LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn c
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM HOÀNG BẢO NGỌC
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
PHẠM HOÀNG BẢO NGỌC
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CỔ PHẦN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng (Hướng ứng dụng)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” là công trình nghiên cứu của chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phan Thị Bích Nguyệt
Các số liệu được phân tích và chạy mô hình hồi quy trong nghiên cứu là trung thực do chính tác giả thu thập, có nguồn gốc minh bạch rõ ràng
Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan của mình
TP Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 6 năm 2019
Tác giả luận văn
Phạm Hoàng Bảo Ngọc
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT
ABSTRACT
PHỤ LỤC 6
TÓM TẮT 10
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 3
1.6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu 3
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 5
2.1 Tổng quan lý luận về nợ xấu 5
2.1.1 Khái niệm nợ xấu 5
Trang 52.1.2 Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu 6
2.1.3 Hậu quả của nợ xấu 7
2.2 Các yếu tố tác động đến nợ xấu 8
2.2.1 Các yếu tố vĩ mô 8
2.2.2 Các yếu tố vi mô 9
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước 10
2.4 Điểm mới của đề tài 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 15
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP VIỆT NAM 16
3.1 Giới thiệu về các NHTM Việt Nam 16
3.1.1 Hệ thống các NHTM Việt Nam 16
3.1.2 Quy mô NHTM Việt Nam 17
3.2 Thực trạng nợ xấu các NHTMCP Việt Nam 19
3.3 Mối quan hệ của các yếu tố vĩ mô và vi mô tác với nợ xấu tại NHTMCP Việt Nam 23
3.3.1 Các yếu tố vĩ mô 23
3.3.2 Các yếu tố vi mô 26
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 31
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP VIỆT NAM 32
4.1 Mô hình nghiên cứu 32
4.1.1 Các giả thuyết nghiên cứu 32
4.1.2 Các biến nghiên cứu 36
Trang 64.1.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 39
4.2 Phương pháp nghiên cứu 40
4.3 Dữ liệu nghiên cứu 40
4.4 Kết quả nghiên cứu 41
4.4.1 Thống kê mô tả 41
4.4.2 Phân tích tương quan 43
4.4.3 Kiểm định đa cộng tuyến 43
4.4.4 Kết quả ước lượng hồi quy mô hình nghiên cứu 44
4.4.5 Thảo luận kết quả nghiên cứu 51
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 58
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA VÀ GIẢM THIỂU NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP VIỆT NAM 59
5.1 Các giải pháp chính phủ và NHNN 59
5.2 Đối với các NHTMCP 62
5.3 Hạn chế của đề tài và gợi ý hướng nghiên cứu tiếp theo 64
5.3.1 Hạn chế của đề tài 64
5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 66
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Tiếng Việt
Tiếng Anh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu 12
Bảng 3.1 : Số lượng ngân hàng Việt Nam 2008-2018 16
Bảng 3.2 : Quy mô NHTM Việt Nam tính đến 31/12/2018 18
Bảng 3.3: Tổng quan về tỷ lệ nợ xấu và dư nợ tín dụng của hệ thống Ngân hàng ở Việt Nam 19
Bảng 4.1: Tổng hợp các biến nghiên cứu của tác giả 38
Bảng 4.2: Thống kê mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu 41
Bảng 4.3: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mô hình 43
Bảng 4.4: Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 44
Bảng 4.5: Kết quả hồi quy Pool OLS 44
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi 45
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định tự tương quan 46
Bảng 4.8: Kết quả hồi quy theo mô hình tác động cố định (FEM) 47
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) 48
Bảng 4.10: Kiểm định Hausman 49
Bảng 4.11: Kết quả hồi quy theo phương pháp FGLS 50
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 3.1 Tổng quan về tỷ lệ nợ xấu và dư nợ tín dụng của hệ thống Ngân hàng ở
Việt Nam giai đoạn 2008-2017 20
Hình 3.2: Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ nợ xấu 23
Hình 3.3: Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nợ xấu 24
Hình 3.4: Mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ nợ xấu 25
Hình 3.5: Mối quan hệ tăng trưởng quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu 26
Hình 3.6: Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ xấu 27
Hình 3.7: Mối quan hệ giữa tỷ lệ ROE và tỷ lệ nợ xấu 29
Hình 3.8: Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ xấu năm trước và tỷ lệ nợ xấu 30
Trang 10TÓM TẮT
Tiếng Việt
Hoạt động tín dụng là hoạt động xương sống của các ngân hàng, đóng góp to lớn vào lợi nhuận của ngân hàng Tuy nhiên nếu chất lượng tín dụng chưa cao và việc quản trị rủi ro chưa tốt sẽ dẫn đến tình trạng nợ xấu Tác giả nghiên cứu đánh giá thực trạng về nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam và chỉ ra các yếu tố tác động đến nợ xấu,
từ đó đưa ra các giải pháp để giảm thiểu nợ xấu
Từ dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài chính, nguồn từ NHNN,… tác giả sử dụng phương pháp định tính để phân tích và đánh giá thực trạng nợ xấu Tác giả cũng sử dụng phương pháp định lượng được ước lượng bằng mô hình FEM, REM và thực hiện các kiểm định để chọn ra mô hình phù hợp nhất
Kết quả nghiên cứu chỉ ra các yếu tố tác động đến nợ xấu là tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ lạm phát, tăng trưởng quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu năm trước Kết quả này phù hợp với lý thuyết, thực trạng ở Việt Nam cũng như phù hợp với kết quả các nghiên cứu thực nghiệm trước đây
