Tuy đã và đang đạt được nhiều thành công, nhưng trong quá trình xuất khẩu cá tra, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro tiềm ẩn đến từ tác động của nh
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
Nguyễn Thị Thúy Nga
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CÁ TRA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
- -
Nguyễn Thị Thúy Nga
QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CÁ TRA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng (Hướng Ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN KHẮC QUỐC BẢO
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ với đề tài “Quản trị rủi ro trong hoạt động xuất khẩu sản phẩm cá tra Việt Nam” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu được nêu trong luận văn là trung thực, mọi trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Tác giả Luận văn
Nguyễn Thị Thúy Nga
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1 Mục tiêu chung 2
2.2 Mục tiêu cụ thể 2
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp thực hiện nghiên cứu 3
5.1 Phương pháp nghiên cứu 3
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 3
6 Cấu trúc luận văn 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO 4
I TỔNG QUAN VỀ RỦI RO 4
1 Khái niệm 4
1.1 Rủi ro 4
Trang 51.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu 6
2 Đặc điểm của rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu 6
2.1 Rủi ro xảy ra với tần suất lớn hơn 6
2.2 Rủi ro xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn 7
2.3 Rủi ro ngày càng đa dạng và phức tạp hơn 7
3 Rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu 7
3.1 Rủi ro thiên nhiên 7
3.2 Rủi ro tỷ giá hối đoái 8
3.3 Rủi ro lãi suất 8
3.4 Rủi ro biến động giá cả 8
3.5 Rủi ro cạnh tranh 9
3.6 Rủi ro thanh toán 9
3.7 Rủi ro tuân thủ 11
II TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH XUẤT KHẨU 12
1 Khái niệm 12
2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 13
3 Chương trình quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 14
3.1 Nhận diện – Phân tích – Đo lường rủi ro 14
3.1.1 Nhận diện rủi ro 14
3.1.2 Phân tích rủi ro 17
3.1.3 Đo lường rủi ro 18
3.2 Kiểm soát rủi ro (Risk control) 20
3.2.1 Nhóm biện pháp né tránh rủi ro (Risk avoidance) 20
Trang 63.2.2 Nhóm biện pháp ngăn ngừa rủi ro (Risk prevention) 21
3.2.3 Nhóm biện pháp giảm thiểu rủi ro (Risk reduction) 21
3.2.4 Nhóm biện pháp đa dạng hóa rủi ro (Risk diversification) 21
3.3 Tài trợ rủi ro (Risk financing) 21
3.3.1 Chấp nhận rủi ro (Risk retention) và lập quỹ dự phòng để bù đắp tổn thất nếu rủi ro xảy ra 22
3.3.2 Chuyển giao hoặc chia sẻ rủi ro (Risk transfer or sharing) 22
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH XUẤT KHẨU SẢN PHẨM CÁ TRA VIỆT NAM 25
I TỔNG QUAN NGÀNH CÔNG NGHIỆP NUÔI TRỒNG VÀ CHẾ BIẾN CÁ TRA XUẤT KHẨU TẠI VIỆT NAM 25
1 Giới thiệu sơ lược về cá tra và cá tra thương phẩm 25
1.1 Cá tra (Pangasius Hypophthalmus) 25
1.2 Cá tra thương phẩm (Pangasius Hypophthalmus Sauvage) 26
1.3 Việt Nam có lợi thế cạnh tranh về nuôi cá tra xuất khẩu so với các nước trong khu vực và trên thế giới – Phân tích dựa trên mô hình kim cương của Micheal Porter (1990) 26
1.3.1 Điều kiện về yếu tố sản xuất 26
1.3.2 Các điều kiện cầu 27
1.3.3 Ngành công nghiệp phụ trợ và tổ chức có liên quan 27
1.3.4 Chiến lược công ty, cấu trúc và cạnh tranh nội địa 27
2 Vị thế ngành công nghiệp nuôi trồng - chế biến cá tra trong các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 28
Trang 7II ĐÁNH GIÁ TIỀM NĂNG CỦA NGÀNH NUÔI TRỒNG VÀ TÌNH HÌNH
XUẤT KHẨU CÁ TRA VIỆT NAM 29
1 Tiềm năng của ngành nuôi trồng cá tra Việt Nam 29
2 Diện tích nuôi trồng và sản lượng khai thác cá tra 29
3 Kim ngạch xuất khẩu cá tra 30
4 Giá cả xuất khẩu 31
5 Thị trường tiêu dùng 32
5.1 Thị trường nội địa 32
5.2 Thị trường xuất khẩu 33
5.2.1 Thị trường Mỹ 33
5.2.2 Thị trường Trung Quốc 34
5.2.3 Thị trường EU 34
5.2.4 Thị trường ASEAN 35
5.2.5 Các thị trường khác 35
6 Sản phẩm cá tra xuất khẩu 36
6.1 Các sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh 36
6.2 Các sản phẩm giá trị gia tăng 36
6.3 Các sản phẩm phụ phẩm 36
6.4 Các sản phẩm khác 37
7 Đối thủ cạnh tranh 37
7.1 Cạnh tranh trong ngành cá tra 37
7.2 Cạnh tranh với các sản phẩm thay thế 38
III THỰC TRẠNG RỦI RO VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XUẤT KHẨU CÁ TRA TẠI VIỆT NAM 38
Trang 81 Các rủi ro thường gặp trong quá trình xuất khẩu sản phẩm cá tra Việt Nam
38
1.1 Rủi ro thiên nhiên 38
1.2 Rủi ro tỷ giá hối đoái 38
1.3 Rủi ro lãi suất 40
1.4 Rủi ro biến động giá cả 41
1.5 Rủi ro cạnh tranh 43
1.6 Rủi ro trong quá trình thanh toán 43
1.7 Rủi ro pháp lý 45
2 Các biện pháp thường được sử dụng trong quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp 46
1.1 Nhận diện – Phân tích – Đo lường rủi ro 46
1.1.1 Nhận diện rủi ro 46
1.1.2 Phân tích - Đo lường rủi ro 47
1.2 Kiểm soát rủi ro 48
1.2.1 Về các biện pháp né tránh rủi ro 48
1.2.2 Về các biện pháp ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro 48
1.2.3 Về các biện pháp giảm thiểu tổn thất 48
1.3 Tài trợ rủi ro 48
1.3.1 Chấp nhận rủi ro và lập quỹ dự phòng để tài trợ khi rủi ro xảy ra 49
1.3.2 Chuyển giao hoặc chia sẻ rủi ro 49
3 Đánh giá công tác quản trị rủi ro của các doanh nghiệp 50
3.1 Những kết quả đạt được 51
3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 52
Trang 93.2.1 Hạn chế 52
3.2.2 Nguyên nhân 52
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 56
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CÁ TRA TRONG THỜI GIAN ĐẾN 57
I NHỮNG XU HƯỚNG MỚI TRONG HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TRÊN THẾ GIỚI VÀ ĐỊNH HƯỚNG CHO DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CÁ TRA VIỆT NAM 57
1 Những xu hướng mới trong hoạt động quản trị rủi ro trên thế giới 57
1.1 Về hoạt động nhận diện rủi ro 58
1.2 Về hoạt động đo lường rủi ro 59
1.3 Mô hình mới trong quản trị rủi ro 60
2 Định hướng hoạt động quản trị rủi ro cho các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam 61
II NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TẠI CÁC DOANH NGHIỆP XUẤT KHẨU CÁ TRA 62
1 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của các doanh nghiệp về tầm quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro 63
1.1 Tổ chức các diễn đàn, hội thảo về quản trị rủi ro giúp các doanh nghiệp nhận thức đúng và đầy đủ về hoạt động quản trị rủi ro 64
1.2 Nâng cao nhận thức của các thành viên trong doanh nghiệp về quản trị rủi ro 64
2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao năng lực phát hiện và đo lường rủi ro 64
2.1 Nắm bắt đầy đủ thông tin về môi trường hoạt động của doanh nghiệp 65
Trang 102.2 Thiết lập hệ thống thông tin giám sát rủi ro liên tục 66
2.3 Xây dựng các chương trình đánh giá, đo lường rủi ro 67
3 Nhóm giải pháp nhằm phát triển hoạt động quản trị rủi ro trong doanh nghiệp 68
3.1 Tổ chức bộ phận chịu trách nhiệm về đánh giá rủi ro 68
3.2 Xây dựng chương trình quản trị rủi ro 69
3.2.1 Đánh giá rủi ro 69
