đã sáng tác thành công vở nhạc kịch “Vua Mi-tơ-rđát xứ Đông”, và tên

tuổi cậu đã vang khắp châu Âu suốt từ năm 6 tuổi cho đến trọn đời Mô-da được mời đibiểu diễn khắp nơi: Đức, I-ta-li-a, Hà Lan, Anh… Tuy nhiên, ông vẫn sống trong cảnhnghèo khổ và bệnh tật Ông có 6 người con mà đến 4 người chết vì không có đủ tiềnthuốc thang chạy chữa ốm đau Mô-da mất sau cơn bệnh hiểm nghèo khi mới 36 tuổi -

độ tuổi rực rỡ nhất của tài năng Ông để lại một di sản âm nhạc đồ sộ vô giá với 326 tácphẩm lớn nhỏ, trong đó có 24 vở Ô-pê-ra nổi tiếng, 50 bản nhạc giao hưởng, cùng nhiềubản ca khúc, hòa tấu và bài hát trữ tình, sáng tác theo phong cách cổ đại Ông tìm tòi sựtrong sáng, thanh nhã trong giai điệu và đạt tới sự vĩ đại qua sự đơn giản và kiều diễm

Mô-da thật là một "thiên tài phát sáng" như nhận xét của Trai-cốp-xki - nhạc sĩ và nhà

soạn nhạc nổi tiếng nước Nga

XANH-XI-MÔNG (1760 – 1825)

Hăngriđơ Xanh-xi-mông, nhà triết học, nhà kinh tế học Pháp, người đề xướngchủ nghĩa xã hội không tưởng đầu tiên của thời cận đại

Trang 10

Ông xuất thân trong một gia đình quý tộc, có học vấn uyên bác và tư tưởng tiến

bộ Ngay từ thời niên thiếu, ông đã ước mơ thực hiện sự nghiệp lớn lao mang lại lợi íchcho xã hội Năm 15 tuổi, Xanh-xi-mông nói với cha là không muốn theo các nghi lễ củagiáo hội, không tin vào tôn giáo Cha tức giận, bắt ông bỏ ngục, nhưng ông đã vượtngục và trốn sang Mĩ

Năm 19 tuổi, ông tham gia đạo quân Pháp được phái sang Mĩ, giúp nhân dân Mĩchống thực dân Anh giành độc lập và lập được nhiều chiến công Khi chiến tranh kếtthúc, Xanh-xi-mông mới 23 tuổi, ông trở về Pháp và được phong quân hàm Đại tá, được

cử chỉ huy pháo đài lớn Mê-dơ ở biên giới phía Đông nước Pháp Nhưng ông đã bỏnghê quân sự, đi du lịch khắp châu Âu

Khi cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789 nổ ra, Xanh-xi-mông trở về nước Lúc đầu

ông có cảm tình với cách mạng, nhưng đến thời kỳ “khủng bố” thì tỏ ra thất vọng Ông

có xu hướng xây dựng một chế độ xã hội mới bằng tri thức khoa học, nên mặc dù đã 40tuổi, ông vẫn xin vào học trường Đại học bách khoa và say sưa với công tác nghiên cứu

khoa học, viết sách tuyên truyền tư tưởng xã hội chủ nghĩa (chủ nghĩa xã hội không tưởng).

Xanh-xi-mông công kích kịch liệt chế độ tư bản và kêu gọi cải cách theo chủnghĩa xã hội, đảm bảo cho tất cả mọi giai cấp được thoả mãn nhu cầu sinh sống và vănhoá Ông cũng rất quan tâm đến số phận của giai cấp vô sản, nhưng không nhận thứcđược vai trò và sứ mệnh lịch sử của nó Ông phủ nhận đấu tranh giai cấp Ông chủtrương trong xã hội xã hội chủ nghĩa tương lai, những nhà bác học và những người làm

công nghiệp (bao gồm chủ xưởng, thương nhân, nhà ngân hàng và cả công nhân) phải

giữ vai trò lãnh đạo Xanh-xi-mông cho rằng, cơ sở kinh tế của chủ nghĩa xã hội sẽ lànền đại công nghiệp được tổ chức trên những nguyên tắc kế hoạch hoá, có khả năng

đảm bảo sự thoả mãn nhu cầu cho xã hội Ông đề ra nguyên tắc “mọi người đều phải lao động” theo khả năng của mình để cung cấp của cải cho xã hội.