Kết luận và hàm ý: Từ thực trạng và kết quả nghiên cứu các yếu tố tác động đến
nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam, tác giả có được các bằng chứng thực nghiệm để
đề ra một số giải pháp cho các ngân hàng cũng như đối với các chính sách vĩ mô cho
nền kinh tế để hạn chế nợ xấu
Từ khóa: Yếu tố tác động nợ xấu
Trang 11ABSTRACT
English
Credit activity is key activity of banks, making a significant contribution to the bank’s profit However, if credit quality is not high and risk management is not good, bad debt will be caused From the assessment of the current situation of bad debts in Vietnamese commercial banks and pointing out the factors affecting bad debts, it will help to provide solutions to minimize bad debts
From secondary data collected from financial statements, sources from the State Bank, the author uses a qualitative method to assess the status of bad debts The author also uses quantitative method by using the table data regression model estimated by FEM model, REM model and tests to select the most suitable model The research results show that factors affecting bad debt are Gross Domestic Products, unemployment rate, inflation rate; Bank scale, bad debt ratio previous year This result is consistent with the theory and situation in Vietnam as well as consistent with the results of previous empirical studies
Conclusions and implications: From the current situation and the results of research on micro and macro factors affecting bad debts of Vietnamese commercial banks, the author has obtained empirical evidence to propose some solutions for bank
as well as macro policies for the economy to prevent and limit bad debts
Keywords: Determinants of Non Performing Loans
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài
Thực hiện đường lối của Đảng về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nền kinh tế Việt Nam phải đáp ứng khối lượng vốn tiền tệ rất lớn Thị trường vốn của Việt Nam hiện nay chưa phải là kênh phân bổ vốn có hiệu quả cho nền kinh tế, vốn đầu tư cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn vốn tín dụng của hệ thống các ngân hàng Cùng với những lợi thế về hệ thống mạng lưới ngân hàng rộng khắp cả nước và đối tượng khách hàng đa dạng, các NHTM Việt Nam với vai trò là trung gian tài chính đã trở thành kênh cung ứng vốn hữu hiệu cho nền kinh tế
Trong những năm gần đây, hoạt động của hệ thống các NHTM Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực Hoạt động cơ bản nhất của NHTM là hoạt động tín dụng, thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm đến 80% thu nhập của các ngân hàng, do đó khi có rủi ro tín dụng xảy ra sẽ ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập của ngân hàng Nếu chất lượng tín dụng chưa cao và việc quản trị rủi ro còn nhiều bất cập sẽ dẫn đến tình trạng nợ xấu, nợ quá hạn và sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng Do đó một trong những vấn đề cần quan tâm nhiều nhất hiện nay đó là bằng cách nào để hạn chế nợ xấu tại ngân hàng
Theo báo cáo của NHNN, trong những năm gần đây, mặc dù tỷ lệ nợ xấu đang giảm và thấp hơn ngưỡng 3%, tuy nhiên cần phải nỗ lực hơn nữa trong việc quản lý
nợ xấu Nợ xấu tăng cao sẽ tăng chi phí và làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Từ việc nhìn nhận, đánh giá về thực trạng nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam, chỉ ra các yếu tố tác động đến nợ xấu từ đó sẽ giúp đưa ra các giải pháp để giảm thiểu nợ xấu
và rủi ro cho hoạt động ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng ngân hàng nói
riêng Trên cơ sở đó, tác giả chọn đề tài “Các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu
1.2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu:
Trang 13Trên cơ sở phân tích và đánh giá thực trạng nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam hiện nay, đồng thời chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu và mức độ tác động, từ
đó đưa ra giải pháp giảm thiểu nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam
Câu hỏi nghiên cứu:
Thực trạng nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam hiện nay như thế nào?
Các yếu tố vi mô và vĩ mô nào tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam hiện nay?
Giải pháp nào để phòng ngừa và giảm thiểu nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam?
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Các yếu tố vĩ mô và vi mô tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam
Phạm vi nội dung:
Phân tích thực trạng về nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam, thực trạng và mức
độ tác động của các yếu tố vĩ mô, vi mô tác động đến nợ xấu các NHTMCP Việt Nam
Phạm vi không gian:
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng nợ xấu tại 24 NHTMCP Việt Nam
Phạm vi thời gian:
Do hạn chế số liệu của năm 2018, tác giả dẫn chứng số liệu thực trạng nợ xấu tại
các NHTMCP Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp định tính: Từ dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo tài
chính, thông tin từ NHNN, nguồn từ Internet và các tài liệu chuyên môn, tác giả sử dụng phương pháp so sánh tổng hợp, thống kê mô tả lập bảng biểu, vẽ đồ thị để đánh giá và nhận xét thực trạng nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam
Phương pháp định lượng: Tác giả sử dụng phương pháp định lượng bằng mô
hình hồi quy dữ liệu bảng được ước lượng bằng mô hình Fix Effect Model (FEM),
Trang 14Random Effect Model (REM) và các kiểm định trên phần mềm Stata 14.0 để lựa chọn