3.2.2 Lập kế hoạch đối phó rủi ro 69
3.2.3 Giám sát và kiểm soát rủi ro 70
3.3 Phân bổ nguồn lực tài chính một cách hợp lý cho hoạt động quản trị rủi ro 71
3.4 Tăng cường khả năng vận dụng các công cụ quản trị rủi ro 71
3.4.1 Hợp đồng bảo hiểm tín dụng xuất khẩu 71
3.4.2 Hợp đồng phái sinh 72
3.4.3 Xây dựng chiến lược kinh doanh hiệu quả 72
3.4.4 Dịch vụ tài trợ thương mại của ngân hàng, như L/C, đặc biệt là nghiệp vụ bao thanh toán 73
3.4.5 Lập dự phòng 74
4 Nhóm giải pháp khác 76
4.1 Phát triển sự hợp tác với các cơ quan, bộ, ngành 76
4.2 Tiến hành các liên kết và tham gia các hiệp hội 76
4.3 Đào tạo nguồn nhân lực thực hiện hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro 76
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 11DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
gia Hoa Kỳ
Sponsoring Organizations of the Treadway Commission
Commmunities
giữa Liên minh Châu Âu – Việt Nam
The EU – Vietnam Free Trade Agreement
nghiệp Liên Hiệp Quốc hay Tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc
Organization of the United Nations
công nhận quốc tế dành cho việc Thực hành sản xuất nông nghiệp tốt
Global Good Agricultural Practice
Kỳ
The Institute of Internal Auditors
Trang 129 IPPF Chuẩn mực kiểm toán nội bộ The International
Framework
for Standardization
Thủy sản Việt Nam
Trang 13DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Các thị trường xuất khẩu chính của cá tra Việt Nam năm 2017 và 2018……… 31 Bảng 3.1 Sự khác biệt giữa mô hình quản trị rủi ro truyền thống và mô hình quản trị rủi ro trên toàn bộ doanh nghiệp……… 60
Trang 14DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Cá tra (Pangasius Hypophthalmus)……… …25 Hình 2.2 Diện tích nuôi thương phẩm và sản lượng thu hoạch cá tra (2012 – 2018)………30 Hình 2.3 Kim ngạch xuất khẩu cá tra Việt Nam từ 2007 – 2018……… 31 Hình 2.4 Tương quan giá nguyên liệu, giá cá giống và giá xuất khẩu cá tra phi lê đông lạnh năm 2017 – 2018……… 32 Hình 2.5 Sản lượng cá tra tại một số quốc gia từ năm 2014 – 2018……….38 Hình 2.6 Diễn biến lãi suất từ năm 2009 đến Quý 1/2017……… 41 Hình 2.7 Diễn biến giá cá tra nguyên liệu size 700 – 900 gr/con tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long……… 42
Trang 15QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUÁ TRÌNH XUẤT KHẨU
SẢN PHẨM CÁ TRA VIỆT NAM
TÓM TẮT: Cá tra là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong thời gian qua Tuy nhiên, các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu cá tra vẫn còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình đưa sản phẩm này cạnh tranh trên thị trường quốc tế Để giải quyết vấn đề trên, bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê mô tả, so sánh và phân tích để tìm hiểu thực trạng rủi ro và hoạt động quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long Trên cơ sở đó, nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp cũng như kiến nghị nhằm tăng cường và hoàn thiện công tác quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp này trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
Từ khóa: Rủi ro, Quản trị rủi ro, Cá tra, Xuất khẩu, Doanh nghiệp, Việt Nam
Trang 16RISK MANAGEMENT IN THE PROCESS OF EXPORTING
PANGASIUS PRODUCTS IN VIETNAM
ABSTRACT: Pangasius is one of the key export products of Vietnam in recent years However, pangasius export enterprises still face numerous difficulties in the process of bringing this product to compete in the international market To solve this problem, this study has used descriptive, comparative and analytical methods to look at risk and risk management activities of pangasius export enterprises in the Mekong Delta On that basis, the study has proposed solutions as well as recommendations to enhance and improve risk management activities in these enterprises in the context of international economic integration
Keywords: Risk, Risk Management, Pangasius, Export, Enterprise, Vietnam
Trang 17PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cá“tra Việt Nam là loại cá da trơn vô cùng đặc biệt, bởi từ thịt đến mỡ cá đều mang lại hàm lượng dinh dưỡng cao, tốt cho sức khỏe, được nhiều người tiêu dùng trong và ngoài nước ưa dùng Nắm bắt được những ưu thế tối ưu của cá tra, và vai trò của ngành xuất khẩu cá tra trong tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản cả nước, nhiều doanh nghiệp trong nước đã mạnh dạn đầu tư và xuất khẩu sản phẩm cá tra ra thị trường nước ngoài như cá tra phi lê đông lạnh, cùng các sản phẩm giá trị gia tăng có giá trị.”
Thật vậy, sau 20 năm xuất khẩu, cá tra Việt Nam đã có những bước phát triển không ngừng và mang “tầm vóc” quốc tế Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản (VASEP) cho biết, bức tranh xuất khẩu cá tra Việt Nam trong 20 năm qua (1998 – 2018) có nhiều chuyển biến rất rõ nét, trong đó có sự gia tăng cả về khối lượng và giá trị xuất khẩu, sự
đa dạng sản phẩm và thị trường xuất khẩu Đặc biệt giới chuyên môn dự báo, năm 2019, xuất khẩu cá tra Việt Nam sẽ đạt khoảng 2,4 tỷ USD giá trị kim ngạch xuất khẩu, ghi nhận kỷ lục mới của ngành sản xuất chế biến xuất khẩu cá tra Việt Nam
Tuy đã và đang đạt được nhiều thành công, nhưng trong quá trình xuất khẩu cá tra, các doanh nghiệp Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức và rủi ro tiềm ẩn đến từ tác động của nhiều yếu tố trên nhiều phương diện, như sự biến động giá cá tra nguyên liệu, phương pháp, kĩ thuật nuôi thủ công, công nghệ thay đổi chậm, cũng như các tiêu chuẩn về mặt chất lượng và môi trường, như chất lượng nguồn nước, chất lượng con giống, dư lượng kháng sinh, dịch bệnh, … chưa đồng bộ, ảnh hưởng đến chất lượng cá tra xuất khẩu trên thị trường thế giới Hơn nữa, áp lực từ thuế chống bán phá giá cao, rào cản kỹ thuật gia tăng của cá nước nhập khẩu như Mỹ, Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU), … và sự cạnh tranh không lành mạnh ở các thị trường như Tây Ban Nha, Romania,
… đã làm cho hình ảnh và chất lượng cá tra trên thị trường quốc tế bị ảnh hưởng tiêu cực
Trang 18Với đề tài “Quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu sản phẩm cá tra Việt Nam”, tác giả mong muốn được nghiên cứu chuyên sâu dựa trên các căn cứ khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp nhằm góp phần tháo gỡ các vấn đề nêu trên
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đề xuất các giải pháp tăng cường quản trị rủi ro, giảm thiểu tác động tiêu cực, từng bước nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung, các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể là:
- Thứ nhất, hệ thống lại những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro và quản trị rủi ro trong doanh nghiệp, nhận diện những rủi ro thường gặp trong quá trình kinh doanh xuất khẩu cũng như những bài học kinh nghiệm xuất khẩu thủy sản
- Thứ hai, phân tích thực trạng quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu cá tra, thu thập dữ liệu để nhận diện rủi ro và xác định các nguyên nhân gây ra rủi ro đó để có biện pháp khắc phục
