Mục tiêu nghiên cứu Tác giả đã dựa trên cơ sở lý thuyết; các nghiên cứu trong và ngoài nước về chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng đầu ra nói riêng; kết hợp với việc tham khảo ch
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
HUỲNH THỊ VÂN ANH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG ĐẦU RA CỦA CÔNG TY TNHH MEBIPHA
TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017 - 2022
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 2HUỲNH THỊ VÂN ANH
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG ĐẦU RA CỦA CÔNG TY TNHH MEBIPHA
TẠI THỊ TRƯỜNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017 - 2022
Chuyên ngành: Kinh Doanh Thương Mại
Mã số: 60340121
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS TẠ THỊ MỸ LINH
TP.Hồ Chí Minh - Năm 2017
Trang 3Tác giả xin cam đoan luận văn thạc sĩ "Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng
đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 – 2022"
là công trình nghiên cứu của chính tác giả Số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong phạm vi hiểu biết của tác giả Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Tạ Thị Mỹ Linh
Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017
Tác giả
Huỳnh Thị Vân Anh
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
5 Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài 5
5.1 Các nghiên cứu trong nước 6
5.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài 7
6 Tính mới của nghiên cứu 9
7 Nội dung nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 11
1.1 Tóm lược lý thuyết về chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra 11
1.1.1 Khái niệm về chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra 11
1.1.2 Các thành viên của chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra 13
1.1.3 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra 15
1.1.4 Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra 20
1.1.5 Hệ thống đo lường hiệu suất hoạt động của chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng đầu ra nói riêng 23
1.2 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra một số quốc gia trên thế giới 26
1.2.1 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Mỹ 26
1.2.2 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Ấn Độ 31
Trang 51.2.3 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Brazil 35
1.2.4 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Trung Quốc 36
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 39
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
2.1 Phương pháp nghiên cứu 41
2.1.1 Quy trình nghiên cứu 41
2.1.2 Nghiên cứu sơ bộ 42
2.1.3 Nghiên cứu chính thức 42
2.2 Kết quả nghiên cứu 44
2.2.1 Kết quả phỏng vấn chuyên gia 44
2.2.2 Kết quả nghiên cứu thực trạng chuỗi cung ứng đầu ra công ty TNHH Mebipha 46
2.2.3 Kết quả khảo sát khách hàng 64
2.2.4 Tổng hợp kết quả nghiên cứu 69
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 71
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CHUỖI CUNG ỨNG ĐẦU RA VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU 72
3.1 Cơ sở đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 72
3.1.1 Định hướng phát triển công ty TNHH Mebipha 72
3.1.2 Định hướng phát triển của ngành chăn nuôi Việt Nam 73
3.1.3 Lý thuyết về chuỗi cung ứng đầu ra 74
3.1.4 Các bài học kinh nghiệm rút ra ở phần mở đầu 75
3.1.5 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra một số quốc gia ở chương 1 77
3.1.6 Kết quả nghiên cứu ở chương 2 78
3.2 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 – 2022 79
Trang 63.2.1 Đề xuất cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH
Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 79
3.2.2 Đề xuất mô hình các thành viên trong chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 81
3.2.3 Đề xuất mô hình các dòng chảy trong chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 85
3.2.4 Đề xuất mô hình định vị trung tâm phân phối công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 97
3.3 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 98
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 99
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số
TT
Chữ
viết tắt Tên đầy đủ tiếng Việt Tên đầy đủ tiếng Anh
1 ANVISA Cơ quan quốc gia giám sát vệ
6 GMP Tiêu chuẩn thực hành sản xuất
thuốc tốt Good manufacturing practices
7 MAC Chi phí tối đa cho phép Maximum allowable cost
8 NPP Nhà phân phối
9 PBMs Các nhà quản lý lợi ích thuốc Pharmacy Benefit Manager
10 RDC Trung tâm phân phối khu vực Regional distribution Center
11 SCAP
Trung tâm Chính sách và Chiến lược nông nghiệp nông thôn miền Nam
Southern Center for Agricultural Policy and Strategy
12 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
13 TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
14 WAC Chi phí mua lại bán buôn Wholesale acquisition cost
15 WHO Tổ chức y tế thế giới World Health Organization
16 WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Chương 2
Bảng 2.1 Tỷ lệ % mức doanh thu theo khu vực năm 2016
Bảng 2.2 Kết quả phân loại đối tượng khảo sát
Bảng 2.3 Bảng tổng hợp điểm mạnh và điểm yếu chuỗi cung ứng đầu ra năm 2016
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Chương 1
Hình 1.1 Chuỗi cung ứng đơn giản
Hình 1.2 Chuỗi cung ứng mở rộng
Hình 1.3 Chuỗi cung ứng đầu ra
Hình 1.4 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng
Hình 1.5 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra
Hình 1.6 Quy trình xử lý đơn hàng với dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tài chính
Hình 1.7 Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng đầu ra
Hình 1.8 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Mỹ
Hình 1.9 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Ấn Độ hiện tại và xu hướng phát triển năm
2020
Hình 1.10 Dòng chảy thông tin trong chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Ấn Độ
Hình 1.11 Ba mô hình chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Brazil
Hình 1.12 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Trung Quốc
Chương 2
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu
Hình 2.2 Cơ cấu tổ chức công ty năm 2016
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện số lượng nhân sự giai đoạn 2014 - 2016
Hình 2.4 Hệ thống phân phối năm 2016
Hình 2.5 Số lượng nhà phân phối và nhà bán lẻ giai đoạn 2014 - 2016
Hình 2.6 Doanh thu và lợi nhuận giai đoạn 2014 - 2016
Hình 2.7 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng năm 2016
Hình 2.8 Các thành viên trong chuỗi cung ứng đầu ra năm 2016
Hình 2.9 Dòng vật chất trong chuỗi cung ứng đầu ra năm 2016
Hình 2.10 Dòng tài chính trong chuỗi cung ứng đầu ra năm 2016
Hình 2.11 Dòng thông tin trong chuỗi cung ứng đầu ra năm 2016
Trang 10Hình 2.12 Kết quả khảo sát về mức doanh số trung bình/năm
Hình 2.13 Kết quả khảo sát về thời gian thanh toán phù hợp
Chương 3
Hình 3.1 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra giai đoạn 2017 - 2022
Hình 3.2 Các thành viên trong chuỗi cung ứng đầu ra giai đoạn 2017 - 2022