mô hình nào là phù hợp
1.5 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Có thể nói đề tài “Các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các Ngân hàng Thương mại
Cổ phần Việt Nam” là đề tài mang tính thực tiễn, từ việc phân tích thực trạng hoạt động của các NHTMCP Việt Nam, nợ xấu của các Ngân hàng, phân tích các yếu tố
vi mô vĩ mô tác động đến nợ xấu hiện nay để tìm ra nguyên nhân và đưa ra các giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng, nâng cao năng lực cạnh tranh, góp phần phát triển hoạt động của các Ngân hàng tại Việt Nam nói riêng và
cho nền kinh tế nói chung
1.6 Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Kết cấu của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về nợ xấu và các yếu tố tác động đến nợ xấu
Chương 3: Thực trạng nợ xấu và các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam
Chương 4: Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam
Chương 5: Giải pháp phòng ngừa và giảm thiểu nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam
Trang 15KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hoạt động của các NHTMCP Việt Nam chứa đựng nhiều rủi ro, dưới sự tác động của các yếu tố vĩ mô và vi mô Bài nghiên cứu nhằm tìm ra các yếu tố vĩ mô và vi mô nào tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam, từ đó tìm ra giải pháp nhằm hạn chế nợ xấu Trong chương 1 tác giả nêu lên lý do chọn đề tài, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu, bố cục của bài nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM 2.1 Tổng quan lý luận về nợ xấu
Nợ xấu (Non performing loan) được hiểu là khoản nợ khó đòi (doubtful debt) theo Fofack (2005), hoặc được hiểu là các khoản vay có vấn đề (loans problem) theo Berger và De Young (1997) Nợ xấu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và
bị nghi ngờ về khả năng trả nợ, là các khoản nợ không trả được mà ngân hàng không thể thu lợi được từ nó (Ernst&Young, 2004)
Một số quan điểm về nợ xấu:
Theo Tổ chức Tiền tệ Thế giới (IMF, 2004), nợ xấu được định nghĩa: “Một khoản vay được xem là nợ xấu khi nó quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi trong 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc gia hạn nợ theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ví dụ khi người vay phá sản) Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục
nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”
Theo quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: quá hạn trên 90 ngày, hoặc khả năng trả nợ bị nghi ngờ Quan điểm nợ xấu của ECB được xác định dựa trên kết quả thu hồi nợ của Ngân hàng
Theo Ủy ban Basel về giám sát Ngân hàng (BCBS) xác định khoản nợ bị xem là không có khả năng trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra:
- Ngân hàng đánh giá người vay không có khả năng trả đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động nào để cố gắng thu hồi
- Người vay đã bị quá hạn thanh toán 90 ngày
Trang 17Như vậy theo BCBS, nợ xấu bao gồm các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và
có dấu hiệu người đi vay không thể trả được nợ
Theo NHNN Việt Nam, quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về việc ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD của thống đốc NHNN ngày 22/04/2005 có nêu lên khái niệm nợ xấu, theo đó Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) Các nhóm nợ được phân loại tại Điều 6 tại quyết định này, trong đó, nợ nhóm 3 có thời gian quá hạn từ 90 đến
180 ngày; nợ nhóm 4 có thời gian quá hạn từ 181 đến 360 ngày; nợ nhóm 5 có thời gian quá hạn trên 360 ngày
Tổng hợp rút ra từ các định nghĩa trên, nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn mà NHTM cho vay không thu hồi được gốc và lãi đúng thời hạn cam kết Cụ thể hơn là những khoản nợ quá hạn trả nợ gốc và lãi 90 ngày trở lên
2.1.2.1 Nguyên nhân chủ quan
Sự yếu kém trong cách quản lý trong nội tại các Ngân hàng như công tác quản lý rủi ro còn yếu kém, chưa đánh giá triệt để về thực trạng và nhận định thị trường Các Ngân hàng chưa chú trọng, không giám sát chặt chẽ danh mục cho vay của Ngân hàng
Ngân hàng giảm bớt ràng buộc, quy định về điều kiện cấp tín dụng nhằm tăng tính cạnh tranh nhưng điều này dẫn đến cấp tín dụng cho các đối tượng chưa đủ tiêu chuẩn, làm gia tăng nợ xấu cho Ngân hàng
Ngân hàng thiếu thông tin trong việc thẩm định và đánh giá khách hàng đi vay, dẫn đến đưa ra quyết định cấp tín dụng chưa phù hợp
Do rủi ro đạo đức, năng lực cán bộ chuyên môn của Ngân hàng còn non kém, thiếu khách quan trong việc thẩm định khách hàng
Trang 18Nguyên nhân từ phía khách hàng do năng lực kinh doanh hạn chế, các phương
án kinh doanh triển khai không hiệu quả, thông tin cung cấp cho Ngân hàng thiếu minh bạch dẫn đến Ngân hàng không đánh giá đúng khả năng trả nợ khách hàng
2.1.2.2 Nguyên nhân khách quan
Nguyên nhân từ những thay đổi trong chính sách quản lý của Nhà nước, những quy định đặt ra còn nhiều bất cập
Nguyên nhân bất khả kháng do vấn đề của tự nhiên như thời tiết, khí hậu, thiên tai,… hoặc về môi trường kinh tế, chính trị, xã hội như sự phát triển của nền kinh tế, khung pháp lý, hoặc nguyên nhân từ khủng hoảng kinh tế
2.1.3.1 Đối với các NHTM
Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng, một khi ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao ảnh hưởng đến tâm lý của khách hàng, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và uy tín của ngân hàng