- Thứ ba, đề xuất các giải pháp cụ thể, nhằm tăng cường và hoàn thiện hiệu quả của công tác quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu cá tra Việt Nam trước những thời
cơ và thách thức
3 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro và quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu sản phẩm
cá tra Việt Nam
- Khách thể nghiên cứu: Các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam
- Đối tượng khảo sát: Các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Trang 19- Không gian nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu về quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu cá tra Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu tại các tỉnh có diện tích nuôi trồng
cá tra lớn như Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Bến Tre, theo công bố của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)
- Thời gian thực hiện nghiên cứu: Trong vòng 10 năm từ 2008 – 2018
5 Phương pháp thực hiện nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu
Để phân tích dữ liệu, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phản ánh những đặc tính của hiện tượng nghiên cứu thông qua các chỉ tiêu số tương đối, số tuyệt đối, và số bình quân Bên cạnh đó, phương pháp so sánh cũng được sử dụng để thấy sự thay đổi của số liệu qua các năm, là cơ sở để đánh giá bản chất hiện tượng
5.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Nghiên cứu chủ yếu sử dụng số liệu thứ cấp, được thu thập từ báo cáo kết quả của Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) và Trung tâm Thương mại Quốc
tế (ITC) từ năm 2008 đến 2018 Ngoài ra, tác giả còn tham khảo thêm các bài báo, tạp chí về tình hình xuất khẩu cá tra Việt Nam, cũng như báo cáo thường niên được công
bố trên website nội bộ của 05 doanh nghiệp xuất khẩu cá tra lớn nhất Việt Nam (2010 – 2018) theo báo cáo của VASEP
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về rủi ro và quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng rủi ro và hoạt động quản trị rủi ro trong quá trình xuất khẩu sản phẩm cá tra Việt Nam
- Chương 3: Các giải pháp tăng cường hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam trong thời gian đến
Trang 20CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ RỦI RO VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO
Trường phái truyền thống nhìn nhận rủi ro là những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm hoặc các yếu tố liên quan đến nguy hiểm, khó khăn hoặc điều không chắc chắn có thể xảy ra cho con người Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc ngoài ý muốn xảy ra trong quá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp Những định nghĩa về rủi ro trong trường phái truyền thống được đề cập đến như:
Rủi ro là những điều không chắc chắn dẫn đến sự biến đổi bất lợi về lợi nhuận, hay dẫn đến thua lỗ (Besis, 2002)
Rủi ro là những biến cố xuất hiện một cách ngẫu nhiên gây ra những thiệt hại cho các chủ thể liên quan (Taleb, 2007)
Rủi ro được định nghĩa trong tài liệu thương mại và kinh doanh là một sự kiện không chắc chắn, có thể tác động tiêu cực đến việc đạt được các mục tiêu mà doanh nghiệp đề
ra (Ojasalo, 2009)
Trường phái trung hòa cho rằng rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro vừa mang tính tích cực, vừa mang tính tiêu cực Rủi ro có thể mang tới những tổn thất, mất mát, nguy hiểm cho con người, nhưng cũng có thể mang đến những cơ hội Nếu tích cực nghiên cứu rủi ro, người ta có thể tìm ra những biện pháp phòng ngừa, hạn chế
Trang 21những rủi ro tiêu cực, đón nhận những cơ hội mang lại kết quả tốt đẹp cho tương lai
Có thể kể đến các định nghĩa về rủi ro như sau:
Theo (Knight, 1922), rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được
Theo (Willet, 1952), rủi ro là sự bất trắc, liên quan đến xác suất, cụ thể liên quan đến việc xuất hiện một biến cố không mong đợi
Theo (Pfeffer, 1956), rủi ro được hiểu là tổng hợp những sự ngẫu nhiên có thể đo lường được bằng xác suất
Theo (Chance and Brooks, 2010), rủi ro là một thuật ngữ tài chính dùng để đo lường tính biến động hoặc sự không chắc chắn của một giao dịch hoặc một danh mục
Ngoài ra, rủi ro cũng là vấn đề thường xuyên được quan tâm bởi các tổ chức, hiệp hội hành nghề Do đó, trong các văn bản, tiêu chuẩn được ban hành, rủi ro luôn luôn được
đề cập và định nghĩa một cách rõ ràng để phù hợp với từng ngành nghề và lĩnh vực cụ thể
Theo Chuẩn mực kiểm toán nội bộ (IPPF), 2017 của Hiệp hội Kiểm toán nội bộ Hoa
Kỳ (IIA), rủi ro là khả năng của một sự kiện xảy ra sẽ có tác động vào việc hoàn thành các mục tiêu
Theo tiêu chuẩn ISO 9001:2015 về hệ thống quản lý chất lượng – các yêu cầu do Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế ban hành, rủi ro là ảnh hưởng của sự không chắc chắn và cũng như bất kỳ sự bất định nào cũng có thể có những tác động tích cực hay tiêu cực Theo quan điểm của COSO- ERM 2018, rủi ro được định nghĩa trong hệ thống kiểm soát nội bộ là khả năng mà các sự kiện khi xảy ra sẽ ảnh hưởng đến việc đạt được các mục tiêu và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
Phân tích các nghiên cứu trên có thể thấy, dù ít nhiều khác nhau về định nghĩa rủi ro, song đều đề cập đến cùng ba vấn đề:
Một là, tính ngẫu nhiên của biến cố rủi ro
Trang 22Hai là, khả năng có thể đo lường được sự xuất hiện của biến cố rủi ro, làm ảnh hưởng đến mục tiêu của chủ thể một cách tích cực (cơ hội) hoặc tiêu cực (tổn thất) Đây chính
là tính hai mặt của rủi ro
Ba là, chỉ khi có mục tiêu thì mới có rủi ro, bất kỳ sự thay đổi nào của mục tiêu cũng
sẽ làm thay đổi rủi ro của chủ thể
Như vậy, có thể kết luận: “Rủi ro là khả năng xuất hiện biến cố ngẫu nhiên (có thể
đo lường được), làm kết quả thực tế sai khác so với kế hoạch.” Khi có rủi ro, người
ta không thể dự đoán chính xác kết quả Sự hiện diện của rủi ro gây nên sự bất định, và nguy cơ rủi ro xuất hiện bất cứ khi nào cũng có thể dẫn đến khả năng được và mất không thể đoán trước
1.2 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu
Hoạt động kinh doanh xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương, diễn
ra trên mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, trong mọi điều kiện của nền kinh tế Đây là hoạt động hàm chứa nhiều rủi ro và bất ổn, bởi sự cách biệt về khoảng cách địa lý, sự bất đồng trong ngôn ngữ, văn hóa, phong tục tập quán, cũng như môi trường chính trị - luật pháp giữa các quốc gia, có thể gây nên những xáo trộn bất ngờ và dẫn đến hiệu quả của doanh nghiệp bị giảm sút một cách nhanh chóng Do đó, rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu thông thường đa dạng và phức tạp hơn hoạt động kinh doanh nội địa
Vì vậy, có thể đi đến khái niệm về rủi ro xuất khẩu như sau: “Rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu là những bất trắc có thể xảy ra ngoài ý muốn trong quá trình kinh doanh xuất khẩu, gây thiệt hại cho doanh nghiệp xuất khẩu, nhưng cũng có thể đem lại lợi ích, cơ hội sinh lời nếu doanh nghiệp có chương trình quản trị rủi ro hiệu quả.”
