Những thay đổi từ Basel I đến Basel III đã đưa ra những yêu cầu khắt khe hơn phần nào đã khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc ổn định các nguồn vốn nhằm giúp đảm bảo hệ thống ngân
Trang 1- -
TRẦN THANH THUẬN
NGHIÊN CỨU HỆ SỐ AN TOÀN VỐN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG BASEL III TẠI CÁC
NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 2- -
TRẦN THANH THUẬN
NGHIÊN CỨU HỆ SỐ AN TOÀN VỐN VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG BASEL III TẠI CÁC
NGÂN HÀNG TMCP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
(Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
TS LÊ ĐẠT CHÍ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả nghiên cứu xin cam đoạn luận văn thạc sĩ “Nghiên cứu hệ số an toàn vốn và khả năng áp dụng Basel III tại các ngân hàng TMCP Việt Nam” là kết quả nghiên cứu của tác giả dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Lê Đạt Chí – Giảng viên Trường Đại học Kinh tế Thành phố HỒ Chí Minh
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2019
Tác giả
Trần Thanh Thuận
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÓM TẮT
ABSTRACT
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BASEL VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 3
2.1 Những thay đổi của Basel từ Basel I đến Basel III 3
2.2 Các nghiên cứu về việc áp dụng Basel III tại các nước trên thế giới 9
2.3 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các nước trên thế giới 13
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ SỐ CAR CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM 16
3.1 Dữ liệu nghiên cứu 16
3.2 Mô hình nghiên cứu 16
3.3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 17
3.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 20
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG BASEL TẠI VIỆT NAM VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG BASEL III 26
4.1 Thực trạng áp dụng Basel tại Việt Nam 26
4.2 So sánh tiêu chuẩn an toàn vốn theo Basel III và thông tư tại Việt Nam 30
Trang 5CHƯƠNG 5: KHÓ KHĂN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 35
5.1 Khó khăn khi triển khai hiệp ước Basel 35
5.2 Kiến nghị và giải pháp 37
5.2.1 Đối với ngân hàng 37
5.2.2 Đối với ngân hàng Nhà nước 41
5.2.3 Đối với chính phủ 45
5.3 Kết luận 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47 PHỤ LỤC 1
PHỤ LỤC 2
PHỤ LỤC 3
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á (Asian Development Bank)
ASF Nguồn tài trợ ổn định hiện có (Asset Stable Funding)
BCBS Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (Basel Committee on
Banking Supervision) CAR Hệ số an toàn vốn tối thiểu (Capital Adequacy Ratio)
CET1 Tỷ lệ vốn cấp 1 (Common Equity Tier 1)
GLS Phương pháp bình phương bé nhất tổng quát (Generalized Least
Squares)
LCR Tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (Liquidity Coverage Ratio) MAS Cơ quan tiền tệ Singapore (Monetary Authority of Singapore) NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
NIM Thu nhập lãi thuần hay biên lợi nhuận ròng (Net Interest Margin) NSFR Tỷ lệ tài trợ ổn định thuần (Net Stable Funding Ratio)
OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organization for Economic
Co-operation and Development) RSF Nguồn tài trợ ổn định cần có (Required Stable Funding)
RWA Trọng số tài sản có rủi ro (Risk-weighted asset)
TCTD Tổ chức tín dụng
TG Thế giới
TMCP Thương mại cổ phần
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 So sánh các tiêu chuẩn an toàn vốn theo Basel II và Basel III 6
Bảng 2.2 Vốn điều lệ tăng thêm của các ngân hàng trong năm (2018) .29
Bảng 3.1 Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu 19
Bảng 3.2 Thống kê mô tả các biến 20
Bảng 3.3 Hệ số tương quan giữa các biến 21
Bảng 3.4 Kết quả tóm tắt hồi quy sử dụng phương pháp FGLS .23
Bảng 2.3 So sánh Thông tư 36 tại Việt Nam và các chỉ tiêu Basel III 32
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Hệ số CAR tại Việt Nam và các nước trên thế giới giai đoạn 2013-2018 34
Trang 9TÓM TẮT
Mục đích nghiên cứu này nhằm giới thiệu sơ lược những điểm mới của Basel III
và một vài kết quả đạt được từ các quốc gia thế giới sau khi đã triển khai thành công Bên cạnh đó nêu ra những điểm khác biệt cơ bản các chỉ tiêu an toàn vốn giữa Việt Nam và Basel III Sau đó xem xét đến những tác động của các chỉ tiêu quan trọng đến hệ số an toàn vốn và xây dựng mô hình xem xét các yếu tố tác động đến
hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng tại Việt Nam Thông qua việc sử dụng kỹ thuật hồi quy bảng (Panel Regression) để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn (CAR) của 30 ngân hàng TMCP tại Việt Nam trong giai đoạn 2010-2018 Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, các ngân hàng tại Việt Nam có tỷ suất lợi nhuận trên tài sản (ROA), quy mô ngân hàng (SIZE), khả năng huy động vốn (DEP) có các động tiêu cực đến hệ số an toàn vốn Trong khi đó chỉ tiêu đòn bẩy tài chính (LEV) và thu nhập lãi thuần (NIM) có ảnh thưởng tích cực đến hệ số an toàn vốn Tuy nhiên nghiên cứu lại không tìm thấy được sự tác động của tỷ lệ nợ xấu (NPL),
tỷ lệ cho vay (LOA) và tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) đến hệ số an toàn vốn Từ kết quả phân tích mô hình cũng như các kết quả từ cuộc cải cách Basel III của các nước trên thế giới Đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm giúp hệ thống ngân hàng có những định hướng phát triển phù hợp hơn với mục đích mà Basel đưa ra, nhằm giúp các ngân hàng Việt Nam phấn đấu đạt theo chuẩn quốc tế