Nợ xấu gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của Ngân hàng Hoạt động huy động vốn và cho vay là hoạt động đóng vai trò xương sống của Ngân hàng, khi các khoản cho vay của ngân hàng gặp rủi ro dẫn đến khó thu hồi vốn trong khi ngân hàng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho các khoản tiền gửi đến hạn, do đó nợ xấu gây ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của ngân hàng
Nợ xấu còn làm giảm lợi nhuận của ngân hàng, hạn chế khả năng tăng trưởng tín dụng Nợ xấu cao làm cho thu nhập của ngân hàng giảm sút đáng kể, bên cạnh đó ngân hàng phải tăng thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý và các chi phí liên quan khác trong vấn đề xử lý nợ xấu
Nợ xấu cũng có thể gây ra phá sản ngân hàng một khi khả năng thanh toán đặc biệt là các khoản vay lớn, dễ dẫn đến khủng hoảng trong hoạt động của ngân hàng do suy yếu về tài chính, hệ số an toàn vốn không đảm bảo và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng
Trang 192.1.3.2 Đối với nền kinh tế
Không chỉ ảnh hưởng riêng đến ngân hàng riêng rẻ mà một khi nợ xấu tăng cao, gây đổ vỡ cả hệ thống ngân hàng, gây mất lòng tin của người dân, các nhà đầu tư Và
do đó làm ảnh hưởng đến hệ thống tài chính của cả quốc gia
Nợ xấu gây ảnh hưởng đến dòng vốn lưu thông trong nền kinh tế bị hạn chế, nhiều thành phần kinh tế không tiếp cận được nguồn vốn dẫn đến trì trệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, gây tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế Khi nợ xấu tăng cao đặt ra vấn đề xử lý nợ xấu, các khoản chi phí để xử lý nợ xấu thường rất lớn nên ngân hàng không thể tự bản thân xử lý mà cần dựa vào ngân sách nhà nước
2.2 Các yếu tố tác động đến nợ xấu
Yếu tố vĩ mô bao gồm các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, các yếu tố khách quan bên ngoài ngân hàng, tác động đến nợ xấu và hiệu hoạt động của ngân hàng Một số nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát,
tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất danh nghĩa, lãi suất thực, cung tiền,… đều tác động đến nợ xấu ngân hàng
Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP): khi tăng trưởng GDP đòi hỏi một mức thu
nhập cao hơn, do đó giúp cải thiện khả năng trả nợ của người đi vay làm cho nợ xấu giảm xuống Ngược lại, khi có sự suy thoái trong nền kinh tế, khả năng trả nợ của người đi vay có vấn đề, làm nợ xấu sẽ tăng lên
Tỷ lệ lạm phát: lạm phát làm giảm giá trị khoản vay nên làm thuận lợi hơn về
khả năng trả nợ, tuy nhiên lạm phát tăng cũng làm giảm thu nhập thực của khách hàng, một khi tiền lương tăng chậm hơn lạm phát thì sẽ dẫn đến rủi ro nợ xấu cho các khoản vay của khách hàng tại ngân hàng (Fofack 2005)
Tỷ lệ thất nghiệp: tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có
việc làm trên tổng số lực lượng lao động của xã hội Nguyên nhân do tình trạng hoạt
Trang 20động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị đình trệ sa sút nên phải sa thải bớt một lượng người lao động hoặc cũng có thể do nguyên nhân từ phía người lao động không muốn tìm kiếm việc làm Khi người lao động bị thất nghiệp sẽ không có thu nhập để trả nợ vay ngân hàng, và do đó tăng nợ xấu
Yếu tố vi mô tác động đến nợ xấu bao gồm các yếu tố xuất phát từ chính ngân hàng như quy mô, hiệu quả hoạt động, tốc độ tăng trưởng tín dụng
Quy mô ngân hàng: Ngân hàng có quy mô lớn phản ánh ngân hàng có sức mạnh
lớn, ngân hàng cho vay ở nhóm phân khúc khách hàng tiềm năng và có khả năng trả
nợ tốt do đó tỷ lệ nợ xấu sẽ thấp Tuy nhiên ở một góc độ khác, các ngân hàng lớn thường xu hướng chấp nhận mức rủi ro cao, các ngân hàng tăng tỷ lệ đòn bẩy và tối
đa hóa lợi nhuận bằng cách cho vay khách hàng dưới chuẩn, nới lỏng các điều kiện cấp tín dụng, đầu tư vào danh mục rủi ro cao, tăng nguy cơ rủi ro tín dụng và do đó nguy cơ nợ xấu sẽ tăng cao
Tốc độ tăng trưởng tín dụng: một số nghiên cứu thực nghiệm cho rằng các ngân
hàng mở rộng hoạt động tín dụng sẽ giúp người cần vốn dễ dàng tiếp cận khoản vay hơn, đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần tăng trưởng kinh tế và nợ xấu sẽ giảm xuống Tuy nhiên cũng có nghiên cứu chỉ ra rằng khi tăng trưởng tín dụng quá nóng và tập trung cho vay vào các đối tượng không đủ chuẩn sẽ không đảm bảo khả năng trả nợ, làm tăng nợ xấu
Tỷ suất sinh lời: tỷ suất sinh lời là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động kinh
doanh của ngân hàng, tỷ suất sinh lời được đo lường dựa trên tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Ngân hàng có tỷ suất sinh lời ổn định sẽ kiểm soát tốt được rủi ro hoạt động, giảm thiểu được nợ xấu
Dự phòng rủi ro trên tổng dư nợ: Dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và
hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho các tổn thất có thể sẽ xảy ra cho các ngân hàng Dự phòng gia tăng làm tăng dự trữ cho ngân hàng để hạn chế nợ xấu Một
Trang 21số nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ nghịch biến giữa dự phòng rủi ro tín dụng và
tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ nợ xấu năm trước: Nợ xấu là vấn đề không thể giải quyết dứt điểm trong
vòng một năm mà thường phải kéo dài qua nhiều năm, do đó chỉ tiêu này cũng phản ánh được nợ xấu năm nay của ngân hàng và mối quan hệ này là cùng chiều
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trước
Các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế
Shu (2002) nghiên cứu tác động các yếu tố vĩ mô đến nợ xấu của các Ngân hàng
ở Hồng Kông 1995-2002 cho thấy lạm phát, lãi suất, tăng trưởng kinh tế cũng có tác động đến nợ xấu Theo đó, lạm phát (được đo lường bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI)