2 Đặc điểm của rủi ro trong kinh doanh xuất khẩu
2.1 Rủi ro xảy ra với tần suất lớn hơn
Với môi trường kinh doanh ngày càng biến động, chủ doanh nghiệp luôn phải đối mặt với nhiều rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng ngoại thương Các nguyên nhân chủ quan và khách quan ở cả trong nước và nước ngoài đã làm cho rủi ro xảy ra thường
Trang 23xuyên hơn, với tần suất lớn hơn so với kinh doanh trong nước, bởi sự khác biệt về khoảng cách địa lý, văn hóa, chính trị, kinh tế, và hệ thống pháp lý, …
2.2 Rủi ro xảy ra với mức độ nghiêm trọng hơn
Rủi ro thường gây hiệu quả nghiêm trọng hơn cho nhà kinh doanh xuất khẩu vì hai lý
do chính là giá trị của thương vụ xuất khẩu thường lớn hơn so với các thương vụ kinh doanh trong nước, và quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu thường liên quan tới nhiều bên hơn, nên khi xảy ra rủi ro có thể tất cả các bên cùng phải gánh chịu Tóm lại, mức
độ nghiêm trọng hơn được thể hiện ở phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, tổn thất rộng lớn hơn
2.3 Rủi ro ngày càng đa dạng và phức tạp hơn
Vốn dĩ hoạt động kinh doanh quốc tế luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro có tính chất phức tạp hơn so với hoạt động kinh doanh trong nước Bởi đặc trưng của hợp đồng mua bán ngoại thương là có yếu tố nước ngoài, thể hiện ở chủ thể của hợp đồng là các bên có quốc tịch khác nhau hoặc có trụ ở ở các nước khác nhau, hàng hóa là đối tượng của hợp đồng, thường được di chuyển qua biên giới quốc gia, hoặc từ khu vực pháp lý này sang khu vực pháp lý khác, đồng tiền tính giá, đồng tiền thanh toán là ngoại tệ với một trong các bên, luật điều chỉnh hợp đồng hoặc cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng có yếu tố nước ngoài Vì vậy rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu đa dạng và phức tạp hơn
3 Rủi ro cơ bản trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu
3.1 Rủi ro thiên nhiên
Rủi ro thiên nhiên là thiệt hại có thể gây ra về người, tài sản, môi trường sống, các hoạt động kinh tế, xã hội trong một khoảng thời gian xác định Đó là những rủi ro do các thảm họa tự nhiên như lũ lụt, hạn hán, động đất, sóng thần, cháy rừng, tình trạng thời tiết khắc nghiệt (El Nino, La Nina), dịch bệnh, ô nhiễm môi trường, … Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp mà hàng hóa xuất khẩu mang tính thời vụ, thì khi xảy ra những
sự cố thiên tai, không những làm cho cá nhân doanh nghiệp bị tổn thất nặng nề về giá
Trang 24trị sử dụng và giá trị thương mại của hàng hóa, mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của một nền kinh tế
Mặc dù xã hội loài người đã có những bước phát triển vượt bậc, con người đã có những
cố gắng rất lớn nhằm giảm bớt những nguy cơ đe dọa từ môi trường tự nhiên, nhưng thực tế cho thấy các hiện tượng thiên tai vẫn nằm ngoài tầm kiểm soát của con người Rủi ro thiên nhiên vẫn thường xuyên rình rập cuộc sống của con người
3.2 Rủi ro tỷ giá hối đoái
Rủi ro tỷ giá hối đoái là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá hối đoái, làm ảnh hưởng tới doanh thu, hoặc chi phí của doanh nghiệp, qua đó tác động tới tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của doanh nghiệp Đối với doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh xuất khẩu, rủi ro về tỷ giá hối đoái xảy ra khi tỷ giá hối đoái vào thời điểm thanh toán tăng hoặc giảm so với tỷ giá hối đoái lúc ký kết hợp đồng ngoại thương Đặc biệt, hiện nay
xu hướng biến động liên tục và bất thường của các đồng tiền sử dụng chủ yếu trong kinh doanh quốc tế như USD, JPY, EUR ngày càng phổ biến và không có dấu hiệu suy giảm
3.3 Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh do sự biến động của lãi suất gây ra Rủi ro này xảy đến khi lãi suất trên thị trường có sự biến động, đặt trong bối cảnh doanh nghiệp có huy động vốn từ hoạt động vay nợ, làm chi phí lãi vay biến động lớn hơn dự kiến, ảnh hưởng tới tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của doanh nghiệp Tùy thuộc vào lượng tiền vay của doanh nghiệp và sự biến động của lãi suất mà mức độ tiêu cực của rủi ro lãi suất cũng sẽ khác nhau Hơn nữa, biến động lãi suất gây khó khăn cho việc huy động vốn, ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có nguồn vốn vay chủ yếu từ ngân hàng
3.4 Rủi ro biến động giá cả
Biến động giá cả hàng hóa cũng là một rủi ro mà các doanh nghiệp phải quan tâm đến Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, biến động giá cả hàng hóa xảy ra khi giá bán sản
Trang 25phẩm xuống thấp hoặc giá nguyên liệu đầu vào tăng, sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu bán hàng hoặc chi phí sản xuất của doanh nghiệp Mặt khác, các hợp đồng xuất khẩu thường được các doanh nghiệp kí trước khi tiến hành mua hàng để xuất khẩu, do
đó khi giá cả biến động, nguyên vật liệu đầu vào tăng, nhưng giá bán sản phẩm đã cố định từ trước, thì nguy cơ thua lỗ là rất lớn Ngày nay, biến động giá cả hàng hóa ngày càng trở nên khó dự đoán, mà nguyên nhân cũng ngày càng khó xác định không chỉ ở bản thân hàng hóa, mà còn từ sự ảnh hưởng qua lại của các hàng hóa khác
3.5 Rủi ro cạnh tranh
Rủi ro cạnh tranh có thể xuất hiện do sự thay đổi nhu cầu của người tiêu dùng, hay sự gia tăng số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp sản xuất trong cùng một ngành, sẽ tạo áp lực cạnh tranh trong nội bộ ngành Đặc biệt, đối với các doanh nghiệp xuất khẩu luôn phải cạnh tranh gay gắt với các nước khác về năng suất, chất lượng, mẫu
mã và giá thành Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành càng cao, thì khả năng để một doanh nghiệp bị thôn tính trên thị trường cũng tăng rất cao Rủi ro cạnh tranh có thể xảy ra khi doanh nghiệp gặp bất lợi trong điều kiện:
- Thiếu thông tin về sản phẩm và công nghệ của đối thủ cạnh tranh
- Doanh nghiệp không đưa ra được chiến lược nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường
- Doanh nghiệp không lường trước được sự cạnh tranh không lành mạnh từ phía đối thủ, hay của hàng giả, hàng nhái, …
Có thể nói rủi ro cạnh tranh có khả năng xảy ra rất cao đối với các doanh nghiệp khi tham gia vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
3.6 Rủi ro thanh toán
Thanh toán quốc tế là một khâu rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh xuất khẩu Những rủi ro mà các doanh nghiệp có thể gặp phải là khả năng không thu được hoặc không thu đủ, đúng hạn tiền hàng Rủi ro thanh toán thường nảy sinh từ việc áp dụng các phương thức thanh toán quốc tế