Từ khoá: An toàn vốn, Basel III, Rủi ro, Biên lợi nhuận ròng
Trang 10ABSTRACT
This study aims at introducing the new regulations of Basel III and the regulation’s impacts on the global economy Moreover, the study presents basic differences in capital adequacy criteria between Vietnam and Basel III in order to analyze key factors affecting capital adequacy ratio (CAR) and construct a model dealing with these factors which impact particularly on banks in Vietnam The study uses panel regression to make an analysis of 30 banks in Vietnam in the period between 2010 and 2018 The results show that in Vietnam, return on assets (ROA), size (SIZE) and deposit ratio (DEP) have negative effects on CAR while leverage ratio (LEV) and net interest margin (NIM) produce positive impacts As for other factors like non-performing loans ratio (NPL), loan ratio (LOA) and gross domestic product (GDP), they have no effect on CAR From the results of the study
as well as of the reality in the countries where Basel III is applied, we need to give suggestions and solutions to improve and standardize the banking system of Vietnam
Keywords: Captial adequacy ratio, Basel III, Risk, NIM
Trang 111 CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Từ những bài học kinh nghiệm sau các cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới,
đã cho thấy rằng ngành ngân hàng là một trong những lĩnh vực đối mặt với nhiều loại rủi ro nhất, gây tổn thất nhiều cho nền kinh tế Vì thế các ngân hàng trên thế giới nói chung và các ngân hàng Việt Nam nói riêng đã chú trọng rất nhiều vào việc quản trị rủi ro ngân hàng Hiệp ước Basel đã trở thành bộ tiêu chuẩn chung phổ biến nhằm giúp các ngân hàng có thể chuẩn hoá, cải thiện và lành mạnh trong lĩnh hoạt động kinh doanh ngân hàng Những thay đổi từ Basel I đến Basel III đã đưa ra những yêu cầu khắt khe hơn phần nào đã khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc ổn định các nguồn vốn nhằm giúp đảm bảo hệ thống ngân hàng được hoạt động ổn định Tính đến thời điểm hiện tại Việt Nam chưa là thành viên BCBS nên không bị ràng buộc thời gian tuân thủ tiêu chuẩn Basel, nhưng hiện tại Ngân hàng nhà nước cũng đã ban hành các thông tư, các nghị định bám sát theo các quy chuẩn Basel nhằm nâng cao an toàn vốn, quản lý thanh khoản nhằm giảm thiểu rủi ro tiềm
ẩn của hệ thống ngân hàng Và trong khuôn khổ Basel, chỉ tiêu hệ số an toàn vốn (CAR) là được quan tâm hơn cả Hệ số an toàn vốn (CAR) là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá mức độ an toàn của ngân hàng Các cơ quan quản lý ngân hàng cũng như các ngân hàng đều quan tâm đặc biệt đến hệ số này, luôn đảm bảo duy trì hệ số CAR thông qua các cơ chế, chính sách phù hợp
Tại Việt Nam, NHNN đã có những hướng triển khai áp dụng Basel vào quản trị rủi ro ngân hàng và xem đó là trọng tâm của ngành Đến năm 2020, 10 ngân hàng thí điểm cần đạt chuẩn Basel II và đến 2025 các ngân hàng còn lại phải đạt chuẩn để
từ đó có thể xem xét đến việc áp dụng Basel III Tuy nhiên, các ngân hàng hiện tại đang bộc lộ quá nhiều điểm yếu đặc biệt là hệ số an toàn vốn Như vậy việc các ngân hàng đáp ứng Basel II , cũng như việc tiến đến Basel II cũng đồng nghĩa với việc các ngân hàng thương mại Việt Nam phải đáp ứng yêu cầu về hệ số an toàn vốn (CAR) theo chuẩn thông lệ quốc tế Từ những điều đó, tôi xin chọn đề tài luận
Trang 12văn “ Nghiên cứu hệ số an toàn vốn và khả năng áp dụng Basel III tại các ngân hàng TMCP Việt Nam“ làm luận văn nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm giải quyết những vấn đề cơ bản sau:
(i) Xem xét những sự thay đổi chính của Basel III so với Basel II và tác động từ
sự thay đổi này đến việc quản trị rủi ro ngân hàng của một số nước trên thế giới (ii) Xem xét các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng một số nước trên thế giới Từ đó tiến hành thực nghiệm xem xét các nhân tố ảnh hưởng đến
hệ số an toàn vốn (CAR) tại các ngân hàng Việt Nam
(iii) Thực trạng áp dụng Basel tại Việt Nam và những điểm khác biệt cơ bản giữa các tiêu chuẩn an toàn vốn theo Basel III và các thông tư tại Việt Nam
(iv) Đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm giúp việc quản trị rủi ro các ngân hàng tại Việt Nam tuân theo hiệp ước Basel
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng số liệu của 30 ngân hàng tại Việt Nam gồm: Vietinbank, BIDV, Vietcombank, MB, ACB, Sacombank, Techcombank, SHB, Eximbank, SCB, NCB, Kiên Long Bank, VPBank, VIB, HDBank, SGB, SeaBank, PGBank, TPBank, MSB, Việt Á Bank, Bắc Á bank, An Bình Bank, LienVietPostBank, Nam Á Bank, OCB, PVComBank, VietBank, Agribank, Vietcapital Dữ liệu được lấy từ báo cáo thường niên/ báo cáo tài chính của các ngân hàng giai đoạn 2010 -2018 trên website ngân hàng Và từ nguồn dữ liệu VietStock : https://finance.vietstock.vn/
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy bảng (Panel Regression) với biến phụ thuộc là hệ số an toàn vốn (CAR) và các biến độc lập bao gồm: quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ đòn bẩy (LEV), thu nhập lãi thuần (NIM), tỷ lệ cho vay (LOA), tỷ lệ nợ xấu (NPL), tỷ lệ huy động (DEP) và tốc
độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
Trang 132 CHƯƠNG 2: LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ BASEL
VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Nếu nói về chuẩn mực nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng và các tổ chức tài chính nói chung, người ta sẽ nhắc ngay đến tiêu chuẩn Basel Các tiêu chuẩn được ra đời cách đây hơn hai thập kỷ và được hầu hết các quốc gia cũng như các tổ chức tài chính trên thế giới tuân thủ một cách rộng rãi, luôn là mục tiêu chuẩn mực mà họ cố gắng đạt được nhằm tạo ra một thị trường tài chính an toàn, ổn định và tạo ra một mặt bằng chung cạnh tranh bình đẳng lẫn nhau trên quy mô quốc tế