và tăng trưởng kinh tế (GDP) có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu, lãi suất danh nghĩa có quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu
Nghiên cứu của Salas và Saurina (2002) đối với trường hợp của các ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn từ 1985-1997, thông qua cả hai yếu tố vĩ mô và các yếu tố nội tại Ngân hàng như tốc độ tăng trưởng GDP, nợ của doanh nghiệp và gia đình, tỷ lệ thu nhập cận biên, chi phí rủi ro tín dụng, tỷ lệ dư nợ cho vay trên nguồn vốn huy động, quy mô Ngân hàng, định hướng tăng trưởng tín dụng để giải thích nguyên nhân
nợ xấu Kết quả nghiên cứu cho thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô ngân hàng
có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu, tăng trưởng tín dụng có tác động cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu
Godlewski (2004) đã sử dụng lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm chỉ số đo lường ảnh hưởng đến nợ xấu, có thể thấy ROA
và ROE có tương quan ngược chiều với nợ xấu Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu của Garciya-Marco và Robles-Fernandez (2008) tại 129 Ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 1993-2000 chỉ ra rằng lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) cao sẽ làm tăng rủi
ro nợ xấu
Trang 22Nghiên cứu của Hasan và Wall (2004) về các ngân hàng trên 24 quốc gia giai đoạn từ 1993-2000 chỉ ra kết quả quan hệ cùng chiều giữa dự phòng rủi ro tín dụng
và tỷ lệ nợ xấu Nghiên cứu của Boudriga et al (2009) đưa ra kết quả về quan hệ ngược chiều giữa dự phòng rủi ro tín dụng và tỷ lệ nợ xấu
Hu và cộng sự (2006) nghiên cứu tại 40 NHTM Đài Loan giai đoạn 1996-1999 chỉ ra mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu
Nghiên cứu của Bofondi và Ropele (2011) cho các ngân hàng ở Ý đã chỉ ra rằng lãi suất thả nổi cũng ảnh hưởng đến nợ xấu, tác động của lãi suất đến nợ xấu là cùng chiều Khi có sự gia tăng của các khoản thanh toán lãi suất sẽ dẫn đến có sự gia tăng của các khoản nợ xấu Nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố tỷ lệ thất nghiệp có ảnh hưởng đến nợ xấu, khi thất nghiệp gia tăng thì dẫn đến rủi ro nợ xấu tăng lên
Nghiên cứu của Ahlem Selma Messai (2013) về các yếu tố vi mô và vĩ mô tác động đến 85 NHTM của Ý, Đức, Tây Ban Nha tử năm 2004-2008 bao gồm các biến
vĩ mô như tốc độ tăng trưởng GDP kỳ trước, lãi suất thực, tỷ lệ thất nghiệp và các biến vi mô như ROA, ROE, tỷ lệ LLP, tốc độ tăng trưởng tín dụng để đo lường mức
độ tác động đến nợ xấu Nghiên cứu thông qua mô hình tác đông ngẫu nhiên, kết quả cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa GDP, ROA, ROE với tỷ lệ nợ xấu; mối quan
hệ cùng chiều giữa tỷ lệ thất nghiệp, lãi suất thực, tốc độ tăng trưởng tín dụng, quy
mô Ngân hàng với tỷ lệ nợ xấu
Nghiên cứu của Bruna Škarica (2014) chỉ ra rằng GDP và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng đến chỉ số nợ xấu tại các nước CEE Khi tăng trưởng GDP đòi hỏi một mức thu nhập cao hơn, do đó giúp cải thiện khả năng trả nợ của người đi vay và làm cho
nợ xấu giảm xuống Ngược lại, khi có sự suy thoái trong nền kinh tế, nợ xấu sẽ tăng lên
Nghiên cứu của Ekanayake & Azeez (2015) với mô hình hồi quy dữ liệu bảng, tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ nợ xấu bị ảnh hưởng bởi yếu tố vĩ mô và vi mô Cụ thể tỷ
lệ dư nợ trên tổng tài sản, lãi suất thực có mối quan hệ cùng chiều với nợ xấu; quy
mô, hiệu quả hoạt động của ngân hàng, tốc độ tăng trưởng tín dụng, GDP, lạm phát
có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu
Trang 23Nghiên cứu của Rajha (2016) tại Ngân hàng Jordan giai đoạn 2008-2012 cũng chỉ ra rằng nợ xấu chịu tác động từ hai nhóm yếu tố vĩ mô và vi mô Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm yếu tố vĩ mô có quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát đến nợ xấu Ở nhóm yếu tố vi mô, có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu năm trước đó, và chỉ số nợ trên tổng tài sản
Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam
Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013), tác giả dựa trên dữ liệu thu thập từ
10 Ngân hàng lớn với các biến vi mô như hiệu quả hoạt động, quy mô hoạt động Ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu kỳ trước, ROA; các biến vĩ mô như GDP, lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ cùng chiều giữa lạm phát, quy mô Ngân hàng, nợ xấu kỳ trước với tỷ lệ nợ xấu; quan hệ ngược chiều giữa tăng trưởng GDP, hiệu quả hoạt động, ROA với tỷ lệ nợ xấu
Nghiên cứu của nhóm tác giả Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toàn (2014) tại 26 Ngân hàng thương mại từ 2009-2012 chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô ngân hàng, tỷ lệ tăng trưởng tín dụng với tỷ lệ nợ xấu; mối quan hệ ngược chiều giữa GDP với tỷ lệ nợ xấu
Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu
Các yếu tố vĩ mô
Tốc độ tăng
Shu (2002), Salas và Saurina (2002), Ahlem Selma Messai (2013), Bruna Škarica (2014), Ekanayake & Azeez (2015), Rajha (2016), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013), Võ Thị Quý và Bùi Ngọc Toàn (2014)
Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013)
Trang 24Ngược chiều Shu (2002), Ekanayake & Azeez
(2015), Rajha (2016)
Selma Messai (2013)
Bofondi và Ropele (2011), Ahlem Selma Messai (2013), Ekanayake & Azeez (2015)
Lãi suất danh
Ngược chiều
Salas và Saurina (2002), Hu và cộng sự (2006), Ekanayake & Azeez (2015)
Hiệu quả hoạt
Ekanayake & Azeez (2015), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013)
