Có hai dạng bị hạn chế như sau : Văn bản pháp luật chung quy định một loại người nào đó không được phép thực hiện các giao dịch dân sự cụ thể.. Điều kiện khách quan đó là những điều kiệ
Trang 1MỞ ĐẦU
Khi tham gia giao dịch dân sự cá nhân chịu sự điều chỉnh của pháp luật đối với hành vi của mình Cá nhân tham gia giao dịch dân sự cần phải có năng lực chủ thể để thực hiện các giao dịch đó Năng lực chủ thể bao gồm cả năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự Hiện nay Bộ luật dân sự 2015 đã có những điều chỉnh về năng lực chủ thể giúp cho các chủ thể có thể thực hiện giao dịch dân sự một cách thuận tiện hơn Bài tiểu luận sau của em phân tích về năng lực chủ thể của cá nhân và những giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện
về năng lực chủ thể Với kiến thức chưa cao bài làm sẽ còn nhiều thiếu sót, em mong các thầy cô sẽ sửa chữa để em hoàn thiện kiến thức hơn
Em xin chân thành cảm ơn !
1 Năng lực chủ thể của cá nhân.
1.1 Khái niệm năng lực chủ thể của cá nhân
Cá nhân là chủ thể đầu tiên và quan trọng của các quan hệ xã hội, song
để tham gia vào quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng phải có năng lực chủ thể
Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: năng lực chủ thể của cá nhân là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Tâm lý học chia năng lực chủ thể của cá nhân thành các dạng khác nhau như năng lực chung và năng lực chuyên môn
Dưới góc độ pháp lý: Hiện nay pháp luật không có định nghĩa cụ thể về năng lực chủ thể của cá nhân Năng lực chủ thể của cá nhân được xác định bởi hai yếu tố là Năng lực pháp luật dân sự và Năng lực hành vi dân
sự
1.2 Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân.
1.2.1 Khái niệm năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
Trang 2Để tham gia các quan hệ dân sự, cá nhân phải có năng lực chủ thể Trước hết cá nhân đó phải có năng lực pháp luật dân sự Khoản 1 Điều
16 Bộ luật dân sự năm 2015 : “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự”
Như vậy, theo quy định trên thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
là khả năng, là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ Năng lực pháp luật dân sự là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự
Ví dụ: Điều kiện để đứng tên thẻ tín dụng :
Chủ thẻ chính: phải đủ 18 tuổi trở lên có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật
Những người phạm tội - được coi là không có năng lực pháp luật để tham gia ký kết hợp đồng kinh tế
1.2.2 Đặc điểm của năng lực pháp luật dân sự
Thứ nhất, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được Nhà nước ghi
nhận trong các văn bản pháp luật mà nội dung của nó phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội; vào hình thái kinh tế - xã hội tại thời điểm lịch sử nhất định Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân được Nhà nước ghi nhận và quy định bởi vậy năng lực pháp luật dân sự của công dân mang bản chất giai cấp Do vậy, trong cùng một nước, cùng một hình thái kinh tế - xã hội, vào những thời điểm lịch sử khác nhau thì năng lực pháp luật dân sự của cá nhân cũng được quy định khác nhau
Thứ hai, mọi cá nhân đều bình đẳng về năng lực pháp luật theo Khoản
2 Điều 26 Bộ luật dân sự năm 2015 : “Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau” Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân
không bị hạn chế bởi bất cứ lí do nào Mọi cá nhân công dân đều có khả năng hưởng quyền như nhau và gánh chịu nghĩa vụ như nhau
Thứ ba, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân do Nhà nước quy định
cho tất cả cá nhân nhưng Nhà nước cũng không cho phép công dân tự hạn chế năng lực pháp luật của chính họ và của cá nhân khác Năng lực
Trang 3pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc nhân thân của chủ thể và không thể dịch chuyển cho chủ thể khác theo Điều 18 Bộ luật dân sự năm
2015 : “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế, trừ trường hợp do pháp luật quy định” Có hai dạng bị hạn chế như sau :
Văn bản pháp luật chung quy định một loại người nào đó không được phép thực hiện các giao dịch dân sự cụ thể
Ví dụ : Người nước ngoài không được phép mua bán nhà ở Việt
Nam
Quyết định đơn hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Ví dụ : Tòa án ra quyết định
Thứ tư, tính bảo đảm của năng lực pháp luật dân sự Khả năng có quyền
và nghĩa vụ vẫn chỉ tồn tại là những quyền khách quan mà pháp luật quy định cho các chủ thể Muốn khả năng này được cụ thể thành các quyền dân sự cần phải có những điều kiện khách quan cũng như chủ quan Điều kiện khách quan đó là những điều kiện kinh tế, xã hội, chính sách của Đảng và Nhà nước tạo mọi điều kiện để đảm bảo năng lực pháp luật dân
sự của công dân được thực hiện tạo ra hành lang pháp lí thông thoáng là tạo điều kiện cho khả năng biến năng lực pháp luật của cá nhân thành các quyền dân sự cụ thể