Trang 26Các phương thức thanh toán quốc tế cơ bản là:
- Phương thức chuyển tiền (Remittance)
- Phương thức ứng trước (Advanced payment)
- Phương thức ghi sổ (Open account)
- Phương thức nhờ thu (Collections)
o Phương thức nhờ thu trơn (Clean Collection)
o Phương thức nhờ thu kèm chứng từ (Documentary Collections)
- Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)
Trên thực tế cho thấy, ngay cả với phương thức thanh toán được xem là an toàn hơn cả,
và được sử dụng phổ biến nhất trong hợp đồng ngoại thương là phương thức thanh toán tín dụng chứng từ, thì cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho cả hai bên do tính chất phức tạp của nó Có thể kể đến rủi ro do:
- Bộ chứng từ thanh toán không phù hợp quy định của L/C: Những sai sót có thể
là không thống nhất khi thể hiện đơn vị đo lường trên các chứng từ khác nhau, ghi sai hoặc không rõ đơn vị tiền tệ, thể hiện không thống nhất về giá trị lô hàng, ghi không đầy đủ, thiếu thống nhất tên và địa chỉ các bên trên chứng từ, chứng từ không đầy đủ như quy định của L/C, chứng từ được cấp không đúng thẩm quyền theo yêu cầu L/C, … Nói chung, mọi sai sót dù là nhỏ giữa chứng từ và yêu cầu của L/C đều
có thể bị từ chối thanh toán
- Rủi ro từ ngân hàng mở L/C: Trong thanh toán bằng L/C, ngân hàng mở L/C cam kết sẽ trả tiền cho người bán khi người bán thực hiện đầy đủ những nội dung được nêu ra trong thư tín dụng Hay nói cách khác, thanh toán bằng L/C là phương thức thanh toán dựa vào chứng từ, chứ không dựa vào thực tế hàng hóa và khi xuất trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu thì ngân hàng mở L/C buộc phải thanh toán Vì thế, việc thanh toán tiền hàng phần nhiều phụ thuộc vào ngân hàng mở L/C Tuy nhiên, trong thực tế có thể gặp phải trường hợp ngân hàng mở L/C mất khả năng tài chính,
Trang 27hoặc không trung thực hoặc cố ý chây lỳ, lừa đảo trong thanh toán Với những trường hợp này, khả năng lấy được tiền hàng của doanh nghiệp xuất khẩu dường như bằng
o Rủi ro do ngân hàng mất khả năng thanh toán thường xảy ra khi L/C được mở
ở những ngân hàng nhỏ, với chi phí hoặc tỷ lệ ký quỹ thấp Tất nhiên, cũng không loại trừ trường hợp khủng hoảng tài chính dẫn đến hàng loạt ngân hàng mất khả năng tài chính cho dù đó là ngân hàng lớn
o Rủi ro do đạo đức của ngân hàng mở L/C thường xảy ra khi xuất khẩu hàng hóa vào những khu vực thị trường, mà các quan hệ thanh toán liên ngân hàng giữa các ngân hàng bên xuất khẩu và ngân hàng bên nhập khẩu chưa được xác lập chắc chắn, hoặc xuất khẩu vào những khu vực thị trường có những biến động mạnh về tình hình chính trị, hoặc thanh toán với những ngân hàng nhỏ ở những khu vực thị trường mới, kinh doanh không nghiêm túc Với những trường hợp này, các ngân hàng sẵn sàng từ chối thanh toán cho dù doanh nghiệp xuất khẩu thực tế không vi phạm quy định trong L/C
Với những phương thức thanh toán đơn giản thì rủi ro lại phụ thuộc rất nhiều về thiện chí, về khả năng tài chính của bên thanh toán
3.7 Rủi ro tuân thủ
Việc tác động của nhà nước lên một số ngành xuất khẩu, đặc biệt bằng các hình thức như hàng rào thuế và phi thuế quan, chính sách thắt chặt tiền tệ, pháp luật hoặc bằng một số cơ chế điều hành thông qua bộ, ban, ngành, hiệp hội đã ảnh hưởng tới vốn trong kinh doanh của các nhà sản xuất, nông dân
Việc đưa ra các chính sách bảo hộ về giá, về sản lượng xuất khẩu, về quy chuẩn trong chất lượng hàng hóa của các quốc gia nhập khẩu, cũng sẽ gây ra rủi ro đối với hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu Đặc biệt, sự thay đổi chính sách ngoại thương của nhà nước trong từng thời kì khác nhau cũng là một đe dọa lớn cho các doanh nghiệp xuất khẩu
Trang 28II TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH XUẤT KHẨU
Nghiên cứu của (Merna and Al-Thani, 2008) chỉ ra rằng quản trị rủi ro là một quy trình cho phép xác định, dự đoán mức độ tác động của rủi ro, cũng như đánh giá, hoạch định
và quản lý các loại rủi ro này Do đó, quản trị rủi ro hướng tới ba mục tiêu là xác định được rủi ro, thực hiện phân tích khách quan về các loại rủi ro đặc thù đối với tổ chức, và ứng phó với những rủi ro đó theo một phương thức hữu hiệu và phù hợp
Một cách nhìn khác về quản trị rủi ro cũng khá mới mẻ được đưa ra bởi (Lam, 2014) Ông cho rằng quản trị rủi ro không chỉ là sử dụng các công cụ phái sinh để đối phó với
sự bất ổn của lãi suất và tỷ giá hối đoái – bằng cách sử dụng phương pháp quản lý danh mục đầu tư để kiểm soát toàn bộ rủi ro mà một doanh nghiệp gặp phải, mà quản trị rủi ro còn là việc thiết lập các hệ thống hay quy trình kiểm soát phù hợp cho doanh nghiệp Bên cạnh đó, ông nhấn mạnh lợi ích mà quản trị rủi ro đem lại chính cơ hội để gia tăng giá trị cho doanh nghiệp
Ngoài ra, theo thống kê từ nghiên cứu của (Shortreed, Hicks and Craig, 2003) cho thấy trên thế giới, có hơn 80 chuẩn mực và hướng dẫn về quản trị rủi ro trong doanh nghiệp được áp dụng phổ biến và rộng rãi cho nhiều tổ chức, ngành nghề, quốc gia trên thế giới Theo COSO - ERM 2018, quản trị rủi ro doanh nghiệp là một quy trình, chịu sự chi phối của Ban Giám đốc, cấp quản lý và các cá nhân khác của doanh nghiệp, được sử dụng trong việc thiết lập chiến lược và áp dụng trong toàn doanh nghiệp Quản trị rủi ro doanh nghiệp được thiết kế nhằm nhận diện những sự kiện có khả năng ảnh hưởng tới doanh
Trang 29nghiệp và quản lý rủi ro trong khả năng chấp nhận rủi ro của doanh nghiệp, nhằm đưa ra những đảm bảo hợp lý để đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp
Theo ISO 31000:2009, quản trị rủi ro là các hoạt động điều phối để định hướng và kiểm soát một tổ chức về mặt rủi ro
Tiêu chuẩn quản trị rủi ro áp dụng tại Australia và New Zealand AS/NZS ISO 31000:2009 và Tiêu chuẩn quản trị rủi ro của Anh BS 31100:2008 cũng có nội dung và định nghĩa về quản trị rủi ro tương tự như ISO 31000:2009, nhưng được điều chỉnh để phù hợp với các đặc điểm của Australia và New Zealand, và Anh
Từ các quan điểm trên, có thể kết luận: “Quản trị rủi ro là thiết lập quy trình đối phó với rủi ro một cách khoa học, toàn diện, có hệ thống thông qua hoạt động nhận diện
và đánh giá rủi ro, xây dựng và thực thi các kế hoạch phòng ngừa, ngăn chặn và kiểm soát để giảm thiểu những tổn thất cho doanh nghiệp một khi rủi ro xảy ra, cũng như
dự phòng về tài chính để bù đắp cho các tổn thất đó.”