Chủ nghĩa xã hội của Xanh-xi-mông là chủ nghĩa xã hội không tưởng, vì ông chorằng nhà tư tưởng đề ra ý hay sẽ được thiên hạ theo mà xây dựng nên một xã hội tốtđẹp Nhưng thực tế đã làm ông thất vọng Vào cuối đời, Xanh-xi-mông trở nên nghèotúng, ông viết thư cho những người cầm quyền, những nhà tư sản để thuyết phục họthực hiện học thuyết xã hội của mình Song, trái với những gì ông mong muốn, không aiủng hộ học thuyết của ông, cũng chẳng ai giúp đỡ ông

Tuy nhiên, tư tưởng về tính chất xã hội có kế hoạch, có tổ chức trong sản xuấtcủa Xanh-xi-mông đã làm cơ sở, nền tảng cho chế độ xã hội tương lai Đó là một cốnghiến lớn lao cho lý thuyết của chủ nghĩa xã hội sau này

Trang 11

C MÁC (1818-1883)

C.Mác sinh ngày 5-5-1818 tại Đức trong một gia đình của luật sư Hen-rích Mác có 9 người con Từ nhỏ, C Mác luôn là linh hồn của đám trẻ con cùng tuổi bởi cậu rất thông minh, thường bày ra các trò chơi hấp dẫn và sáng tác ra đủ thứ chuyện

lí thú Năm 23 tuổi, Mác đỗ Tiến sĩ triết học, vừa nghiên cứu khoa học vừa cộng tác với các báo có khuynh hướng cách mạng

Năm 1842, C Mác làm cộng tác viên, rồi Tổng biên tập báo “Sông Ranh”, một tờ báo có xu hướng dân chủ tư sản tiến bộ Dưới sự chỉ đạo của Mác, báo “Sông Ranh” đã đề cập đến những vấn đề bức thiết của nước Đức thời bấy giờ như cuộc

sống cực khổ của người nông dân, vấn đề thống nhất nước Đức, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quân phiệt Phổ… Vì tính chất tiến bộ, chống chế độ phản động của

quân phiệt Phổ cho nên báo “Sông Ranh” đã bị đóng cửa, buộc phải ngừng hoạt

động

Năm 1843, C Mác cùng vợ là Gien-ny rời Đức sang Pa-ri, rồi đến Brúc-xen

(Bỉ) và cuối cùng cư trú lâu dài ở Luân Đôn Trong thời gian ở Pa-ri, C Mác thường

xuyên tiếp xúc với những nhà hoạt động cách mạng của phong trào công nhân,

nghiên cứu lịch sử công nhân Pháp….và tham gia xuất bản tạp chí “Biên niên Phổ”.

Pháp-Thông qua các tác phẩm của mình, Mác đã xây dựng mô hình chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản Ông đã khẳng định giai cấp vô sản được vũ trang bằng lí luận cách mạng, là giai cấp sẽ đảm đương sứ mệnh lịch sử giải phóng loài người khỏi mọi sự áp bức, bóc lột Nhưng cho đến khi ông qua đời, không một nước nào trên thế giới áp dụng mô hình của ông Tuy nhiên, vào thế kỉ XX, V.I Lê-nin đã kế tục sự nghiệp của Mác, lãnh đạo Cách mạng tháng Mười Nga thắng lợi, thiết lập nênchế độ cộng sản ở nước Nga Sau đó, dưới ảnh hưởng của cách mạng Nga và dựa trên lí thuyết của chủ nghĩa Mác-Lê-nin, nhân dân nhiều nước khác trên thế giới đã vùng dậy giành chính quyền và thiết lập chuyên chính vô sản Trong lịch sử, có lẽ không có một tác phẩm của bất cứ nhà triết học nào lại có ảnh hưởng đến thế giới hàng thế kỉ sau như những tác phẩm của Mác Tên tuổi của Mác đã mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại như người sáng lập chủ nghĩa cộng sản khoa học, có tác động to lớn và sâu rộng đối với nhân loại tiến bộ

PH ĂNG-GHEN (1820-1895)