Hình 3.3 Dòng vật chất trong chuỗi cung ứng đầu ra giai đoạn 2017 - 2022
Hình 3.4 Dòng thông tin trong chuỗi cung ứng đầu ra giai đoạn 2017 - 2022
Hình 3.5 Dòng tài chính trong chuỗi cung ứng đầu ra giai đoạn 2017 - 2022 Hình 3.6 Mô hình định vị trung tâm phân phối giai đoạn 2017 - 2022
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Ngành thú y Việt Nam bắt đầu từ khi bác sĩ Alexandre Yersin, một nhà khoa học người Pháp gốc Thụy Sỹ, thành lập Viện Pasteur Nha Trang vào năm 1894 (Đậu Ngọc Hào, 2014) Năm 1904, trường Đại học y Hà Nội thành lập Khoa thú y và đến năm 1910, Khoa thú y được đổi thành Trường thú y Bắc Kỳ Ngày 11/07/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh 125 SL: Ấn định luật lệ bài trừ bệnh truyền nhiễm gia súc (Đậu Ngọc Hào, 2014) Đây là một dấu mốc lịch sử ghi nhận sự phát triển và những đóng góp to lớn của ngành thú y vào sự phát triển kinh tế xã hội cũng như tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta Trong luật về thú y, Quốc Hội đã định nghĩa như sau "Thuốc thú y là đơn chất hoặc hỗn hợp các chất bao gồm dược phẩm, vắc-xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất được phê duyệt dùng cho động vật nhằm phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh, điều chỉnh, phục hồi chức năng sinh trưởng, sinh sản của động vật" (Quốc Hội, 2015, trang 1) Trong xã hội hiện đại, ngành thú y trở nên vô cùng quan trọng khi các bệnh do siêu vi trùng gây ra trên động vật có thể lây sang người ngày càng nhiều, các bệnh nguy hiểm còn có khả năng lây lan trên phạm vi toàn cầu thành dịch bệnh một cách nhanh chóng thông qua con đường buôn lậu động vật, khách du lịch từ nước này sang nước khác, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng công nhận và tôn vinh ngành thú y là tổng thể sự chăm sóc về thể chất và tinh thần cho con người thông qua toàn thể các hoạt động thú y (Đậu Ngọc Hào, 2014) Do vậy, ngành phải tích cực nghiên cứu khoa học, sản xuất các loại thuốc thú y,… nhằm tăng năng suất chăn nuôi, đảm bảo môi trường sinh thái an toàn, vệ sinh thực phẩm, hướng tới nhiệm vụ bảo vệ sức khoẻ và môi trường sống cho con người
Theo số liệu của Trung tâm Chính sách và Chiến lược nông nghiệp nông thôn miền Nam (SCAP), tổng giá trị ngành thuốc thú y Việt Nam năm 2015 là 3280 tỷ đồng, trong đó thuốc cho gia cầm 920 tỷ, cho lợn 2140 tỷ và bò 220 tỷ Chi phí thuốc thú y tại Việt Nam ước tính chiếm 7 - 10% giá thành chăn nuôi (Nguyễn Huệ, 2017)
Trang 12Để ngành thuốc thú y Việt Nam đáp ứng ngày càng tốt và đầy đủ hơn về số lượng lẫn chất lượng sản phẩm cho nhu cầu phát triển chăn nuôi của đất nước thì ngày 13/02/2012, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) ban hành thông tư Quy định lộ trình triển khai áp dụng GMP đối với các doanh nghiệp kinh doanh lĩnh vực thuốc thú y dành cho dây chuyền sản xuất thuốc tiêm hoặc thuốc uống dạng dung dịch, thuốc bột cho uống hoặc trộn thức ăn, thuốc bột pha tiêm GMP là chữ viết tắt bằng tiếng Anh của Good Manufacturing Practice - Thực hành tốt sản xuất thuốc, bao gồm những nguyên tắc chung, những quy định, hướng dẫn các nội dung cơ bản về điều kiện sản xuất, áp dụng cho các cơ sở sản xuất dược phẩm, mỹ phẩm,… nhằm đảm bảo sản phẩm đạt chất lượng và an toàn Các doanh nghiệp bắt buộc phải xây dựng nhà máy sản xuất theo tiêu chuẩn GMP nếu không muốn bị rút giấy phép sản xuất thuốc thú y Tính đến ngày 01/03/2014 đã có 42/104 doanh nghiệp thuộc khối tư nhân và liên doanh được cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GMP (Bộ NN&PTNT, 2014) Đến tháng 03/2017, nước ta có 61 công ty đạt tiêu chuẩn GMP
để sản xuất thuốc, hơn 11.000 sản phẩm thuốc thú y được cấp phép lưu hành, trong
đó có 7.000 sản phẩm sản xuất trong nước (Nguyễn Huệ, 2017)
Theo lộ trình quy định của Bộ NN&PTNT, mỗi doanh nghiệp bắt buộc phải xây dựng nhà máy đạt chuẩn GMP, với mức đầu tư 50 - 100 tỷ đồng được khấu hao trong vòng 15 năm là một thách thức rất lớn đối với doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty Việt Nam (Nguyễn Huệ, 2017) Đặc trưng của ngành thuốc thú y Việt Nam
là các công ty gửi bán sản phẩm tại các đại lý, cửa hàng bán thuốc thú y sỉ - lẻ trên toàn quốc mà không thiết lập kênh phân phối riêng Các tập đoàn nước ngoài có lịch
sử phát triển lâu đời như Virbac, Bayer,… hay công ty liên doanh Anova, Pharmachemie,… có năng lực tài chính cùng với hoạt động tiếp thị tốt (thường xuyên
Bio-tổ chức các buổi hội nghị giới thiệu sản phẩm, ngày hội bán hàng ưu đãi, khuyến mãi cho người mua, tăng cường quảng cáo,…), đặc biệt là chiết khấu rất cao cho hệ thống đại lý, cửa hàng để họ ưu tiên chào bán sản phẩm của công ty khi bà con chăn nuôi cần tư vấn, kê toa Do đó, doanh thu các công ty nội địa chỉ khoảng 20% tổng doanh thu thị trường, còn lại tới 80% doanh thu là do các tập đoàn đa quốc gia hoặc các
Trang 13công ty liên doanh đang hoạt động tại Việt Nam nắm giữ (Thu Hường, 2015) Bên cạnh đó, Việt Nam hiện là một trong những quốc gia có tốc độ hội nhập vào thế giới phẳng rất nhanh, có thể là nhanh nhất trong Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) (Võ Đại Lược, 2015) Điều này giúp Việt Nam nắm bắt và tận dụng tốt hơn các cơ hội do quá trình tái cấu trúc cục diện quốc tế và khu vực cũng như xu thế hội nhập kinh tế đem lại Đồng thời, sự cạnh tranh sẽ diễn ra gay gắt với nhiều đối thủ hơn, trên bình diện sâu rộng và mức độ cạnh tranh gia tăng từng ngày Do vậy, chỉ có các doanh nghiệp Việt đủ năng lực cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài mới có thể trụ được trong cơn vũ bão phát triển này Tuy nhiên với 97,5% trên tổng
số doanh nghiệp Việt Nam nói chung đang hoạt động là doanh nghiệp vừa và nhỏ, yếu kém về thực lực tài chính, phạm vi hoạt động hẹp, không thích ứng kịp với sự thay đổi nhanh chóng của thị trường,… chắc chắn sẽ phải đối mặt với thách thức rất lớn về khả năng cạnh tranh ngay trên thị trường nội địa trong quá trình hội nhập (Trần Hoài Nam, 2014) Toàn cầu hóa và thương mại quốc tế đang đặt ra cho tất cả các doanh nghiệp những thách thức về kiểm soát - tích hợp dòng vật chất, thông tin và tài chính Điều này đồng nghĩa với việc nếu doanh nghiệp có thể xây dựng một chuỗi cung ứng nhanh nhạy, thích nghi cao và sáng tạo sẽ giúp họ dễ dàng vượt qua đối thủ trong cuộc cạnh tranh gay gắt này Chuỗi cung ứng được xem như tài sản chiến lược
để các doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh
Công ty Trách nhiệm hữu hạn (TNHH) Mebipha được thành lập năm 2003 chuyên sản xuất thuốc thú y Vào thời điểm đó, với quy mô 15 nhân viên, công ty chỉ tập trung vào sản xuất, tất cả các hoạt động phân phối sản phẩm đến người tiêu dùng đều thuê doanh nghiệp bên ngoài thực hiện Sau 14 năm hình thành và phát triển, công ty TNHH Mebipha vẫn giữ vững được năng lực cốt lõi của mình, luôn là đơn vị dẫn đầu trong nghiên cứu và sản xuất các loại thuốc mang lại hiệu quả cao với giá thành hợp lý Từ năm 2009 đến nay, Ban giám đốc công ty quyết định tăng quy mô hoạt động để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng cao của bà con chăn nuôi Công