Godlewski (2004), Ahlem Selma Messai (2013), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013)
Messai (2013),
Trang 25Dự phòng rủi ro
trên tổng dư nợ
Tỷ lệ nợ xấu
Rajha (2016), Đỗ Quỳnh Anh và Nguyễn Đức Hùng (2013)
Tỷ lệ dư nợ trên
Ekanayake & Azeez (2015), Rajha (2016)
2.4 Điểm mới của đề tài
Tác giả dựa trên các khảo lược về các nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước để vận dụng nghiên cứu trong luận văn, tuy nhiên do các nghiên cứu trước đây hầu hết sử dụng của dữ liệu trong quá khứ, chưa cập nhật đến tình hình hiện tại Trong bài nghiên cứu của mình, tác giả sử dụng dữ liệu mang tính cập nhật trong giai đoạn 2008-2017 tại các NHTMCP Việt Nam hiện nay, và đồng thời cũng đưa ra các giải pháp mang tính thời sự, phù hợp với tình hình thực tế
Trang 26KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 tác giả nêu lên lý thuyết về nợ xấu được dựa trên các định nghĩa trong
nước và quốc tế Tác giả cũng đã chỉ ra các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến nợ
xấu, trong đó bao gồm 2 nhóm yếu tố là vĩ mô và vi mô Có nhiều nghiên cứu thực
nghiệm trên thế giới về các yếu tố vi mô, vĩ mô tác động đến nợ xấu, qua đó tác giả
vận dụng để làm cơ sở nghiên cứu cho bài nghiên cứu của mình
Trang 27CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG
ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP VIỆT NAM 3.1 Giới thiệu về các NHTM Việt Nam
Trong giai đoạn đổi mới, hệ thống NHTM Việt Nam đã có những bước phát triển nổi bật như tăng trưởng về quy mô, số lượng ngân hàng, đa dạng hóa về các sản phẩm dịch vụ…
Bảng 3.1 : Số lượng ngân hàng Việt Nam 2008-2018
Trang 28Nguồn: Thống kê từ báo cáo thường niên NHNN từ 2008-2018
Bảng 3.1 cho thấy, tính đến năm 2018, hệ thống ngân hàng Việt Nam có 4 NHTM Nhà nước, 31 NHTM cổ phần, 9 NH 100% vốn nước ngoài, 2 NH liên doanh và 49 chi nhánh NH nước ngoài
Các NHTM cổ phần Việt Nam có xu hướng giảm về số lượng, năm 2011 hệ thống ngân hàng Việt Nam đối mặt với nguy cơ không đảm bảo khả năng thanh toán Trước tình hình này, Thủ tướng chính phủ đã phê duyệt đề án 254/ QĐ-TTg ngày 1/3/2012 nhằm tái cơ cấu hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015, đảm bảo sự phát triển an toàn và bền vững cho cả hệ thống
Năm 2017 quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/06/2017 về thời điểm xử lý nợ xấu của các TCTD thông qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các TCTD Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 về “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020”, theo đó ngành ngân hàng đã có cơ sở pháp lý rõ ràng nhằm triển khai đồng bộ các giải pháp về thanh tra giám sát, cơ cấu lại hệ thống tín dụng gắn liền với xử lý nợ xấu
3.1.2 Quy mô NHTM Việt Nam
Quy mô của các NHTM Việt Nam được thể hiện qua các tiêu chí:
- Tổng tài sản có
- Vốn tự có
- Vốn điều lệ
Trang 29Bảng 3.2 : Quy mô NHTM Việt Nam tính đến 31/12/2018
Loại
NHTM
Số tuyệt đối (tỷ đồng)
Tốc
độ tăng trưởng (%)
Số tuyệt đối (tỷ đồng)
Tốc
độ tăng trưởng (%)
Số tuyệt đối (tỷ đồng)
Tốc
độ tăng trưởng (%) NHTM
Nguồn: Thống kê của NHNN
Thống kê của NHNN tính đến 31/12/2018, tổng tài sản có của các NHTM Việt Nam có xu hướng tăng Tổng tài sản sản có của NHTM Nhà nước chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản có của hệ thống NHTM Việt Nam, đạt 4863353 tỷ đồng, chiếm
tỷ trọng 46% Tiếp đến là NHTM Cổ phần có tổng tài sản có đạt mức 4554977 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 45%, nhóm này cũng có mức tăng trưởng khá trong năm 2018, tăng 13.07% so với 2017 Ngân hàng liên doanh và nước ngoài có tổng tài sản có chiếm 11% trong tổng tài sản có của hệ thống NHTM Việt Nam
Về vốn tự có của các NHTM Việt Nam cũng có xu hướng tăng Cụ thể tính đến 31/12/2018, vốn tự có của các NHTM nhà nước đạt mức 268599 tỷ đồng, tăng 5.48%
so với cùng thời điểm năm 2017 Vốn tự có của các NHTM Cổ phần tăng trưởng khá
ở mức 16.36%, đạt 338183 tỷ đồng vào cuối 2018, của Ngân hàng liên doanh và nước ngoài tăng trưởng 14.82%
Trang 30Vốn điều lệ của của NHTM nhà nước tăng nhẹ 0.08% so với 31/12/2017, đạt
147980 tỷ đồng vào cuối 2018 Vốn điều lệ của NHTM Cổ phần vào cuối 2018 tăng trưởng mạnh 24.42% so với 2017, đạt mức 267234 tỷ đồng Vốn điều lệ của Ngân hàng liên doanh và nước ngoài tăng trưởng 3.49%
3.2 Tình hình nợ xấu các NHTMCP Việt Nam
Bảng 3.3: Tổng quan về tỷ lệ nợ xấu và dư nợ tín dụng của hệ thống Ngân
hàng ở Việt Nam
Dư nợ tín dụng (tỷ đồng)
Tỷ lệ nợ xấu
Trang 31
Hình 3.1 Tổng quan về tỷ lệ nợ xấu và dư nợ tín dụng của hệ thống Ngân
hàng ở Việt Nam giai đoạn 2008-2017
Hình 3.1 cho thấy từ 2008-2017 dư nợ tín dụng đang có xu hướng tăng qua các năm
Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 2008-2009 ở mức dưới 3%, giai đoạn này nợ xấu vẫn chưa phải là vấn đề quan tâm hàng đầu và chưa ảnh hưởng đến những bất ổn về tài chính quốc gia, các ngân hàng tự xử lý nợ xấu bằng cách trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; thông qua phát mãi tài sản đảm bảo, tái cơ cấu nợ vay
Nợ xấu 2010-2012 có dấu hiệu tăng, giai đoạn này các ngân hàng bắt đầu đối mặt với vấn đề thanh khoản, hoạt động kinh doanh kém hiệu quả Nguyên nhân do việc thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, nợ xấu của nhiều năm trước tích tụ Nợ xấu năm
2012 đạt đỉnh điểm ở mức 4.08% do tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, nợ công châu Âu bùng nổ gây ảnh hưởng không ít đến nền kinh tế Việt Nam, các ngân hàng gặp khó khăn về thanh khoản, nợ xấu và nguy cơ đổ vỡ rất cao, đe dọa lớn đến