2 Sự cần thiết phải quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Thứ nhất, hoạt động quản trị rủi ro sẽ giúp cho doanh nghiệp thoát khỏi nguy cơ phá sản Nói một cách khác, hoạt động quản trị rủi ro có nhiệm vụ giúp cho doanh nghiệp có thể theo đuổi các mục tiêu (như tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa giá trị của doanh nghiệp, ) mà không bị phá sản bằng những rủi ro phát sinh trong quá trình theo đuổi các mục tiêu đó
Thứ hai, hoạt động quản trị rủi ro có đóng góp trực tiếp vào lợi nhuận của doanh nghiệp, nhờ vào hoạt động kiểm soát chi phí liên quan đến rủi ro của doanh nghiệp Khi hoạt động quản trị rủi ro góp phần làm giảm chi phí, thì sẽ góp phần làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp Có nhiều cách để hoạt động quản trị rủi ro có thể giảm chi phí cho doanh nghiệp, chẳng hạn các hoạt động nhằm ngăn ngừa rủi ro xảy ra, hay bằng việc xác định chính xác những rủi ro nào cần bảo hiểm, rủi ro nào không cần, những rủi ro nào chỉ cần di chuyển một phần, những rủi ro nào cần di chuyển toàn bộ mà doanh nghiệp
có thể giảm chi phí mua bảo hiểm, mà vẫn đảm bảo ngăn ngừa được rủi ro hiệu quả Nói
Trang 30một cách khác, hoạt động quản trị rủi ro góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp
Thứ ba, hoạt động quản trị rủi ro còn giúp doanh nghiệp tránh được những giảm sút
về thu nhập hoặc thiệt hại về tài sản Bằng việc phát hiện rủi ro trong các dự án kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động quản trị rủi ro có khả năng ngăn chặn kịp thời các tổn thất, qua đó tránh được hoặc giảm thiểu những thiệt hại về thu nhập hoặc tài sản cho doanh nghiệp
Thứ tư, do hoạt động quản trị rủi ro giúp giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp, nên nó
có thể giúp cho doanh nghiệp tham gia vào những dự án có khả năng sinh lời cao Cần lưu ý rằng, không có quá trình quản trị rủi ro nào có thể tạo ra một môi trường hoàn toàn không còn rủi ro Điều quan trọng là quản trị rủi ro giúp quá trình điều hành, quản
lý hiệu quả hơn trong môi trường rủi ro Do đó, lợi ích của quản trị rủi ro trong kinh doanh là tăng hiệu quả kinh doanh, tăng hiệu lực tổ chức, và báo cáo về rủi ro tốt hơn
3 Chương trình quản trị rủi ro trong doanh nghiệp
Một chương trình quản trị rủi ro có hiệu quả, không nhất thiết phải cố gắng loại trừ tất cả các rủi ro, mà chương trình này cần phải cố gắng chuyển những rủi ro không thể chấp nhận thành một hình thức có thể chấp nhận được Thách thức chính cho nhà quản trị rủi
ro doanh nghiệp là phải xác định được những rủi ro mà doanh nghiệp sẵn sàng gánh chịu,
và những rủi ro cần được chuyển đổi thông qua nghiệp vụ quản trị rủi ro
Như vậy, theo khái niệm đã được tác giả đề cập thì nội dung chính của chương trình quản trị rủi ro bao gồm:
- Nhận diện, phân tích và đo lường rủi ro
- Kiểm soát rủi ro
- Tài trợ rủi ro khi nó xuất hiện
3.1 Nhận diện – Phân tích – Đo lường rủi ro
Trang 31Nhận diện rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các rủi ro nảy sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Hoạt động nhận diện rủi ro nhằm thu thập các thông tin về các đối tượng có thể gặp rủi ro (con người, tài sản, trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp), các nguồn phát sinh rủi ro, các yếu tố mạo hiểm, hiểm họa, các loại tổn thất mà rủi ro có thể gây cho doanh nghiệp Hoạt động nhận diện rủi
ro được thực hiện thông qua việc theo dõi, nghiên cứu, xem xét môi trường xung quanh doanh nghiệp (vi mô và vĩ mô), toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, nhằm thống kê được tất cả những rủi ro, không chỉ những rủi ro đã và đang xảy ra mà cả những rủi ro mới có thể xảy ra đối với doanh nghiệp
3.1.1.1 Phương pháp nhận diện rủi ro
Có hai phương pháp chủ yếu được sử dụng để phát hiện rủi ro là phương pháp dựa trên những rủi ro đã xảy ra trong quá khứ và phương pháp hệ thống an toàn
Phương pháp dựa trên những rủi ro đã xảy ra trong quá khứ: Phương pháp dựa trên những rủi ro doanh nghiệp đã gặp phải trong quá khứ để xác định những rủi ro
mà doanh nghiệp có thể sẽ phải đối mặt trong tương lai Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những nghiên cứu về rủi ro trong quá khứ thì sẽ không đủ, vì có những rủi ro mà doanh nghiệp chưa gặp phải bao giờ Để đảm bảo phát hiện được đầy đủ các rủi ro, các nhà quản trị phải sử dụng kết hợp với phương pháp thứ hai
Phương pháp hệ thống an toàn: Phương pháp này do các nhà khoa học phát triển các chương trình vũ trụ của Mỹ phát minh ra trên cơ sở xây dựng các mô hình mô phỏng rủi ro Các mô hình này thường rất phức tạp, cần có sự trợ giúp của các công
cụ máy tính hiện đại Tuy nhiên, với những doanh nghiệp có phạm vi hoạt động rộng, quy mô lớn như các tập đoàn đa quốc gia, việc sử dụng phương pháp này là không thể thiếu để hỗ trợ trong việc phát hiện rủi ro tiềm tàng
3.1.1.2 Công cụ phát hiện rủi ro
Để hỗ trợ cho việc phát hiện rủi ro, nhà quản trị thường sử dụng các công cụ như Bảng câu hỏi phân tích rủi ro (Risk analysis questionaires); Danh mục các nguy cơ
Trang 32(Exposure checklists); Danh mục các rủi ro được bảo hiểm (Insurance policy checklists); Hệ thống chuyên gia (Expert systems)
Bảng câu hỏi phân tích rủi ro (Risk analysis questionaires): Đây là công cụ chủ yếu được sử dụng trong phát hiện rủi ro Các câu hỏi có thể được sắp xếp theo nguồn gốc rủi ro, hoặc theo môi trường tác động (vi mô, vĩ mô, bên trong, bên ngoài, …) hoặc xoay quanh các vấn đề như các rủi ro mà doanh nghiệp đã gặp phải, mức độ tổn thất, số lần xuất hiện rủi ro trong một thời gian nhất định, những biện pháp phòng ngừa đã sử dụng và hiệu quả của chúng
Danh mục các nguy cơ (Exposure checklists): Danh mục này liệt kê các rủi ro thường gặp Tuy nhiên, nó không thể bao quát hết các rủi ro mà doanh nghiệp có thể gặp phải, cho nên phải dùng kết hợp với các công cụ khác
Danh mục các rủi ro được bảo hiểm (Insurance policy checklists): Danh mục này có thể lấy từ các công ty bảo hiểm, nhằm xác định những rủi ro nào có thể di chuyển hay chia sẻ bằng các hợp đồng bảo hiểm Những thống kê của các công ty bảo hiểm về các rủi ro có thể gặp phải cũng là cơ sờ tốt cho việc xác định các rủi ro của doanh nghiệp