ty tự thực hiện toàn bộ chuỗi cung ứng nhằm giảm tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào bên ngoài, tăng tính chủ động cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Trang 14Khi đó, công ty bắt đầu đối mặt với hàng loạt khó khăn như: tình trạng giao chậm, giao sai đơn hàng, thất lạc, hư hỏng hàng hóa diễn ra một cách thường xuyên,….Một trong những nguyên nhân chính của các khó khăn trên là do công ty TNHH Mebipha vẫn chưa hoàn thiện được chuỗi cung ứng của mình Đặc biệt chuỗi cung ứng đầu ra đến nay vẫn là sự thách thức lớn đối với doanh nghiệp này
Từ hiện trạng chuỗi cung ứng đầu ra nơi đang làm việc, tác giả đã chọn đề tài
"Giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị
trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022" làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên
ngành Kinh doanh thương mại Tác giả hy vọng nghiên cứu này sẽ là một trong những
cơ sở tham khảo cho công ty TNHH Mebipha cũng như các doanh nghiệp trong ngành
có thể hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra của mình nhằm tồn tại và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt trên phạm vi toàn cầu hiện nay
2 Mục tiêu nghiên cứu
Tác giả đã dựa trên cơ sở lý thuyết; các nghiên cứu trong và ngoài nước về chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng đầu ra nói riêng; kết hợp với việc tham khảo chuỗi cung ứng thuốc đầu ra một số quốc gia như Mỹ, Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc; kinh nghiệm của chuyên gia cũng như kết quả nghiên cứu của chính tác giả nhằm phân tích, đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra cho công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là thực trạng chuỗi cung ứng đầu ra của công ty
TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
Hoạt động khảo sát:
Đối tượng khảo sát: tác giả tiến hành chọn 150 khách hàng có doanh thu cao nhất tính theo đơn đặt hàng từ ngày 01/09/2015 đến hết ngày 30/09/2016 (năm tài chính công ty) Nhóm 150 khách hàng được chọn chiếm 65% tổng
Trang 15doanh thu thị trường và mang tính đại diện cho các khách hàng bốn thị trường: miền Bắc, miền Trung, miền Đông và miền Tây
Hình thức khảo sát: tác giả phát 150 bảng khảo sát cho khách hàng tham
dự "Hội nghị Tri ân Khách hàng" công ty TNHH Mebipha được tổ chức ngày 29/12/2016 tại TP.HCM Đây là chương trình thường niên của công ty và 150 khách hàng được mời tham dự là những khách hàng có thành tích kinh doanh xuất sắc nhất năm 2016
Thời gian thực hiện khảo sát: tác giả phát bảng khảo sát cho đáp viên trong giờ đón khách (từ 14 giờ đến 15 giờ ngày 29/12/2016) và thu lại bảng khảo sát ngay sau khi kết thúc Hội nghị (khoảng 20 giờ cùng ngày)
Thời gian nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu trong khoảng thời gian từ ngày 01/06/2016 đến ngày 30/04/2017
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu định
tính với hai giai đoạn:
Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ: tác giả sử dụng phương pháp chuyên gia thông qua việc phỏng vấn tay đôi với các chuyên gia am hiểu ngành thuốc thú y để điều chỉnh các phát biểu trong bảng khảo sát sơ bộ cho phù hợp
Giai đoạn nghiên cứu chính thức: tác giả sử dụng các dữ liệu cung cấp từ các phòng ban trong công ty để lập bảng biểu, vẽ sơ đồ, chọn lọc các thông tin phù hợp nhằm phân tích và đánh giá thực trạng chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha Bên cạnh đó, tác giả tiến hành điều tra, khảo sát thực tế bằng bảng khảo sát chính thức
5 Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Qua tra cứu tư liệu, tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu chuyên sâu nào về chuỗi cung ứng thuốc thú y tại thị trường Việt Nam, chỉ có một số nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài chuỗi cung ứng thuốc nói chung được tác giả tham khảo từ nhiều góc độ khác nhau:
Trang 165.1 Các nghiên cứu trong nước
Nghiên cứu của Vũ Thị Thúy Nga (2007) với đề tài "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Liên doanh thuốc Sanofi - Aventis Việt Nam"
Công ty Liên doanh thuốc Sanofi - Aventis Việt Nam chuyên sản xuất và kinh doanh sản phẩm dược và cận dược phục vụ nhu cầu chữa bệnh của con người Khách hàng mục tiêu là bệnh viện (tuyến điều trị) và các nhà thuốc Công ty có trụ sở chính tại đường Hàm Nghi - quận 1, nhà máy Sanofi Synthelabo Việt Nam tại quận Thủ Đức và nhà máy Aventis Việt Nam tại quận 4 Nghiên cứu đã tập trung phân tích hiện trạng năm hoạt động trong công tác quản trị chuỗi cung ứng gồm lập kế hoạch, tìm nguồn hàng, sản xuất, giao hàng, hàng trả về và đánh giá hiệu quả hoạt động quản trị chuỗi cung ứng doanh nghiệp này Đồng thời nghiên cứu đã chỉ ra được những điểm mạnh, điểm yếu cũng như cơ hội và thách thức đối với các công ty thuốc tại thị trường Việt Nam trong môi trường cạnh tranh toàn cầu
Đề tài "Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản trị chuỗi cung ứng tại Công ty Liên doanh thuốc Sanofi - Aventis Việt Nam" của Vũ Thị Thúy Nga
và luận văn này của tác giả có một số điểm giống và khác nhau như sau:
Sự giống nhau giữa Công ty Liên doanh thuốc Sanofi - Aventis Việt Nam và công ty TNHH Mebipha:
Đều là công ty sản xuất và thương mại
Nhà máy sản xuất đặt tại Việt Nam
Công ty chỉ kinh doanh sản phẩm tự mình sản xuất ra và phân phối sản phẩm này cho thị trường Việt Nam
Sự khác nhau giữa Công ty Liên doanh thuốc Sanofi - Aventis Việt Nam và công ty TNHH Mebipha:
Công ty Liên doanh thuốc Sanofi - Aventis Việt Nam kinh doanh sản phẩm dược và cận dược phục vụ nhu cầu chữa bệnh của con người, còn công ty TNHH Mebipha kinh doanh thuốc thú y - sản phẩm dược phục vụ cho ngành chăn nuôi
Trang 17 Đề tài của Vũ Thị Thúy Nga phân tích chuỗi cung ứng đầu vào lẫn đầu
ra công ty Liên doanh thuốc Sanofi - Aventis Việt Nam năm 2007, thời điểm
mà Việt Nam bắt đầu hội nhập nhanh vào nền kinh tế khu vực và thế giới, cụ thể là Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Còn luận văn này tập trung nghiên cứu và xây dựng chuỗi cung ứng đầu ra công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022
Qua nghiên cứu của mình, Vũ Thị Thúy Nga đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng dành cho một công ty thuốc có vốn đầu tư nước ngoài tại thị trường Việt Nam như sau:
Tái cơ cấu tổ chức: theo đuổi mô hình chuỗi cung ứng hợp nhất nhằm
có cơ cấu hoạt động linh hoạt, phản ứng nhanh với thay đổi thị trường
Xây dựng chiến lược kinh doanh cụ thể
Phân khúc khách hàng theo tiêu chí quy mô và tiềm năng thành ba nhóm, xác định chính sách kinh doanh phù hợp cho từng nhóm này
Tác giả đã kế thừa một cách linh hoạt các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng này để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra cho công ty TNHH Mebipha - một công ty chuyên sản xuất và kinh doanh thuốc thú y 100% vốn Việt Nam
5.2 Các nghiên cứu ở nước ngoài
5.2.1 Nghiên cứu của Nilay Shah (2004) với đề tài "Chuỗi cung ứng thuốc: các vấn đề quan trọng và chiến lược để tối ưu hóa" được đăng trên Tạp chí điện
tử Science Direct