2.1 Những thay đổi của Basel từ Basel I đến Basel III
Vào thập niên 1980, hệ thống ngân hàng thương mại trên thế giới phát triển mạnh mẽ, đồng thời phát sinh ra những cuộc cạnh tranh bất bình đẳng giữa các ngân hàng Do đó, nhằm ổn định, củng cố lại hoạt động ngân hàng quốc tế và tạo ra một cơ chế cạnh tranh lành mạnh, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng được thành lập (BCBS)
Năm 1988, Ủy ban quyết định ban hành một thoả thuận quốc tế về các tiêu chuẩn vốn tự có gọi là Hiệp ước vốn Basel I Theo yêu cầu Hiệp ước này buộc các ngân hàng phải duy trì một tỷ lệ vốn bắt buộc trên tài sản điều chỉnh theo hệ số rủi
ro tối thiểu là 8% để bù bắp cho những rủi ro và những tổn thất có thể xảy ra (hay còn được gọi là “tỷ lệ Cook”) Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) theo Basel I được tính theo công thức:
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) =
Trong đó, tổng vốn được tổng thành từ những loại vốn cấp 1 (các loại vốn chắc chắn có như vốn chủ sở hữu vĩnh viễn, lợi nhuận giữ lại, lợi ích thiểu số tại các công ty con có hợp nhất báo cáo tài chính, lợi thế kinh doanh), vốn cấp 2 (vốn có chất lượng thấp hơn như nguồn vốn tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng các tổn thất chung, đầu tư tài chính vào công ty con và tổ chức tài chính khác, vốn từ những
Trang 14công cụ nợ trái phiếu chuyển đổi, cổ phiếu ưu đãi hay công cụ nợ khác) và vốn cấp
3 (vốn có độ tin cậy thấp nhất như các khoản vay ngắn hạn) Đồng thời cũng yêu cầu tổng vốn cấp 2 và 3 không vượt quá vốn cấp 1 Tuy nhiên Basel I vẫn còn vài hạn chế mà trong đó chủ yếu chỉ tập trung vào một giải pháp là “yêu cầu vốn tối thiểu” mà chưa đề cập đến rủi ro thị trường cũng như rủi ro trong hoạt động ngân hàng
Năm 2004, Ủy ban Basel lại ban hành bản Hiệp ước quốc tế về vốn Basel mới (Basel II) có hiệu lực từ năm 2007 Basel II chủ yếu dựa trên 3 trụ cột chính:
Trụ cột 1 liên quan đến việc duy trì tỷ lệ vốn bắt buộc (CAR vẫn giữ mức tối
thiểu 8% nhưng có sự thay đổi về hệ số rủi ro của các tài sản) Đồng thời cách tính cũng có sự thay đổi :
Tỷ lệ vốn tối thiểu (CAR) =
Với yêu cầu một tỷ lệ 4% vốn cấp 1 (gồm cổ phần phổ thông và dự trữ được công bố) và 8% đối với vốn cấp 2 (tăng do đánh giá lại tài sản, dự phòng chung, dự trữ không được công bố, nguồn vốn gia tăng từ trái phiếu chuyển đổi/cổ phiếu ưu đãi/nợ thứ cấp khác)
Trụ cột 2-3 liên quan đến việc hoạch định các chính sách trong công tác giám
sát, thanh tra và hoạt động liên quan đến việc công bố thông tin một cách thích đáng theo nguyên tắc thị trường Tuy không có nhiều tác động đến hệ số an toàn vốn nhưng quy định này đòi hỏi sự công khai minh bạch phù hợp đúng với thông lệ quốc tế
Vào thời điểm bắt đầu triển khai, Basel II có thể được xem là khung đánh giá rủi
ro ngân hàng khá toàn diện Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 chứng tỏ Basel II còn khá nhiều nhược điểm, nó hoàn toàn chưa lường hết những rủi ro có thể xảy ra khi đối mặt với chu kỳ của một nền kinh tế, đặc biệt chưa chú trọng vào vấn đề thanh khoản dẫn đến việc phá sản của nhiều ngân hàng
Do đó, vào 12/09/2010 Uỷ ban Basel đã công bố Hiệp ước Basel III với các tiêu
Trang 15chuẩn mới với những thay đổi về cấu trúc vốn, thêm yêu cầu về tỷ lệ đòn bẩy, đưa
ra các tiêu chuẩn mới về tính thanh khoản nhằm cũng cố các quy định, giám sát, quản lý rủi ro của ngành ngân hàng nhằm khắc phục những điểm thiếu sót của Basel
II Bộ tiêu chuẩn Basel III có hiệu lực từ 2013 với những điểm thay đổi đáng chú ý sau (lộ trình thực hiện Basel III theo Phụ lục 2):
Thứ nhất: rà soát lại các tiêu chuẩn nhằm nâng tỷ trọng và chất lượng nguồn
vốn, cao chất lượng vốn cấp 1 và vốn cấp 2, khấu trừ các khoản vốn không đủ tiêu chuẩn, chẳng hạn các khoản vốn được đầu tư vào các tổ chức tài chính khác vượt mức giới hạn 15% sẽ được khấu trừ vào vốn chủ sở hữu Đưa ra tiêu chuẩn tỷ lệ đòn bẩy tối thử nghiệm tối thiểu là 3%, đây là mức tỷ lệ vốn cấp 1 so với tổng tài sản hiện có cộng với các khoản mục ngoại bảng Chất lượng vốn tốt hơn sẽ giúp ngân hàng khoẻ hơn, chống đỡ tốt hơn trong thời kỳ khó khăn
Thứ hai: yêu cầu các ngân hàng nâng cao chất lượng nguồn vốn, đáng chú ý là
việc nâng tỷ trọng vốn cấp 1 tối thiểu từ 4% lên 6% trong đó tỷ trọng vốn cổ đông thường (common equity) tăng mức từ 2% lên 4,5%; Ngoài ra bổ sung thêm mức vốn dự trữ (các tấm vốn đệm dự phòng - vốn đệm bảo toàn vốn và vốn đệm chống hiệu ứng chu kỳ) đảm bảo bẳng vốn chủ sở hữu nằm trong khoảng từ 0 - 2,5% tuỳ theo bối cảnh của mỗi quốc gia và loại bỏ vốn cấp 3 ra khỏi cách tính so với ban đầu Mục đích của vốn đệm nhằm giúp ngân hàng có thể duy trì mức dự phòng cần thiết cho các khoản lỗ trong giai đoạn căng thẳng tài chính và kinh tế toàn cầu, có
đủ khả năng tài chính đối mặt với các sự kiện ngược chu kỳ kinh tế
Trang 16Bảng 2.1 So sánh các tiêu chuẩn an toàn vốn theo Basel II và Basel III
Yêu
cầu tối
thiểu
Vốn đệm dự phòng bảo toàn vốn
Tổng VCSH cộng vốn đệm
Yêu cầu tối thiểu
Tổng
Yêu cầu tối thiểu
Tổng vốn tối thiểu cộng
dự phòng bảo toàn vốn
Basel
(Nguồn: https://www.bis.org/bcbs/basel3)
Thứ ba: giới thiệu phương pháp giám sát an toàn vĩ mô để hạn chế rủi ro hệ
thống Phương pháp này bổ sung cho những phương pháp giám sát vi mô đối với từng tổ chức tín dụng đã được ban hành Một là nhằm hướng đến mục tiêu làm giảm mức độ khuếch đại của khủng hoảng theo chu kỳ kinh tế Hai là rủi ro tiềm ẩn