1.2.3 Nội dung năng lực pháp luật dân sự của cá nhân.
Pháp luật ghi nhận khả năng của cá nhân có quyền và nghĩa vụ dân sự Nội dung của năng lực pháp luật dân sự của cá nhân phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định Những quyền dân sự của cá nhân được ghi nhận ở rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng quan trọng nhất là Hiến pháp 2013 và được
cụ thể hóa trong Bộ luật dân sự năm 2015 Có thể chia quyền dân sự của
cá nhân thành ba nhóm chính:
Thứ nhất, quyền nhân thân không gắn với tài sản và quyền nhân thân
gắn với tài sản Đặc điểm quan trọng nhất trong các quy định về quyền nhân thân trong Bộ luật dân sự năm 2015 là xác nhận lại các quyền nhân
Trang 4thân đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật trước đó và các quyền nhân thân lần đầu tiên được ghi nhận Ngoài ra, bảo vệ, tôn trọng quyền nhân thân còn được ghi nhận là một nguyên tắc quan trọng của Bộ luật dân sự
Ví dụ: Quyền nhân thân gắn với tài sản: quyền tác giả đối với tác
phẩm, quyền nhân thân đối với các phát minh sáng chế,…
Quyền nhân thân không gắn với tài sản: quyền về họ tên, dân
tộc,
Thứ hai, quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản, quyền thừa
kế Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp 2013, Bộ luật dân sự năm
2015 quy định tài sản thuộc sở hữu tư nhân không bị hạn chế về số lượng
và giá trị, bao gồm thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, tư liệu sinh hoạt, vốn, hoa lợi, lợi tức và các tài sản mà pháp luật quy định không thuộc quyền sở hữu tư nhân Ngoài ra công dân có quyền hưởng di sản thừa kế, để lại di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật
Thứ ba, quyền tham gia vào quan hệ dân sự và có các quyền, nghĩa vụ
phát sinh từ các quan hệ đó Tham gia vào các quan hệ dân sự thông qua các giao dịch dân sự là biện pháp quan trọng và thông dụng nhất làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự Các quyền này được thể hiện trong các nguyên tắc của luật dân sự theo Điều 3 Bộ luật dân sự năm
2015 và được thể hiện cụ thể, chi tiết trong phần thứ ba của Bộ luật dân
sự Ngoài ra, nghĩa vụ dân sự của các chủ thể còn phát sinh từ các căn cứ khác
1.2.4 Bắt đầu và chấm dứt năng lực pháp luật dân sự của cá nhân.
Theo khoản 3 Điều 16 Bộ luật dân sự năm 2015: “Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết”.
Với quy định này, pháp luật thừa nhận rằng năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là thuộc tính gắn liền với cá nhân suốt đời và không bị ảnh
Trang 5hưởng bởi trạng thái tinh thần, tuổi tác, hoàn cảnh,… Trường hợp ngoại lệ
được pháp luật quy định là: “Người sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản thừa kế chết”
vẫn được hưởng di sản thừa kế của người chế để lại Như vậy thai nhi đã được bảo lưu quyền thừa kế nếu còn sống sau khi sinh ra