Trong nghiên cứu này, Nilay Shah xem xét các vấn đề quan trọng trong giai đoạn thiết kế và hoạt động của chuỗi cung ứng, dựa trên cơ sở lý thuyết và khảo sát của chính tác giả nhằm tối ưu hóa chuỗi cung ứng thuốc
Nghiên cứu đã chỉ ra các vấn đề quan trọng liên quan đến chuỗi cung ứng thuốc như sau:
Ở giai đoạn thiết kế: chuỗi cung ứng đầu ra luôn đối mặt với bài toán cân bằng giữa công suất sản xuất của nhà máy trong tương lai với nhu cầu thị trường,
Trang 18đây là nhu cầu dự đoán dựa trên dữ liệu lịch sử, thông tin thị trường và thường bị ảnh hưởng bởi hoạt động của đối thủ cạnh tranh
Ở giai đoạn hoạt động: hầu hết các sản phẩm thuốc phải có quá trình tổng hợp hóa học hoặc xử lý sinh học qua nhiều giai đoạn khác nhau để có được thành phần hoặc hoạt chất chính, kế đến là giai đoạn sản xuất thứ cấp để cho ra thành phẩm
Do đặc trưng ngành như vậy mà chuỗi cung ứng thuốc đầu ra rất khó đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách nhanh chóng và kịp thời nếu doanh nghiệp không có một chuỗi cung ứng phù hợp
Nilay Shah tập trung nghiên cứu toàn bộ chuỗi cung ứng thuốc phục vụ nhu cầu chữa bệnh của con người Trong đó, ở giai đoạn hoạt động chúng ta cần chú ý cả chuỗi cung ứng đầu vào lẫn đầu ra, ở giai đoạn thiết kế chuỗi cung ứng đầu ra cần được quan tâm nhiều hơn Từ đó, Nilay Shah đi tới kết luận: muốn tối ưu hóa chuỗi cung ứng thuốc thì nhiệm vụ trọng tâm là phải đáp ứng tối đa nhu cầu hàng hóa của khách hàng, sản phẩm phải được cung cấp một cách nhanh chóng - chính xác - đảm bảo chất lượng
Tác giả đã tham khảo và vận dụng kết luận của nghiên cứu để đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng thuốc đầu ra công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022
5.2.2 Nghiên cứu của Makgokong Elizabeth Tsoku (2014) với đề tài "Nghiên cứu
xu hướng quản trị chuỗi cung ứng trong ngành dược phẩm"
Trong nghiên cứu này, Makgokong Elizabeth Tsoku tập trung đánh giá hiệu quả hoạt động quản trị chuỗi cung ứng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng thuốc tại tỉnh Gauteng (Nam Phi)
Nội dung nghiên cứu bao gồm: đặc điểm chuỗi cung ứng, năm thành phần cơ bản của chuỗi cung ứng, khung lý thuyết quản trị chuỗi cung ứng
Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng các bảng câu hỏi được gửi qua email và bưu điện
Trang 19Đối tượng khảo sát được chia làm ba nhóm với số lượng như sau: nhà phân phối (50 bảng), nhà sản xuất (50 bảng), nhà bán lẻ (50 bảng), trong đó tác giả thiết kế bảng câu hỏi phù hợp cho mỗi nhóm được khảo sát
Kết quả của nghiên cứu:
Cả ba nhóm đều đồng ý rằng quản trị chuỗi cung ứng có vai trò rất quan trọng đối với doanh nghiệp trong bối cảnh toàn cầu hóa
Các đặc điểm quản trị chuỗi cung ứng thuốc tại Nam Phi bao gồm quản trị hàng tồn kho, tiết kiệm chi phí, luồng thông tin, dịch vụ khách hàng và các mối quan hệ Trong đó, quản trị hàng tồn kho và chất lượng dịch vụ khách hàng là một trong những yếu tố chính tạo nên thành công của quản trị chuỗi cung ứng tại Nam Phi
Makgokong Elizabeth Tsoku tập trung nghiên cứu toàn bộ chuỗi cung ứng thuốc phục vụ nhu cầu chữa bệnh cho con người tại đất nước Nam Phi bằng cách khảo sát ba thành viên trong một chuỗi cung ứng thuốc cơ bản: nhà sản xuất, nhà phân phối và nhà bán lẻ tại tỉnh Gauteng Kết luận của nghiên cứu: trong hoạt động quản trị chuỗi cung ứng, cần chú trọng vào quản trị hàng tồn kho và chất lượng dịch
vụ khách hàng đối với cả ba nhóm khảo sát Bên cạnh đó, đối với nhóm các nhà bán
lẻ cần chú ý hơn vào dòng thông tin vì điều này giúp doanh nghiệp đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng
Tác giả tham khảo các đặc điểm quản trị chuỗi cung ứng thuốc cũng như các giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng được đề xuất trong nghiên cứu này để hoàn thành luận văn của mình
6 Tí nh mới của nghiên cứu
Trong các công trình nghiên cứu trước đây, có ít tác giả nghiên cứu về chuỗi cung ứng thuốc thú y nói chung và đặc biệt là chưa có nghiên cứu chuyên sâu nào về chuỗi cung ứng đầu ra dành cho ngành thuốc thú y tại thị trường Việt Nam Vì thế nghiên cứu của tác giả mang tính đóng góp cho lĩnh vực này
Ý nghĩa thực tiễn: Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc các doanh nghiệp nội địa xây dựng được chuỗi cung ứng đầu ra phù hợp cho mình là một trong những điều
Trang 20kiện tiên quyết để các doanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa và vươn ra thế giới Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam Kết quả nghiên cứu này kỳ vọng giúp các nhà quản lý công ty TNHH Mebipha có những giải pháp phù hợp để vượt qua khó khăn về chuỗi cung ứng đầu ra hiện nay Nghiên cứu cũng
có thể là tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm đến chuỗi cung ứng đầu ra ngành thuốc thú y tại thị t5rường Việt Nam
7 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu gồm 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả nghiên cứu
Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022 và các hạn chế của nghiên cứu
Trang 21CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Tóm lược lý thuyết về chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra
1.1.1 Khái niệm về chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra
Cho đến nay, đã có không ít công trình nghiên cứu đưa ra định nghĩa về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau Trong nghiên cứu này, tác giả xin phép trích lược một số định nghĩa chuỗi cung ứng nói chung nhằm củng cố cơ sở lý luận của đề tài:
"Chuỗi cung ứng là mạng lưới các phương tiện phục vụ thu mua nguyên vật liệu thô, chuyển hóa chúng thành những sản phẩm trung gian tới sản phẩm cuối cùng và giao sản phẩm đó đến khách hàng thông qua hệ thống phân phối" (Lee và Billington, 1995)
"Chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các hoạt động liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp làm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm các nhà sản xuất, các nhà cung cấp mà còn có những người vận chuyển, hệ thống kho bảo quản, những nhà bán lẻ và cả khách hàng" (Sunil Chopra và Peter Meindl, 2003)
"Chuỗi cung ứng là mạng lưới của các phương tiện, cách lựa chọn phân phối nhằm thực hiện chức năng thu mua nguyên vật liệu, biến đổi chúng thành các sản phẩm trung gian và sản phẩm cuối cùng, phân phối những sản phẩm cuối cùng
đó tới khách hàng" (Ram Ganeshan và Terry P Harrison, 1995)
"Chuỗi cung ứng là sự tạo lập chuỗi giá trị thông qua sự kết nối hoạt động từ các nhà cung cấp của doanh nghiệp tới những khách hàng của doanh nghiệp
Cơ sở các hoạt động của chuỗi cung ứng thể hiện: tiếp nhận đầu vào từ các nhà cung cấp tạo lập giá trị phân phối sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng" (Terry P Harrison và cộng sự, 2004)
Trong đó, chuỗi cung ứng được chia thành chuỗi cung ứng đầu vào và chuỗi cung ứng đầu ra:
Trang 22 Chuỗi cung ứng đầu vào là mạng lưới của các tổ chức liên quan trực tiếp và gián tiếp tới những quy trình và hoạt động khác nhau nhằm chuyển giá trị của sản phẩm, dịch vụ tới khách hàng cuối cùng (Martin Christopher, 2005) Nói cách khác thì cuỗi cung ứng đầu vào bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ mua nguyên liệu đến hoạt động sản xuất Nếu xét về chiều dài của chuỗi cung ứng thì tính từ nhà cung cấp đầu tiên đến doanh nghiệp trung tâm