Hệ thống chuyên gia (Expert systems): Đây là quy trình phát hiện rủi ro được xây dựng sẵn cho từng lĩnh vực nhất định, là sự kết hợp cả 3 công cụ trên Tuy nhiên,
hệ thống này không phải lúc nào cũng sẵn có, hơn nữa có thể không phù hợp hoàn toàn với doanh nghiệp
3.1.1.3 Quy trình phát hiện rủi ro
Quy trình phát hiện rủi ro thường được tiến hành qua 4 bước là:
các rủi ro Mục đích là có được hiểu biết bao quát, tổng thể về doanh nghiệp và các hoạt động của doanh nghiệp để định hướng trong việc phát hiện rủi ro
(2) Phân tích tài liệu (Analysis of documents): Đây là việc phân tích các tài liệu liên quan đến doanh nghiệp, bao gồm cả những tài liệu lưu hành nội bộ doanh nghiệp
Trang 33lẫn những tài liệu về doanh nghiệp do bên ngoài cung cấp Cụ thể là phân tích các báo cáo tài chính, quy trình nghiệp vụ, cơ cấu tổ chức doanh nghiệp, các hợp đồng kinh tế, bảo hiểm doanh nghiệp đã tham gia, các báo cáo về tồn thất,
(3) Phỏng vấn (Interview): Nhiều thông tin không thể tìm thấy trong các văn bản, tài liệu mà chỉ có thể có được qua phỏng vấn các nhà quản lý hoặc các nhân viên Việc phỏng vấn nhằm làm rõ những thông tin trong các tài liệu hoặc bổ sung những thông tin còn thiếu Các đối tượng thường được phỏng vấn bao gồm các nhà quản
lý tác nghiệp, giám đốc tài chính hoặc vị trí tương đương, cố vấn pháp luật của doanh nghiệp, giám đốc nhân sự, bộ phận phụ trách mua, bán hàng, nhân viên, và
cả bên ngoài như công ty tư vấn luật, hoặc công ty kiểm toán của công ty, … (4) Khảo sát, điều tra trực tiếp (Inspection): Việc điều tra trực tiếp tại hiện trường
sẽ giúp cung cấp những thông tin nhiều khi rất có giá trị, giúp phát hiện ra những rủi ro mà trước đó có thể không phát hiện ra Việc khảo sát cần được thực hiện cùng với một người phụ trách có khả năng trả lời những câu hỏi phát sinh
Trên cơ sở rủis ro đã được nhận diện, sẽ tiến hành phân tích rủi ro nhằm xác định nguyên nhân gây ra các rủi ro, cũng như các nhân tố làm gia tăng khả năng xảy ra rủi ro cho doanh nghiệp Phân tích rủi ro là công việc phức tạp, bởi không phải mỗi rủi ro chỉ do một nguyên nhân đơn nhất gây ra, mà thường do nhiều nguyên nhân, trong đó có những nguyên nhân trực tiếp, nguyên nhân gián tiếp
Để tiến hành phân tích rủi ro, doanh nghiệp có thể sử dụng các công cụ phân tích cơ bản như cây phân tích, sơ đồ xương cá, biểu đồ Pareto, Trong phân tích rủi ro, các yếu tố rất quan trọng là những thông tin, dữ liệu đầu vào, bao gồm dữ liệu và kinh nghiệm quá khứ, cùng với dự báo xu hướng cho giai đoạn trước mắt và tương lai xa hơn Tuy vậy, quan trọng bậc nhất vẫn là nhận thức sâu sắc của ban lãnh đạo về tính chất nguy hại của các rủi ro từng xảy ra, hay đang tiềm ẩn và tầm quan trọng của hoạt động quản trị rủi ro
Trang 343.1.3 Đo lường rủi ro
Nhận diện được rủi ro là bước khởi đầu của quản trị rủi ro Tuy nhiên, rủi ro có rất nhiều loại, một doanh nghiệp không thể cùng một lúc kiểm soát, phòng ngừa tất cả mọi loại rủi ro, bởi lẽ khả năng của mỗi doanh nghiệp đều có hạn Từ đó cần phân loại các rủi ro, cần biết được đối với doanh nghiệp loại rủi ro nào có tần suất xuất hiện nhiều, loại rủi ro nào xuất hiện ít, loại rủi ro nào gây ra hậu quả nghiêm trọng, loại nào ít nghiêm trọng hơn, Từ đó có biện pháp quản trị rủi ro thích hợp Muốn vậy, doanh nghiệp cần tiến hành đo lường các rủi ro
Đo lường rủi ro là đánh giá mức độ nghiêm trọng của rủi ro để đưa ra thứ tự ưu tiên đối phó
3.1.3.1 Tiêu chí đánh giá mức độ nghiêm trọng của rủi ro
Để đánh giá mức độ nghiêm trọng, hay quy mô tổn thất của mỗi rủi ro, nhà quản trị thường sử dụng hai tiêu chí là mức độ tổn thất tối đa và khả năng xây ra tổn thất Mức độ tổn thất tối đa mà rủi ro có thể gây ra cho doanh nghiệp: Khi rủi ro xảy
ra, nó không chỉ gây ra thiệt hại trực tiếp mà còn kéo theo nhiều thiệt hại liên quan
Do vậy, việc đánh giá thiệt hại do rủi ro gây ra đối với doanh nghiệp không chỉ bao gồm các thiệt hại trực tiếp, mà phải bao gồm cả những thiệt hại gián tiếp do rủi ro
đó gây ra Những thiệt hại gián tiếp này không chỉ bao gồm những thiệt hại xảy ra ngay khi đó, mà cả những thiệt hại còn tiếp diễn sau này
Khả năng xảy ra tổn thất: Đây là tiêu chí phản ánh tần suất xuất hiện của rủi ro –
số lần xảy ra tổn thất, hay khả năng xảy ra biến cố nguy hiểm đối với doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định (năm, quý, tháng, )
3.1.3.2 Phân loại mức độ nghiêm trọng của rủi ro
Căn cứ vào mức độ nghiêm trọng để đưa ra thứ tự ưu tiên đối phó, rủi ro thường được phân thành ba nhóm:
Trang 35Nhóm nguy hiểm (Critical risks), bao gồm những rủi ro mà hậu quả của nó có thể dẫn đến sự phá sản của doanh nghiệp
Nhóm quan trọng (Important risks), bao gồm những rủi ro mà hậu quả của nó không phải là nguyên nhân chủ yếu làm cho doanh nghiệp rơi vào tình trạng phá sản, nhưng sẽ phải vay mượn để tiếp tục hoạt động
Nhóm không quan trọng (Unimportant risks), bao gồm những rủi ro mà doanh nghiệp có thể tự khắc phục hậu quả, mà không quá khó khăn về tài chính
3.1.3.3 Phương pháp đo lường rủi ro
Để đo lường rủi ro, các doanh nghiệp có thể sử dụng kết hợp các phương pháp đo lường định lượng và các phương pháp đánh giá định tính
- Các phương pháp đo lường định lượng
o Phương pháp đo lường định lượng để đánh giá khả năng xảy ra tổn thất, được thực hiện thông qua các phân tích lượng hóa trên cơ sở lý thuyết xác suất
o Ba biến số về rủi ro mà nhà quản trị thường tính toán phân phối xác suất là số tổn thất mà doanh nghiệp gặp phải trong một khoảng thời gian nhất định, mức
độ thiệt hại của từng tổn thất, và tổng giá trị tổn thất mà doanh nghiệp phải chịu trong một khoảng thời gian cho trước
o Để xác định phân phối xác suất của những biến số này, nhà quản trị rủi ro thường sử dụng 2 phương pháp là:
Xây dựng các mô hình tính xác suất xảy ra tổn thất trên cơ sở các số liệu quá khứ về tổn thất
Sử dụng các mô hình giả lập (simulation models) để tích hợp cả những thay đổi của môi trường vào các phân phối xác suất cần xác định
- Các phương pháp đánh giá định tính
o Phương pháp đánh giá định tính là phương pháp dựa trên những đánh giá của các chuyên gia trong lĩnh vực quản trị rủi ro, để từ đó xếp hạng các rủi ro và
Trang 36đưa ra một báo cáo tổng hợp Phương pháp này được sử dụng đối với nhũng rủi ro khó đo lường