Trang 12

Ph Ăng-ghen sinh ngày 28-11-1820 tại thành phố Bác-men (thuộc Phổ), trong một

gia đình tiểu chủ, theo đạo Cơ đốc, ông nội và bố đều là chủ xưởng dệt

Thời niên thiếu, Ăng-ghen được giáo dục theo tinh thần tôn giáo một cách nghiêmkhắc Tuổi trẻ, Ăng-ghen không được học hành đầy đủ Năm 1838, khi đang học lớp 11thì ông bị bố bắt bỏ học để theo con đường kinh doanh Nhưng với lòng ham mê hiểubíêt, ông đã tự nghiên cứu các lĩnh vực triết học, kinh tế chính trị, lịch sử , xã hội…Năm 1841, Ăng-ghen phải đi quân dịch Trong thời gian này, ông đã thâm nhập

thực tế, nghiên cứu đời sống của giai cấp công nhân và viết cuốn “Tình cảnh giai cấp công nhân Anh” (xuất bản năm 1845) Trong tác phẩm, Ăng-ghen đã miêu tả cụ thể,

sinh động sự bóc lột tàn bạo của giai cấp tư sản đối với giai cấp công nhân Từ đó ôngrút ra kết luận: giai cấp vô sản không chỉ là nạn nhân của chủ nghĩa tư bản mà còn là lựclượng có thể đánh đổ sự thống trị của giai cấp tư sản và tự giải phóng khỏi mọi xiềngxích

Năm 1844, Ăng-ghen đến Pa-ri, gặp Mác Từ đó ông cùng C Mác chiến đấu cho lítưởng giải phóng giai cấp công nhân thế giới Ông đã cùng C Mác sáng lập chủ nghĩa

xã hội khoa học, soạn “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” và thành lập Hội liên hiệp công nhân quốc tế (Quốc tế I) - tổ chức quốc tế đầu tiên của giai cấp vô sản thế giới Sau khi

Mác qua đời, ông tiếp tục sự nghiệp của Mác, không ngừng đấu tranh giải phóng giaicấp công nhân Ngoài sự nghiệp chính trị, Ăng-ghen còn là nhà triết học, nhà kinh tếhọc, nhà sử học, nhà xã hội học uyên bác Ông từ trần ngày 5- 8- 1895 tại Luân Đôn,thọ 75 tuổi

C MÁC VÀ ĂNGHEN VIẾT

“TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN”

Những năm 30 của thế kỉ XIX, phong trào công nhân ở các nước châu Âu phát triển rất nhanh, nhưng chưa hình thành một khối thống nhất, cũng chưa có sự lãnh đạo của một chính đảng cách mạng được vũ trang bằng chủ nghĩa cộng sản khoa học Giai cấp vô sản chưa hiểu rõ lí thuyết khoa học về nguồn gốc bị bóc lột,

về sứ mệnh lịch sử và con đường tự giải phóng cho mình Do đó, cuộc đấu tranh của

họ luôn bị thất bại

Người thầy cách mạng vĩ đại - Mác và Ăng-ghen trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của phong trào công nhân, đã tiến hành nghiên cứu lí luận khoa học và liên

hệ rộng rãi với các đoàn thể công nhân các nước Trong thời gian ở Anh, hai ông đã

liên hệ với một tổ chức bí mật của công nhân Tây Âu là "Đồng minh những người

Trang 13

chính nghĩa" và cải tổ thành "Đồng minh những người cộng sản" Đây là chính đảng

độc lập đầu tiên của vô sản quốc tế Hai ông được ủy nhiệm soạn thảo Cương lĩnh của đồng minh

Tháng 2- 1848, cương lĩnh được công bố ở Luân Đôn dưới dạng một bản

tuyên ngôn- Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản.

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là bản Cương lĩnh trình bày cơ sở lí luận, xác

định vai trò của giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc đấu tranh, nhằm lật đổ sự thống trị củagiai cấp tư sản và xây dựng chuyên chính vô sản

Nội dung cơ bản của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” được trình bày trong 4

chương:

Chương I - Tư sản và vô sản, nêu lên một cách khái quát quy luật phát triển của

xã hội tư bản, vạch rõ lợi ích đối lập giữa tư sản, vô sản và sứ mệnh lịch sử của giai cấp

vô sản

Chương II - Vô sản và cộng sản, trình bày mối quan hệ giữa những người cộng

sản và giai cấp vô sản, vạch rõ tính chất, nhiệm vụ trước mắt, và mục đích cuối cùngcủa đảng cộng sản; những biện pháp để thực hiện những mục đích ấy

Chương III - Sách báo xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, đã phê phán

sâu sắc trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa phi vô sản: tư sản và tiểu tư sản Đồng thời đềcao tư tưởng chủ nghĩa xã hội khoa học

Chương IV - Quan hệ của những người cộng sản đối với các đảng đối lập, trình

bày những nguyên tắc chiến lược và sách lược của đảng cộng sản

Tuyên ngôn kết thúc bằng lời kêu gọi nổi tiếng: "Vô sản tất cả các nước đoàn kết lại".