Trong nghiên cứu này, tác giả tập chỉ nghiên cứu chuỗi cung ứng đầu
ra Chuỗi cung ứng đầu ra là sự liên kết giữa các doanh nghiệp chịu trách nhiệm đưa sản phẩm hay dịch vụ ra thị trường (Douglas M.Lambert và cộng sự, 1998) hay chuỗi cung ứng đầu ra bao gồm các hoạt động của mọi đối tượng có liên quan từ hoạt động sản xuất ra sản phẩm và cung cấp tới khách hàng cuối cùng Nếu xét về chiều dài của chuỗi cung ứng thì tính từ doanh nghiệp trung tâm đến khách hàng cuối cùng
Như vậy, chuỗi cung ứng là một hệ thống phức tạp nhưng có mối liên kết chặt chẽ giữa các thành viên trong việc tạo ra và phân phối các sản phẩm hoàn chỉnh nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng Đối với các doanh nghiệp thương mại, họ chỉ thu mua hàng hóa và phân phối lại thì chuỗi cung ứng đầu vào dễ xây dựng hơn nhiều so với các công ty sản xuất, khi đó họ phải chú trọng xây dựng chuỗi cung ứng đầu ra sao cho đáp ứng tối đa nhu cầu tiêu dùng của khách hàng Đối với doanh nghiệp sản xuất và thương mại thì chuỗi cung ứng đầu vào lẫn đầu ra đều có vai trò quan trọng như nhau, nó trở thành chìa khóa tạo nên sự khác biệt và tăng khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp
Trong nghiên cứu, tác giả vận dụng lý thuyết chuỗi cung ứng đầu ra để xây dựng mô hình hoạt động của các thành viên trong chuỗi đi từ công ty TNHH Mebipha
- doanh nghiệp trung tâm đến các công ty và trang trại chăn nuôi - khách hàng cuối cùng trong việc phân phối các sản phẩm thuốc thú y nhằm phục vụ nhu cầu phòng và trị bệnh cho vật nuôi
Trang 231.1.2 Các thành viên của chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra
1.1.2.1 Các thành viên của chuỗi cung ứng đơn giản
Một chuỗi cung ứng bất kỳ luôn có ba thành viên cơ bản gồm: doanh nghiệp, nhà cung cấp và khách hàng của doanh nghiệp đó trong mối quan hệ qua lại Đây là nhóm các bộ phận cơ bản của một chuỗi cung ứng đơn giản
1.1.2.2 Các thành viên của chuỗi cung ứng mở rộng
Đối với các chuỗi cung ứng mở rộng, nó chứa ba nhóm thành viên: nhà cung cấp của đơn vị cung cấp hay nhà cung cấp cuối cùng trong giai đoạn đầu của chuỗi cung ứng mở rộng, khách hàng của khách hàng hay khách hàng cuối cùng trong giai đoạn cuối của một chuỗi cung ứng mở rộng và toàn bộ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ giao nhận, tài chính, marketing và công nghệ thông tin cho các doanh nghiệp khác trong chuỗi
Nhà
cung cấp
Nhà cung cấp
Doanh nghiệp
Khách hàng
Khách hàng
Nhà cung cấp dịch vụ hoạt động trong lĩnh vực sau:
-Logistics (hậu cần)
-Nghiên cứu thị trường -Thiết kế sản phẩm -Công nghệ thông tin
-
(Nguồn: Micheal Hugos, 2003)
Hình 1.2 Chuỗi cung ứng mở rộng
Nhà cung cấp Doanh nghiệp Khách hàng
(Nguồn: Micheal Hugos, 2003)
Hình 1.1 Chuỗi cung ứng đơn giản
Trang 241.1.2.3 Các thành viên của chuỗi cung ứng đầu ra
Qua lý thuyết về các thành viên của chuỗi cung ứng mở rộng, tác giả đã tổng hợp nên mô hình bốn thành viên của chuỗi cung ứng đầu ra như sau: doanh nghiệp trung tâm, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng
Doanh nghiệp trung tâm
Doanh nghiệp trung tâm hay nhà sản xuất: là đơn vị sử dụng nguyên vật liệu, dịch vụ được cung cấp bởi chuỗi cung ứng đầu vào và áp dụng các quy trình sản xuất
để tạo ra sản phẩm cuối cùng Mỗi doanh nghiệp trung tâm có thể sẽ phải tuân thủ các quy định riêng của ngành nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm đầu ra
Nhà phân phối
Nhà phân phối hay nhà bán buôn: có chức năng chính là phân phối sản phẩm
do doanh nghiệp trung tâm sản xuất ra tại một hoặc nhiều thị trường nhất định Một doanh nghiệp trung tâm có thể có một hoặc nhiều nhà phân phối Điều này phụ thuộc vào chiến lược kinh doanh ở từng giai đoạn khác nhau của chính doanh nghiệp đó
Và ngược lại, một nhà phân phối cũng có thể có một hoặc nhiều đối tác, đôi khi họ lựa chọn là nhà phân phối độc quyền cho một doanh nghiệp duy nhất hoặc cùng lúc kinh doanh nhiều thương hiệu hàng hóa khác nhau
Nhà bán lẻ
Nhà bán lẻ là người sở hữu một lượng hàng hóa nhỏ hơn nhà phân phối trong kho và bán trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng Nhà bán lẻ là người am hiểu thị trường nhất trong kênh phân phối; những phản hồi của họ về nhu cầu, sở thích, thói quen mua sắm của người tiêu dùng sẽ rất hữu ích cho nhà phân phối và doanh nghiệp trung tâm nhằm tăng khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường
Doanh nghiệp
trung tâm
Nhà phân phối Nhà bán lẻ
Người tiêu dùng
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Hình 1.3 Chuỗi cung ứng đầu ra
Trang 25họ chỉ gửi bán sản phẩm tại các công ty, đại lý, cửa hàng bán thuốc thú y sỉ - lẻ trên toàn quốc Đây là đặc trưng của ngành thuốc thú y tại thị trường Việt Nam
1.1.3 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra
1.1.3.1 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng
Trong thực tế, hầu như mỗi doanh nghiệp đều thu mua nhiều loại nguyên vật liệu từ nhiều nhà cung cấp khác nhau nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất của mình, sau đó họ tiến hành bán sản phẩm thông qua một hay nhiều nhà phân phối
để đưa sản phẩm đến người tiêu dùng cuối cùng tạo nên cấu trúc chuỗi cung ứng
Do đó, khi xét về cấu trúc vật lý tổng quát của một chuỗi cung ứng, các thành viên bao gồm: nhà cung cấp (nhà cung cấp cấp 1, cấp 2, cấp 3,… đến nhà cung cấp đầu tiên), doanh nghiệp trung tâm và khách hàng (khách hàng cấp 1, cấp 2, cấp 3,…đến khách hàng cuối cùng) Từ đó hình thành nên chiều dài và chiều rộng khác nhau của chuỗi Chiều dài chuỗi được tính bằng số lượng các cấp trong toàn
bộ chuỗi, chiều rộng chuỗi được tính bằng số lượng các doanh nghiệp tại mỗi cấp chức năng Trong đó, có bốn dạng liên kết giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng:
Trang 26 Mối liên kết dạng quản lý quá trình (Managed Process Links): doanh nghiệp trung tâm quản lý quá trình mua của nhà cung cấp cấp 1 và quá trình bán của khách hàng cấp 1
Mối liên kết dạng giám sát (Monitor Process Links): doanh nghiệp trung tâm giám sát hoạt động đối với nhà cung cấp và khách hàng từ cấp hai trở đi để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Không phải liên kết dạng quản lý quá trình (Not Managed Process Links): đối với các cấp xa, mối liên kết thường khá yếu do doanh nghiệp trung tâm bị hạn chế nguồn lực để thực hiện hoạt động quản lý hay giám sát Khi đó họ phải thông qua các doanh nghiệp trung gian khác để có thể đảm bảo sự ổn định cho chuỗi
Mối liên kết dạng không phải là thành viên (non member process links): là mối quan hệ giữa các doanh nghiệp trong chuỗi và các doanh nghiệp bên ngoài
Mối quan hệ giữa các thành viên trong cùng cấp là mối quan hệ cạnh tranh lẫn nhau Những doanh nghiệp nào tạo được lợi thế riêng cho mình sẽ chiếm được thị phần lớn hơn, sự cạnh tranh này mang đến nhiều lợi ích cho người mua Khi doanh nghiệp trung tâm xây dựng mạng lưới nhà cung cấp và khách hàng thì cần lưu ý thiết lập cách thức quản lý hoặc giám sát phù hợp để phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp này đạt hiệu quả cao nhất