o Phương pháp đánh giá đơn giản nhất là xin ý kiến chuyên gia để xếp hạng các rủi ro Thông qua việc xếp hạng, các yếu tố định tính có thể được chuyển thành định lượng Công việc đánh giá trải qua 3 bước:
(1) Liệt kê và đánh giá định kỳ các rủi ro
(2) Chấm điểm rủi ro dọa trên các tiêu chí như mức độ nghiêm trọng, tần
số phát sinh, thời điểm có khả năng phát sinh,
(3) Thông qua việc chấm điểm, các chuyên gia sẽ tập hợp và đưa ra những chỉ tiêu để theo dõi sự biến đổi của rủi ro
3.2 Kiểm soát rủi ro (Risk control)
Kiểm soát rủi ro bao gồm các kỹ thuật, các công cụ, chiến lược và những chương trình nhằm mục tiêu né tránh, đề phòng và hạn chế, hay nói cách khác là kiểm soát tần suất,
độ lớn của các tổn thất và các ảnh hưởng bất lợi khác của rủi ro
Các chương trình kiểm soát rủi ro khác nhau ở mỗi tổ chức, tuy nhiên các tổ chức có thể sử dụng công cụ và kỹ thuật được sắp xếp theo 4 nhóm sau:
Nhóm biện pháp né tránh rủi ro (Risk avoidance)
Nhóm biện pháp ngăn ngừa rủi ro (Risk prevention)
Nhóm biện pháp giảm thiểu rủi ro (Risk reduction)
Nhóm biện pháp đa dạng rủi ro (Risk diversification)
Đây là nhóm các biện pháp, trong đó nhà quản trị sẽ tìm cách phát hiện những dự án kinh doanh có nguy cơ cao xảy ra rủi ro, để tránh cho doanh nghiệp không tham gia vào, nhờ đó không phải chịu rủi ro Biện pháp né tránh rủi ro có thể giúp cho doanh nghiệp không phải chịu bất kỳ hậu quả xấu nào mà rủi ro được phát hiện có thể gây
Trang 37ra, nhưng có thể khiến cho doanh nghiệp bỏ lỡ những cơ hội kiếm lời Ví dụ: Doanh nghiệp khi đầu tư vào một quốc gia đang hoặc kém phát triển sẽ phải đối mặt với những rủi ro về chính trị, do hệ thống pháp luật hoặc quản lý hành chính của nước đó còn yếu kém Doanh nghiệp có thể chọn giải pháp không đầu tư vào quốc gia đó để tránh những rủi ro nói trên, nhưng sẽ phải bỏ lỡ cơ hội kiếm lời từ thị trường này
Đây là nhóm các biện pháp nhằm vào nguyên nhân gây ra rủi ro, khiến cho rủi ro không thể xảy ra Ví dụ: Doanh nghiệp ký hợp đồng sản xuất hàng hóa Hợp đồng này có giá trị cao, phương thức thanh toán hợp lý, tuy nhiên đòi hỏi tiến độ giao hàng gấp, trong khi đó nguồn lực của doanh nghiệp hạn, nên doanh nghiệp đã mua thêm máy móc, đào tạo nhân viên, thuê thêm đơn vị khác cũng có khả năng sản xuất mặt hàng này phù hợp với chất lượng như hợp đồng yêu cầu
Một khi không thể né tránh rủi ro, nhà quản trị sẽ phải tìm cách giảm thiểu số lần xảy
ra rủi ro Đây là biện pháp mang tính chất tích cực, nhưng không thể giúp doanh nghiệp tránh được rủi ro hoàn toàn Hơn nữa, để thực hiện biện pháp này cũng đòi hỏi những khoản chi phí nhất định, cả về tiền bạc và thời gian Chẳng hạn chi phí để thu thập thông tin về đối tác Ví dụ: Để giảm rủi ro bị đối tác lừa đảo, doanh nghiệp cẩn thu thập đầy đủ thông tin đến mức có thể để nắm rõ về đối tác
Nhóm biện pháp đa dạng hóa rủi ro thường không tập trung vào một đối tượng khách hàng, thị trường hay mặt hàng cố định, mà đa dạng hóa trong từng thời kì như đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa khách hàng, đa dạng hóa sản phẩm, … để phòng chống rủi ro Ví dụ: Doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản ngoài thị trường truyền thống là Mỹ, Châu Âu, cần tìm các thị trường mới như Hàn Quốc, Nga, …
3.3 Tài trợ rủi ro (Risk financing)
Trang 38Tài trợ rủi ro chính là nội dung quản trị rủi ro nhằm mục đích chuẩn bị cho doanh nghiệp trước những tổn thất xảy ra Tài trợ rủi ro bao gồm các hoạt động nhằm dự phòng nguồn tài chính cho các thiệt hại, một khi rủi ro xảy ra Tài trợ rủi ro chia làm hai nhóm biện pháp cơ bản là chấp nhận rủi ro (risk retention) và chuyển giao hoặc chia sẻ rủi ro (risk transfer or sharing)
nếu rủi ro xảy ra Rất nhiều hoạt động hay môi trường kinh doanh mà doanh nghiệp không thể từ bỏ, hoặc không thể ngăn chặn được hoàn toàn rủi ro Chấp nhận rủi ro là biện pháp không tránh khỏi, để không bỏ lỡ những cơ hội kiếm lời Trong trường hợp này, nhà quản trị phải dự phòng các nguồn lực tài chính, nhằm kịp thời bù đắp những thiệt hại có thể xảy ra, để không ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh chung của doanh nghiệp Tuy nhiên, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể dự phòng đủ cho các thiệt hại có thể xảy ra, bởi vì việc dự phòng quá nhiều sẽ làm ảnh hưởng tới nguồn tài chính
mà doanh nghiệp cần để kinh doanh Chính vì vậy mà các nhà quản trị phải kết hợp với biện pháp thứ hai là chuyển giao hoặc chia sẻ rủi ro
Để chia sẻ rủi ro, doanh nghiệp sẽ phải ký kết những hợp đồng có các điều khoản đặc biệt Ví dụ để tránh rủi ro giá cả biến động, doanh nghiệp sẽ phải kí hợp đồng dài hạn với giá cả cố định Với những hợp đồng có các điều khoản cố định như vậy, rủi ro sẽ được chia sẻ cho cả hai bên mua và bán Việc ký kết hợp đồng bảo hiểm cũng có thể coi là một biện pháp chia sẻ rủi ro giữa những người cùng tham gia bảo hiểm
Để chuyển giao rủi ro, doanh nghiệp cũng phải tham gia vào các hợp đồng đặc biệt nhằm chuyển giao phần rủi ro mà mình không muốn gánh chịu sang những chủ thể sẵn sàng nhận thêm rủi ro để đổi lấy một khoản thu nhập Chẳng hạn, với việc mua hợp đồng quyền chọn mua ngoại tệ, doanh nghiệp sẽ chuyển giao rủi ro tỷ giá tăng cao khi cần mua ngoại tệ, sang ngân hàng bán quyền chọn mua cho mình, ngân hàng
Trang 39chấp nhận rủi ro đó để đổi lấy việc nhận được tiền phí bán quyền chọn Tham gia vào các hợp đồng bảo hiểm, cũng có thể xem là một biện pháp để chuyển giao rủi ro sang các công ty bảo hiểm
Mặc dù không thể giúp triệt tiêu hoàn toàn rủi ro, nhưng biện pháp chuyển giao và chia sẻ rủi ro cũng giúp giảm chi phí dự phòng rủi ro của doanh nghiệp đối với những rủi ro không thể tránh được Tuy nhiên, không phải rủi ro nào cũng có thể chuyển giao hoặc chia sẻ, trong những tình huống đó, nhà quản trị sẽ phải quyết định giữa việc chấp nhận hoặc né tránh rủi ro
Trang 40KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong nền kinh tế hiện đại, rủi ro luôn là vấn đề ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp Từ đó, có thể thấy vai trò vô cùng quan trọng của việc quản trị rủi ro Một chương trình quản trị rủi ro phù hợp và được thực hiện tốt sẽ giảm thiểu rủi ro, đảm bảo dòng tiền của doanh nghiệp và ổn định kinh doanh Từ đó, dự trù được lợi nhuận của doanh nghiệp và giảm thiểu khả năng phá sản, gia tăng giá trị doanh nghiệp
Hình 2