1.2.5 Tuyên bố mất tích, tuyên bố là đã chết.
Cái chết của cá nhân là sự kiện pháp lí làm chấm dứt tư cách chủ thể của
cá nhân nhưng cái chết đó được xác định một cách đích xác và theo quy định của pháp luật thì phải “khai tử” theo Điều 30 Bộ luật dân sự
Trong thực tế có những trường hợp vì các lí do khác nhau đã không thể xác định được cá nhân đó còn sống hay đã chết Trong trường hợp như vậy, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, những người có quyền, lợi ích liên quan, pháp luật quy định những điều kiện, trình tự để tạm dừng hoặc chấm dứt tư cách chủ thể của cá nhân dưới 2 hình thức: tuyên
bố mất tích và tuyên bố đã chết
Tuyên bố mất tích
Điều kiện:
Căn cứ vào Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 tòa án có thể tuyên bố một người mất tích khi có các điều kiện sau:
Biệt tích hai năm trở lên, không có một tin tức nào về người đó còn sống hay đã chết
Từ ngày biết được tin tức cuối cùng của người đó thì người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố người đó mất tích
Hậu quả của việc tuyên bố mất tích:
Việc tuyên bố một người mất tích kéo theo những hậu quả pháp lí nhất định:
Tạm thời đình chỉ tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích, tuy nhiên quyết định này không làm chấm dứt tư cách chủ thể của họ Tài sản của người bị tuyên bố mất tích được quản lí theo quy định của tòa án được quy định tại các điều 65, 66, 67, 69 Bộ luật dân sự năm 2015 về quản lí tài
Trang 6sản của người vắng mặt, của người bị tuyên bố là mất tích, quyền và nghĩa
vụ của người quản lí tài sản của người vắng mặt, người bị tuyên bố mất tích
Hủy bỏ việc quyết định tuyên bố mất tích:
Việc tuyên bố một người mất tích chỉ tạm dừng năng lực chủ thể của người đó Việc tạm dừng này có thể thay đổi theo một trong hai hướng: phục hồi năng lực chủ thể hoặc chấm dứt tư cách chủ thể Việc chấm dứt
tư cách chủ thể được diễn ra khi có tin tức rằng họ đã chết hoặc bị tuyên
bố là đã chết
Phục hồi tư cách chủ thể của người bị tuyên bố là mất tích xảy ra trong hai trường hợp: người bị tuyên bố là mất tích trở về hoặc có tin tức chứn
tỏ người đó còn sống Khi có một trong hai trường hợp đó thì theo yêu cầu của người đó hoặc người có quyền, lợi ích liên quan, tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố người đó mất tích Người bị tuyên bố mất tích trở về có quyền yêu cầu người quản lí tài sản trả lại tài sản cho mình Tuy nhiên, quyết định li hôn của vợ hoặc chồng người bị tuyên bố là mất tích vẫn có hiệu lực pháp luật
Tuyên bố là đã chết
Theo Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 tòa án có thể tuyên bố một người
đã chết trong 4 trường hợp sau:
Trường hợp 1: Sau ba năm kể từ ngày ra quyết định tuyên bố mất tích của tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức là người đó còn sống Trong trường hợp này việc tuyên bố môt người bị mất tích tạm dưng năng lực chủ thể của họ được diễn ra theo hướng chấm dứt tư cách chủ thể của người đó
Trường hợp 2: Biệt tích đã năm năm liên liền trở lên và không có tin tức
là còn sống hay đã chết
Trường hợp 3; Biệt tích trong chiến tranh sau năm năm kể từ ngày chiến tranh kết thúc mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống Tùy theo
Trang 7từng hoàn cảnh và các cuộc chiến tranh cụ thể mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định hoặc được xác định theo thông lệ quốc tế
Trường hợp 4: Bị tai nạn hoặc thảm họa, thiên tai mà sau 1 năm kể từ ngày chấm dứt các sự kiện đó mà không có tin tức là còn sống
Tùy từng trường hợp mà tòa án xác định ngày chết của người đó trong bản án hoặc quyết định của tòa án Nếu không xác định ngày người đã chết trong bản án hoặc quyết định của tòa án thì ngày chết là ngày bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật
1.3 Năng lực hành vi dân sự của cá nhân
1.3.1 Khái niệm năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Cùng với năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự là bộ phận cấu thành năng lực chủ thể của cá nhân Điều 19 Bộ luật dân sự năm 2015: “Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự” Nếu năng lực pháp luật dân sự là tiền đề, là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Ngoài ra năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự
Ví dụ: Người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi xác lập, thực hiện các
giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi
1.3.2 Mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân
Năng lực hành vi đầy đủ
Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân
sự đầy đủ trừ trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Pháp luật quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định độ tuổi tối đa của những người có năng lực pháp luật dân sự đầy
đủ Những người từ đủ 18 tuổi trở lên được suy đoán là có năng lực hành
vi dân sự đầy đủ Họ chỉ bị mất năng lực hành vi hoặc bị hạn chế năng lực
Trang 8hành vi khi có quyết định của tòa án về việc hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự
Năng lực hành vi một phần
Người có năng lực hành vi một phần là những người chỉ có thể xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm trong một giới hạn nhất định do pháp luật dân sự quy định theo Điều 21 Bộ luật dân sự năm 2015
Theo đó, cá nhân dưới 18 tuổi là những người có năng lực hành vi dân
sự một phần Họ có thể bằng hành vi của mình tạo ra quyền và phải chịu những nghĩa vụ khi tham gia các giao dịch để thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu hằng ngày phù hợp với lứa tuổi mà không cần sự đồng ý trực tiếp của người đại diện của họ
Ví dụ: trẻ em chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự
mua đồ ăn, đồ chơi,… mà không cần sự đồng ý của người đại diện của mình
Người đại diện của những cá nhân ở lứa tuổi này có thể yêu cầu tuyên
bố những giao dịch do người chưa thành niên thực hiện mà không có sự đồng ý của họ là vô hiệu và tòa án xem xét trong những trường hợp cụ thể chấp nhận yêu cầu đó theo quy định của pháp luật Nếu người đại diện không yêu cầu xem xét những giao dịch đó thì mặc nhiêm những giao dịch này được coi là có hiệu lực
Những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện cá giao dịch trong phạm vi tài sản riêng mà họ có và không cần
sự đồng ý của người đại diện Trong trường hợp pháp luật có quy định về
sự đồng ý của người đại diện thì áp dụng tương tự như trường hợp vị thành niên nói chung
Ví dụ: Những người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi có tài sản mà muốn