Cấu trúc vật lý của một chuỗi cung ứng được mô tả như hình 1.4 bên dưới:
Trang 27Hì nh 1.4 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng
n 1 n 1 2 3 n 1
n 2 1
n 3
2 1
Nhà cung cấp cấp 1
Doanh nghiệp trung tâm
Khách hàng cấp 1
Khách hàng cấp 2
Khách hàng cấp 3 đến khách hàng cuối cùng
Chiều rộng chuỗi cung ứng
Chiều dài chuỗi cung ứng Chú thí ch
Mối liên kết dạng quản lý quá trì nh
Mối liên kết dạng giám sát
Không phải liên kết dạng quản lý quá trì nh
Mối liên kết dạng không phải là thành viên
Doanh nghiệp trung tâm Các doanh nghiệp không phải thành viên trong chuỗi cung ứng
Trang 28Đây là mô hình tổng quát thể hiện cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng (Douglas M.Lambert và cộng sự, 1998), tác giả đã vận dụng lý thuyết này để tổng hợp nên cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra
1.1.3.2 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra
Một số chuỗi cung ứng đầu ra có cấu trúc đơn giản, trong khi những chuỗi khác lại có hệ thống rắc rối và phức tạp Các loại sản phẩm khác nhau cần cấu trúc chuỗi cung ứng khác nhau:
Nếu nhà sản xuất phân phối trực tiếp đến khách hàng thì chuỗi cung ứng đầu ra ngắn và hẹp Điều này mang lại dịch vụ khách hàng tốt hơn nhưng chi phí tăng
Xây dựng một chuỗi cung ứng đầu ra dài và hẹp có thể dùng nhiều hình thức trung gian nhằm giảm chi phí, nhưng nhà sản xuất dần mất đi quyền lực và dịch
vụ khách hàng không được cải tiến
Xây dựng một chuỗi cung ứng đầu ra cả về chiều dài và rộng có thể loại bỏ phần lớn quyền lực của nhà sản xuất, nhưng khách hàng nhận được sự phục
vụ tốt hơn
Doanh nghiệp trung tâm nên xem xét đến tất cả các nhân tố nhằm thiết kế một cấu trúc chuỗi cung ứng đầu ra phù hợp cho mình Hình 1.5 dưới đây mô tả cấu trúc vật lý một chuỗi cung ứng đầu ra
Trang 29n 2 1
n 3
2 1
Hì nh 1.5 Cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra
Doanh nghiệp trung tâm
Khách hàng cấp 1
Khách hàng cấp 2
Khách hàng cấp 3 đến khách hàng cuối cùng
Chiều rộng chuỗi cung ứng
Chiều dài chuỗi cung ứng đầu ra
Dòng hạ nguồn
Chú thí ch
Mối liên kết dạng quản lý quá trì nh
Mối liên kết dạng giám sát
Không phải liên kết dạng quản lý quá trì nh
Mối liên kết dạng không phải là thành viên
Doanh nghiệp trung tâm Các doanh nghiệp không phải thành viên trong chuỗi cung ứng
Trang 30Trong mô hình trên, chiều dài chuỗi cung ứng đầu ra được xác định từ doanh nghiệp trung tâm đến khách hàng cuối cùng, còn chiều rộng chuỗi tính bằng số lượng các doanh nghiệp tại mỗi cấp Khi doanh nghiệp trung tâm xây dựng mạng lưới khách hàng cho mình thì cần thiết lập cách quản lý phù hợp để phối hợp hoạt động giữa các doanh nghiệp này đạt hiệu quả cao nhất
Từ mô hình tổng quát về cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra (hình 1.5), tác giả sẽ đề xuất cấu trúc vật lý chuỗi cung ứng đầu ra công ty TNHH Mebipha đang kinh doanh ngành thuốc thú y tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022
1.1.4 Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng và chuỗi cung ứng đầu ra
1.1.4.1 Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng
Thuật ngữ chuỗi cung ứng gợi nên hình ảnh sản phẩm dịch chuyển từ nhà cung cấp đến nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và cuối cùng đến khách hàng dọc theo chuỗi cung ứng Trong thực tế, nhà sản xuất có thể nhận nguyên liệu từ vài nhà cung cấp và sau đó cung ứng đến nhà phân phối, chính vì vậy đa số các chuỗi cung ứng thực sự là các mạng lưới Song song đó có ba dòng chảy cơ bản xuyên suốt chiều dài chuỗi cung ứng là dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tài chính (xem hình 1.6)
Nguyên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm Sản lượng, kế hoạch chiêu thị, tiến độ giao hàng
Tí n dụng, điều khoản thanh toán, hóa đơn
Thông tin
Vật chất
Tài chí nh
Thông tin Vật chất Tài chí nh Hàng trả lại, hàng sửa chữa, bảo dưỡng, tái chế, loại bỏ
Doanh thu, đặt hàng, tồn kho, chất lượng, kế hoạch chiêu thị
Thanh toán, trả chậm
Nắm bắt đặt
hàng
Xác nhận đơn
Thu mua Sản
xuất
Phân phối
Thanh toán Nhà cung cấp đầu cuối Khách hàng cuối cùng
Lặp lại quá trình này đối với nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà phân phối sỉ, nhà bán lẻ
Quá trì nh xử lý hoàn chỉnh đơn hàng
Hì nh 1.6 Quy trì nh xử lý đơn hàng với dòng vật chất, dòng thông tin và
dòng tài chí nh
(Nguồn: Lee, 2000)
Trang 31Ba dòng chảy trên không tách rời nhau Trong đó, dòng thông tin đóng vai trò kết nối chặt chẽ cho hai dòng còn lại để tạo nên một chuỗi cung ứng liền mạch, trơn tru và ổn định
1.1.4.2 Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng đầu ra
Chuỗi cung ứng gồm có ba dòng chảy chính: dòng vật chất, dòng thông tin và dòng tài chính xuyên suốt chiều dài chuỗi từ nhà cung cấp đến khách hàng Trong chuỗi cung ứng đầu ra ta chỉ xem xét ba dòng chảy này từ nhà sản xuất đến khách hàng với các mô tả như sau:
Dòng tài chính: có hai chiều
Dòng thanh toán từ người tiêu dùng về lại nhà sản xuất thông qua nhà phân phối, nhà bán lẻ khi họ mua sản phẩm
Dòng chiết khấu từ doanh nghiệp trung tâm đến nhà phân phối, nhà bán lẻ thông qua chính sách kinh doanh và đến người tiêu dùng thông qua các chương trình khuyến mãi
Sản xuất Nhà bán lẻ
Nhà Phân phối Khách hàng
(Nguồn: Tác giả tự tổng hợp)
Hì nh 1.7 Các dòng chảy trong chuỗi cung ứng đầu ra
Dòng vật chất Dòng thông tin Dòng tài chính
Trang 32 Dòng thông tin: có tính hai chiều
Dòng thông tin đi từ khách hàng về nhà sản xuất: cung cấp thông tin thị trường, đặc điểm sản phẩm, nhu cầu và những ý kiến phản hồi của khách hàng, làm cơ sở cho nhà sản xuất điều chỉnh hoạt động sản xuất kinh doanh của mình
Dòng thông tin đi từ nhà sản xuất đến khách hàng: là thông tin về sản phẩm, chính sách kinh doanh dành cho khách hàng
Như vậy, dòng vật chất, dòng tài chính và dòng thông tin đều có tính hai chiều và tác động qua lại lẫn nhau Dòng vật chất phải được đảm bảo đi từ nhà sản xuất tới khách hàng cuối cùng một cách liên tục và đồng bộ, nghĩa là nó không bị gián đoạn và tất cả các bộ phận, thành phần trong đó được giao đúng hạn với trình
tự hợp lý, chính xác Cũng giống như dòng vật chất, dòng tài chính phải đảm bảo xuyên suốt chiều dài chuỗi từ nhà cung cấp đến khách hàng và ngược lại Trong chuỗi cung ứng, dòng thông tin là dòng đi trước về mặt thời gian, xuyên suốt mọi quá trình, ngay sau khi cả dòng vật chất và dòng tài chính đã thực hiện hoàn tất Giá trị của thông tin cần kịp thời và chính xác, phụ thuộc vào lợi ích mà các doanh nghiệp có thể nhận được từ thông tin đó, giá trị không còn nếu cơ hội đã trôi qua Việc xử lý chậm hoặc trì hoãn chuyển giao thông tin theo dòng ngược càng làm ảnh hưởng trầm trọng đến tốc độ đáp ứng của dòng sản phẩm theo chiều xuôi tới khách hàng, do vậy ảnh hưởng đến cả dòng tài chính phía sau Mức độ chia sẻ thông tin phụ thuộc đối tác được chọn lựa để chia sẻ, dạng thông tin và chất lượng của thông tin Thông tin chỉ mang lại giá trị nếu doanh nghiệp có những đối ứng phù hợp, có những thông tin sẽ gây bất lợi nếu đối thủ có được Nhà quản lý nên phân loại thông tin nào nên chia sẻ, thông tin nào cần bị giới hạn, kiểm duyệt hay bảo mật