từ các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các tổ chức tài chính đặc biệt là những ngân hàng có vai trò quan trọng trong nền kinh tế tài chính của một quốc gia
Thứ 4: đưa ra quy định về hai tiêu chuẩn thanh khoản mới có hiệu lực từ
01/01/2015:
(i) Tỷ lệ đảm bảo khả năng thanh khoản (Liquidity Coverage Ratio) = Tài
sản có tính thanh khoản cao / Tổng lượng tiền mặt ra thuần trong 30 ngày tới
Trang 17Tỷ lệ này nhằm mục đích ngân hàng luôn có một số lượng thích hợp các tài sản
có tính thanh khoản cao có thể chuyển đổi thành tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh khoản nhanh trong vòng 30 ngày của một đợt kiểm tra sức chịu đựng Nó cho phép ngân hàng có thể duy trì hoạt động trong 30 ngày, và đây là thời gian nhằm giúp ngân hàng có thể quản lý thực hiện các biện pháp nhằm đối phó với việc mất thanh khoản trong những ngày tới Ở đây chúng ta hiểu rằng, tài sản có tính thanh khoản cao là tài sản có thể chuyển đổi thành tiền mặt ngay lập tức mà không bị mất bất kỳ giá trị nào hoặc nếu có bị mất rất ít Chẳng hạn các khoản mục tiền mặt, hay tiền gửi không kỳ hạn tại NHNN hoặc tại các TCTD khác Tổng dòng tiền mặt ra thuần
là hiệu số giữ dòng tiền ra dự tính và tổng tiền vào dự tính Dòng tiền ra được tính theo giả định rút vốn (run -off) dựa trên bản chất của nó Ví dụ như các khoản tiền gửi của khách hàng có thể ổn định hoặc không ổn định Nếu ổn định thì sẽ hiếm khi
có sự rút vốn bất thường, nên ta giả định tỷ lệ rút vốn là 5% chẳng hạn, ngược lại nhóm không ổn định có tỷ lệ rút vốn cao hơn như 10-15% tuỳ vào quan điểm quản trị rủi ro từng ngân hàng, sẽ ước lượng tỷ lệ phù hợp Việc tính toán dòng tiền này dựa trên giả định không có vỡ nợ xảy ra trong 30 ngày và ượng tiền vào để bù đắp dòng tiền ra tối đa 75% dòng tiền ra Hàm ý rằng các ngân hàng phải duy trì những tài sản có tính thanh khoản cao tối thiểu là 25% dòng tiền ra bất kể dòng tiền mặt là bao nhiêu
(ii) Tỷ lệ ổn định ròng (Net Stable Funding Ratio) = Nguồn tài trợ ổn định
hiện có (ASF) / Nguồn tài trợ ổn định cần phải có (RSF)
Tỷ lệ này nhằm giúp ngân hàng tăng cường khả năng chống đỡ thanh khoản trong dài hạn nhằm giúp ngân hàng qua việc tạo thêm các động cơ để ngân hàng có thể huy động vốn từ các nguồn ổn định hơn (thời gian cần thiết trong 1 năm), trên
cơ sở việc ngân hàng vẫn tiếp tục hoạt động bình thường Nó được đo lường tỷ lệ vốn ổn định sẵng có như vốn cổ phần, cổ phiếu ưu đãi có thời gian nhỏ hơn hoặc bằng 1 năm, tiền gửi không xác định kỳ hạn hoặc có kỳ hạn dưới 1 năm với giả định
sẽ không bị rút trước hạn hoặc chuyển đi khỏi ngân hàng trong điều kiện không tốt
so với vốn huy động ổn định cần thiết trong thời gian 1 năm và yêu cầu phải đạt tối
Trang 18thiểu 100% Các nguồn vốn ổn định đó trong bối cảnh NSFR gọi là ASF Các yếu
tố ASF có thể đạt trọng số giá trị 100%, 90%, 80%, 50% hoặc thậm chí 0% phụ thuộc vào 2 yêu tố (i) đặc điểm thanh khoản và kỳ hạn còn lại của tài sản của tổ chức đang nắm giữ (ii) đặc điểm thanh khoản và kỳ hạn còn lại của các khoản mục ngoại Kỹ thuật NSFR này sẽ giúp ngân hàng hạn chế được sự phụ thuộc quá mức vào các nguồn vốn ngắn hạn từ các kênh huy động thông thường để từ đó được hạn chế được rủi ro thanh khoản của các khoản mục nội bảng và ngoại bảng (chỉ tiêu RSF) Tuy nhiên, có một sự đánh đổi khi gia tăng tỷ lệ NSFR đó là chính là sẽ dẫn đến viêc giảm một tỷ lệ biên lãi ròng (Net Interest Margin – NIM) Việc tăng tỷ lệ NSFR là điều cần thiết đối với ngân hàng bằng việc tăng các nguồn vốn ổn định (ASF) và giảm các nguồn tài sản (RSF) như việc tăng số lượng chứng khoán được xếp hạng cao, giảm thời gian đáo hạn Bởi vì NIM được đo lường bằng việc thu nhập lãi thuần trên chi phí từ các tài sản sinh lãi (tiền gửi NHNN, tiền gửi TCTD khác, chứng khoán đầu tư, cho vay khách hàng) Cho nên việc gia tăng bất kì tài sản này đều sẽ ảnh hưởng đến NIM Hay nói cách khác, mối quan hệ giữa NSFR và NIM là một mối quan hệ ngược chiều Theo nghiên cứu của MiChael R.King (2013) về dữ liệu tài chính từ các ngân hàng lớn tại 15 quốc gia, các ngân hàng với những chiến lược làm tăng NSFR sẽ dẫn đến NIM giảm từ 70-88 điểm cơ bản Như
ở Châu Âu, là nơi có tỷ lệ nợ xấu cao, do đó các ngân hàng Châu Âu luôn nổ lực điều chỉnh giảm bảng cân đối tài sản nhằm hạn chế rủi ro trong hệ thống Cũng theo nghiên cứu, các quốc gia ở Châu Âu có tỷ lệ NSFR thấp bởi các nguồn tài trợ ở các ngân hàng này đa dạng, tỷ lệ vay liên ngân hàng rất cao trong khi đó tỷ lệ tiền gửi lại thấp Do đó, tuỳ từng quốc gia khác nhau sẽ có những phản ứng khác nhau nhằm tăng tỷ lệ NSFR tuỳ thuộc vào các nhà hoạch định chính sách quốc gia đó bằng việc thay đổi về những thành phần tài sản, thời gian đáo hạn khoản vay hay thời gian đầu
tư Mỗi quốc gia sẽ thể hiện sự khác biệt các cấu trúc thành phần trên bảng cân đối
kế toán Tóm lại, để một hệ thống tài chính vững mạnh thì không thể thiếu sót được một trong hai yếu tố này
Trang 19Ban đầu, các tiêu chuẩn Basel III có hiệu lực từ năm 2013 và được thực hiện theo lộ trình đến năm 2018 và thực hiện đầy đủ từ 01/01/2019 Tuy nhiên 2017, một cải cách quan trọng của Basel III được thông qua và lùi thời hạn bắt đầu áp dụng từ năm 2022 và áp dụng theo từng giai đoạn trong vòng 5 năm nhằm giúp các ngân hàng có đủ thời gian để triển khai thực hiện
2.2 Các nghiên cứu về việc áp dụng Basel III tại các nước trên thế giới