sự an toàn của cả hệ thống ngân hàng Vấn đề lớn được đặt ra là việc phải tái cơ cấu ngân hàng nhằm khắc phục những hạn chế, cùng với việc kiểm soát và hạn chế nợ
Trang 32xấu NHNN đã xây dựng trình Bộ Chính trị, Chính phủ chấp thuận và Thủ tướng đã
ký quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 ban hành đề án tái cơ cấu hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 (hay còn gọi là đề án 254) Trên thực tế trong năm 2012, NHNN chỉ tập trung vào việc giải quyết thanh khoản, tái cơ cấu tổ chức, nâng cao quản trị hệ thống ngân hàng, bước đầu cho việc thực hiện xử lý nợ xấu một cách toàn diện
Giai đoạn 2013-2017, tỷ lệ nợ xấu có diễn biến khả quan hơn, nợ xấu ở mức 3.79% vào năm 2013 và giảm xuống còn 2.34% vào năm 2017 Năm 2013 chính phủ
và NHNN đã thực hiện tích cực việc xử lý nợ xấu theo đề án 254 đã được nêu ra, thành lập Công ty quản lý tài sản các TCTD VAMC theo nghị định số 53/2013/NĐ-
CP ngày 18/05/2013 nhằm xử lý nợ xấu Ngoài ra trong năm này, đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD cũng đã được phê duyệt ngày 31/05/2013 theo Quyết định số 843/2013/QĐ-TTg (đề án 843), theo đó xử lý nợ xấu phải thực hiện nhanh chóng, quyết liệt bằng nhiều biện pháp Trong năm 2014, tỷ lệ nợ xấu có cải thiện ở mức 3.70% tuy nhiên vẫn cao hơn mức quy định cho phép dưới 3% do tình hình kinh tế
vĩ mô vẫn chưa ổn định, nhiều doanh nghiệp vẫn hoạt động kém hiệu quả Năm 2015,
nợ xấu đã được kiểm soát ở mức dưới 3%, chính phủ và NHNN đã thực hiện quyết trong công tác quản lý nợ xấu, một số văn bản được ban hành như chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 27/01/2015 về tăng cường xử lý nợ xấu tại các TCTD; Nghị định 34/2015/NĐ-CP ngày 31/03/2015 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 53/2013/NĐ-CP ngày 18/05/2013 Các TCTD đã dần đáp ứng được chỉ tiêu các tỷ lệ
về khả năng chi trả, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo quy định của NHNN, vấn đề thanh khoản được đảm bảo, nợ xấu được xử lý quyết liệt, nguồn vốn huy động tăng trưởng khá Đây là tiền đề quan trọng giúp cho
hệ thống ngân hàng mở rộng tín dụng đi đôi với việc giảm mặt bằng lãi suất, gỡ bỏ các khó khăn trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, kiềm chế lạm phát và đảm bảo ổn định nền kinh tế vĩ mô Trong giai đoạn tái
cơ cấu hệ thống ngân hàng đến cuối 2015, NHNN Việt Nam lựa chọn phương án mua lại 3 ngân hàng với giá 0 đồng, bao gồm Ngân hàng TMCP Xây dựng (VNCB), Ngân
Trang 33hàng TMCP Dầu khí Toàn cầu (GP Bank), Ngân hàng TMCP Đại Dương (Ocean Bank) và khuyến khích hoạt động mua bán, sáp nhập giữa các NHTM Đây
là những giải pháp hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế và khu vực trong quá trình tái cơ cấu NHTM và các TCTD
Năm 2017, nợ xấu ở mức 2.34% NHNN tiếp tục triển khai các giải pháp cơ cấu lại hệ thống các TCTD và xử lý nợ xấu NHNN đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 10/01/2017 nhằm chỉ đạo toàn ngành Ngân hàng tiếp tục triển khai quyết liệt các giải pháp về cơ cấu lại TCTD, nâng cao chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu theo nguyên tắc thị trường, hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ xử lý nợ xấu, đảm bảo duy trì tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đồng thời xây dựng và hoàn thiện đề án “Cơ cấu lại hệ thống các TCTD gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2016-2020” trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 1058/QĐ-TTg ngày 19/07/2017 hay còn gọi là đề án
1058 Đề án bao gồm các nhóm giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ chế chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng, trong đó quan trọng nhất là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về cơ cấu lại TCTD yếu kém và xử lý nợ xấu; nâng cao năng lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng
Trang 343.3 Mối quan hệ của các yếu tố vĩ mô và vi mô tác với nợ xấu tại NHTMCP Việt Nam
3.3.1.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
Nguồn: Tổng cục thống kê và NHNN
Hình 3.2: Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ nợ xấu
Hình 3.2 cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ ngược chiều Từ năm 2012-2017, tăng trưởng kinh tế từng bước phục hồi, tăng trưởng tín dụng vẫn còn nhờ nhiều vào tín dụng ngân hàng nhưng đã giảm dần sự lệ thuộc Từ năm 2013 trở đi tín dụng tăng trưởng ổn định, tăng trưởng kinh tế cũng tăng mạnh
mẽ trở lại, năm 2017 tốc độ tăng trưởng GDP đạt 6.81% mức cao nhất trong vòng 6 năm trở lại đây Kết quả đạt được trong năm 2017 khẳng định được tính hiệu quả của các giải pháp chính phủ ban hành, mục tiêu của chính phủ là đảm bảo tăng trưởng kinh tế, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp dần được cải thiện và khả năng trả nợ cũng dần được cải thiện hơn, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu giảm thiểu
Trang 353.3.1.2 Tỷ lệ lạm phát
Nguồn: Tổng cục thống kê và NHNN
Hình 3.3: Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nợ xấu
Mối quan hệ giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ nợ xấu trong giai đoạn 2008-2017 phức tạp nhưng nhìn chung là cùng chiều, tỷ lệ lạm phát có xu hướng giảm từ 19.9% năm
2008 xuống chỉ còn 3.53% vào năm 2017
Giai đoạn 2008-2009, tỷ lệ lạm phát giảm từ 19.9% vào năm 2008 xuống còn 6.52% vào năm 2009 Tỷ lệ nợ xấu cũng giảm trong giai đoạn này Tỷ lệ lạm phát ở mức đỉnh điểm vào năm 2008 do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, làm chi phí nguyên liệu đầu vào gia tăng như xăng dầu, làm cho chi phí sản xuất tăng, kéo theo giá cả hàng hóa cũng tăng lên Đến năm 2009, tỷ lệ lạm phát giảm xuống do chính phủ tích cực thực thi chính sách tiền tệ thắt chặt, kiềm chế lạm phát