Lý thuyết tổng hợp về các dòng chảy cơ bản của chuỗi cung ứng đầu ra này
là một trong những cơ sở lý thuyết để tác giả đề xuất một số giải pháp hoàn thiện chuỗi cung ứng đầu ra của công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai
Trang 33đoạn 2017 - 2022, cụ thể là xác định hai chiều và nội dung của hai chiều này trong từng dòng chảy khi xét chuỗi cung ứng đầu ra
1.1.5 Hệ thống đo lường hiệu suất hoạt động của chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng đầu ra nói riêng
Chuỗi cung ứng luôn biến đổi và không ngừng điều chỉnh theo những thay đổi trong cung cầu sản phẩm Nếu muốn chuỗi cung ứng đạt được hiệu quả như mong muốn thì doanh nghiệp phải theo dõi và kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh hằng ngày của mình Chuỗi cung ứng được tạo ra nhằm mục tiêu nâng đỡ thị trường,
do đó để nhận diện được hiệu suất hoạt động của chuỗi cung ứng thì doanh nghiệp cần đánh giá được thị trường mình đang hoạt động Mỗi loại thị trường đem lại các
cơ hội riêng cho những chuỗi cung ứng hỗ trợ thị trường đó Các công ty trong chuỗi cung ứng ở mỗi loại thị trường bắt buộc phải kết hợp các đặc điểm thị trường khác nhau Trong việc đo lường hiệu suất hoạt động của chuỗi cung ứng nói chung và chuỗi cung ứng đầu ra nói riêng, người ta sử dụng bốn nhóm thước đo: dịch vụ khách hàng, hiệu quả hoạt động nội bộ, khả năng phản ứng linh hoạt trước biến động cầu và phát triển sản phẩm
Dịch vụ khách hàng: đo lường những khả năng đáp ứng mong đợi từ khách
hàng của chuỗi cung ứng Tùy thuộc vào đặc điểm của thị trường tương ứng, khách hàng sẽ có những mong đợi khác nhau về dịch vụ khách hàng Hệ thống đo lường dịch vụ khách hàng gồm có:
Hệ thống đo lường cho trường hợp sản xuất theo lượng hàng tồn kho:
Tỷ lệ hoàn thành đơn hàng và tỷ lệ hoàn tất đơn hàng cho dòng sản phẩm
Trang 34 Hệ thống đo lường phổ biến trong trường hợp sản xuất theo đơn đặt hàng:
Thời gian đáp ứng yêu cầu khách hàng và tỉ lệ hoàn tất đúng hạn
Tỷ lệ giao hàng đúng giờ
Giá trị và số lượng của những đơn hàng bị trễ
Tần suất và thời gian đơn hàng bị trễ
Số lượng hàng bị trả lại để bảo hành và sửa chữa
Hiệu quả hoạt động nội bộ: liên quan đến khả năng của một công ty hay một
chuỗi cung ứng trong việc tạo ra một mức lợi nhuận thích hợp Giống như dịch vụ khách hàng, mức lợi nhuận thích hợp trong từng loại hình thị trường cũng khác nhau tùy theo sự biến đổi của điều kiện thị trường Hệ thống đo lường hiệu suất nội bộ phổ biến là:
Giá trị hàng tồn kho: thước đo này phải được đo lường tại một thời điểm cụ thể cũng như tính trung bình cho cả giai đoạn Tài sản cơ bản của chuỗi cung ứng là hàng tồn kho được duy trì trong suốt chu kỳ tham gia luôn tìm cách để giảm thiểu lượng hàng tồn kho trong Điều này đồng nghĩa với việc cố gắng cân đối lượng hàng tồn kho sẵn có (lượng cung) với lượng hàng bán được (lượng cầu) và không để xảy ra tình trạng ứ đọng hàng hóa trong kho Chỉ có một thời điểm duy nhất mà công
ty sẽ muốn để hàng lưu kho vượt mức bán ra chính là khi thị trường tăng trưởng, lúc này, giá trị hàng tồn sẽ gia tăng Tuy nhiên, thị trường luôn biến đổi và theo quy luật thông thường thì biện pháp tối ưu nhất là tránh tích trữ quá nhiều hàng hóa trong kho
Vòng quay hàng tồn kho: được tính bằng công thức sau:
Vòng quay hàng tồn kho = giá vốn hàng bán trung bình hàng năm/giá trị tồn kho trung bình hàng năm
Thông thường, tỉ lệ quay vòng tồn kho càng cao càng tốt mặc dù vậy, doanh nghiệp vẫn cần chuẩn bị sẵn một số mặt hàng có vòng quay chậm hơn để đáp ứng dịch vụ khách hàng cũng như sự co giãn linh hoạt của lượng cầu
Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu: được tính bằng công thức sau:
Tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu = lợi nhuận trước thuế và lãi suất/doanh thu
Trang 35Thông thường, tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu càng cao thì càng tốt Có những thời điểm mà công ty có thể cố ý giảm chỉ số này (bằng cách cắt giảm số đơn hàng)
để tranh giành hoặc củng cố thị phần hoặc khi cần vốn cho các mục tiêu kinh doanh khác
Vòng quay tiền mặt: thời gian này có thể ước tính theo công thức sau: Vòng quay tiền mặt = số ngày tồn kho + thời gian khách hàng nợ khi mua hàng
- thời gian thanh toán trung bình của đơn hàng
Vòng quay này càng ngắn càng tốt Một công ty thường có thể cải thiện tình trạng của khoản phải trả và khoản phải thu tốt hơn so với việc giảm lượng hàng tồn kho của mình
Khả năng phản ứng linh hoạt trước biến động cầu: đo lường khả năng ứng
phó với tình trạng bất ổn tùy theo các mức độ nhu cầu sản phẩm Nó cho thấy khối lượng gia tăng trong lượng cầu mà công ty hoặc chuỗi cung ứng đáp ứng được Nó còn bao gồm khả năng ứng phó với những biến động cuả các dòng sản phẩm tiềm năng – tính năng này thường xuất hiện trong những thị trường tăng trưởng Một số thang chuẩn được sử dụng trong hệ thống đo lường khả năng phản ứng linh hoạt trước biến động cầu là:
Thời gian của chu kỳ hoạt động: là khoảng thời gian cần để thực hiện một quy trình chuỗi cung ứng Thước đo này có thể được sử dụng trong phạm vi một công ty riêng lẻ hay xuyên suốt toàn bộ chuỗi cung ứng
Khả năng gia tăng linh hoạt: đây là khả năng mà một công ty hay một chuỗi cung ứng có thể phản ứng nhanh chóng trước khối lượng lớn đơn hàng tăng lên của những sản phẩm mà mình cung cấp
Tính linh hoạt bên ngoài: đây là khả năng cung ứng nhanh chóng những sản phẩm bổ trợ nằm ngoài nhóm sản phẩm thường được cung cấp cho khách hàng Khi thị trường bão hòa và công nghệ được kết hợp với nhau thì những sản phẩm từng
bị đặt ra ngoài phạm vi chào hàng của công ty có thể được bổ sung vào nhóm sản phẩm mà công ty đang chào bán Khi cố gắng cung cấp cho khách hàng một bộ sản phẩm mới, không liên quan, và gần như hoàn toàn khác biệt với nhóm sản phẩm hiện
Trang 36có thì rủi ro công ty phải gánh chịu là rất lớn Tuy nhiên, một khi tính linh hoạt bên ngoài được khai thác một cách hiệu quả thì đây lại là cơ hội để thu hút thêm khách hàng mới song song với việc bán nhiều hàng hóa hơn cho khách hàng hiện tại
Phát triển sản phẩm: đo lường khả năng phát triển và tạo ra những sản phẩm
mới theo kịp xu thế thị trường Các công ty hoạt động trong những thị trường tiềm năng cần thiết phải có khả năng này Hệ thống đo lường khả năng phát triển sản phẩm bao gồm:
Phần trăm tổng sản phẩm bán ra đã được giới thiệu trong năm vừa qua
Phần trăm tổng doanh số sản phẩm đã được giới thiệu trong năm vừa qua
Thời gian của chu kỳ phát triển và phân phối sản phẩm mới
1.2 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra một số quốc gia trên thế giới
Trong nội dung này, tác giả trình bày chuỗi cung ứng thuốc đầu ra các nước như Mỹ, Ấn Độ, Barzil và Trung Quốc nhằm củng cố cơ sở lý luận của đề tài Tác giả xin phép chỉ đề cập đến các đặc điểm nổi bật của mỗi chuỗi cung ứng, từ đó rút
ra các nội dung sẽ vận dụng trong việc xây dựng chuỗi cung ứng đầu ra của tác giả dành cho công ty TNHH Mebipha tại thị trường Việt Nam giai đoạn 2017 - 2022