Theo những lập luận của Nikiforos Chatzigakis (2016) cho rằng mục tiêu chính ban đầu hiệp ước Basel đặt ra là ổn định phát triển kinh tế và cải thiện sự ổn định ngành ngân hàng Giúp ngân hàng có thể đối phó tạm thời với những “cú sốc” từ đó làm giảm sự ảnh hưởng từ khu vực tài chính sang nền kinh tế Tuy nhiên áp dụng theo Basel III với một vài sự thay đổi như thay đổi trong cấu trúc vốn, dẫn đến làm tăng chi phí cho các giao dịch phái sinh và chứng khoán Chẳng hạn như một “tấm đệm phòng rủi ro chu kỳ” cũng góp phần làm gia tăng chi phí tín dụng, nó giống như một “chiếc phanh” đối với việc gia tăng tuy quy mô tín dụng Hay một ngân hàng nắm giữ những tài sản có tính thanh khoản cao hầu như sẽ không mất giá trị theo thời gian và tất nhiên sẽ mang lại mức lợi nhuận thấp hơn tài sản có tính thanh khoản thấp hơn Bởi việc cho vay đối với các doanh nghiệp SMEs được xem như tài sản có tính thanh khoản thấp, yêu cầu mức phí cao hơn, ảnh hưởng đến chi phí tài trợ của doanh nghiệp Tỷ lệ LCR cũng có thể cản trở việc cung cấp cho vay của ngân hàng, bởi khi tăng tài sản có tính thanh khoản thấp, sẽ dẫn đến việc làm giảm LCR Song song đó, chi phí tài trợ cho một doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ cao bởi những thông tin bất cân xứng, ngân hàng sẽ khiến ngân hàng không thể đánh giá mức độ tin cậy của công ty nên sẽ có thêm phí cho việc này khi mà có đến 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ trong tổng số doanh nghiệp của cả khu vực OECD và ADB Điều này sẽ làm cho việc chi phí bỏ ra của những người đi vay sẽ gia tăng Chi phí cao sẽ hạn chế việc tiếp cận các nguồn tài trợ, ảnh hưởng đến khả năng hoạt động công ty, xác suất vỡ nợ (PD) của những công ty này cũng ở mức cao và ảnh hưởng tiêu cực đến GDP nền kinh tế Ponce and Briozzo (2011) đã kiểm tra sự tác động của Basel II và III đối với mức vốn yêu cầu và kết luận rằng giai đoạn 2005-
Trang 202007 xác xuất vỡ nợ của các công ty tại các doanh nghiệp ở Tây Ban Nha chỉ ở mức 3%, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008 đã tăng lên mức 5% và gần 7,6% vào năm 2009 do sự ảnh hưởng bởi các yêu cầu vốn khắt khe của Basel III mà các ngân hàng đang áp dụng
Cũng theo báo cáo OECD, để các ngân hàng đáp ứng yêu cầu Basel III (với mức 4,5% tỷ lệ vốn chủ sở hữu, 6% cho tỷ lệ vốn cấp 1) vào năm 2019 thì phải tăng mức chênh lệch lãi suất khoảng 15 điểm cơ bản Và 50 điểm cơ bản nếu mục tiêu yêu cầu vốn 7% tỷ lệ vốn chủ sở hữu, 8,5% cho tỷ lệ vốn cấp 1 kéo theo tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng giảm Cùng kết luận khi Sutorova và Teply (2013) nghiên cứu các ngân hàng cho vay ở Châu Âu rằng, khi gia tăng 1% vốn chủ ngân hàng để đáp ứng yêu cầu vốn là sự kéo theo sự gia tăng 18,8 điểm cơ bản về lãi suất cho vay, kèm theo mức giảm khoản vay chỉ ở mức 2% so với hiện tại Nhưng các ngân hàng
đã đáp ứng những yêu cầu vốn từ trước thì việc thay đổi lãi suất hay khoản vay hầu như không thay đổi Như vậy, ở góc độ nào đó họ cho rằng nó chỉ có tác động tạm thời, về lâu dài sẽ tạo ra một tác động tích cực hơn, tạo ra một cấu trúc tài chính an toàn và ổn định, ngăn chặn được những rủi ro quá mức Sẽ giúp cho nền kinh tế ổn định và tăng trưởng Meilan Yan (2012) đã nghiên cứu về những chi phí cũng như những lợi ích dài hạn ở Anh khi áp dụng những quy định thanh khoản Basel III đươc để xuất bởi Ủy ban giám sát ngân hàng Basel (BCBS) Tác giả sử dụng số liệu báo cáo thường niên các ngân hàng ở Anh giai đoạn 1997-2010 để tính toán phân tích các chỉ tiêu về thanh khoản Và kết quả cho rằng, các yêu cầu vốn về ngân hàng
và chất lượng vốn cao hơn, sẽ có thể ngăn chặn sự xuất hiện một cuộc khủng hoảng ngân hàng Thật vậy, nếu gia tăng một tỷ lệ TCE/RWA (ước tính tỷ lệ tài sản vốn
“lõi” trên tổng tài sản có rủi ro) hay tỷ lệ NSFR sẽ làm giảm xác suất khủng hoảng xảy ra đồng thời sẽ làm gia tăng được những lợi ích đáng kể cả trong ngắn và dài hạn Như vậy, với việc cải cách theo Basel III sẽ mang lại những lợi ích đáng kể cho Vương Quốc Anh Việc tối ưu vốn lõi ngân hàng ở mức 10% (cao hơn mức quy định Basel III là 7%) đã tạo ra những lợi ích cho nền kinh tế Hoặc một mức NSFR
Trang 21ở mức 1 có khả năng tăng cường sự ổn định tài chính ở Anh bằng cách tăng cường chất lượng cả cơ sở vốn và cơ cấu tài trợ của ngân hàng
Pornsit Jiraporn (2014) khi xem xét về mô hình phá sản của ngân hàng (Z-score) của Laeven and Lavine (2009) với Z = (ROA + CAR) / nhằm đánh giả khả năng phá sản của ngân hàng khi có sự thay đổi cấu trúc vốn theo chuẩn Basel III Mẫu nghiên cứu bao gồm 68 ngân hàng từ 11 nước Đông Á giai đoạn 2006-2000 Các ngân hàng nằm trong top 10 của mỗi quốc gia Từ các nước Trung Quốc, Thái Lan, Hồng Koong, Singapore, Indonesia, Malaysia, Hàn Quốc, Nhật Bản, Sri Lanka, Ấn Độ và Philipin Theo tác giả, các nước Đông Á tập trung nhiều nước áp dụng chuẩn Basel II (Sau liên minh Châu Âu) nên có mức độ tuân thủ và đồng nhất giữa các quốc gia cao và Đông Á cũng không bị ảnh hưởng nhiều từ cuộc khủng hoảng nợ Châu Âu Ngoài ra, Đông Á nói chung hay Trung Quốc nói riêng đã chứng kiến tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng, vì vậy việc tập trung vào khu vực này sẽ phần nào cho ta thấy được sự ảnh hưởng các quy định Basel III đối với những nền kinh tế mới nổi trên thị trường tài chính toàn cầu Tác giả chỉ ra rằng, việc tập trung quyền sở hữu đối với các cổ đông lớn của ngân hàng có mối quan hệ nghịch chiều với Z Nó cũng phù hợp với những quan điểm rằng cổ đông lớn sẽ dễ chấp nhận rủi ro hơn để có được những lợi nhuận kỳ vọng cao hơn trong khi các nhà quản lý thì chấp nhận rủi ro ít hơn để đảm bảo được vị trí, uy tín và lợi ích nghề nghiệp (Galai and Masulis, 1976; Demsetz and Lehn, 1985) Hay theo Jensen và Meckling (1976) những ngân hàng phân tán quyền sở hữu thường trung lập với rủi