Giai đoạn 2009-2011, tỷ lệ lạm phát tăng và tỷ lệ nợ xấu cũng tăng, mối quan hệ giữa nợ xấu và tỷ lệ lạm phát là cùng chiều Do nền kinh tế chịu ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công châu Âu vào 2010, nền kinh tế lâm vào tình trạng trì trệ, khó khăn,
Trang 36chính phủ tăng cung tiền để khôi phục kinh tế, dẫn đến lạm phát gia tăng đến mức 2 con số
Giai đoạn 2011-2012, tỷ lệ lạm phát giảm đáng kể, tỷ lệ lạm phát được kiềm chế
ở 1 con số tuy nhiên nợ xấu lại tăng do tồn đọng khó khăn của năm trước, nền kinh
tế chưa thể phục hồi ngay, nợ xấu vẫn chưa được xử lý triệt để
Giai đoạn 2012-2017, nợ xấu và tỷ lệ lạm phát nhìn chung có mối quan hệ cùng chiều Tỷ lệ lạm phát có xu hướng giảm từ năm 2012 trở lại đây, từ mức 6.81% vào năm 2012 và giảm xuống chỉ còn 3.53% vào cuối năm 2017, đạt được mục tiêu đề ra
là kiểm soát lạm phát ở mức 4% Song song đó, là tỷ lệ nợ xấu đang có xu hướng giảm trong giai đoạn này
3.3.1.3 Tỷ lệ thất nghiệp
Nguồn: Tổng cục thống kê và NHNN
Hình 3.4: Mối quan hệ giữa tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ nợ xấu
Tỷ lệ thất nghiệp và tỷ lệ nợ xấu có tác động chưa được rõ ràng
Trang 37Giai đoạn 2008-2009, tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 2.38% lên 2.9% do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu làm cho nền kinh tế Việt Nam cũng gặp khó khăn, tỷ
lệ thất nghiệp gia tăng, tuy nhiên nợ xấu lại ngược lại với xu hướng này, giai đoạn 2008-2009 nợ xấu có xu hướng giảm
Giai đoạn 2019-2012, tỷ lệ thất nghiệp xu hướng giảm dần, và mối quan hệ giữa
nợ xấu và tỷ lệ thất nghiệp trong giai đoạn này là ngược chiều
Giai đoạn 2012-2015, tỷ lệ thất nghiệp tăng, mối quan hệ giữa nợ xấu và tỷ lệ thất nghiệp cũng gần như là ngược chiều, tỷ lệ nợ xấu giảm đến năm 2015 nợ xấu chỉ
3.3.2.1 Quy mô ngân hàng
Nguồn: Thống kê từ báo cáo thường niên NHNN
Hình 3.5: Mối quan hệ tăng trưởng quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu
Trang 38Mối quan hệ giữa tăng trưởng quy mô ngân hàng và tỷ lệ nợ xấu thể hiện không
rõ ràng đồng nhất
Giai đoạn 2008-2012 tăng trưởng quy mô ngân hàng có tăng nhưng tốc độ tăng trưởng không cao, trong khi đó nợ xấu cũng tăng lên và đạt đỉnh điểm ở mức 4.08% vào năm 2012 do nền kinh tế chịu nhìu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008 và khủng hoảng nợ công châu Âu vào năm 2012 Giai đoạn 2012-2017 tăng trưởng quy mô ngân hàng tăng dần và tăng đột biến vào năm 2016, giai đoạn này thể hiện mối quan hệ ngược chiều giữa tăng trưởng quy mô ngân hàng
và tỷ lệ nợ xấu, nền kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phục hồi, tốc độ tăng trưởng tín dụng gia tăng và tỷ lệ nợ xấu cũng giảm xuống
3.3.2.2 Tốc độ tăng trưởng tín dụng
Nguồn: Thống kê từ báo cáo thường niên NHNN
Hình 3.6: Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ xấu
Giai đoạn từ 2008-2017, tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng giảm không ổn định Nhìn chung tương quan giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và nợ xấu là ngược chiều Tăng trưởng tín dụng gia tăng khi chính phủ thực hiện các biện pháp kích cầu, chính
Trang 39sách tiền tệ mở rộng, hỗ trợ lãi suất cho các cá nhân, doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng của các NHTM để phục vụ đời sống xã hội, do đó khả năng trả nợ được nâng cao và tỷ lệ nợ xấu giảm xuống Năm 2008, nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, tăng lãi suất cho vay làm cho các cá nhân và doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn vay, tăng trưởng tín dụng giảm so với 2007 Tỷ lệ nợ xấu cao trên 3%
Năm 2009, tăng trưởng tín dụng tăng, chính phủ thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, kích cầu, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn để tăng cường hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng trưởng tín dụng gia tăng đạt mức 37.53%, tỷ lệ nợ xấu giảm xuống chỉ còn 2.2%
Giai đoạn 2009-2012, ảnh hưởng của khủng hoảng nợ công châu Âu, chính phủ thực thi thắt chặt tín dụng, tăng lãi suất cho vay, tăng cường quản trị rủi ro tín dụng,
do đó tăng trưởng tín dụng giảm xuống
Giai đoạn 2012-2017 nền kinh tế đang có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng tín dụng
có xu hướng gia tăng Giai đoạn này chính phủ thực thi chính sách tiền tệ mở rộng, giảm lãi suất nhằm kích thích cho vay tiêu dùng, tăng trưởng tín dụng tăng nhưng không quá 20%, tránh tình trạng tín dụng tăng trưởng quá nóng sẽ mang lại hiệu ứng tiêu cực, ngân hàng dễ dàng trong việc cho vay sẽ không đánh giá đúng khả năng trả
nợ khách hàng, nguy cơ nợ xấu sẽ gia tăng
Trang 403.3.2.3 Lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Nguồn: Thống kê từ báo cáo thường niên NHNN
Hình 3.7: Mối quan hệ giữa tỷ lệ ROE và tỷ lệ nợ xấu
Hình 3.7 cho thấy giữa ROE và tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ ngược chiều khá rõ ràng Giai đoạn 2009-2012 nền kinh tế chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh
tế toàn cầu và khủng hoảng nợ công châu Âu, hoạt động kinh doanh của các NHTM gặp nhiều khó khăn dẫn đến tỷ lệ ROE sụt giảm, kéo theo nợ xấu gia tăng Giai đoạn 2013-2017 nền kinh tế dần hồi phục, chính phủ thực hiện các chính sách tiền tệ và tài khóa phù hợp, ổn định kinh tế vĩ mô, hoạt động kinh doanh của các ngân hàng hiệu quả hơn, ROE các NHTM gia tăng và nợ xấu giảm xuống