1.2.1 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Mỹ
Chuỗi cung ứng thuốc là mạng lưới các phương tiện phục vụ cho việc cung ứng thuốc từ nhà sản xuất đến khách hàng Cấu trúc cơ bản của chuỗi cung ứng thuốc tại Mỹ bao gồm: nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ và khách hàng Số lượng, chủng loại từng sản phẩm cụ thể được dự trữ trong kho của nhà bán lẻ sẽ tùy thuộc vào việc đàm phán các điều khoản thanh toán và quá trình quản trị chất lượng thuốc của các nhà quản lý lợi ích thuốc (PBMs) Trên thực tế có rất nhiều biến thể dựa trên cấu trúc cơ bản này, nhưng nhìn chung các thành viên trong chuỗi đều phát triển một cách liên tục, các mối quan hệ thương mại có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện địa lý, loại thuốc cung cấp và các yếu tố khác trong chuỗi (The Health Strategies Consultancy LLC, 2005) Trong nghiên cứu này, The Health Strategies Consultancy LLC tập trung trình bày dòng vật chất và dòng tài chính trong cung ứng thuốc đầu ra tại Mỹ
Trang 37Giải thích hình 1.8
Dòng vật chất bắt đầu từ nhà sản xuất đi qua nhà phân phối (1a) tới nhà bán lẻ (2) rồi đến khách hàng (3)
Dòng thanh toán: nhà sản xuất nhận thanh toán từ nhà phân phối (1a')/ nhà bán
lẻ (1b')/ các nhà quản lý lợi ích thuốc (1c'), nhà phân phối nhận thanh toán từ nhà bán
lẻ (2'), nhà bán lẻ nhận thanh toán từ khách hàng (3')/ các nhà quản lý lợi ích thuốc (5b')
(1a) (2)
(3)
(1a'')
(1a') (2')
(1b') (1b'')
(1c'') (1c')
Hì nh 1.8 Chuỗi cung ứng thuốc đầu ra tại Mỹ
(Nguồn: The Health Strategies Consultancy LLC, 2005)
Trang 38Dòng chiết khấu: nhà phân phối nhận chiết khấu từ nhà sản xuất (1a''), nhà bán lẻ nhận chiết khấu từ nhà sản xuất (1b''), các nhà quản lý lợi ích thuốc nhận chiết khấu từ nhà sản xuất (1c'') và chiết khấu lại cho bảo hiểm y tế (5a'')
Các thành viên trong cung ứng thuốc đầu ra tại Mỹ gồm nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ, các nhà quản lý lợi ích thuốc với chi tiết như sau:
Nhà sản xuất
Dòng vật chất
Ngành công nghiệp sản xuất thuốc tại Mỹ gồm hai mô hình: nhà sản xuất thuốc
có thương hiệu và nhà sản xuất thuốc gốc (Generic Drug) Hầu hết các nhà sản xuất thuốc có thương hiệu dành một phần lợi nhuận cho việc nghiên cứu và phát triển các công thức thuốc mới Các nhà sản xuất thuốc gốc thường không phát triển thuốc điều trị mới mà họ chỉ sản xuất thuốc tương đương sinh học với biệt dược gốc khi quyền
sở hữu công nghiệp của biệt dược đã hết hạn, nhờ đó thường được bán với giá rẻ hơn thuốc có thương hiệu Có một số doanh nghiệp tham gia vào cả hai mô hình trên
Các nhà sản xuất trực tiếp quản lý việc bán sản phẩm tới các nhà phân phối, trong một số trường hợp là họ bán trực tiếp đến các nhà bán lẻ
Nhà sản xuất kích thích nhu cầu tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm thông qua các nghiên cứu lâm sàng để chứng minh giá trị của phương pháp điều trị bằng thuốc so với khi không điều trị, triển khai các chương trình quảng cáo và khuyến mãi Nhà sản xuất đảm bảo sự an toàn của chuỗi cung ứng thuốc bằng cách in đầy đủ thông tin trên nhãn cho bác sĩ và người tiêu dùng thấy sản phẩm phù hợp với các điều khoản và điều kiện của Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA), sử dụng công nghệ mã vạch để theo dõi quá trình phân phối các lô hàng xuất xưởng
Dòng tài chính
Nhà sản xuất có ảnh hưởng lớn nhất về giá bán trên thị trường Họ phát triển các thuật toán để dự đoán nhu cầu thị trường, sự cạnh tranh trong tương lai, chi phí chiêu thị dự kiến, thiết lập chi phí mua lại bán buôn (WAC) - mức giá cơ bản mà các nhà phân phối mua sản phẩm từ nhà sản xuất Quá trình đàm phán và thương lượng giá cả tùy thuộc vị thế nhà sản xuất cũng như nhà phân phối trên thị trường Sau khi
Trang 39có WAC, nhà sản xuất ấn định mức giá bán buôn trung bình (AWP) hoặc giá bán lẻ niêm yết Các nhà sản xuất thuốc gốc dễ đàm phán hơn so với các nhà sản xuất thuốc
có thương hiệu và do đó giá các loại thuốc thay đổi thường xuyên hơn để đáp ứng nhu cầu thị trường Các kiểu giảm giá và chiết khấu phổ biến nhất bao gồm: giảm giá dựa trên thị phần, chiết khấu trên số lượng hàng mua hoặc chiết khấu khi khách hàng thanh toán trong khoảng thời gian định mức
Nhà phân phối
Dòng vật chất
Nhà phân phối mua sản phẩm từ nhà sản xuất và bán chúng đến các nhà bán
lẻ Một số nhà phân phối bán sản phẩm cho tất cả các khách hàng tiềm năng trong khi một số khác lại chuyên phân phối một vài sản phẩm nhất định (chế phẩm sinh học, thuốc kháng sinh,…)
Trước đây, nhà phân phối chỉ thực hiện các dịch vụ phân phối truyền thống
Họ cung cấp các liên kết giữa nhà sản xuất và nhà bán lẻ Ngày nay, họ đã phát triển toàn diện hơn về các dịch vụ để đáp ứng nhu cầu thị trường (phân phối thuốc biệt dược, đóng gói lại, dịch vụ đặt hàng điện tử, hỗ trợ hoàn thuế và các chương trình mua lại) Chương trình mua lại nhằm mục đích giảm thiểu các rủi ro tài chính cho nhà bán lẻ bằng cách cho phép họ bán lại sản phẩm không tiêu thụ được trên thị trường hoặc sản phẩm có thời hạn sử dụng ngắn hạn cho nhà sản xuất với sự hỗ trợ của nhà phân phối Sự cạnh tranh gay gắt trong ngành đã buộc các nhà phân phối thay đổi kinh doanh theo hướng tạo ra hiệu quả vật lý trong hệ thống phân phối như "just-in-time", thực hiện chiết khấu cho đơn hàng thanh toán ngay, mở rộng phạm vi kinh doanh sang thuốc biệt dược,…
Dòng tài chính
Nhà phân phối thường mua thuốc có thương hiệu với một khoản chiết khấu trên WAC, sau đó bán lại cho nhà bán lẻ với mức giá bằng WAC cộng với một tỷ lệ phần trăm hoa hồng theo thỏa thuận giữa hai bên Đối với sản phẩm thuốc gốc, giá mua rất khác nhau phụ thuộc vào sự cạnh tranh trong ngành, thị phần hoặc mức doanh
Trang 40thu cam kết của nhà phân phối Giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng thường rất cao, mức giá này phụ thuộc vào sự đàm phán giữa nhà phân phối với nhà bán lẻ
Nhà bán lẻ
Dòng vật chất
Nhà bán lẻ trong mô hình trên bao gồm cửa hàng thuốc, chuỗi cửa hàng thuốc, cửa hàng thuốc tại siêu thị, các cơ sở y tế (trạm y tế cộng đồng, văn phòng bác sĩ, phòng thí nghiệm,…), bệnh viện và các cơ sở bán lẻ khác Nhà bán lẻ là thành viên cuối cùng trong chuỗi cung ứng trước khi thuốc đến tay người tiêu dùng Các nhà bán
lẻ đôi khi mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất, nhưng hầu hết đều mua thông qua nhà phân phối Sau khi mua sản phẩm, nhà bán lẻ chịu trách nhiệm lưu trữ, bảo quản thuốc đúng quy trình nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm, cung cấp thông tin cho bác
sĩ và người tiêu dùng về việc sử dụng an toàn và hiệu quả các loại thuốc theo toa, đặc biệt là thuốc biệt dược, thuốc đặc trị như thuốc tự tiêm, chế phẩm sinh học,….Các nhà bán lẻ là mối liên kết quan trọng giữa PBMs, nhà sản xuất và nhà phân phối Không giống như hầu hết các lĩnh vực khác của hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Mỹ, các chuỗi cung ứng thuốc được tự động hóa cao và hầu như tất cả các giao dịch được
xử lý bằng điện tử chứ không phải bằng văn bản giấy Ngày nay, các nhà bán lẻ sáp nhập lại với nhau nhằm tăng vị thế của mình trong các cuộc đàm phán giá cả với nhà sản xuất và nhà phân phối