ro do khả năng có thể đa dạng hóa được rủi ro vào nhiều kế hoạch khác nhau Và kết quả nghiên cứu cũng đúng với nghiên cứu của của Laeven và Levine (2009) khi thấy được mối quan hệ rủi ro ngân hàng với cấu trúc sở hữu của ngân hàng Một mối quan hệ đồng biến giữa mức độ chấp nhận rủi ro và sức mạnh của các cổ đông
Tỷ lệ ổn định ròng (NSFR) tỷ lệ thuận với điểm Z, chứng tỏ được rằng chất lượng nguồn vốn càng ổn định thì xác suất phá sản ngân hàng sẽ giảm Bên cạnh đó, vai trò của phát triển kinh tế cũng ảnh hưởng phần nào đến xác suất phá sản của ngân hàng và mức độ ảnh hưởng của những quy định theo Basel III là không giống nhau
Trang 22ở các quốc gia có nền kinh tế khác nhau Những quốc gia có nền kinh tế phát triển, những thông tin về tài chính kế toán đáng tin cậy cũng như các quy định cung cấp thông tin nghiêm ngặt nên dữ liệu sẽ minh bạch hơn Giúp cho việc đánh giá sẽ trở nên tin cậy hơn và ngược lại Nếu như GDP dùng làm thước đo cho sự phát triển của quốc gia, tác giả cho thấy việc ổn định vốn có tác động mạnh hơn lên hệ số rủi
ro ở các nước phát triển hơn (nếu Z là biến phụ thuộc), và việc ổn định vốn sẽ làm giảm rủi ro càng nhiều khi nền kinh tế càng phát triển (biến động vốn là biến phụ thuộc) Tóm lại, việc ổn định vốn sẽ ảnh hưởng một mức độ rủi ro khác nhau ở các quốc gia có nền kinh tế phát triển khác nhau
Một câu hỏi khác được đặt ra rằng: “Những ảnh hưởng nào có thể xảy ra dưới những quy định chặt chẽ của Basel III lên giá trị thị trường của các ngân hàng ở Châu Âu?” Nếu giá trị của ngân hàng giảm là vì giữ lại nhiều vốn hơn trước để đáp ứng các yêu cầu vốn, lúc này thị trường sẽ phản ứng tiêu cực về khả năng sinh lời của ngân hàng đó Hoặc ngược lại nếu thị trường có phản ứng tích cực, thì các nhà đầu tư cho rằng rủi ro ngân hàng đó đã giảm đi Vậy vấn đề ở đây, với những yêu cầu vốn cao có thể đưa ra một dấu hiệu tốt hay tích cực cho thị trường không? Vấn
đề này cũng đã được rất nhiều người quan tâm và nghiên cứu trong suốt nhiều năm qua về mối quan hệ giữa vốn giá trị giữ lại và giá trị của một ngân hàng Đầu tiên, theo học thuyết của Modigliani and Miller (Lý thuyết MM) năm 1958 đã phát biểu rằng “ Giá trị thị trường của bất kỳ công ty nào thì không phục thuộc vào cấu trúc vốn” Điều này có thể có nghĩa là giá trị của công ty được xác định bởi thu nhập được tạo ra bởi tài sản của nó, chứ không phải bằng cách tài sản được tài trợ hoặc thu nhập từ việc sử dụng tài sản Lý thuyết này chỉ có thể được áp dụng trong thế giới hoàn hảo, nghĩa là, nơi có thông tin bất cân xứng, không có thuế, không có chi phí phá sản, không có chi phí giao dịch, có chi phí vay tương đương cho các công ty
và nhà đầu tư, không có chi phí đại lý và không ảnh hưởng của nợ trên các công ty thu nhập và nhiều hơn nữa Thứ hai, các học giả vào những năm 1970 lại cho rằng nếu tỷ lệ vốn giá tăng do việc phát hành cổ phiếu mới thì mối quan hệ giữa vốn và giá trị ngân hàng là tiêu cực (tỷ lệ nghịch) (Ross, 1977; Myer and Majluf, 1984) Và
Trang 23cuối cùng là Valkanow and Kleimeier (2007) đã tìm ra vai trò của cấu trúc vốn trong việc thâu tóm các Ngân hàng ở Mỹ và Châu Âu và nhận ra rằng vốn là biến số quan sát quan trọng đối với người mua Do đó Barbora Sutorova, Petr Teply (2014)
đã nghiên cứu về những sự tác động này tại các ngân hàng ở Châu Âu Những nguyên tắc về Basel III theo chỉ thị yêu cầu vốn IV (CRD IV) do Ủy ban Châu Âu công bố hồi tháng 07/2011 và được áp dụng cho hơn 8300 ngân hàng tại EU Một
số điểm cơ bản của CRD IV bao gồm tỷ lệ CAR vẫn mức 8% (trong đó yêu cầu vốn
cổ phần phổ thông là 4,5%), vốn đệm dự phòng 2,5%, bắt đầu áp dụng tính LCR và yêu cầu đạt 100% vào năm 2018, đưa ra yếu tố rủi ro tín dụng đối tác nhằm giảm thiểu sự phụ thuộc các tổ chức xếp hạng tín dụng bên ngoài Đồng thời, Cơ quan ngân hàng Châu Âu (EBA) đã đưa ra những điều kiện được đánh giá là khắt khe hơn cả Basel III: yêu cầu vốn cấp 1 mức 9% (Basel III là 6%) cho các ngân hàng ở
EU Dựa trên kết quả nghiên ông kết luận rằng dưới sự quy định của Basel III giá trị Ngân hàng có thể bị đánh giá tiêu cực, phản ánh qua sự sụt giảm giá trị thị trường
cổ phiếu của ngân hàng tại Châu Âu
2.3 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các nước trên thế giới
Các ngân hàng luôn hoạt động trong môi trường không có sự chắc chắn, do đó vốn đóng một vai trò quan trọng nhằm duy trì sự an toàn của ngân hàng An toàn vốn thực hiện nhiều chức năng trong hệ thống ngân hàng, nhưng quan trọng là tấm đệm hoạt động nhằm hấp thụ thua lỗ và tạo niềm tin cho các cổ đông Như vậy hệ
số an toàn vốn được khuyến nghị nhằm đảm bảo ngân hàng có thể chịu mức thua lỗ hợp lý trước khi mất khả năng thanh toán Cùng quan điểm khi Pamuji Gesang Raharjo (2014) cho các ngân hàng được yêu cầu phải có đủ số vốn nhằm để hỗ trợ
mở rộng kinh doanh cũng như một bộ đệm để ngăn chặn và hấp thụ bất kỳ tổn thất bất ngờ nào xảy ra trước khả năng mất khả năng thanh toán Tại Indonesia các ngân hàng được xem là xương sống của nền kinh tế Do đó, ngân hàng trung ương Indonesia luôn rất chú trọng nhằm đảm bảo an toàn vốn cho các ngân hàng tại đây
Và các ngân hàng cũng đã áp dụng Basel III vào việc quản trị rủi ro từ 01/01/2013
Trang 24đến nay NHTW Indonesia chú trọng vào việc giám sát an toàn vĩ mô hệ thống tài chính các ngân hàng tại quốc gia này nhằm đảm bảo hoạt động ổn định, các bài chịu đựng stress test của các quy chuẩn Basel Quy định việc gia tăng tỷ lệ yêu cầu an toàn vốn tối thiểu phụ thuộc vào mức độ rủi ro của từng loại ngân hàng Dao động