lập di chúc thì phải được cha mẹ hoặc người đại diện đồng ý theo Điều
625 BLDS 2015 : “Người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc”.
Mất năng lực hành vi dân sự và hạn chế năng lực hành vi dân sự
Trang 9Thông thường năng lực hành vi của cá nhân chấm dứt cùng với sự chấm dứt của năng lực pháp luật của cá nhân đó Tuy nhiên khi người thành niên có thể bị tuyên bố mất năng lực hành vi khi có những điều kiện, với những trình tự, thủ tục nhất định Nếu cá nhân bị bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ được hành vi cá nhân của mình thì bị coi là mất năng lực hành vi dân sự Trên cơ sở kết luận của tổ chức giám định có thẩm quyền, tòa án có thể tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan Mọi giao dịch dân sự của những người này do người đại diện của họ xác lập thực hiện Trong trường hợp vì những nguyên nhân mà do
đó, họ bị tuyên bố là mất năng lực hành vi nhưng nay không còn tồn tại nữa thì họ hoặc những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu tòa án hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi Tuy nhiên giải quyết việc này theo chính yêu cầu của người đó sẽ bị vướng mắc về tố tụng
Năng lực hành vi của người đã thành niên có thể bị hạn chế trên cơ sở những điều kiện và thủ tục được quy định tại Điều 2 Bộ luật dân sự năm
2015 Năng lực hành vi của người thành niên bị hạn chế khác với năng lực hành vi một phần của người chưa thành niên từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi Năng lực hành vi của người từ đủ 6 tuổi đến dưới 18 tuổi mặc nhiên được công nhận là năng lực hành vi đầy đủ khi đạt độ tuổi nhất định, còn việc hạn chế năng lực hành vi phải thông qua tòa án theo trình tự tố tụng dân
sự và được áp dụng với những người nghiện ma túy và các chất kích thích dẫn đến hậu quả phá sản tài sản của gia đình
Việc tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự dẫn đến những hậu quả pháp lí nhất định, tư cách chủ thể của những người này như những người có năng lực hành vi một phần
Ví dụ: E 20 tuổi nghiện ma túy Muốn có tiền mua thuốc nên E bán
chiếc xe máy của mình do bố mua cho Theo yêu cầu của bố mẹ E, tòa án
ra quyết định tuyên bố E bị hạn chế năng lực hành vi dân sự Do đó, theo
Trang 10quy định thì E không thể tự mình thực hiện các giao dịch dân sự mà phải thông qua sự đồng ý của bố mẹ, trừ những giao dịch phục vụ nhu cầu của bạn thân như ăn uống, học tập…
Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
Đây là chủ thể mới được ghi nhận với các đặc điểm được nêu trong Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2015
Với các chủ thể này, nếu sau này không còn các căn cứ được nêu ở Điều 23 Bộ luật dân sự năm 2015 và có kết luận giám định pháp lí tâm thần là họ có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi một cách bình thường thì tòa án sẽ ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố một người
có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi
2 Các trường hợp giao dịch vô hiệu do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể.
2.1 Giao dịch dân sự vô hiệu
Giao dịch dân sự là gì?
Theo Điều 116 Bộ luật dân sự năm 2015: “Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lí đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Giao dịch dân sự vô hiệu khi nào?
Giao dịch dân sự vô hiệu khi:
Chủ thể không có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;
Chủ thể tham gia giao dịch dân sự không hoàn toàn tự nguyện;
Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội
2.2 Các trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về năng lực chủ thể
2.2.1 Giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