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” là văn kiện quan trọng của chủ nghĩa xã hội

khoa học, bao gồm những luận điểm cơ bản về sự phát triển của xã hội và cách mạng xã

hội chủ nghĩa Với những nội dung tiến bộ như vậy, “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”

đã soi sáng con đường đấu tranh của giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trêntoàn thế giới Vì vậy, Tuyên ngôn nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng như tiếngAnh, Pháp, Nga…

Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản được dịch và phổ biến ở Việt Nam từ đầu những

năm 20 của thế kỉ XX Thực dân Pháp đã ra sức ngăn cấm, trừng phạt những người đọc,phổ biến, cất giữ văn kiện này, song đã thất bại Từ sau Cách mạng tháng Tám - 1945

“Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” được xem như là tài liệu học tập quan trọng của

nhân dân ta về chủ nghĩa Mác- Lênin

BÉT-TÔ-VEN (1770 – 1827)

Trang 14

Bét-tô-ven, nhạc sĩ nhà soạn nhạc thiên tài và vĩ đại của nước Đức Ông sinh ra ởBon trong một gia đình có truyền thống lâu đời về âm nhạc Cha ông cũng là một nhạccông có tài, đã dẫn dắt ông những bước đầu tiên trên con đường âm nhạc.

Năm 8 tuổi, Bét-tô-ven bắt đầu sáng tác âm nhạc Năm 16 tuổi, ông đã trở nênnổi tiếng Năm 18 tuổi, Bét-tô-ven gặp Mô-da ở Viên (Áo) và ông đã rất cảm phục nhạc

sĩ thiên tài người Áo này

Khi cách mạng tư sản Pháp bùng nổ (1789), Bét-tô-ven hoan nghênh cuộc cáchmạng và đã sáng tác một bản hợp xướng nhan đề “Người tự do” để ca ngợi

Năm 1782, Bét-tô-ven sống ở Viên, cái nôi của nền âm nhạc thế giới Ở đó, ôngvừa bồi dưỡng thêm tài năng, vừa dạy nhạc cho con em quý tộc và những người giàu có

để kiếm sống Ông cũng nhiều lần đi công diễn ở các thành phố lớn ở châu Âu nh

Pra-ha, Béc-lin,…

Trong đời tư, Bét-tô-ven gặp nhiều khó khăn về tinh thần và vật chất Ông yêuGiu-li-ét-ta và đã viết Xô-nát ánh trăng để tặng nàng Nhưng khi bản nhạc hòan thành,thì cũng là lúc nàng đã phụ tình ông Từ đó, ông sống trong cô đơn

Năm 1800, Bét-tô-ven bị điếc Tuy nhiên, ông vẫn sáng tác đều đặn và có nhiềutác phẩm kiệt tác, chỉ có điều là ông không thể nghe được những bản nhạc do chính tayông sáng tác

PHOI-Ơ-BÁCH (1804-1872)

Phoi-ơ-bách là nhà triết học duy vật và theo chủ nghĩa vô thần của nước Đưc.Ông xuất thân trong một gia đình trí thức, thời trẻ có tiếp thu triết học của Hê-ghen.Nhưng về sau, ông đã phê phán kịch liệt hệ thống triét học duy tâm khách quan của Hê-ghen, đồng thời phê phán cả tôn giáo Nhưng khi bỏ chủ nghĩa duy tâm của Hê-ghen,ông lại vứt luôn cả phép biện chứng

Phoi-ơ-bách là một nhà triết học vô thần, nhưng trong việc giải thích các hiệntượng xã hội, ông lại sa vào chủ nghĩa duy tâm Ông không thấy cơ sở vật chất của sựphát triển xã hội, và không thấy tính chất giai cấp trong xã hội ấy Ông coi con ngườichỉ là một sinh vật thuần túy, chứ không thấy con người là một sinh vật xã hội Do đó,ông hoàn toàn không đề cập đến con người và xã hội về phương diện lịch sử Phoi-ơ-bách cho rằng, người ta muốn có hạnh phúc thì phải yêu thương lẫn nhau Ông phủ nhậnđấu tranh giai cấp trong xã hội

Mặc dù có những thiếu sót, nhưng triết học duy vật của Phoi-ơ-bách đã có nhữngđóng góp nhất định đối với lịch sử triết học C.Mác và Ăngghen đã chịu ảnh hưởng củachủ nghĩa duy vật của ông trong thời kì hình thành những quan điểm triết học của mình

Ngày đăng: 14/09/2013, 03:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w