từ mức tối thiểu theo Basel là 8% đến 14% (với mức độ xếp hạng rủi ro tín dụng ngân hàng từ mức 1-5) Đồng thời bổ sung thêm vốn đệm an toàn vốn là 2,5% so với tài sản có rủi ro, vốn đệm chống hiệu ứng chu kỳ dao động từ 0 – 2,5% và vốn đệm chống rủi ro hệ thống từ 1-2,5% tương tự như quy định Basel III Nghiên cứu
dữ liệu ngân hàng Indonesia giai đoạn từ 2004-2012 đã chỉ ra một tác động tiêu cực của việc gia tăng tài sản đến hệ số an toàn vốn tại quốc gia này Sự tăng trưởng của tài sản ngân hàng chủ yếu là do sự tăng trưởng cả trong các khoản vay và các công
cụ tài chính rủi ro sẽ khiến ngân hàng thất thoát tiềm ẩn từ các khoản nợ xấu và thua
lỗ từ giảm giá của các công cụ tài chính do các ngân hàng nắm giữ Do đó, việc tăng các tài sản có rủi ro rủi ro sẽ làm giảm mức độ an toàn vốn của ngân hàng Trong khi đó tỷ lệ nợ xấu (NPL) tác động ngược chiều đến hệ số an toàn vốn Biên lãi ròng (NIM) tại các ngân hàng Indonesia rất cao tuy nhiên phát hiện này chỉ ra rằng
nó không ảnh hưởng đến tỷ lệ vốn của họ Vì theo lý thuyết, NIM ảnh hưởng tích cực đến vốn ngân hàng, vì khi có biên lợi nhuận cao cho phép các ngân hàng tăng thêm vốn thông qua thu nhập giữ lại và để đưa ra tín hiệu tích cực về giá trị của ngân hàng Bên cạnh đó hoạt động chính của một ngân hàng là huy động và cho vay nên tồn tại yếu tố về rủi ro lãi suất vốn có trong tài sản của ngân hàng và các khoản
nợ phải trả, nghĩa là rủi ro thua lỗ liên quan đến độ nhạy cảm khác nhau của tài sản sinh lợi và nguồn vốn ngân hàng do thay đổi lãi suất Rủi ro lãi suất khi tăng 1% sẽ làm giảm tỷ lệ an toàn vốn 0,07%
Một nghiên cứu khác của Osama A.El-Ansay và Hassan M.Hafez (2015) đã nghiên cứu sự khác biệt giữa các tác động đến tỷ lệ an toàn vốn trước và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 với 2 giai đoạn là 2007-2008 và 2009-2013 của các ngân hàng thương mại tại Ai Cập Các ngân hàng tại Ai cập cũng đang áp dụng theo chuẩn Basel II và III Kết quả cho thấy một sự tác độngkhác biệt về thu nhập từ
Trang 25tài sản của ngân hàng Nó có một tác động tiêu cực đến hệ số an toàn vốn trước khủng hoảng năm 2008 Sau khủng hoảng, một tỷ lệ thu nhập từ tài sản hay một tỷ cho vay trên tài sản cũng như có tác động tích cực đến hệ số an toàn vốn này Điều
đó chứng tỏ rằng, sau cuộc khủng hoảng tài chính và sự thất bại của nhiều ngân hàng các ngân hàng Ai Cập đã bắt đầu xem xét cẩn thận trong việc quản trị rủi ro tín dụng, chất lượng khoản vay Bên cạnh đó là việc rà soát các danh mục cho vay, nghiêm ngặt hơn trong việc cung cấp các khoản vay cho khách hàng không chỉ vậy còn kết hợp danh mục đầu tư trong các khoản vay thương mại và công nghiệp (C&I loans), mảng bán lẻ và chứng khoán đã được thay đổi đáng kể để thấy rằng cho vay bán lẻ và chứng khoán ở một số ngân hàng đại diện cho phần lớn của danh mục đầu
tư ngân hàng Ai Cập để so sánh với danh mục trong những năm qua để từ đó các ngân hàng sẽ bắt đầu thận trọng hơn trong xây dựng các khoản dự phòng cho vay khi mà điều này biện minh cho thực tế rằng các khoản dự phòng tổn thất cho tổng các khoản vay có tương quan đáng kể tiêu cực đến hệ số an toàn vốn sau khủng hoảng
Trang 263 CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN HỆ SỐ CAR CỦA CÁC NHTM VIỆT NAM
3.1 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp từ báo cáo thường niên của 30 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2010 - 2018 Ngoài ra, dữ liệu cấp quốc gia như tốc độ tăng trưởng kinh kế và hệ số an toàn vốn của các nước trên thế giới được thu thập từ
cơ sở dữ liệu của Ngân hàng Thế Giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)
3.2 Mô hình nghiên cứu
Bài “nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng tới hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” của Tiến sĩ Thân Thị Thu Thủy và Thạc sĩ Nguyễn Kim Chi và Bài nghiên cứu của PGS.TS Lê Thanh Tâm và Nguyễn Diệu Linh “các yếu tố quyết định tới tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng: bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam” Dựa trên mô hình nghiên cứu của hai bài viết trên, bài luận sử dụng mô hình nghiên cứu tương tự và có thay đổi các biến như sau:
Mô hình sẽ xem xét những ảnh hưởng của các yếu tố trọng yếu đến hệ số an toàn vốn (CAR) tại Việt Nam của ngân hàng i trong khoảng thời gian t:
Trang 27: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Trong đó, cách tính CAR của các ngân hàng Việt Nam hiện tại theo Thông tư số 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2015 của Ngân hàng nhà nước quy định về các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo trong hoạt động của các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài
Quy mô ngân hàng (SIZE)
Quy mô ngân hàng được xác định bằng logarit tự nhiên tổng tài sản Quy mô được kỳ vọng sẽ có mối ảnh hưởng tích cực đến hệ số an toàn vốn Vì một ngân hàng gia tăng quy mô thì họ sẽ tăng thêm vốn để có thể đảm bảo theo các yêu cầu vốn của ngân hàng nhà nước Tuy nhiên biến số này có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực phụ thuộc vào cách chọn lựa cơ cấu tài sản và chiến lược kinh doanh của mỗi ngân hàng Nếu một ngân hàng theo đuổi chiến lược tăng quy mô từ tăng trưởng tín dụng chẳng hạn có thể gây ra sự sụt giảm hệ số an toàn vốn bởi việc tăng trưởng tín dụng là một chiến lược có rất nhiều rủi ro
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA)
Là tỷ số giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản Tỷ số thường có tác động tích cực đến hệ số an toàn vốn Ngân hàng có khả năng sinh lời cao và ổn định có khả
Trang 28năng tích lũy vốn nhiều hơn Đồng thời, kinh doanh có lãi cũng cho thấy rằng ngân hàng có một thệ thống quản trị rủi ro hiệu quả Tuy nhiên, có những ngân hàng theo đuổi mục tiêu lợi nhuận cao nên phải chấp nhận đánh đổi bằng những chiến lược có mức độ rủi ro cao hơn
Biên lãi ròng ngân hàng (NIM)
Biên lãi ròng ngân hàng (hay thu nhập lãi thuần) được tính bằng tỷ lệ giữa thu nhập lãi và tổng tài sản sinh lời của ngân hàng, đây là một chỉ tiêu tiêu biểu xác định khả năng sinh lời của một ngân hàng Một hoạt động của ngân hàng thương mại thường đến từ cho vay, tuy nhiên sẽ có thêm vài hoạt động khác như kinh doanh chứng khoán, công cụ phái sinh, bảo lãnh, giao dịch ngoại hối nhằm tăng khả năng sinh lời Tuy nhiên cho vay – huy động vẫn là hoạt động chủ yếu Như vậy, nếu một ngân hàng có khả năng phân bổ tốt vào những tài sản có khả năng sinh lãi cao, hiệu quả thì sẽ có NIM cao Và biến này kỳ vọng có tác động tích cực đến CAR
Tỷ lệ cho vay (LOA)
Tỷ lệ cho vay được tính bằng tổng dư nợ trên tổng tài sản Đây là một hệ số quan trọng khi nó thể hiện sự cân bằng giữa đa dạng hoá đầu tư và xây dựng các cơ hội đầu tư Nó đo lường sự ảnh hưởng của những khoản vay đến danh mục tài sản vốn Tỷ lệ này cao dễ dẫn đến việc giảm khả năng thanh khoản kéo theo xác suất vỡ
nợ cao Biến này được cho là tác động tiêu cực với hệ số an toàn vốn
Tỷ lệ nợ xấu (NPL)
Tỷ lệ nợ xấu được tính bằng tỷ lệ nợ xấu chia cho tổng nợ Nó được cho là tác động tiêu cực với hệ số CAR Một ngân hàng có nhiều nợ xấu, sẽ dẫn đến việc trích lập dự phòng tăng, tốn nhiều chi phí Tuy nhiên, nó cũng có thể có tác động cùng
Trang 29chiều khi mà ngân hàng có nhiều nợ xấu, các ngân hàng sẽ gia tăng vốn để đảm bảo
ạn toàn vốn
Tỷ lệ huy động vốn (DEP)
Tỷ lệ huy động vốn là tỷ lệ huy động tiền gửi trên tổng tài sản Tiền gửi được xem là nguồn tài chính với chi phí thấp so với vay mượn và các công cụ tài chính khác Gia tăng huy động được mong đợi sẽ có mối quan hệ tiêu cực với CAR Vì khi đã có được nguồn vốn này, các ngân hàng sẽ tìm đến các khoản đầu tư có rủi ro hơn để duy trì gia tăng lợi nhuận
Tốc độ phát triển kinh tế Việt Nam (GDP)
GDP: Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam là chỉ số được đo lường thông qua mức tăng trưởng của hàng hóa thành phẩm và các sản phẩm dịch vụ được sản xuất trong nước trong một khoảng thời gian cụ thể Một vấn đề đặt ra rằng, các ngân hàng có thể sẽ bị những tổn thất do những rủi ro có thể xảy ra trong bối cảnh nền kinh tế bị suy thoái, do đó, họ sẽ thường nắm nhiều vốn hơn nhằm giảm bớt những tổn thất tiềm ẩn Do đó, tăng trưởng kinh tế được mong đợi có mối quan hệ tiêu cực với hệ số CAR
Bảng 3.1 Tổng hợp các giả thuyết nghiên cứu
Các biến Ký
hiệu Cách xác định
Mối quan
hệ Biến phụ thuộc
Trang 303.4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Bảng 3.2 Thống kê mô tả các biến Biến quan sát Số quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất
Nguồn: Theo kết quả chạy mô hình của tác giả trên STATA 14
Mẫu dữ liệu nghiên cứu tổng hợp từ báo cáo thường niên của 30 ngân hàng Việt Nam trong khoảng thời gian từ 2010 – 2018 Tổng cộng có 270 biến quan quát Trong đó giá trị trung bình CAR toàn hệ thống ngân hàng là 14,19% Trong đó chú
ý là mức CAR nhỏ nhất chỉ có 8,02% của ngân hàng Vietinbank vào năm 2010, chưa đáp ứng được quy định của Ngân hàng Nhà nước tại Thông tư 13/TT-NHNN
do tiến độ tăng vốn điều lệ từ cổ đông nước ngoài chưa đạt được như kế hoạch của ngân hàng Đến ngày 10/3/2011, sau khi IFC hoàn tất thủ tục góp vốn, hệ số CAR
Trang 31của VietinBank đã đạt mức > 9% (theo báo cáo thường niên ngân hàng Vietinbank năm 2010 ngày 10/3/2011) Như vậy nhìn chung hệ số an toàn vốn các ngân hàng đều cao hơn mức quy định của NHNN là 9% Trung bình ROA khoảng 0,7%, khoảng cách giữa ROA tối thiểu -5,51% và mức tối đa là 4,73% là khá lớn
Bảng 3.3 Hệ số tương quan giữa các biến CAR ROA SIZE LEV LOA NPL NIM GDP DEP CAR 1
Nguồn: Theo kết quả chạy mô hình của tác giả trên STATA 14
Ma trận tương quan trong bảng cho thấy CAR (biến phụ thuộc) có tương quan dương với ROA, LEV, NPL và NIM Tuy nhiên SIZE, LOA, GDP và DEP có mối tương quan âm với hệ số an toàn vốn Qua bảng ta thấy có 2 cặp biến có khả năng xảy ra đa cộng tuyến là tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA) với thu nhập lãi thuần (NIM) ; tỷ lệ cho vay (LOA) với tỷ lệ huy động (DEP) Do đó để xác định hiện tượng đa cộng tuyến có tồn tại hay không, nghiên cứu sử dụng kiểm định hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor – VIF) để kiểm tra cho dữ liệu bảng thông qua lệnh Collin trong STATA Kết quả cho thấy VIFs đều nhỏ hơn 10,
do đó không có dấu hiệu của đa cộng tuyến giữa các biến này trong mô hình
Trang 32Kết quả xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn
Trong nghiên cứu này phương pháp ước lượng được sử dụng ban đầu là mô hình ảnh hưởng cố định FEM và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên REM Sau đó, sẽ dùng kiểm định Hausman chọn ra mô hình phù hợp và kết luận Tuy nhiên, trong mô hình vẫn còn tồn tại vấn đề nội sinh và hiện tượng phương sai thay đổi, dẫn đến kết quả ước lượng FEM và REM không còn hiệu quả Để giải quyết vấn đề đó, nghiên cứu tiến hành kiểm định các khuyết tật của mô hình Cuối cùng, nghiên cứu sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi GLS áp dụng cho các biến đã được biến đổi từ một mô hình vi phạm các giả thiết cổ điển thành một mô hình mới thoả mãn các giả thiết cổ điển